Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Vai trò của phương tiện tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC” để làm đề tài nghiên cứu.. Để đạt được mục đích đó, chúng tôi tập trung giả
Trang 11 Lý do chọn đề tài
rong những năm gần đây, giới Việt ngữ học quan tâm nhiều đến tình thái và đã có nhiều bài viết, chuyên luận về vấn
đề này Tuy nhiên, các tác giả hiểu và tiếp cận vấn đề tình thái với nhiều cách khác nhau, phổ biến nhất là quan điểmxem tình thái là tình cảm và cảm xúc của người nói Thực tế, tình thái không hẳn chỉ là những thông tin liên quan đến tìnhcảm, cảm xúc mà nó còn liên quan đến nhiều phương diện khác nữa, như: tình thái của hành động phát ngôn, tình thái củanội dung mệnh đề, v v Thấy được điều đó, và để có cơ sở xác thực, chúng tôi chọn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh(HBC) làm ngữ liệu nghiên cứu Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông phản ánh phong phú khẩu ngữ địa phương Nam Bộ -chân chất, mộc mạc và ẩn chứa nhiều đặc sắc, thú vị Tuy nhiên, cho đến nay việc xem các phương tiện biểu thị ý nghĩatình thái (PTTT) trong tiểu thuyết của HBC như là đối tượng nghiên cứu vẫn còn để ngỏ Vì vậy, việc n ghiên cứu PTTT
sẽ là thiết thực và có ý nghĩa thực tiễn Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Vai trò của phương tiện tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC” để làm đề tài nghiên cứu
T
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được hình thành nhằm mục đích khảo cứu toàn diện và có hệ thống về tác dụng, chức năng của PTTT
có trong tiểu thuyết của HBC Để đạt được mục đích đó, chúng tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: i) Tìm ranhững tiêu chí nhận diện PTTT, lập danh sách và thống kê tần số của chúng trong tiểu thuyết của HBC; ii) Phân tích tácdụng, chức năng của các PTTT mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ; iii) Tìm hiểu vai trò của các PTTT trong việc hìnhthành lực ngôn trung cho các hành động ở lời, sự kết hợp và tầm tác động của chúng trong tiểu thuyết của HBC
Trang 23 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3 1 Vấn đề tình thái trong logic và trong ngôn ngữ học
Tình thái (modality), một vấn đề rất rộng và phức tạp, đã được logic học, ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Logichọc đi đầu trong nghiên cứu tình thái Ngay từ thời cổ đại, Aristote đã bàn về mệnh đề tình thái, khi đó tình thái gắn với sựphân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ
và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế Đến 1932, việc đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ mới được
thể hiện rõ Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique française, Ch Bally đã chủ trương phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của người nói đối với nội dung ấy Trong
đó, Ch Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus để chỉ thái độ của người nói, tức tình thái J.
Lyons (1995) cho rằng tình thái logic được biểu thị qua khái niệm tính khả năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tìnhthái được nhận thức qua hai phạm trù cơ bản là tình thái nhận thức và tình thái đạo lý Những quan niệm về tình thái nêutrên đã cho thấy cách giải quyết ý nghĩa của tính tình thái có nhiều điểm khác nhau giữa các tác giả
3 2 Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học
Khảo cứu tài liệu, chúng tôi thấy có hai nhóm tác giả đề cập đến vấn đề tình thái, nhóm không trực tiếp quan tâm
đến tình thái và nhóm trực tiếp quan tâm đến tình thái i) Nhóm không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái nhưng trong
quá trình xử lý những vấn đề khác họ đã nhắc đến tình thái ii) Nhóm trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái đã có nhữngquan điểm rõ ràng về tình thái Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, ở mỗi tác giả có kiến giải khác nhau
3 3 Vấn đề trợ từ tình thái
Khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thấy có một nhóm phương tiện được sử dụng để biểu thị thái độ của người nói, và
thường đứng cuối câu, bổ sung cho câu ý nghĩa tình thái, như: a, chớ, há, nha, nè, v v (1), và một nhóm phương tiện
Trang 3chuyên dùng để nhấn mạnh vào ý nghĩa của một bộ phận nào đó của câu (rồi khái quát lên toàn câu) như: chính, cả, đến, chỉ, v v (2)
Nhóm các phương tiện (1) được các tác giả gọi là tình thái từ Nhóm các phương tiện (2) được hầu hết các tác giảViệt ngữ học gọi là trợ từ, hay cụ thể là trợ từ nhấn mạnh, nhưng ở mỗi tác giả có quan điểm khác nhau Trong phạm vicủa luận án này, chúng tôi gộp chung những phương tiện (1) và (2) vào cùng một loại và thống nhất gọi là trợ từ tình thái
3 4 Vấn đề quán ngữ tình thái
Tham khảo tài liệu, chúng tôi thấy quán ngữ chưa được các nhà nghiên cứu Việt ngữ quan tâm nhiều Thực tế chỉ cómột vài tác giả nhắc đến quán ngữ trong những công trình thuộc về từ vựng học, như Nguyễn Văn Tu (1976), Đỗ HữuChâu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), v v Những tác giả này có đề cập đến quán ngữ nhưng cũng chỉ là những gợi
mở ban đầu Một số tác giả khác cũng có đề cập đến quán ngữ nhưng chỉ xem nó như là những phương tiện “hiện thựchoá” cho các đơn vị có liên quan trong từ pháp, cú pháp, v v
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận án này là PTTT được sử dụng trong tiểu thuyết của HBC Trong đó, chúng tôi tậptrung khảo cứu vai trò của những PTTT mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ Luận án không nghiên cứu chi tiết khái niệm,cách xác định, phân loại, v v các PTTT có trong tiếng Việt mà chỉ điểm qua một số nét tiêu biểu để làm cơ sở cho việcnghiên cứu vai trò của chúng có trong ngôn ngữ tiểu thuyết của HBC
4 2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án này là vai trò của PTTT có trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC Cụ thể, luận án khảosát, miêu tả, phân tích những PTTT mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ Đặc biệt, luận án nghiên cứu chi tiết về những gì
Trang 4có liên quan đến thông tin kèm theo sự tình được trình bày trong câu nói thông qua một số trợ từ tình thái, quán ngữ tìnhthái.
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5 1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp và thủ pháp sau: (i) Phương pháp phân tích phân bố, (ii) Phương pháp phântích ngữ nghĩa, (iii) Các phương pháp và thủ pháp khác như thống kê, so sánh – đối chiếu, thay thế, cải biến
5 2 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong luận án này chủ yếu trong 52/ 64 tác phẩm tiểu thuyết của HBC, 18 tác phẩm
trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Gieo gió gặt bão của Bình Nguyên Lộc, và một số tác phẩm của một số tác giả phía Bắc như Tắt đèn, Lều chõng của Ngô Tất Tố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Số đỏ của Vũ
Kết quả nghiên cứu của luận án này có thể làm tài liệu tham khảo cho n h ữ n g đ ề t à i c ó l i ê n q u a n L u ậ n
á n c ũ n g c ó thể là tài liệu hỗ trợ cho việc học và dạy tiếng Việt trong nhà trường
Trang 57 Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm có ba chương như sau: Chương 1:Một số cơ sở lý thuyết, Chương 2: Vai trò của trợ từ tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC, Chương 3: Vai trò củaquán ngữ tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC
Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 1 Vấn đề tình thái
1 1 1 Khái niệm tình thái
ình thái là một phạm trù thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung mệnh đề, với người đốithoại và với các nhân tố khác có liên quan đến sự tình được nêu ra Nó cùng với nội dung mệnh đề là hai thànhphần trọng yếu tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, góp phần thực tại hoá câu, gắn câu với điều kiện giao tiếp hiện thực
T
1 1 2 Một số phạm trù tình thái chủ yếu
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu về tình thái mà chúng tôi tham khảo được, cùng với việc khảo sát thực tế,
chúng tôi thấy có một số phạm trù tình thái chủ yếu sau: (i) Tình thái khách, (ii) Tình thái chủ quan, (iii)Tình thái nhận thức, (iv) Tình thái đạo lý, (v) Tình thái hàm thực, (vi) Tình thái hàm hư, (vii) Tình thái của hành động phát ngôn , (viii) Tình thái của lời phát ngôn.
Trang 61 2 Vấn đề lý thuyết hành động ngôn từ
Trong sinh hoạt hàng ngày, con người thường thực hiện nhiều hành động khác nhau, trong số các hành động ấy cómột hành động đặc biệt, đó là hành động ngôn từ (speech act) Hành động ngôn từ là hành động được thực hiện nhờphương tiện là ngôn ngữ
J L Austin cho rằng hành động ngôn từ gồm ba loại lớn: hành động tạo lời (locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act) và hành động ở lời (illocutionary act) Thực tế, thuật ngữ hành động ngôn từ được dùng để chỉ hành
động ở lời, vì trong số các hành động trên chỉ có hành động ở lời và hiệu lực của nó là đối tượng của ngữ dụng học Hànhđộng ở lời là những hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộcngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Hành động ở lời khôngphải được thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân theo một số điều kiện nhất định J L Austin xem các điều kiện sửdụng các hành động ở lời là những điều kiện "may mắn" nếu chúng được đảm bảo thì mới thành công, đạt hiệu quả, nếukhông nó sẽ thất bại Sau này, J R Searle đã điều chỉnh lại và gọi là điều kiện thỏa mãn Ông nêu ra 4 loại điều kiện thỏa
mãn sau đây: (i) nội dung mệnh đề, (ii) chuẩn bị, (iii) tâm lý, (iv) căn bản.
1 3 Vấn đề trợ từ tình thái
1 3 1 Khái niệm
Trợ từ tình thái (TrTTT) là phương tiện biểu thị thái độ, cách đánh giá của người nói đối với người nghe, đối với sựtình trong câu Chúng không tham gia vào thành phần nòng cốt của cụm từ/ câu mà làm yếu tố phụ bổ sung cho câu ý
nghĩa ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vui mừng, lễ phép, lượng, nhấn mạnh.
1 3 2 Đặc điểm của trợ từ tình thái
Trang 7- Trên bình diện ngữ nghĩa, TrTTT biểu thị thái độ, sự đánh giá của người nói đối với nội dung của phát ngôn, đốivới thực tế và đối với người đối thoại
- Trên bình diện cú pháp, TrTTT không tham gia vào thành phần nòng cốt của cụm từ, của câu Chúng có thể đượclược bỏ mà không làm thay đổi nội dung chính của mệnh đề
1 4 Vấn đề quán ngữ tình thái
1 4 1 Vài nét về quán ngữ
Trong Việt ngữ, quán ngữ được nhiều nhà nghiên cứu từ vựng quan tâm Nó được xem là đơn vị từ vựng tươngđương với từ, đó là tổ hợp cố định được “dùng lâu thành quen” theo “phản xạ” trong nói năng Tham khảo tài liệu, chúngtôi thấy có một số quan niệm về quán ngữ như sau:
+ Về hình thức, quán ngữ là tổ hợp từ cố định được dùng lặp đi lặp lại
+ Về chức năng, quán ngữ dùng để đưa đẩy, liên kết hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó
1 4 2 Quán ngữ tình thái
1 4 2 1 Khái niệm
Quán ngữ tình thái (QNTT) là ngữ cố định, được dùng nhiều dần thành quen, có tính ổn định tương đối về kết cấu.Chúng được dùng để bổ sung một nội dung tình thái nào đó cho câu nói
1 4 2 2 Đặc điểm của quán ngữ tình thái
- QNTT có tính ổn định tương đối về cấu trúc, có chức năng đánh giá, bộc lộ thái độ
- Về chức năng tạo câu, QNTT tương đương với từ
- Về ý nghĩa, QNTT có ý nghĩa tương đương với ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ
Trang 81 5 Khẩu ngữ và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
1 5 1 Khẩu ngữ
Nói đến khẩu ngữ là nói đến lời nói miệng hằng ngày, phần nhiều mang tính tự nhiên, thoải mái, sinh động, gần gũi
Từ ngữ khẩu ngữ được dùng với tư cách cá nhân để trao đổi tư tưởng, tình cảm của người nói với người đối thoại Từ ngữkhẩu ngữ thường phản ánh hiện thực các biến thể ngữ âm, từ ngữ, ngữ nghĩa, các từ địa phương trong tiếng Việt
1 5 2 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
- Về phương diện ngữ âm, để phản ánh đời sống thường ngày và cách ăn nói của từng nhân vật, HBC đã ghi lại các
biến thể phát âm một cách chân thực trong từng tác phẩm tiểu thuyết của mình Những biến thể phát âm này thường là
hiện tượng rút ngắn, thay đổi độ mở, thay đổi dòng của nguyên âm: nhơn/ nhân, chớ/ chứ, chớ sao/ chứ sao, thiệt tình/ thật tình,
- Về phương diện từ vựng - ngữ nghĩa, HBC vận dụng một cách khéo léo và phong phú phương ngữ Nam Bộ vào
từng tác phẩm tiểu thuyết của mình Đó là thứ “ngôn ngữ ngồn ngộn chất sống và giàu màu sắc địa phương”, như: ráng, quấy, xài, trả treo, lơn tơn, ngòn nghẻn, tèm lem, bộ, đa, hén, lận, tới, coi bộ, giống gì, hèn chi, nghe hôn (hông), thây kệ,
v v
- Về phương diện cú pháp, ngôn ngữ tiểu thuyết của HBC đôi chỗ thể hiện sự quá mới lạ trên con đường sáng tạonhững cấu trúc mới, cách nói mới khi tiếp xúc với nền văn học, văn hóa phương tây, trong giai đoạn giao thời: cái cũ, cái
mới đan xen nhau Sự mới lạ tập trung nhiều ở những cấu trúc câu có yếu tố lặp, dư thừa, nhấn mạnh, v v.; cấu trúc câu
có ba phần (mở - thân - kết); cấu trúc câu diễn đạt liệt kê, v v hoặc cách dùng các quan hệ từ, phụ từ, trợ từ, cặp phụ
từ, trong cấu trúc câu
Trang 9Chương 2 VAI TRÒ CỦA TRỢ TỪ TÌNH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH
2 1 Khảo sát, thống kê
2 1 1 Phạm vi và đối tượng khảo sát, thống kê
uận án khảo sát, thống kê các TrTTT có trong 52 tác phẩm tiểu thuyết của HBC và một số tác phẩm văn học ở Bắc
Bộ và Nam Bộ
L
2 1 2 Kết quả khảo sát, thống kê
Dựa vào cách hiểu TrTTT và các đặc điểm của chúng như đã nêu ở mục 1 3 1 và 1 3 2., đồng thời dựa vào danh
sách các trợ từ được ghi trong Từ điển tiếng Việt – Hoàng Phê (chủ biên), chúng tôi tiến hành khảo sát 14.480 trang ngữ liệu Kết quả thống kê được 58 TrTTT Trong số 58 TrTTT này, chúng tôi đã nhận diện được 15 TrTTT NB Tuy nhiên, tần số xuất hiện của các TrTTT này không tương đồng, có TrTTT NB chỉ xuất hiện một lần duy nhất, như: hén (1 lần); có TrTTT NB xuất hiện hơn hai nghìn lần, như: chớ (2295 lần); lại có những TrTTT NB xuất hiện ít hơn so với TrTTT TD tương đương, như: chánh/ chính (5/ 95) Ngoài ra, chúng tôi khá bất ngờ bởi những TrTTT quen dùng trong khẩu ngữ địa phương Nam Bộ, như: nha, nhe, hà, hen, hé lại không thấy xuất hiện trong tiểu thuyết của HBC Một điểm khá thú vị là
trong tác phẩm của mình, HBC vừa sử dụng TrTTT TD vừa sử dụng TrTTT NB để biểu thị cùng một nghĩa tình thái,những TrTTT này có khi xuất hiện trong cùng một tác phẩm
2 2 Đặc điểm - chức năng của TrTTT trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
2 2 1 Phương diện từ vựng - ngữ âm
2 2 1 1 Nhóm TrTTT biến thể ngữ âm
Trang 10Trong số 15 TrTTT NB được nhận diện, chúng tôi thống kê được 06 TrTTT có biến đổi hình thức ngữ âm so với
TrTTT tương đương trong ngôn ngữ toàn dân, như: chánh/ chính, chớ/ chứ, nè/ này, thiệt/ thật, v v
Trong ngữ liệu khảo sát, các TrTTT NB có biến thể ngữ âm được hầu hết các nhân vật thuộc giới bình dân sử dụng,
còn các TrTTT TD tương đương được các nhân vật thuộc giới trí thức sử dụng Cụ thể, toàn ngữ liệu TrTTT thiệt xuất
hiện 358 lần thì có đến 267 lần được các nhân vật thuộc giới bình dân sử dụng
2 2 1 2 Nhóm TrTTT có ngữ âm khác hoàn toàn
Chúng tôi nhận diện được 09 TrTTT có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với TrTTT tương đương trong ngôn ngữ
toàn dân, như: bộ, coi, đa, đó, há (hé), hén, lận, mới, tới Trong số này có một vài TrTTT có nguồn gốc từ tiếng Khmer
bản địa Ngoài những TrTTT có nghi vấn về nguồn gốc vay mượn như trên, số còn lại là sản phẩm của dân cư vùng đấtmới này
2 2 2 Phương diện ngữ nghĩa
2 2 2 1 Nhóm TrTTT bộ phận câu
Biểu thị ý nghĩa đánh giá lượng – mức độ
Như chúng ta biết, đánh giá là một hoạt động gắn liền với nhận thức của con người Trong đời sống hàng ngày, conngười luôn tìm hiểu thế giới xung quanh, để từ đó đưa ra những nhận định về chúng theo những thang độ phù hợp cảmquan cá nhân Theo đó, khi giao tiếp, con người thường sử dụng những phương tiện ngôn ngữ (trong đó có TrTTT) đểbiểu thị những nhận định hay đánh giá
(1) Ở khách sạn mỗi ngày tới sáu cắc, còn ăn cơm hết ba bốn cắc nữa, nếu ở như vậy hoài thì làm sao mà đủ xài nữa (ALĐ)
(2) Bà Hương bộ Bảy đem lo cho ổng đến hai trăm đồng bạc mà ổng không thèm ăn, ổng kêu ổng trả lại.(CNN)
Trang 11(3) Tới mùa gặt đầu năm 1931, bà Cả Hoàng thâu góp cằn sãy hết sức, mà chỉ được năm ngàn giạ lúa (CG) Ngoài việc miêu tả số lượng thực “sáu cắc”, “hai trăm đồng bạc”, (1) và (2) còn biểu thị ý đánh giá số lượng
“nhiều” qua TrTTT tới, đến TrTTT chỉ trong (3) biểu thị ý đánh giá số lượng “ít”
Đọc ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thấy tác giả rất tinh tế trong việc xây dựng ngôn ngữ cho hai giới nhân vật Giớinhân vật trí thức sử dụng lời thoại phần nhiều là từ ngữ toàn dân, còn giới nhân vật bình dân thì sử dụng lời thoại mangđậm tính khẩu ngữ địa phương Trong đó, TrTTT cũng được sử dụng rất khéo léo để phù hợp cho từng giới nhân vật
Biểu thị ý nghĩa nhấn mạnh
Khi giao tiếp, người nói luôn mong muốn người đối thoại tiếp nhận được nội dung chính của vấn đề cần truyền đạt
Để thực hiện điều này, họ thường sử dụng một số phương tiện ngôn ngữ để nhấn mạnh nội dung trọng tâm của thông báo,nhằm thu hút sự chú ý của người đối thoại vào những tiêu điểm nhất định Trong số những phương tiện ngôn ngữ ấy,TrTTT thường dùng để đánh dấu hay định vị thành phần câu được nhấn mạnh Trong ngữ liệu khảo sát, các nhân vật sử
dụng 09 TrTTT để biểu thị ý nghĩa nhấn mạnh tính khẳng định, bao gồm: cả, cái, chánh, đã, đích, mới, phàm, quả, riêng Trong số này, chánh, mới là hai TrTTT NB.
(4) Chánh tay tôi đâm Chí Cao chết, chớ không phải ai đâu (CK)
TrTTT chánh là biến thể ngữ âm của TrTTT chính, TrTTT này được nói theo khẩu ngữ địa phương Nam Bộ TrTTT chánh trong (4) biểu thị ý nghĩa khẳng định dứt khoát của người nói về vấn đề đang cần bàn luận với cái vấn đề được nêu ra là có quan hệ, đồng nhất Đồng thời, TrTTT chánh cũng có ý bác bỏ mọi khả năng khác có thể được nói tới
hay nghĩ tới
2 2 2 2 Nhóm TrTTT câu
Trang 12Trong số 15 TrTTT NB, chúng tôi nhận diện được 11 TrTTT câu, đó là các TrTTT: bộ, chớ, coi, đa, đó, há (hé), hén, lận, nè (nà), nghen (nghe, nghé), thiệt Các TrTTT này biểu thị những loại nghĩa tình thái như: thái độ khẳng định, phủ định, nhấn mạnh, trách móc; tình cảm thân mật.
Biểu thị thái độ khẳng định
Để tăng sức thuyết phục đối với người đối thoại, người nói thường sử dụng TrTTT để khẳng định tính chắc chắn,chính xác của điều mình đang nói Theo đó, khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thống kê được 05 TrTTT biểu thị thái độ khẳng
định, như: chớ/ chứ, đây, đó/ đấy, kia, thiệt/ thật Trong số này có 03 TrTTT NB, đó là chớ, đó và thiệt.
(5) Ông nói đó phải lắm chớ (ÔC)
(6) Con phải vưng lời cha chứ (TT)
Trong hai câu trên, TrTTT chớ là biến thể ngữ âm của TrTTT chứ Như vậy, trong câu (5) và (6) khả năng biểu thị
ý nghĩa của TrTTT chứ và chớ là tương đương nhau, khẳng định sự tình vừa nói đến là chính xác, chắc chắn Thái độ
khẳng định là tình thái chung trong hai câu trên
Điểm nổi bật trong ngữ liệu khảo sát là các nhân vật giao tiếp thường hay sử dụng các TrTTT NB nhiều hơn các
TrTTT TD tương đương Cụ thể: chớ/ chứ (2295/ 5), đó/ đấy (459/ 2), thiệt/ thật (357/ 31).
Biểu thị thái độ phủ định
Để biểu thị thái độ phủ định bao quát, triệt để đối với nội dung sự tình trong câu, các nhân vật giao tiếp trong tiểu
thuyết của HBC thường dùng các TrTTT cả 2 , hết, đâu, v v Trong ngữ liệu khảo, các nhân vật giao tiếp ưa dùng TrTTT hết để biểu thị thái độ phủ định bao quát và TrTTT đâu để phủ định bác bỏ, từ chối TrTTT cả 2 hiếm khi được sử dụng
Cụ thể, đâu xuất hiện 3175 lần, hết xuất hiện 1587 lần, cả 2 xuất hiện 05 lần
Biểu thị thái độ giận hờn hoặc tình cảm thân mật, gần gũi
Trang 13Trong tiểu thuyết của HBC, các nhân vật giao tiếp thường dùng những TrTTT sau: à, ha, hén, nè (nà), nghen, nhé,
v v
(7) Nếu quan trên sai con đi tỉnh thì bất tiện dữ há! (BTHH)
Ngoài việc biểu thị nội dung miêu tả về những sự tình, câu (7) còn biểu thị thái độ thân mật, chia sẻ, đồng cảm, vớitình thương yêu của người nói với người đối thoại
Biểu thị thái độ nhấn mạnh
Nhấn mạnh là một trong những chức năng tiêu biểu mà TrTTT đảm nhận trong câu nói Theo đó, ngữ liệu khảo sát
có 14 TrTTT câu biểu thị thái độ nhấn mạnh, như: ấy, đa, đây, đấy, đi, đó, kia, lận, mà, này, nè, rồi, thế, thôi Trong số các TrTTT này, chúng tôi nhận diện được 04 TrTTT NB, như: đa, đó, lận, nè.
(8) Ổng giàu lớn lắm mà người ta nói ổng giàu bằng ba mình lận
Ngoài nội dung trần thuật, câu trên còn có thêm thái độ nhấn mạnh về lượng và mức độ “nhiều” của điều vừa nóiđến
Biểu thị ý nghĩa đánh giá lượng - mức độ
Trong tiểu thuyết của HBC, TrTTT lận là một TrTTT câu tiêu biểu biểu thị ý nghĩa đánh giá lượng – mức độ
Trang 14Xét trên bình diện mục đích phát ngôn, ngữ liệu khảo sát thường dùng câu trần thuật có TrTTT: đa, tới, đó, nè, thiệt, v v.; câu mệnh lệnh có TrTTT: chớ, đi, với, v v.; câu nghi vấn có TrTTT: chớ, hử, lận, v v
2 2 3 2 Bình diện cấu trúc cú pháp
Ở bình diện cấu trúc cú pháp, TrTTT trong tiểu thuyết của HBC làm thành phần tình thái ngữ, có nhiệm vụ đánhdấu lực ngôn trung của câu
2 3 Sự kết hợp và tầm tác động của TrTTT trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
2 3 1 Sự kết hợp của TrTTT trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Như chúng ta biết, TrTTT trong tiếng Việt có khả năng kết hợp với nhau để tạo nên những tổ hợp tình thái đa dạng.Các tổ hợp này không phải là sự lắp ghép ngẫu nhiên hay cơ giới giữa các yếu tố cấu thành, mà giữa các yếu tố này phải
có mối quan hệ ngữ nghĩa, nghĩa là giữa chúng phải có nguyên do ngữ nghĩa Theo đó, mỗi TrTTT trong cùng tổ hợp phải
có cùng hướng nghĩa, cùng mức độ đánh giá, và giữa chúng có sự phân công chức năng bổ sung nghĩa tình thái cho nộidung mệnh đề Dựa theo hướng nghĩa, mức độ đánh giá, biểu thị thái độ, v v., chúng tôi nhận diện và thống kê được 32 tổhợp TrTTT, số này có 23 tổ hợp TrTTT NB (chiếm 71.87%)
2 3 2 Tầm tác động và sự tương tác lẫn nhau giữa các TrTTT trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
2 3 2 1 Tầm tác động và sự tương tác lẫn nhau giữa TrTTT câu và TrTTT bộ phận câu
Trong giao tiếp hàng ngày, để tăng cường mức độ đánh giá lượng - mức độ “nhiều” hay “ít”, người nói thường dùnghai hoặc hơn hai TrTTT trong cùng một câu nói Theo đó trong tiểu thuyết của HBC, các nhân vật giao tiếp cũng sử dụngcách thức này
(10) Ảnh mua tới hai chiếc lận (MGCG)
(11) Nó kéo níu và có đánh em có một bốp tai thôi (NTÂL)