1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nội dung tóm tắt luận án kinh tế - xã hội huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an thời nguyễn (1802 - 1884)

24 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 175,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+, Về thời gian: Luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc trong thời kỳ nhà Nguyễn là triều đại phong kiến độclập, cụ thể là trong khoảng thời gian từ năm 1802 cho đến

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong đời sống của các cộng đồng cư dân, kinh tế - xã hội làmột lĩnh vực hoạt động mang tính thiết yếu, gắn với nhu cầu vật chất vàsinh hoạt của con người Hiện nay, cùng với quá trình phát triển nền kinh

tế hàng hóa, mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minhcũng được đặt ra Do vậy, nghiên cứu kinh tế - xã hội của từng khu vực

cụ thể sẽ đem lại những hiểu biết chính xác và toàn diện hơn về lịch sửđịa phương cũng như lịch sử dân tộc

1.2 Những năm gần đây, trước sự thay đổi nhanh chóng của xãhội, những yếu tố, đặc điểm của địa phương đang từng bước bị nhấnchìm Việc lựa chọn một địa bàn cụ thể (chẳng hạn một tỉnh, một huyện)làm đối tượng nghiên cứu xuất hiện ngày một nhiều (như Bình Định,Thừa Thiên - Huế, Đông Sơn [Thanh Hóa], Đức Thọ [Hà Tĩnh]) Đây làmột yêu cầu cấp thiết cả về mặt khoa học và thực tiễn Bởi nghiên cứu cái

cụ thể sẽ làm cho bức tranh lịch sử Việt Nam thời Nguyễn trở nên sinhđộng hơn, sát với thực tế hơn, từ đó góp phần làm cho nhận thức chungtrở nên sâu sắc, toàn diện hơn

1.3 Nghệ An là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng Trải quatừng thời kỳ, chính sách quản lý của các vương triều đối với vùng đất này

ít nhiều có sự khác biệt so với những nơi khác Vì vậy, Nghệ An có nhiềunét đặc thù về kinh tế, xã hội so với diện mạo chung của cả nước Từ thực

tế đó, nghiên cứu kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An và từng địa phương

cụ thể ở khu vực này trong những giai đoạn cụ thể là một việc làm cầnthiết, mang ý nghĩa khoa học Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có mộtcông trình nào đi sâu nghiên cứu về đề tài này

1.4 Nghi Lộc là một trong những huyện đồng bằng ven biển tiêubiểu của tỉnh Nghệ An Dưới thời Nguyễn, Nghi Lộc được chọn làm nơiđóng “trấn thành”, “tỉnh thành” của Nghệ An Bên cạnh đó, Nghi Lộc còn

có 2 cửa sông lớn là Cửa Xá (Cửa Lò), Cửa Hội Ngay từ sớm, hai cửasông này đã có vị trí quan trọng về quân sự, kinh tế và giao thương buônbán Ngoài ra, Nghi Lộc còn là một trong những vùng đất có truyền thốnglịch sử, văn hóa lâu đời của Nghệ An

Trang 2

Với lý do trên, Nghi Lộc xứng đáng được các nhà nghiên cứuquan tâm nhằm góp phần phục dựng lại một cách khái quát bức tranhkinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc dưới thời Nguyễn Chính vì thế chúng

tôi chọn vấn đề: “Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884)” làm luận án Tiến sĩ lịch sử

2 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng kinh tế - xã hội

huyện Nghi Lộc (Nghệ An) thời kỳ nhà Nguyễn là vương triều phongkiến độc lập, cụ thể là tính từ năm 1802 đến năm 1884 Việc trình bày đốitượng nghiên cứu chủ yếu tập trung trong chương 3 và chương 4 Cáclĩnh vực kinh tế, xã hội được chia thành từng nội dung cụ thể nhằm đảmbảo tính cụ thể, toàn diện và hệ thống của luận án

- Với tính chất là công trình nghiên cứu độc lập về đề tài: “Kinh

tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884)”,

nhiệm vụ cụ thể của luận án là:

+ Trên cơ sở sưu tầm, chọn lọc và đối chiếu các nguồn tài liệu,luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn(1802 - 1884)

+ Đánh giá, so sánh nhằm rút ra những nét tiêu biểu trong lĩnhvực kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn so với các vùng, cáckhu vực lân cận

+ Rút ra những kết luận khoa học mang tính độc lập, khách quan

về vấn đề nghiên cứu trên cơ sở các cứ liệu đã trình bày

- Phạm vi nghiên cứu:

+, Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận án đi sâu nghiên cứu về

kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884) Trong một sốnội dung cụ thể, luận án so sánh huyện Nghi Lộc với một số địa phươngkhác ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ

+, Về thời gian: Luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội

huyện Nghi Lộc trong thời kỳ nhà Nguyễn là triều đại phong kiến độclập, cụ thể là trong khoảng thời gian từ năm 1802 cho đến năm 1884.Nhằm đảm bảo tính lịch sử và tùy thuộc mức độ cho phép của nguồn tư

Trang 3

liệu, một số nội dung luận án trình bày kéo dài tới giai đoạn nửa cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

+, Về không gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa

bàn huyện Nghi Lộc thời Nguyễn, gồm 4 tổng Đặng Xá, Kim Nguyên,Ngô Trường, Thượng Xá theo ghi chép trong các bộ sử thời Nguyễn Về

cơ bản, phạm vi khảo sát của luận án tập trung vào địa bàn chủ yếu củahuyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn cũng như phần lớn địa bànhuyện Nghi Lộc hiện nay

3 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn tài liệu:

Thực hiện đề tài này, luận án sử dụng các nguồn tài liệu sau:

* Thứ nhất, luận án sử dụng nguồn tài liệu chính thống do Quốc

Sử quán, Nội Các triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên và tục biên), Hoàng Việt luật lệ Loại tài liệu này được khai thác, sử dụng triệt để trong quá trình

nghiên cứu và trình bày nội dung luận án

Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy các sách địa

lý học - lịch sử chép về toàn quốc như: Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí hay các sách chép về Nghệ An như: Hoan Châu phong thổ ký, Nghệ An ký, An Tĩnh cổ lục đã cung cấp thêm cho chúng

tôi nhiều tư liệu về huyện Nghi Lộc thời Nguyễn

* Thứ hai: Nguồn tài liệu quan trọng nhất của luận án là các thư

tịch: địa bạ, thần tích, gia phả, văn bia Chúng tôi khai thác hơn 5.000trang tài liệu thư tịch tại TTLTQG I và VNCHN Trong đó, đáng chú ýhơn cả là 47 tập địa bạ lập vào các thời điểm Gia Long, Minh Mệnh, TựĐức Nguồn tài liệu thư tịch là cơ sở chủ yếu giúp chúng tôi nghiên cứutình hình kinh tế, xã hội Nghi Lộc thời Nguyễn

* Thứ ba: Kết quả nghiên cứu trong các công trình chuyên khảo

về ruộng đất, kinh tế và xã hội của các tác giả đi trước như: Nguyễn ĐứcNghinh, Vũ Huy Phúc, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân, PhanPhương Thảo là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, giúp chúng tôi đốichiếu, so sánh để rút ra những đánh giá khoa học

Trang 4

Bên cạnh đó, các công trình biên soạn lịch sử địa phương như:Lịch sử các xã, phường; Lý lịch di tích các công trình lịch sử; Các côngtrình nghiên cứu về địa phương Nghệ An của Ninh Viết Giao, Chu TrọngHuyến cũng là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết, giúp chúng tôi sosánh, đối chiếu với các tài liệu thư tịch để rút ra nét tiêu biểu của vùng đấtNghi Lộc

* Tuy đã cố gắng khai thác triệt để các nguồn tài liệu nhưngchúng tôi vẫn không thể tránh khỏi những khó khăn trong quá trình khôiphục lại toàn bộ diện mạo kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thờiNguyễn Để khắc phục khó khăn đó, trong các cuộc điều tra, thực địa tạiNghi Lộc, chúng tôi nhận thấy tài liệu địa phương khá phong phú và đadạng Nếu được xử lý theo phương pháp khoa học thì đây cũng là nguồntài liệu quan trọng của luận án

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phươngpháp sử học và phương pháp lôgic Những nhận xét, đánh giá của luận ánđều xuất phát từ tính cụ thể và xác thực của nguồn tài liệu Ngoài ra,chúng tôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như: xã hội học, khảo

cổ học, chọn mẫu để nghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế, xã hộicủa huyện Nghi Lộc thời Nguyễn

4 Đóng góp của Luận án

- Về mặt khoa học, luận án khôi phục lại một cách cụ thể, toàndiện và có hệ thống về tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thờiNguyễn, qua đó góp phần nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lịch

sử, xã hội của khu vực Nghệ Tĩnh nói riêng cũng như cả nước giai đoạnnày Đồng thời, luận án đi sâu làm rõ nét tiêu biểu về kinh tế, xã hội củahuyện Nghi Lộc so với các vùng, các khu vực lân cận

- Về mặt thực tiễn, luận án góp phần bổ sung nguồn tài liệu vàokhoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phương Kết quả nghiên cứucủa luận án cũng là cơ sở để tiến hành khảo sát, nghiên cứu, biên soạnlịch sử địa phương; các bài giảng lịch sử địa phương cho học sinh, sinhviên trên địa bàn tỉnh Nghệ An Đồng thời, luận án còn góp thêm những

Trang 5

luận chứng, luận cứ cụ thể cho việc hoạch định các chính sách phát triểnkinh tế, xã hội của Nghi Lộc hiện nay.

5 Bố cục luận án: Luận án gồm 169 trang Trong đó, phần mở

đầu 6 trang, kết luận 4 trang, tài liệu tham khảo 19 trang Nội dung luận

án gồm 151 trang, được chia làm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề (12 trang)

Chương 2: Vài nét về địa bàn huyện Nghi Lộc (19 trang)

Chương 3: Kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (53

trang)

Chương 4: Xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn ( 57 trang)

Ngoài ra, trong luận án còn có các bảng thống kê, sơ đồ và phầnphụ lục gồm các bản đồ, bảng biểu, ảnh, bản chụp tư liệu

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Nghiên cứu kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã là mảng đề tài hấpdẫn, thu hút nhiều học giả trong và ngoài nước tham gia dưới nhiều hìnhthức, góc độ khác nhau Hàng loạt các chuyên khảo về kinh tế, xã hộinông thôn, làng xã đã xuất bản Với độ dài 12 trang, chương 1 nêu tổngquan những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Trên cơ sở đórút ra một số nhận xét về các công trình nghiên cứu và đưa ra hướngnghiên cứu của đề tài

1.1 Các công trình nghiên cứu về nông thôn làng xã Việt Nam

* Dưới thời thuộc Pháp: các chuyên khảo về kinh tế, xã hội nông

thôn, làng xã Việt Nam của các học giả nước ngoài bắt đầu xuất hiện

Những tác phẩm tiêu biểu nhất của thời kỳ này là: L’Economie Agricole

de l’Indochine (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương); Les paysans du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ) Bên cạnh các nhà

nghiên cứu người Pháp đã xuất hiện một số tác giả người Việt Tiêu biểu:

Việt Nam phong tục, Sở hữu làng xã ở Bắc kỳ, Nghiên cứu về làng xã An Nam

* Sau Cách mạng tháng Tám (1945): giới sử học bắt đầu chú ý

nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã Việt Nam Nhiều chuyên

khảo có giá trị đã ra mắt bạn đọc, đáng chú ý hơn cả là: Xã thôn Việt Nam (1959); Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ (1959); Tín ngưỡng Việt Nam (1967)

* Sau năm 1975: nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng

xã tiếp tục được đẩy mạnh Nhiều công trình chuyên sâu đã ra đời, cụ thể

như: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1979); Chế độ ruộng đất Việt Nam (1982, 1983); Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền (1984)

* Sau thời kỳ đổi mới (1986): nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông

thôn, làng xã tiến thêm một bước và đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Nhiều chuyên khảo về kinh tế, xã hội làng xã đã ra đời: Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội (1992); Kinh nghiệm tổ chức quản

Trang 7

lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1993); Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ (1996); Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc bộ

(2010) Bên cạnh đó, còn có một số luận văn, luận án, tạp chí, hội thảo,

đề tài khoa học nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế, xã hội của lịch sử địaphương cũng như lịch sử dân tộc ít nhiều liên quan đến đề tài luận án

Chính những nghiên cứu với cách tiếp cận mới của các tác giả kểtrên đã gợi mở nhiều vấn đề trong nghiên cứu kinh tế, xã hội nông thôn,làng xã Việt Nam sau này Các công trình kể trên là tài liệu tham khảo,cung cấp lý luận và những kiến thức chuyên ngành giúp chúng tôi có cáinhìn khách quan, khoa học trong nhận thức, nghiên cứu về kinh tế, xã hộihuyện Nghi Lộc thời Nguyễn

1.2 Các công trình nghiên cứu về tỉnh Nghệ An

* Trước Cách mạng tháng Tám (1945): Mở đầu quá trình nghiên

cứu về địa lý, lịch sử, văn học, tư tưởng truyền thống của khu vực Nghệ

Tĩnh là cuốn Nghệ An ký Tiếp đến là công trình nghiên cứu về vùng đất

An Tĩnh của học giả người Pháp - H.Le Breton, với tác phẩm Le vieux An Tinh (An Tĩnh cổ lục, 1936) Đây là những công trình nghiên cứu tiêu

biểu, có giá trị khoa học, nghiên cứu trực tiếp về khu vực Nghệ Tĩnhtrước năm 1945

* Sau Cách mạng tháng Tám (1945): nghiên cứu về Nghệ An

được đẩy mạnh Nhiều công trình biên khảo về lịch sử kinh tế, xã hội khu

vực Nghệ An đã ra đời Tiêu biểu: Hương ước Nghệ An (1998); Nghề (làng nghề) thủ công truyền thống ở Nghệ An (1998); Khoa bảng Nghệ

An (1075 - 1919) (2000); Văn bia Nghệ An (2003); Lịch sử Nghệ An

(2012) Ngoài ra còn có nhiều tạp chí, hội thảo, luận án, luận văn nghiêncứu về mảnh đất, con người Nghệ An

Nhìn chung, trong các công trình trên, tuy nội dung nghiên cứu

về Nghi Lộc còn hết sức sơ lược nhưng đã cung cấp cho chúng tôi nhiềuluận điểm giá trị, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu các địa phương

cụ thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An

1.3 Các công trình nghiên cứu về huyện Nghi Lộc

Đi sâu hơn trong việc tìm hiểu những vấn đề cụ thể của địaphương Nghi Lộc đã có một số tác phẩm đề cập trực tiếp đến tình hình

Trang 8

kinh tế, xã hội của huyện như: Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc (sơ thảo) (1991); Lịch sử giáo phận Vinh (1996); Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945)(2003) Ngoài ra, các sách về lịch sử

xã, phường; gia phả các dòng họ; lý lịch các di tích và danh thắng Tất

cả các công trình trên là cơ sở khoa học, cung cấp tư liệu và nhiều luậnđiểm có giá trị khi đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộctrong một giai đoạn lịch sử cụ thể

1.4 Một vài nhận xét

Trong phạm vi nửa đầu thế kỷ XIX, việc nghiên cứu về vùng đấtNghệ Tĩnh cũng như các địa phương cụ thể ở đây chưa được chú trọngđúng mức Thực trạng và đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các địaphương trong bối cảnh chung của khu vực và dân tộc thời kỳ vương triềuNguyễn (1802 - 1884) vẫn chưa được nghiên cứu làm rõ Do vậy, trên cơ

sở khai thác, sử dụng những nguồn tài liệu mới (địa bạ, thần tích, thầnsắc, hương ước, gia phả), đồng thời tham khảo, kế thừa những thành tựu

của các tác giả đi trước, luận án: Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884) là công trình đầu tiên nghiên cứu

chuyên sâu về đề tài này

Trang 9

CHƯƠNG 2.

VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC

Được hình thành và phát triển từ rất sớm, lại có vị trí tương đốithuận lợi, mảnh đất Nghi Lộc đã được con người khai phá, sinh sống từrất lâu đời Với độ dài 19 trang, luận án giới thiệu khái quát về điều kiện

tự nhiên, quá trình hình thành và tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộctrước thế kỷ XIX

2.1 Điều kiện tự nhiên

- Địa hình: Nghi Lộc là vùng đất được kiến tạo từ rất sớm trênmột địa hình rộng lớn, có núi đồi, có sông biển, có đồng bằng thuận lợicho việc cư trú và làm ăn sinh sống của cư dân nơi đây

- Giao thông: Nghi Lộc có điều kiện thuận lợi về giao thông:đường bộ, đường biển, đường sông , quan trọng nhất là tuyến đường bộBắc - Nam Đây là điều kiện thuận lợi để Nghi Lộc sớm trở thành nơigiao lưu văn hóa rộng mở

- Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và tiểu khíhậu Vinh - Bến Thủy, đồng thời chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên ởNghi Lộc thường có gió mùa Đông Bắc, gió Lào, gió Nồm Thời tiết hàngnăm ở đây chia thành hai mùa: mùa nóng và mùa lạnh

- Đất đai: Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển nên chủ yếu làđất cát pha, vừa bạc màu lại vừa bị nhiễm mặn, độ phù sa thấp Đây lànguyên nhân gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

2.2 Quá trình hình thành và những thay đổi về diên cách

Nghi Lộc là vùng đất cổ có lịch sử hình thành lâu đời Ban đầu,Nghi Lộc thuộc địa bàn huyện Phố Dương và Dương Toại thời TamQuốc - Lưỡng Tấn - Nam Bắc Triều (220 - 581) Sau đó là vùng đất củahuyện Phố Dương thời thuộc Tùy - Đường (581 - 905) Đến thời Trần(1225 - 1400), huyện Nghi Lộc có tên gọi là Tân Phúc; thời thuộc Minh(1407 - 1427), đổi thành Chân Phúc; thời Tây Sơn (1789 - 1802), đổithành Chân Lộc Đầu thời Nguyễn, huyện Chân Lộc thuộc vào phủ ĐứcQuang, trấn Nghệ An Huyện Chân Lộc lúc bấy giờ có 4 tổng 66 xã, thôn,phường, trang Đến đời vua Thành Thái (1889 - 1907), huyện Chân Lộc

Trang 10

đổi tên thành Nghi Lộc Như vậy, tên gọi Nghi Lộc xuất hiện vào năm

1889 và duy trì cho đến ngày nay

Địa bàn huyện Nghi Lộc được khảo sát trong luận án là vùng đấtthuộc huyện Chân Lộc thời Nguyễn gồm 4 tổng (Đặng Xá, Kim Nguyên,Ngô Trường, Thương Xá), tương đương với phần lớn địa bàn Nghi Lộchiện nay

2.3 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc trước thế kỷ XIX

Nghi Lộc là vùng đất sớm được khai phá Đầu thế kỷ X, vùngđồng bằng dần được định hình Nhiều làng xóm ven biển bắt đầu đượclập nên Đến cuối thế kỷ XIV, các cụm dân cư ở Nghi Lộc phát triểnđông đúc, nhiều trang trại khẩn hoang được thành lập, tạo điều kiện chocác ngành kinh tế phát triển Bước sang thế kỷ XVII, Nghệ An trở thànhchiến trường ác liệt Kinh tế, đặc biệt sản xuất nông nghiệp bị đình trệ,đồng ruộng bỏ hoang, dân cư xiêu tán Sự suy sụp về kinh tế, hỗn loạn vềchính trị tạo điều kiện cho quan lại, cường hào ra sức cướp đoạt ruộngđất, bóc lột dân nghèo Nông dân rơi vào cảnh mất ruộng, đói kém liênmiên Do vậy, phục hồi sản xuất, phát triển kinh tế là nhiệm vụ quantrọng hàng đầu lúc bấy giờ

Tóm lại, so với nhiều địa phương lân cận, Nghi Lộc là huyện cóđiều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế đa dạng: nông nghiệp,thủ công nghiệp, thương nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng,thế mạnh, Nghi Lộc cũng như nhiều huyện khác của miền Trung ở vàovùng thời tiết khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi nên cư dân nơi đây sớm phảiđấu tranh, khắc phục các hậu quả do thiên nhiên gây ra

Trang 11

CHƯƠNG 3.

KẾT CẤU KINH TẾ HUYỆN NGHI LỘC THỜI NGUYỄN

Đây là một trong những chương trọng tâm của luận án Với 53trang, luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế huyện Nghi Lộc trên cácphương diện: ruộng đất, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp.Theo cách phân chia truyền thống của các nhà sử học, ruộng đất và kinh

tế nông nghiệp thường gắn liền với nhau Tuy nhiên, trên cơ sở khai tháctriệt để nguồn tài liệu địa bạ, chúng tôi cấu trúc ruộng đất thành một mụcriêng, tách rời khỏi kinh tế nông nghiệp và xem đây là một trong nhữngđóng góp quan trọng của luận án

3.1 Tình hình ruộng đất: Từ những số liệu cụ thể đã trình bày

trong luận án, chúng tôi nhận thấy, dưới thời Nguyễn, Nghi Lộc tồn tại đadạng các loại hình sở hữu và sử dụng ruộng đất

* Trước hết phải kể đến ruộng đất công làng xã (gồm công điền,công thổ) Đây là loại ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước thông qua quản lýcủa các làng xã, phân chia cho các thành viên cày cấy dưới hình thức

“đồng quân cấp canh tác”

Công điền tồn tại ở hầu hết các xã thôn huyện Nghi Lộc nhưng sốlượng không nhiều (chiếm 16,8% tổng diện tích) Tuy số lượng công điềnkhông nhiều nhưng có đến 81,6% công điền bị bỏ hoang Bên cạnh đó,diện tích công thổ ở Nghi Lộc cũng tương đối ít, chiếm 2,8% tổng diệntích ruộng đất, trong đó chủ yếu là đất hoang So sánh mức độ phổ biếncủa công điền ở Nghi Lộc với một số huyện khác thuộc đồng bằng Bắc

bộ và Bắc Trung bộ cho thấy, tỷ lệ các xã thôn không có ruộng công ởNghi Lộc cao hơn nhiều (Nghi Lộc 34%, Đông Sơn 6%, La Sơn 14,71%,

Từ Liêm 32,91%) Sự giảm sút ruộng đất công là do: làng xã ẩn lậu ruộngcông để trốn thuế; tình trạng “biến công vi tư” phổ biến; quá trình mởrộng khu dân cư, xây dựng tỉnh thành và các công trình công cộng

* Ruộng đất tư: bao gồm tư điền, tư thổ, thổ trạch tư Dưới thờiNguyễn, ruộng đất tư ở Nghi Lộc chiếm 80,3% tổng diện tích ruộng đấttoàn huyện

Trang 12

- Bình quân sở hữu một chủ là 1.5.2.5.3 So với một số huyệnthuộc đồng bằng Bắc bộ và huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) ở cùng thờiđiểm thì bình quân sở hữu ở Nghi Lộc thấp hơn nhiều (Đông Sơn:3.2.2.7.2; Thanh Trì: 4.2.3.8.2; Đông Quan: 8.8.2.7.8).

- Quy mô sở hữu ruộng đất chủ yếu là sở hữu nhỏ: 83,79% chủ

sở hữu có mức sở hữu dưới 3 mẫu; 6,07% chủ sở hữu có mức sở hữu trên

5 mẫu Điều này cho thấy: tuy ruộng đất tư chiếm tỷ lệ lớn nhưng ở NghiLộc, quy mô sở hữu tư điền vừa nhỏ bé, vừa phân tán

- Phụ nữ đứng tên chủ sở hữu ruộng đất ở Nghi Lộc chiếm tỷ lệ18,09% Tỷ lệ chủ sở hữu nữ ở huyện Nghi Lộc nằm ở mức trung bình sovới cả nước Tuy nhiên, sở hữu của chủ nữ ở Nghi Lộc chủ yếu là sở hữunhỏ, bình quân sở hữu của một chủ nữ là 1.1.9.3.4

- Hiện tượng phụ canh ruộng đất khá phổ biến, có 30,65% diệntích tư điền phụ canh và 45,26% chủ sở hữu là chủ phụ canh Điều nàychứng tỏ hiện tượng mua bán ruộng đất phát triển mạnh, ruộng đất lúcbấy giờ đã trở thành hàng hóa

- Đội ngũ chức sắc đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh

tế, xã hội của các làng xã Khi nghiên cứu địa bạ, chúng tôi nhận thấymột số lượng lớn chức dịch ở Nghi Lộc không có ruộng đất (16,9%) Đại

bộ phận chức sắc có ruộng thuộc vào lớp sở hữu nhỏ (dưới 1 mẫu) vàtrung bình (1 - 3 mẫu)

* Ngoài ra còn có các hạng đất khác: thổ trạch viên cư, thần tựphật tự, mộ địa Điểm đặc biệt là các loại ruộng đất này không được tínhvào tổng diện tích công tư điền thổ các hạng của địa bạ

3.1.3 Một vài nhận xét

Sở hữu ruộng đất ở Nghi Lộc thời Nguyễn nằm trong xu thếchung của nước ta lúc bấy giờ, đó là xu thế tất yếu của quá trình tư hữuhóa Sở hữu công tuy ngày càng bị thu hẹp nhưng lại tồn tại khá phổ biến

ở các làng xã và luôn duy trì với một tỷ lệ không nhỏ Điều này chứng tỏ

sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn

3.2 Kinh tế nông nghiệp

3.2.1 Trồng trọt: Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển nên đất

đai nông nghiệp tương đối ít, chủ yếu là đất cát pha, hàm lượng dinh

Ngày đăng: 04/10/2014, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w