Kết quả nghiên cứu về hệ thống hư từ tiếng Việt nói chung, bộ phận hư từ Hán Việt nói riêng có ý nghĩa ứng dụng rất to lớn, nhất là đối với việc biên soạn tài liệu dạy học tiếng Việt cho
Trang 1Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Văn Khang
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (từ không biến đổi
hình thái khi thay đổi chức năng cú pháp), phương tiện ngữ pháp chủ yếudựa vào phương thức trật tự từ và hư từ "Gánh nặng" thể hiện các quan hệngữ pháp trong tiếng Việt lại càng đặt lên hệ thống hư từ Nghiên cứu hư
từ rất hữu ích đối với việc làm sáng tỏ những vấn đề về từ vựng và ngữ
pháp của tiếng Việt.
1.2 Thông thường, vay mượn từ ngữ giữa các ngôn ngữ chủ yếu diễn
ra ở bộ phận thực từ Tuy nhiên, tiếng Việt lại vay mượn một số lượng khálớn hư từ gốc Hán Tính chất ngoại lai của hư từ Hán Việt còn khiến cho
người sử dụng gặp khó khăn Hiện tượng nói sai, viết sai ngữ pháp do hệ
thống hư từ Hán Việt còn khá phổ biến
1.3 Phần lớn hư từ tiếng Việt có nguồn gốc tiếng Hán Ngay cả
những hư từ trong các văn bản tiếng Việt cổ như: mựa, sá, tua, khắng,
huống, đối (với), bui, chỉn, cái, chiếc, nhé, v.v cũng được vay mượn từ
tiếng Hán Vì thế, “nghiên cứu sự xuất hiện các hư từ và xác định đượctương đối chính xác thời điểm xuất hiện của nó có thể làm chỗ dựa đểnghiên cứu về trình độ diễn đạt và phát triển của ngôn ngữ.” “Tìm hiểu lainguyên và quá trình du nhập của các từ này [hư từ] vào văn Nôm cũng cóthể giúp ta hình dung được phần nào quang cảnh chung của sự phát triểntiếng Việt trong lịch sử.”
1.4 Hư từ là một trong những vấn đề phức tạp nhất của bất kì ngôn
ngữ nào Chẳng hạn, muốn học giỏi một ngoại ngữ nào đó cần phải nắmvững về hư từ Kết quả nghiên cứu về hệ thống hư từ tiếng Việt nói chung,
bộ phận hư từ Hán Việt nói riêng có ý nghĩa ứng dụng rất to lớn, nhất là
đối với việc biên soạn tài liệu dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài
Trang 3Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đặc điểm hư
từ Hán Việt trong tiếng Việt” (có đối chiếu với hư từ thuần Việt, hư từtiếng Hán cổ đại và hiện đại)
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu hư từ tiếng Việt
Nhìn chung, “hầu hết các nhà ngữ pháp khi nghiên cứu về tiếng Việtđều trực tiếp hoặc gián tiếp nói đến hư từ Tuy nhiên vấn đề hư từ cho đếnnay vẫn chưa phải là một vấn đề đã khép kín” Dưới đây chúng tôi tóm tắttình hình nghiên cứu về hư từ tiếng Việt dưới các góc độ khác nhau
Nguyễn Anh Quế (1988) đã tiến hành khảo sát và miêu tả các đặcđiểm về ngữ nghĩa và ngữ pháp của từng nhóm hư từ và từng hư từ cụ thểcủa tiếng Việt Trong đó biện luận, so sánh các cách dùng khác nhau củacùng một hư từ, hoặc của những hư từ có ý nghĩa tương đồng
Một số tác giả khi nghiên cứu về hư từ trên góc độ dụng học, tứckhông nghiên cứu hư từ với tư cách bản thân chúng, mà nghiên cứu khảnăng hành chức của chúng Chẳng hạn như: Lê Đông (1991) với “Ngữnghĩa, ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: Ý nghĩa đánh giá của các hư từ”,
“Ngữ nghĩa, ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: Siêu ngôn ngữ và hư từ tiếngViệt”; Lê Đông, Hùng Việt (1995), “Nhấn mạnh như một hiện tượng ngữdụng và đặc trưng ngữ nghĩa-ngữ dụng của một số trợ từ nhấn mạnh trong
tiếng Việt”; Nguyễn Thị Lương (1996) với Tiểu từ tình thái dứt câu dùng
để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt; Nguyễn
Văn Chính (2000) với luận án tiến sĩ Vai trò của hư từ tiếng Việt trong
việc hình thành thông báo phát ngôn; Phùng Thị Thanh Lâm (2003) với Khả năng hoạt động của các phó từ chỉ thời thể tiếng Việt trong các sự tình hậu cảnh [48]; Vũ Thị Kim Anh (2005) với Vai trò của các tiểu từ tình thái cuối câu trong việc hình thành hiệu lực tại lời của phát ngôn, v.v.
Trang 4Ngoài ra, có những nghiên cứu hướng tới việc ứng dụng, trong đó rấthữu ích là việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Đối với việc họcngoại ngữ, muốn hiểu được ngữ pháp của một ngôn ngữ thì việc nắm bắtđược hệ thống hư từ là rất quan trọng Có thể kể một vài công trình như:
Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt và việc dạy tiểu từ tính thái cuối câu tiếng Việt cho người nước ngoài (Lê Thị Hoài Dương, 2003); Kết từ tiếng Việt trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và vấn đề giảng dạy kết từ cho người nước ngoài (Nguyễn Thị Thanh Ngọc, 2004)
Một số công trình lại là những nghiên cứu chuyên sâu về một tiểu
loại hư từ Phạm Hùng Việt (1996) với luận án tiến sĩ Một số đặc điểm
chức năng của trợ từ tiếng Việt hiện đại Luận án này về sau (2003) được
tác giả phát triển thành cuốn sách Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại Tác giả
đã đưa ra những tiêu chí để nhận diện trợ từ tiếng Việt, một từ loại rấtphức tạp và dễ nhầm lẫn với phó từ Vũ Đức Nghiệu (1985, 2000) với một
số bài viết: “Một số cứ liệu về lớp hư từ trong Quốc âm thi tập và Hồng
Đức Quốc âm thi tập thế kỉ XV”, “Hư từ trong bản giải âm Truyền kì mạn lục”, v.v lại chú ý nghiên cứu về hư từ trong một văn bản cụ thể Bùi
Thanh Hoa (2012) trong luận án “Đồng nghĩa của hư từ” đã nhấn mạnh
hư từ có nghĩa và cho rằng “hư từ không phải là đơn vị trống nghĩa hay chỉthuần túy mang nghĩa ngữ pháp” Từ đó tác giả xếp các hư từ về 36 nhóm
hư từ đồng nghĩa với nhau
2.2 Nghiên cứu hư từ Hán Việt
Các học giả: A de Rhodes (1651), Trương Vĩnh Kí (1889), HuỳnhTịnh Paulus Của (1895), Maspéro (1912) chính là những người đã đặt nềnmóng cho việc nghiên cứu về từ gốc Hán, từ Hán Việt trong tiếng Việt.Maspéro đã đưa ra số liệu: tiếng Việt có 60% từ gốc Hán Nhà nghiên cứu
người Trung Quốc, Vương Lực (1958) trong Hán Việt ngữ nghiên cứu đã
Trang 5lấy âm Hán Việt làm trung tâm để chia từ gốc Hán làm ba loại: Hán Việt
cổ, Hán Việt và Hán Việt Việt hóa Nguyễn Tài Cẩn (1979) với cuốn sách
Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt đã đi sâu nghiên
cứu vấn đề ngữ âm của từ gốc Hán và lí giải sâu sắc về âm Hán Việt Từ
đó về sau, nhiều nhà từ vựng học khác cũng quan tâm đến vấn đề từ gốcHán và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau: Hồ Lê, Nguyễn Văn Tu(1978), Phan Ngọc (1983, 1985, 1991), Nguyễn Văn Khang (1986, 1991,1994), Đinh Trọng Lạc (1964, 1997), Cù Đình Tú (1983), Phan Văn Các(1991), Nguyễn Ngọc San (1993), Stankievic N (1991), Nguyễn Đức Tồn(2001), Lê Đình Khẩn (2002), v.v
Việc nghiên cứu riêng về hư từ Hán Việt hiện nay vẫn còn rất khiêmtốn Có thể kể tên một số tác giả có công trình nghiên cứu có liên quan đến
hư từ gốc Hán như: Lê Đình Khẩn (2001, 2002), Phạm Thị Hồng Trung(2003, luận văn thạc sĩ), Vũ Đức Nghiệu (2006), Đào Thanh Lan (2007,chủ trì đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia Hà Nội)
Lê Đình Khẩn (2001) có bài “Hư từ gốc Hán và cách thức Việt hóa”.Trong bài viết này, đóng góp lớn nhất của tác giả là đã liệt kê 39 hư từ Hán
Việt, xếp vào ba nhóm: phó từ, giới từ và liên từ Cuốn Từ vựng gốc Hán
trong tiếng Việt có chương 5: “Hư từ gốc Hán và cách thức Việt hóa”.
Theo tác giả hư từ gồm 6 tiểu loại: “phó từ (phụ từ), giới từ, liên từ (kếttừ), trợ từ, thán từ, từ tượng thanh” Phạm Thị Hồng Trung (2003) trongLuận văn thạc sĩ “Khảo sát hoạt động chức năng của một số hư từ cónguồn gốc tiếng Hán trong tiếng Việt hiện đại” đã lập được một danh sách
150 hư từ, bao gồm phó từ, giới từ, liên từ gốc Hán Ở đây, do chưa xác
định rõ ràng các vấn đề lí thuyết hư từ nên tác giả đã bỏ sót các tình thái
từ, trợ từ trong khi khảo sát Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia
“Khảo sát đặc điểm hư từ có nguồn gốc tiếng Hán trong tiếng Việt hiện
Trang 6đại” do Đào Thanh Lan chủ trì (2007) Trong chuyên luận này, các tác giả
đã khảo sát 13 đầu sách để lập danh sách các hư từ gốc Hán trong tiếngViệt, bao gồm các hư từ Hán Việt: 46 phó từ, 22 liên từ, 7 giới từ và các
hư từ Hán Việt Việt hóa: 5 phó từ, 8 liên từ, 3 giới từ Vũ Đức Nghiệu
(2006) trong bài viết “Hư từ tiếng Việt thế kỉ XV trong Quốc âm thi tập và
HĐ” đã lập một danh sách 135 hư từ các loại có mặt trong tiếng Việt vào
thế kỉ XV
Kể trên, các công trình đều có phạm vi rộng là nghiên cứu hư từ gốcHán nói chung chứ không phải nghiên cứu riêng về hư từ Hán Việt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu các đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa và đặc điểm
sử dụng của hư từ Hán Việt, luận án góp phần vào nghiên cứu vấn đề hư từnói chung, hư từ trong tiếng Việt nói riêng; góp phần nghiên cứu tiếp xúcsong ngữ Hán - Việt và hiện tượng từ mượn Hán trong tiếng Việt; nghiêncứu quá trình ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Hán đối với tiếng Việt thôngqua hệ thống hư từ; nghiên cứu những biến đổi và xu hướng vận động của
hư từ Hán Việt trong quá trình hoạt động trong tiếng Việt
Từ mục đích nêu trên, luận án đề ra một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài luận án
- Xác định khái niệm hư từ Hán Việt và xác lập một danh sách hư từHán Việt
- Khảo sát, nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của hư từ HánViệt
- Khảo sát, nghiên cứu đặc điểm sử dụng của hư từ Hán Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong
đó, có một số phương pháp cơ bản sau:
Trang 7- Phương pháp thống kê, phân loại: giúp thống kê, xử lí tư liệu ngôn ngữ Phương pháp tính trị số và lập biểu đồ: Đối với các đơn vị hư từ cần
so sánh trong mối tương quan với nhau, phương pháp này giúp lập các hệgiá trị (tần suất, các đặc tính ngữ pháp) tiện cho việc lập bảng và lập biểu
đồ Phương pháp phân tích và miêu tả ngữ pháp: giúp miêu tả các đặc điểm về ngữ pháp của hư từ Hán Việt Phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ, bao gồm so sánh đồng đại và so sánh lịch đại
5 Đối tượng nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Theo quan niệm về lí thuyết được sử dụng trong luận án, chúng tôitiến hành khảo sát hư từ Hán Việt trên các nhóm từ loại: phó từ, quan hệ
từ, trợ từ
Để có thể xác lập được danh sách 149 hư từ Hán Việt (xem mục
1.2.3.2.) chúng tôi đã tiến hành theo ba cách:
- Dựa vào từ điển tiếng Việt và từ điển hư từ, từ điển từ công cụ tiếngViệt thông qua việc kiểm tra âm Hán Việt của từ
- Dựa vào các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về hư từ
và hư từ gốc Hán trong tiếng Việt để rút ra các hư từ Hán Việt
- Thông qua khảo sát trên các văn bản tiếng Việt từ thế kỷ XV trở lại đây
5.2 Nguồn tư liệu khảo sát
Để có được cứ liệu về quá trình hoạt động của các hư từ Hán Việttrong từ vựng tiếng Việt qua các giai đoạn lịch sử, chúng tôi dựa vào cácvăn bản tiếng Việt các thời kì: cổ - trung đại, cận đại, hiện đại
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
+ Ý nghĩa lí thuyết:
Trang 8- Luận án đưa ra cái nhìn có tính toàn diện về lí thuyết hư từ tiếngViệt và trình bày quan điểm về khái niệm hư từ và các tiểu loại hư từ và hư
từ Hán Việt Thông qua việc nghiên cứu các đặc điểm về ngữ pháp của cáctiểu loại hư từ, luận án đưa ra quan điểm trong cách phân định phó từ vàtrợ từ tiếng Việt Bằng cách khái quát nên các quy tắc kết hợp của phó từ,luận án cho thấy phương pháp phân biệt phó từ với trợ từ Tiếng Việt cóhàng loạt các từ nằm giữa ranh giới của hai từ loại phó từ và trợ từ do ýnghĩa tình thái của chúng Căn cứ vào vị trí của chúng trong câu mà ýnghĩa từ loại của chúng mới được định hình
- Miêu tả các đặc điểm về ngữ pháp và ngữ dụng của hư từ Hán Việt
+ Ý nghĩa thực tiễn:
Từ kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc:
- Làm cơ sở khoa học cho các công trình nghiên cứu có liên quan vềngữ pháp và từ vựng tiếng Việt
- Biên soạn giáo trình dạy hư từ Hán Việt cho người nước ngoài
- Biên soạn từ điển hư từ Hán Việt
7 Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Luận án có bố cục 3 chương, baogồm:
Chương 1 Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2 Đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa của hư từ Hán Việt
Chương 3 Đặc điểm sử dụng của hư từ Hán Việt
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HƯ TỪ
1.1.1 Hư từ và phân loại hư từ trong ngôn ngữ học đại cương
Vấn đề phân loại thực từ - hư từ là một vấn đề hết sức phức tạp củangôn ngữ học, vốn có nguồn gốc từ trong ngữ pháp các ngôn ngữ Ấn Âu Hư
từ (grammatical words/ synsemantic words/ structure-class words/ functionwords/ 虚詞) được đặt trong thế đối lập với thực từ (content words/ openclass words/ lexical words/ autosemantic words/ notion words/ 内 容 词 ).Thực từ có giá trị biểu đạt ý nghĩa từ vựng; hư từ có giá trị thể hiện các quan
hệ ngữ pháp Việc phân chia từ vựng của một ngôn ngữ thành hai mảng đốilập thực từ - hư từ không phải lúc nào cũng có thể tiến hành dễ dàng
1.1.2 Hư từ và phân loại hư từ trong tiếng Hán
1.1.2.1 Trước “Mã thị văn thông” (1898)
Ngay từ thời Hán đã manh nha có những nghiên cứu về “trợ tự” 助字,
“ngữ trợ” 语助, “trợ ngữ từ” 助语辞 (hư từ) Lưu Hiệp 刘勰 trong Văn tâm
điêu long 文心雕龙 căn cứ vào vị trí và chức năng của từ mà chia thành “từ
phát đoan” (từ mở đầu) và “tống mạt” (từ kết thúc) Từ đời Hán cho đếnđời Thanh, hơn 2000 năm, sự phân biệt thực từ - hư từ mới chỉ dựa trên ýnghĩa từ vựng, vì thế, không thuộc phạm trù từ loại của ngữ pháp học mà
là đối tượng nghiên cứu của tu từ học và huấn hỗ học
1.1.2.2 Từ “Mã thị văn thông” (1898) đến những năm 1950
Công trình “Mã thị văn thông” 马氏文通 (1898) của Mã Kiến Trung
马建忠 là công trình đầu tiên vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại vàonghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán (cổ đại và hiện đại) Trong cuốn sách, cáckhái niệm “thực tự” 實字, “hư tự” 虚字 lần đầu tiên đã trở thành khái
niệm ngữ pháp học Sách chia từ “hư tự” thành 4 loại: giới tự, liên tự, trợ
tự, thán tự Tiếp theo Mã thị văn thông, một trào lưu nghiên cứu về hư từ
Trang 10tiếng Hán đã được dấy lên Những tác giả có ảnh hưởng to lớn đến giớinghiên cứu phải kể đến: Lê Cẩm Hy 黎锦熙, Vương Lực 王力, Lã ThúcTương 吕叔湘, Trương Thế Lộc 张世禄, Chu Đức Hy朱德熙
1.1.3 Hư từ và phân loại hư từ trong tiếng Việt
Tác giả Tiêu chí phân loại Số
Từ loại trung gian
đại từ trợ từ, cảm từ Đinh Văn
tình thái từ (tiểu từ, trợ
từ, thán từ) Nguyễn Anh
Quế
- tổ chức đoản ngữ
- chức năng cú pháp
6
phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ, phụ từ (ngữ khí từ, cảm thán từ)
Hoàng Văn
Thung
- tổ chức đoản ngữ
- chức năng cú pháp
5
phụ từ (định từ, phó từ) kết từ, tiểu từ (trợ từ, tình thái từ)
tình thái từ (trợ từ, tiểu
từ, từ tình thái (trợ từ, tiểu
từ, thán từ) Diệp Quang
Trang 11Tác giả Tiêu chí phân loại Số
Từ loại trung gian
từ, trợ từ, thán từ, tiểu từ, ngữ khí từ, quán ngữ
1.1.4 Quan niệm về hư từ và phân loại hư từ của luận án
1.1.4.1 Tiêu chí xác định và phân chia tiểu loại hư từ tiếng Việt
Chúng tôi áp dụng một hệ tiêu chí được đa số các nhà nghiên cứu
chấp nhận, bao gồm: (1) ý nghĩa khái quát, (2) tổ chức đoản ngữ (vai tròcủa từ trong đoản ngữ), (3) chức vụ cú pháp (vai trò của từ trong câu)
1.1.4.2 Khái niệm hư từ tiếng Việt
Hư từ là những từ không mang nghĩa từ vựng Trong đó, một số làm
thành tố phụ trong đoản ngữ (phó từ), một số khác có chức năng biểu thị các quan hệ ngữ pháp (quan hệ từ) hoặc ý nghĩa tình thái ở cấp độ câu
(trợ từ)
1.1.4.3 Phân chia tiểu loại hư từ
Hình 1.1 Sơ đồ phân chia tiểu loại hư từ tiếng Việt
Bước 2 (dựa vào cấu trúc đoản ngữ)
Bước 3 (dựa vào chức vụ cú pháp)
Trang 121.2.1.1 Tiếp xúc ngôn ngữ
Tiếp xúc ngôn ngữ (language contact) là hiện tượng phổ biến đối với
mọi ngôn ngữ trên thế giới Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởnglẫn nhau giữa các ngôn ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ
1.2.1.2 Vay mượn từ vựng
“Vay mượn từ vựng là một trong những phương thức quan trọng để
bổ sung cho vốn từ vựng của một ngôn ngữ.” Từ vựng vay mượn từ cácngôn ngữ khác được gọi là “từ ngoại lai”
1.2.1.3 Từ ngoại lai
1.2.1.4 Phân kì quá trình tiếp xúc Hán-Việt
Hình 1.2 Biểu diễn các giai đoạn tiếp xúc Hán-Việt 1.2.2 Từ Hán Việt
1.2.2.1 Cách đọc Hán Việt
Cách đọc Hán Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt vớitiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra vào đời Đường, theo hệ thống ngữ âmtiếng Hán mà cụ thể là hệ thống Đường âm (khoảng thế kỉ VIII-X)
1.2.2.2 Khái niệm từ Hán Việt
Từ Hán Việt là một phạm vi mở, không cố định, nó có thể thay đổitheo thời gian Trong số từ Hán Việt không phải tất cả đều có nguồn gốcHán Nếu phân chia về mặt nguồn gốc có thể chia từ Hán Việt thành cácnhóm:
Vay mượn có hệ thống lần 2 (từ Hán Việt hiện
đại)
Vay mượn phi hệ thống
Cọ xát gián tiếp Cọ xát gián tiếp
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4
Trang 13Hình 1.4 Phân biệt từ Hán Việt về nguồn gốc
1.2.2.3 Vấn đề cấu trúc của từ Hán Việt
Trong bộ phận từ vựng vẫn được gọi chung là từ Hán Việt hiện nay,
có những đơn vị không có khả năng hoạt động độc lập với tư cách từ.Chúng chỉ là những hình vị, những yếu tố cấu tạo từ Hoặc có cả nhữngđơn vị tương đương với từ (cụm từ cố định, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ)
Ở đây chúng tôi sử dụng thuật ngữ “từ” (word) để gọi chung cho các đơn
vị từ vựng dưới từ và tương đương với từ
1.2.2.4 Tiêu chí xác định và quan niệm về từ Hán Việt
- Không phải tất cả những từ ngữ mang vỏ ngữ âm Hán Việt đều là
Chúng tôi quan niệm từ Hán Việt là từ có âm đọc Hán Việt, hoạt
động trong các văn bản tiếng Việt, được vay mượn trực tiếp hay gián tiếp
từ tiếng Hán hoặc do người Việt tự tạo trên cơ sở ghép các yếu tố gốc Hán Việt