1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiếng việt thơ khuê phụ đời đường

25 559 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu mảng thơ khuê phụ đời Đường có thể thấy được sự độtphá về mặt nhận thức, chiều sâu tư tưởng, tình cảm nhân đạo của những nhà thơ cổ điển sống cách chúng ta hơn một ngàn năm...

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Trải hơn một ngàn năm lịch sử, đã có biết bao công trình nghiên cứu,khám phá cái hay, cái đẹp của thơ Đường nhưng thơ Đường vẫn là một thế giớicòn nhiều điều bí ẩn, vẫn luôn tràn đầy sinh lực và hấp dẫn Lựa chọn nghiêncứu đề tài này chúng tôi mong muốn khám phá thêm một vùng đất màu mỡ còn

ẩn chứa nhiều điều thú vị trong thế giới rộng lớn của Đường Thi

1.2 Mảng thơ khuê phụ ở Trung Quốc đã được quan tâm nghiên cứunhưng đến nay chưa hoàn toàn thống nhất về tên gọi, về nội hàm khái niệm, vìvậy vẫn còn một vài điểm trống khoa học cần bổ sung Mặt khác, nghiên cứusâu về mảng thơ khuê phụ này sẽ góp phần giúp độc giả yêu thơ Đường có cáinhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về diện mạo phong phú của Đường thi

1.3 Việt Nam cũng như một số dân tộc phương Đông có mối quan hệ mậtthiết với nền văn hóa Trung Hoa, trong quá trình xây dựng ngôn ngữ thơ ca củamình đều ít nhiều tiếp thu ảnh hưởng của thơ Đường Vì vậy, nghiên cứu mảngthơ này cũng có cơ sở để nghiên cứu sâu hơn mảng thơ cùng đề tài trong vănhọc Việt Nam

1.4 Hiện nay, thơ Đường vẫn được giảng dạy trong chương trình đại học,cao đẳng và THPT ở Việt Nam Với việc thực hiện đề tài này chúng tôi hy vọng

sẽ bổ sung một lượng kiến thức nhất định về thơ Đường, đặc biệt là về đề tàicủa thơ Đường cho thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy thơ Đường trong các nhàtrường hiện nay

2.3 Khẳng định sự trưởng thành và tiến bộ trong nhận thức và tình cảmcủa thi nhân đời Đường về con người và cuộc đời qua việc khám phá thế giớinội tâm với nhiều khát vọng và ẩn ức của những người khuê phụ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

3.1 Khuê phụ là một đề tài xuất hiện sớm trên thi đàn thơ cổ Trung Hoa.Cũng như các đề tài khác nó đặc biệt hưng thịnh ở đời Đường Rất nhiều nhàthơ nổi tiếng thời kỳ này như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Xương

Linh…đã lấy khuê phụ làm đề tài sáng tác, tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị.

Do đó, để nhận biết sâu sắc diện mạo thơ Đường không thể không tìm hiểumảng thơ đặc biệt này

3.2 Nghiên cứu mảng thơ khuê phụ đời Đường có thể thấy được sự độtphá về mặt nhận thức, chiều sâu tư tưởng, tình cảm nhân đạo của những nhà thơ

cổ điển sống cách chúng ta hơn một ngàn năm

Trang 2

Mặt khác, ở mảng thơ này ít có chủ thể trữ tình trực tiếp, chủ yếu là chủ thể trữ tình nhập vai “nam tử tác khuê âm” (nhà thơ nam viết thay lời người

phụ nữ chốn khuê phòng) Trong văn học Việt Nam cũng có nhiều trường hợptương tự, việc phân tích mảng thơ này có thể gợi ý cho việc phân tích những tácphẩm có nét tương đồng ở Việt Nam

3.3 Khi cuộc sống của con người hiện đại càng nhiều “ưu tư” thì những

“ưu tư” của những người khuê phụ càng tìm được sự đồng cảm, sẻ chia Do đótìm hiểu cuộc sống của người phụ nữ thời xưa qua mảng thơ khuê phụ đờiĐường cũng là một cách chiêm nghiệm những giá trị cuộc sống nhân sinh

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi văn bản khảo sát:

Về phạm vi của thơ khuê phụ, chúng tôi có dựa trên cách khái niệm hóa

từ khuê phụ (闺妇) Ở đây, hình tượng nhân vật khuê phụ không chỉ chung phụ

nữ mà là những người phụ nữ đã có chồng (người vợ) Nét đặc trưng của nhân

vật là thế giới nội tâm phong phú, tinh tế với tình điệu chính là buồn thương aioán Nguyên nhân sâu xa của những tâm tình nơi khuê phòng ấy là hoàn cảnh

vợ chồng ly biệt hoặc người phụ nữ bị chồng phụ bạc bỏ rơi, phải một mình côquạnh nơi phòng vắng

Trong giới hạn đề tài, chúng tôi tổng hợp khảo cứu được 234 bài thơ vềhình tượng khuê phụ, từ các tuyển tập thơ Đường được tuyển chọn và dịch ởViệt Nam Ngoài ra, từ gợi ý của một số chuyên luận nghiên cứu liên quan đếnmảng thơ này chúng tôi có tham khảo thêm một số bài từ nguyên tác tiếng Hán

trong Toàn Đường thi (Bành Định Cầu).

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Nghiên cứu tổng thể thơ khuê phụ rất rộng, là việc làm công phu, vì vậychúng tôi chỉ tập trung vào những vấn đề rất cơ bản như:

- Nội dung tư tưởng chủ đạo của thơ khuê phụ qua việc “giải mã” nét đặctrưng của chủ thể trữ tình và nhân vật trong thơ

- Đặc trưng hình thức nghệ thuật của thơ khuê phụ trong tính cách là mộtmảng đề tài của thơ Đường

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện Luận án này dựa trên sự phối hợp của hai cách tiếpcận: thi pháp học và văn hóa, trong đó cách tiếp cận từ thi pháp học là chủ đạo.Đồng thời chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

6 Cấu trúc của Luận án

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục,phần nội dung chính của Luận án được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trang 3

Chương 2: Sự hưng thịnh của thơ khuê phụ đời Đường

Chương 3: Chủ thể trữ tình trong thơ khuê phụ đời Đường

Chương 4: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trong thơ khuê phụ đời Đường

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu thơ khuê phụ ở Trung Quốc

1.1.1 Về tuyển thơ

Việc nghiên cứu thơ khuê phụ đã bắt đầu manh nha từ thời Đường, thôngqua việc tuyển thơ – phương pháp nghiên cứu nguyên thủy nhất của Đường thihọc Trong các tuyển tập thơ Đường dù lớn hay nhỏ đều ít nhiều có tuyển thơkhuê phụ, cố nhiên chỉ là những bài thơ riêng lẻ như là dẫn chứng tiêu biểu chomột thể thơ, một giai đoạn hay một nhà thơ cụ thể nào đó Sau này việc biêntuyển càng cụ thể, phong phú hơn, hoặc theo thể thơ hoặc theo đề tài, giai đoạnphát triển, theo nội dung, theo tác giả…, mỗi cách đều có mặt những bài thơkhuê phụ nổi tiếng Như vậy, các biên tuyển có thể tạo “hạ tầng cơ sở” cho việcnghiên cứu nội dung và nghệ thuật thơ

1.1.2 Về tên gọi

Mảng thơ viết về nhân vật khuê phụ thường được gọi là thơ khuê oán (nỗi oán trong phòng khuê), cũng có người gọi là khuê tình (tình cảm nơi khuê phòng), cũng có người giới hạn trong khái niệm tư phụ (người vợ nhớ nhung).

Cách gọi tên như vậy cũng chỉ là tương đối, vì tâm sự của người nơi khuê

phòng không chỉ có tư, không chỉ có oán, trong nỗi nhớ nhung đã chất chứa bao

nhiêu nỗi sầu, đã đầy oán giận và trong mỗi lời oán than cũng gửi bao nỗi

nhớ… Nhiều bài thơ được xếp vào thơ khuê oán lại được dẫn chứng khi bàn về thơ tư phụ hay thơ khuê tình và ngược lại Do đó, để thống nhất và xâu chuỗi

những bài thơ miêu tả hình tượng nhân vật khuê phụ (những người vợ cô đơnnơi khuê phòng) chúng tôi khu biệt mảng thơ này với những mảng đề tài kháctrong thơ Đường bằng hình tượng nhân vật chính (người khuê phụ): Thơ khuêphụ

1.1.3 Về nội dung và nghệ thuật

Bàn đến nội dung và nghệ thuật của những bài thơ về hình tượng nhân vậtkhuê phụ trong tư cách là một mảng đề tài riêng đầu tiên là Đường Nhữ Tuần

(đời Minh) trong cuốn Đường thi giải Mặc dù không bàn đến đặc trưng nội

dung và nghệ thuật hoặc các đối tượng cụ thể của mảng thơ nhưng các nhậnđịnh và chú giải của tác giả về các bài thơ tiêu biểu đã mang đến những hìnhdung sơ bộ về diện mạo của mảng thơ này

Từ sau Ngũ Tứ, phương pháp khoa học mới tràn vào Trung Quốc, giớinghiên cứu dần dần thoát khỏi việc phê bình kiếu ấn tượng thời kỳ trước, bắttay vào chỉnh lý, biên tập tài liệu một cách hệ thống Từ đây, có nhiều luận vănkhoa học và chuyên luận nghiên cứu sâu, rộng hơn về thơ Đường, cả dưới góctiếp cận liên ngành

Trang 4

Một là, các bài viết tổng hợp về cuộc sống của người phụ nữ trong thơĐường, trong đó cũng đề cập đến cuộc sống (nhất là cuộc sống tinh thần) củanhững người phụ nữ chốn khuê phòng Tuy nhiên, các bài viết này mới tổnghợp hình ảnh người phụ nữ dưới thời nhà Đường thông qua thơ Đường từ gócnhìn vĩ mô, còn những thiếu thốn, mất mát của của họ trong cuộc sống riêng tưhay những nhu cầu khát vọng cá nhân của họ chưa được bàn đến một cách thấuđáo Có một số chuyên luận nghiên cứu đã trực tiếp bàn về các vấn đề liên quan

đến nội dung, nghệ thuật của thơ khuê phụ dưới tên gọi khá phổ biến là thơ khuê oán, tuy nhiên các công trình nghiên cứu chỉ chủ yếu khám thơ khuê phụ ở

phương diện khách thể, chưa đi sâu lý giải từ phương diện chủ thể, nhất là chủthể trữ tình nhập vai – một đặc trưng thi pháp của mảng thơ này

1.1.4 Về các nhà thơ tiêu biểu của thơ khuê phụ

Hình tượng nhân vật khuê phụ đã đi vào sáng tác của rất nhiều nhà thơđời Đường, cũng làm nên nhiều tác phẩm có giá trị trong sự nghiệp thơ ca củanhững nhà thơ ấy Vì vậy, khi tìm hiểu về các nhà thơ tiêu biểu đời Đường, cácnhà nghiên cứu không thể không nhận ra vị trí của những bài thơ thuộc mảng đềtài này trong số những tác phẩm của họ Từ những tư liệu tiếp cận được, chúngtôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu thơ Đường đều có quan điểm khá thống nhất:Một là số lượng nhà thơ sáng tác thơ khuê phụ khá nhiều, từ thời Sơ Đường đếnthời Vãn Đường đều có nhà thơ nổi tiếng sáng tác đề tài này và để lại những tácphẩm có giá trị Trong đó, nhà thơ có số lượng thơ khuê phụ nhiều nhất vàthành công nhất là Lý Bạch và Bạch Cư Dị

Mặc dù chỉ là những nhận định riêng lẻ, không mang tính hệ thống, kháiquát nhưng những nghiên cứu này đã giúp người đọc có cái nhìn sâu và toàndiện hơn về mảng thơ khuê phụ đời Đường

1.2 Nghiên cứu thơ khuê phụ ở Việt Nam

1.2.1 Về tuyển thơ

Cũng như ở Trung Quốc, hiện nay ở Việt Nam chưa có một tuyển tập thơnào về riêng đề tài khuê phụ Những bài thơ khuê phụ chỉ có mặt trong cáctuyển tập thơ Đường tiêu biểu, gắn với một thể thơ, một nhà thơ cụ thể Tuynhiên, hầu hết những bài thơ khuê phụ nổi tiếng nhất đã được dịch và giới thiệu

ở Việt Nam Trong phạm vi tư liệu hiện có, chúng tôi thống kê có 95 bài thơ vềhình tượng nhân vật khuê phụ trong thơ Đường đã được dịch và giới thiệu ởViệt Nam Sự có mặt của những bài thơ khuê phụ trong các tuyển tập thơ tiêubiểu ở Việt Nam đã góp phần khẳng định vị trí của mảng thơ này trong thế giớithơ Đường

1.2.2 Về nội dung, nghệ thuật thơ khuê phụ:

Thơ Đường vào Việt Nam rất sớm và được chú ý từ những ngày đầu cómặt ở Việt Nam, minh chứng là dấu vết đậm nét của nó trong sáng tác của các

nhà thơ Trung đại Việt Nam Từ thời Lý Trần đã xuất hiện Khuê oán (Trần

Nhân Tông) với chủ đề, mô tip, hình ảnh đặc trưng của những bài thơ khuê phụ

đời Đường, sau này có Thu thanh của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyện Kiều của

Trang 5

Nguyễn Du Đặc biệt là Đặng Trần Côn, chúng tôi cho rằng đây là người đầutiên nghiên cứu mảng thơ khuê phụ đời Đường một cách sâu, rộng nhất ở ViệtNam Bởi vì, nếu không nghiên cứu kỹ làm sao nhà thơ có thể tiếp nhận mộtcách sáng tạo thơ cổ Trung Hoa, nhất là thơ Đường để viết nên khúc ngâmchinh phụ bất hủ Theo đó, chúng tôi cũng nhận định rằng, các nhà nghiên cứu,

giới học giả sau này khi nghiên cứu chú thích, bình giải cho Chinh phụ ngâm

cũng chắc chắn đã tìm hiểu kỹ mảng thơ khuê phụ trong kho tàng thơ ca cổ điểnTrung Quốc Như Phan Huy Chú, Lại Ngọc Cang, Đặng Thai Mai …Nhất là

gần đây, trong công trình nghiên cứu khá đầy đặn về mối quan hệ giữa Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và thơ ca cổ Trung Quốc, Giáo sư Nguyễn Khắc

Phi đã nghiên cứu khá kĩ lưỡng và công phu thơ ca cổ Trung Quốc, trong đó cómảng thơ khuê phụ đời Đường này Bởi như đã nói ở trên, vì nghiên cứu rất kỹnên tác giả đã hiểu rõ vì sao cùng miêu tả chiến tranh khá nhiều mà thơ Đỗ Phủ,Bạch Cư Dị để lại dấu ấn trong khúc ngâm ít hơn nhiều so với thơ Lý Bạch Dovậy, dù không trực tiếp bàn về mảng thơ khuê phụ đời Đường, nhưng những tài

liệu nghiên cứu về Chinh phụ ngâm trên đây của các nhà nghiên cứu Việt Nam

đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý giá cho việc thực hiện đề tài luận

án này

Ngoài ra, nội dung và nghệ thuật của thơ khuê phụ cũng thường đượcnhắc đến trong các phần giới thiệu khái quát về thơ Đường, về các tác giả cụ thểtrong các tuyển tập thơ Một số chuyên luận nghiên cứu như của Mai Thị Thanh

Loan (2006) với đề tài Biệt ly trong thơ Đường cũng có bàn đến một số bài thơ

miêu tả nỗi niềm ly biệt của vợ chồng; Luận văn thạc sỹ của tác giả Nông Thị

Nhâm (2009) nghiên cứu trực tiếp về Thơ khuê oán đời Đường đã bàn luận đến

một vài khía cạnh nội dung, nghệ thuật của thơ khuê oán đời Đường nhưng mớikhám phá ở phương diện khách thể - nhân vật trong thơ và trong phạm vi khảocứu 45 bài thơ đã dịch ở Việt Nam

1.2.3 Bàn về thơ khuê phụ trong sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu đời Đường

Cũng như ở Trung Quốc, các bài thơ khuê phụ thường được bàn đến khinghiên cứu về các nhà thơ cụ thể Các học giả đều nhận định: Những bài thơkhuê phụ là một trong những đề tài sáng tác thể hiện rõ nhất tinh thần nhân đạo,nhân văn sâu sắc của các nhà thơ Và một trong những đại diện tiêu biểu nhấtcho đề tài thơ này là nhà thơ Lý Bạch

Việc nghiên cứu thơ Đường ở các nước phương Tây như Nga, Mỹ hay

ở các quốc gia Châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc khá phát triển, nhưng vìmột số hạn chế nhất định, đến nay chúng tôi chưa thể tiếp cận được với những

tư liệu nghiên cứu về mảng thơ khuê phụ trong thơ Đường ở những kho tư liệunày

Chương 2

SỰ HƯNG THỊNH CỦA THƠ KHUÊ PHỤ ĐỜI ĐƯỜNG

Trang 6

2.1 Xã hội thời Đường với sự phát triển hưng thịnh của thơ khuê phụ

2.1.1 Bối cảnh xã hội hình thành hiện tượng “khuê phụ”

2.1.1.1 Chiến tranh, binh luật và người chinh phụ dưới thời nhà Đường

Chinh phụ dưới thời nhà Đường có số lượng rất lớn, nguyên nhân chủ yếu

là do chiến tranh liên miên, kéo dài suốt mấy trăm năm thống trị của nhàĐường Có chiến tranh thì không thể tránh khỏi đòi hỏi phải có nhiều binh sĩ, từthời Đường Thái Tông đến thời Cao Tông, số binh sĩ mà chính quyền nhàĐường điều động lến tới con số hàng trăm vạn Chiến tranh và chế độ quân sựđộc tài là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời một số lượng lớn những người

vợ bính lính (chinh phụ) phải sống trong cảnh cô đơn, góa bụa dưới thời nhàĐường Những lời than thở thống thiết của chinh phu – chinh phụ không còngiới hạn trong phạm vi gia đình, nó là câu chuyện của xã hội nhà Đường Cốnhiên, nó cũng trở thành một câu chuyện trong thi ca

2.1.1.2 Sự phồn vinh của kinh tế nhà Đường và những người vợ của thương nhân

Sự phồn hoa của các đô thị mới, sự hưng thịnh của công thương nghiệpdân gian cho thấy hoạt động giao thương, buôn bán vô cùng tấp nập, sầm uấtdưới thời nhà Đường Do vậy, thời kỳ này số lượng thương nhân - người làmnghề buôn bán cũng rất đông đảo, không chỉ có tầng lớp quý tộc quan lại, địachủ lớn mà còn bao gồm tầng lớp tiểu thương - những người buôn bán nhỏ.Lãnh thổ nhà Đường rộng lớn, núi sông cách trở, giao thông khó khăn khiếnkhách buôn xa hàng tháng, thậm chí hàng năm vẫn chưa được về nhà, cũng khó

có một dòng tin nhắn gửi Vì thế, những người vợ của họ, dù có thể ít phải chịu

sự thiếu thốn về vật chất nhưng lại phải chịu sự dằn vặt, đau khổ về tinh thần.Người chồng ở ngoài hết năm này tháng khác, còn vợ, một mình giữ phòngkhông, cô đơn, sầu tủi, chưa kể thương nhân lại vốn là những người “trọng lợikhinh ly biệt”, khiến họ không chỉ phải chịu nỗi khổ tương tư mà còn chịu sựdày vò thấp thỏm, lo sợ bị chồng phụ bạc, bỏ rơi Đó không chỉ là câu chuyệncủa một gia đình, đó cũng là hiện tượng đáng chú ý của xã hội đương thời

2.1.1.3 Quan điểm danh lợi, phong khí du ngoạn dưới thời Đường và những người vợ của du tử, sĩ tử, quan lại

Cũng có hoàn cảnh tương tự như những người vợ chinh nhân, thươngnhân, những người vợ có chồng làm quan nơi xa, vợ của những sĩ tử ham mêkhoa cử, vợ của những chàng du tử (những người đi du ngoạn tứ phương) phải một mình cô quạnh nơi phòng vắng, với số lượng lớn, cũng là một hiệntượng xã hội đáng chú ý ở thời nhà Đường Điều này có nguyên nhân từ chínhsách khoa cử cởi mở và quan niệm về công danh sự nghiệp của người thờiĐường Đến vương triều nhà Đường, con đường làm quan chủ yếu thông quakhoa cử, trưng tập hoặc tham gia mạc phủ Tuy nhiên, điều kiện để theo đuổicông danh sự nghiệp như vậy khiến nhiều người phải dời quê hương bản quán,

vợ con để đi xa, mà con đường quan tước không phải lúc nào cũng thuận lợi,

Trang 7

ngược lại còn khó khăn muôn trùng, khó lòng thành hiện thực Một nguyênnhân nữa khiến rất nhiều người vợ trẻ buộc phải sống trong cảnh xa chồng biền

biệt là phong khí du ngoạn đặc biệt thịnh ở thời Đường Du ngoạn liên quan đến

công danh sự nghiệp và du ngoạn để thưởng lãm núi sông, kết giao bè bạn

Vì thế những người vợ của họ, lại đa số là phụ nữ trẻ, phải sống trong nỗisầu khổ của ly biệt tương tư, để tuổi xuân trôi qua uổng phí

2.1.1.4 Địa vị xã hội của phụ nữ đời Đường và những người phụ nữ bị chồng ruồng bỏ

Địa vị xã hội của phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc tương đốithấp Đến thời kỳ nhà Đường với sự phát triển thịnh vượng của xã hội, địa vịcủa người phụ nữ cũng được nâng lên đáng kể song quan niệm nam tôn nữ tivẫn thâm căn cố đế, nam giới vẫn có quyền khống chế tuyệt đối trong hôn nhân.Pháp luật và mọi quy định trong xã hội đều không bảo vệ người phụ nữ Hơnnữa, thời nhà Đường, xã hội phát triển, kinh tế phồn thịnh, văn hóa cởi mở, đànông càng có dịp giao lưu bên ngoài, du ngoạn tứ phương mở rộng tầm mắt Vìthế họ cũng có nhiều cơ hội để ruồng bỏ người vợ cũ, tìm hạnh phúc mới Mặc

dù chồng không đi xa nhưng cái khuê tình vẫn luôn luôn tồn tại, nỗi cô đơn sầu

muộn vẫn luôn ám ảnh những người phụ nữ chốn khuê phòng Câu chuyệnnhững người phụ nữ bị chồng ruồng bỏ vốn đã phổ biến trong xã hội TrungQuốc cổ đại, đến đời Đường, do những nguyên nhân xã hội đặc thù lại càngxuất hiện nhiều, cũng trở thành một vấn đề xã hội được nhiều người có tư tưởngtiến bộ quan tâm, trong đó có rất nhiều văn sĩ trí thức

2.1.2 Điều kiện thúc đẩy sự hưng thịnh của thơ khuê phụ ở đời Đường

2.1.2.1 Sự tiến bộ của văn hóa

Nền văn hóa hưng thịnh cùng với chính sách văn hóa cởi mở, khoandung, áp dụng chính sách dung nạp đối với các học phái và tam giáo Nho, Phật,Đạo đã đưa đời sống tinh thần của người đời Đường vào trạng thái phát triểntương đối tự do, có thể hấp thu nhiều mặt, tự do phát triển Được nuôi dưỡngtrong bầu sinh khí ấy, thi nhân đời Đường tự do sáng tác, tự do thể hiện cảm thụ

và nhận thức của mình về cuộc sống và con người Do đó, những tâm tư thầmkín của người khuê phụ: nỗi sầu khổ tương tư vì xa chồng, khát vọng ái ân hạnhphúc, tiếng nói ai oán phản chiến, tố cáo sự bất công của xã hội phong kiến,nam quyền được phản ánh trong thơ sâu sắc, phong phú và tìm được sự đồngcảm trong xã hội

Mặt khác, ở thời nhà Đường, khoa cử, giáo dục, văn hóa phát triển khiếntrình độ văn hóa của xã hội cũng được nâng cao, cũng mở rộng cả cơ sở quầnchúng của thi ca Môi trường văn hóa xã hội như vậy đã tạo điều kiện cho việctruyền bá và phát triển mảng thơ khuê phụ này

2.1.2.2 Sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm của thi nhân đời Đường

Thi nhân đời Đường ngoài tiếp thu những giá trị văn hóa truyền thống cònđược tiếp nhận những giá trị văn hóa thời đại mới, tâm hồn khai phóng, mở

Trang 8

rộng nhận thức, biết trân trọng giá trị sinh mệnh con người, biết trân trọng phụ

nữ Phương thức sống của hàn sĩ văn nhân đời Đường lại coi trọng sự thâmnhập, trải nghiệm thực tế, văn nhân thoát ly khỏi cung đình ngao du tứ phương,thậm chí lạc quan nơi biên cương, sa trường để tìm kiếm đường đi

Với vốn sống nhiều, thâm nhập đời sống thực tế sâu, rộng và nỗi lòng “ưuthời mẫn thế” của các thi nhân đời Đường đã khiến họ lắng nghe, thấu cảm,đồng điệu với những khuê phụ bất hạnh, thôi thúc họ viết nên những bài thơ về

đề tài này một cách sâu sắc, cảm động nhất Đó là một lý do quan trọng để thơkhuê phụ có thể đến với quảng đại quần chúng, có sức sống lâu bền, được lưutruyền rộng rãi

2.2 Thơ Khuê phụ trong dòng chảy thơ ca Trung Quốc

2.2.1 Thơ khuê phụ trong Kinh thi

Nếu xem Kinh Thi là ngọn nguồn của thơ ca Trung Quốc thì cũng có thể nói Kinh thi là ngọn nguồn của dòng thơ “khuê phụ” Trong Kinh thi, thơ khuê phụ chủ yếu tập trung ở Quốc phong (18 bài) và Tiểu nhã (3 bài) Những bài

thơ hay nhất diễn tả những nhớ thương, đau khổ vì sinh ly tử biệt của người phụ

nữ cô đơn nơi phòng khuê phải kể đến Bá hề (Vệ phong); Quân tử vu dịch (Vương Phong); Ân kỳ lôi (Thiệu Nam); Quyển nhĩ (Chu Nam); Cát sinh

(Đường Phong)…

Trong thời đại Kinh thi, nỗi oán hận sầu thương của bao nhiêu phụ nữ vì

vợ chồng ly biệt không chỉ có nguyên nhân từ chiến chinh, lao dịch Đôi khinhững người vợ buộc phải xa chồng, sống trong cảnh phòng không, gối lạnh

còn vì một hệ lụy của chế độ đa thê: Bị chồng ruồng bỏ Là tập thơ đầu nguồn của thơ ca Trung Quốc, Kinh thi với cách biểu hiện rất hồn nhiên, thuần phác đã

lần đầu tiên phác thảo dòng tâm tư thầm kín của những người phụ nữ cô đơnnơi phòng khuê với tình điệu bi thương ai oán Nhưng chính cái tình điệu bithương ai oán ấy đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho dòng thơ “khuê phụ” Bởi như Kê

Khang trong Cầm phú, tự có viết: “Cầm phú kỳ thanh âm, tắc dĩ bi ai vi chủ; thi mỹ kỳ cảm hóa, tắc dĩ thùy thế vi quý” (tiếng đàn hay vì âm thanh bi ai, lời

thơ cảm động vì khiến người rơi lệ)

2.2.2 Thơ khuê phụ trong thơ ca Tần Hán

Tiếp nối mạch nguồn trong sáng, thuần khiết từ Kinh thi, dòng thơ khuê

phụ đến dân ca nhạc phủ đời Hán đã phát triển thêm một bước mới

Trong xã hội phong kiến, do địa vị của người phụ nữ thấp kém, đời sốngkinh tế phụ thuộc vào người đàn ông, số phận của họ sướng hay khổ thườngquyết định bởi người đàn ông khi đó tốt hay xấu Vì thế, “trong dân ca nhạc phủ

có nhiều bài như thế nói về đàn ông thay lòng đổi dạ để cho phụ nữ chịu khổ

đau” Thơ ca cuối đời Hán, đặc biệt trong Cổ thi thập cửu thủ càng xuất hiện

nhiều bài thơ khuê phụ hơn, tứ thơ cũng chan chứa ý vị cảm thương

Có thể nói, thơ khuê phụ đến thời kỳ này đã có một bước tiến khá dài.Mối “thâm tình u oán” của người khuê phụ cô đơn đã được biểu đạt bằng ngônngữ vừa có vẻ tự nhiên, chất phác, lại vừa có sự trau chuốt cao độ Hơn nữa,

Trang 9

cảm thức “sinh ly”, “tử biệt” vốn có trong đáy sâu tâm hồn của người sáng tác

Cổ thi nên dễ tương cảm với mối hận “sinh ly tử biệt” của người khuê phụ,

khiến tình cảm được biểu đạt một cách táo bạo, mạnh mẽ, xúc động lòng người

Vì vậy, ý vị cảm thương của dân ca nhạc phủ và Cổ thi đời Hán thấm vào thơ

khuê phụ đời sau rất rõ nét

2.2.3 Thơ khuê phụ trong thơ ca Lục triều

Với một nỗ lực giải phóng tình cảm mãnh liệt, thơ ca thời kỳ Tần Hán đã

có những bài thơ về đề tài khuê phụ lưu truyền hậu thế nhưng thực sự lấy “khuêphụ” làm đề tài sáng tác thì phải đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều

Vẫn xu hướng tình cảm đặc trưng: Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người vợ

có chồng đi xa hay niềm oán hận đau thương của người phụ nữ bị chồng ruồng

bỏ và đặc trưng trữ tình đậm chất “bi mĩ” trong thơ khuê phụ cổ đại, những bàithơ đề tài khuê phụ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều đã mang đậm cá tính sáng tạocủa văn nhân

Thơ khuê phụ thời này chủ yếu do “nam tử tác khuê âm” (nhà thơ namgiới nói thay lời của người phụ nữ chốn khuê phòng), phần nhiều sử dụngphương pháp ẩn dụ, ngụ ý chính trị nhưng cũng có một số tác phẩm diễn đạttrực tiếp tâm sự của người khuê phụ Chẳng hạn, có thể thấy cách thể hiện tâm

trạng nhân vật trong bài thơ Khuê tình của Phạm Vân cũng duyên dáng, tinh tế,

nữ tính không kém những bài thơ cùng đề tài này của tác giả nữ Bào Lệnh Huy

hoặc Tạ Diểu có bài Ngọc giai oán, một bài thơ xinh xắn mà sau này Lý Bạch

chịu ảnh hưởng sâu sắc khi sáng tác bài thơ cùng tên…

Như vậy, thơ khuê phụ đến Lục triều đã có những bước đột phá vớinhững hình ảnh, ý tượng thơ mới mẻ, sáng tạo, tâm lý nhân vật được lột tả tinh

tế, sâu sắc Đặc biệt, với cách tự sự khách quan: nhân vật ở ngôi thứ nhất, thếgiới tâm trạng của nhân vật tự bộc lộ một cách tự nhiên, chân thực Nói chung,thơ khuê phụ đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều đã tạo được khuôn hình rõ nét,tạo đà cho sự phát triển rực rỡ ở thời Đường

2.2.4 Thơ khuê phụ ở đời Đường

Với nền móng mà những thế hệ đi trước đặt ra, các thi nhân nhà Đường

đã dần phát triển, mở rộng đề tài thơ khuê phụ và đạt được những thành tựu rực

rỡ không chỉ trong nội dung sáng tác mà cả về biện pháp nghệ thuật Số lượngcác nhà thơ lấy “khuê phụ” làm đề tài sáng tác tăng gấp nhiều lần các thời kỳtrước, trong đó có những nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,Vương Xương Linh

Ngay từ thời kỳ đầu, thơ khuê phụ đời Đường mặc dù chưa thoát khỏi lốithơ ca phù hoa diễm lệ thời trước, nhưng trong lời thơ vẫn có thể nhận ra được

khí phách và hơi thở của Đường thi Tiêu biểu như bài Xuân giang hoa nguyệt

dạ của Trương Nhược Hư; Khuê oán của Từ Ngạn Bá; Tạp thi, Cổ ý của Thẩm

Thuyên Kỳ…Đến thời Thịnh Đường, Trung Đường thơ khuê phụ phát triển và

có nhiều thành tựu rực rỡ: Số lượng nhiều, nội dung tư tưởng sâu sắc tiến bộ,

mở rộng không gian biểu hiện thơ, phản ánh hiện thực phong phú, khách quan

Trang 10

Thơ không chỉ giới hạn trong khuê các mà đã hòa vào một số vấn đề xã hội,tình cảm biểu hiện sâu sắc hơn đã thoát li khỏi khuôn mẫu thơ khuê phụ Namtriều Nhiều tác phẩm miêu tả nhân vật tinh tế, điêu luyện, biểu hiện rõ khí chất

cá nhân và thế giới tinh thần khác biệt của con người, như Khuê oán của Vương Xương Linh; Xuân tứ, Xuân oán, Trường Can hành…của Lý Bạch; Khuê phụ của Bạch Cư Dị; Xuân oán của Kim Xương Tự; Dạ địch từ của Thi Kiên

Ngô…Thời Vãn Đường, như phong cách chung của thơ ca thời kỳ này, thơkhuê phụ chủ yếu phản ánh tư tưởng buồn bã bi ai Đối diện với hiện thực xãhội phức tạp, nhà thơ không tìm ra được lối thoát, liền tìm sự an ủi và bù đắptrong tình yêu nam nữ, đề tài sinh hoạt khuê các và tình yêu nam nữ trở thànhcái nhìn thẩm mỹ của nhà thơ Đại diện tiêu biểu của loại thơ này là Lý Thương

Ẩn và Ôn Đình Quân Ngoài ra còn một số nhà thơ tiếp thu phong cách hiệnthực của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị như Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuân Hạc, Lục QuyMông…đã đi sâu vào hiện thực, phản ánh sâu sắc các vấn đề xã hội thông quaphản ánh vận mệnh bi thảm của những phụ nữ tầng lớp dưới Tuy nhiên, cũngnhư đặc điểm chung của thơ ca giai đoạn này, thơ khuê phụ thời Vãn Đường đãmất đi hào khí và phong vị của nó, số lượng ít, nội dung và nghệ thuật miêu tảđơn điệu hơn thời kỳ trước

2.2.5 Thơ khuê phụ ở thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh

Đúng như nhận xét của Du Bệ Vân, thơ khuê phụ đến đời Đường đã pháttriển đến độ hưng thịnh nhất, khoe nở tất cả những vẻ đẹp vốn có khiến thơ cagiai đoạn sau khó tìm lại được Do dó, thơ khuê phụ từ thời Tống trở đi cũngtheo đó mà nhạt dần, số lượng ít, sáng tác thưa thớt, nội dung tư tưởng và nghệthuật chủ yếu là ảnh hưởng từ thơ khuê phụ đời Đường và thời Lục triều Sự thểhiện tình cảm nhẹ nhàng, có phần lý trí, sử dụng hình ảnh, mô típ cũ nhưngcách thể hiện không nhiều sáng tạo nên hiếm có tác phẩm để lại ấn tượng, cảmxúc đầy dư ba như những bài thơ khuê phụ đời Đường

Chương 3 CHỦ THỂ TRỮ TÌNH TRONG THƠ KHUÊ PHỤ

3.1 Giới thuyết

Nói đến thơ trữ tình, điều cơ bản cần nói là “chủ thể trữ tình, tức chủ thể

bộc lộ tình cảm Có thể nói, chủ thể trữ tình – hình tượng tác giả là chủ thể để

phân biệt với các nhân vật trong thơ, đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là

khách thể, nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả.

Trong mảng thơ khuê phụ đời Đường, chủ thể trữ tình biểu hiện qua hai

dạng thức: Chủ thể trữ tình trực tiếp, biểu hiện trực tiếp cái tôi của tác giả, cảm

xúc trong thơ là cảm xúc của chính nhà thơ về câu chuyện đời mình Chủ thểtrực tiếp ở mảng thơ này chính là các nhà thơ nữ và chủ yếu, những câu chuyệnđược kể trong thơ là những câu chuyện, những cảm xúc mà họ đã trải nghiệm

trong cuộc đời thực Tuy nhiên, số lượng bài thơ có biểu hiện của chủ thể trữ

Trang 11

tình trực tiếp không nhiều, tỷ lệ rất ít so với kiểu chủ thể trữ tình nhập vai Ở

mảng thơ này, một hiện tượng phổ biến là “nam tử tác khuê âm” (những nhàthơ nam nói thay lời của những người phụ nữ trong phòng khuê) Việc nhiềunhà thơ nam ở đời Đường đã lựa chọn mảng đề tài về người phụ nữ trong khuêphòng để sáng tác chứng tỏ nhận thức về phụ nữ, về xã hội ở thi nhân đờiĐường đã thay đổi

3.2 Chủ thể trữ tình trong sáng tác của nữ thi nhân

3.2.1 Chủ thể trữ tình trực tiếp

3.2.1.1 Điểm nhìn của chủ thể trữ tình

Ở đây, chủ thể trữ tình trực tiếp là hiện tượng tự thuật tâm trạng, ngườikhuê phụ tự bạch nỗi lòng (khuê phụ nhân làm khuê phụ thi) Do đó cái nhìncủa chủ thể trữ tình trùng khít với cái nhìn của chủ thể sáng tác, mang đậm đặctrưng giới Khi viết về chính mình, về mong muốn của mình, nữ giới ít khi cangợi vẻ đẹp của bản thân Họ thường say sưa với con người bên trong của mình,nhìn sâu vào con người bên trong của mình, muốn thể hiện tâm tư, khát vọngcủa mình, thơ thường đặc tả chi tiết nội tâm Vì vậy, nữ giới thường tập trungvào tất cả những gì xung quanh họ, không gian đều bị bó hẹp hơn so với cáinhìn của nam giới, họ gần như không đụng chạm đến các vấn đề xã hội, chỉ chútrọng tình cảm cá nhân Tình cảm của người khuê phụ được chôn nén tận đáylòng Dù là diễn đạt sự đau khổ nhưng họ vẫn giữ thái độ nhẹ nhàng, lễ tiết.Hầu hết họ đều mong muốn tìm được một bờ vai để nương tựa, quay về vớinhững trật tự xã hội cũ Họ oán nhưng không giận, bất bình nhưng lại nhớnhung, dịu dàng, bao dung Vẻ đẹp đầy nữ tính (chủ yếu là vẻ đẹp tâm hồn) vìthế luôn được bộc lộ một cách tự nhiên, chân thực Đó là cái đẹp đặc trưng củatình yêu người phụ nữ, một cái đẹp hiền dịu và bi kịch

sự phản kháng duy nhất là than thở, oán hờn, thậm chí vẫn một lòng thươngnhớ người xưa Dù không cố ý (hoặc không muốn) nói ra điều này, nhưng quanhững bộc bạch trong thơ, chúng ta có thể nhận thấy, những người phụ nữ này

đã xem mình là người phụ thuộc hoàn toàn vào chồng, có bổn phận mang lạikhoái lạc cho người chồng

Mặt khác, trong nhận thức về giới và bộc bạch về chính mình, những nhàthơ nữ cũng bày tỏ thái độ và quan niệm về người chồng, người đàn ông củacuộc đời mình Điều họ quan tâm nhất về người chồng là đạo đức Hạnh phúccủa họ gắn với đạo đức của người chồng, sự thủy chung của người chồng Tuy

Trang 12

nhiên, ngoài những nhận thức truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức, các nhà thơ

nữ cũng đã bộc lộ những nhận thức tiến bộ về phụ nữ, về bản thân mình: Đốithoại bình đẳng với người chồng, bộc bạch nhu cầu của cá nhân

Quan niệm về nhân sinh: Với người phụ nữ, điều quan trọng nhất trong

toàn bộ cuộc sống của họ là gia đình và người chồng, với người phụ nữ sống ở

xã hội Trung Quốc cổ đại, điều này gần như tuyệt đối Không gian sống chủyếu của họ là “khuê” (buồng the) gắn với đời sống vợ chồng, tất cả cuộc sống,vui, buồn, mơ ước… cũng quanh quẩn trong cái giới hạn ấy Và thế giới của họ,trung tâm là người chồng, người đàn ông, trụ cột trong gia đình Điều đó đãmặc định trong họ quan niệm về cuộc đời và con người cũng rất phụ nữ Những

nữ thi nhân đời Đường cũng vậy, hạnh phúc chẳng phải là điều gì quá lớn lao,cũng không đo được bằng huân công, áo gấm, bạc vàng Hạnh phúc chỉ đơngiản là vợ chồng luôn ở bên nhau, cùng trân trọng mỗi giây phút của tuổi trẻ và

nhan sắc Đỗ Thu Nương trong Kim lũ y đã trình bày trọn vẹn quan điểm

này.Với những người phụ nữ bé nhỏ ấy, người chồng và hạnh phúc gia đìnhmới là mối quan tâm đặc biệt, những vấn đề chính trị, xã hội hiếm khi xuất hiệntrong thơ của họ, nếu có cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống cánhân

3.2.2 Nhà thơ nữ nhập vai khuê phụ

Trong xã hội mà nam quyền là trung tâm, tiếng nói của phụ nữ bị tróibuộc bởi những tiêu chuẩn thẩm mỹ, tiêu chuẩn giá trị và tiêu chuẩn đạo đức

mà xã hội đó bắt người phụ nữ phải tuân theo Vì thế, trong văn học cổ TrungQuốc, rất nhiều nhà thơ nữ khi sáng tác hoặc là đặt bản thân mình vào vị trí lệthuộc vào đàn ông để ngâm xướng nỗi khổ tương tư, oán hận bi thương; hoặc làlàm mờ bản chất phụ nữ bắt chước theo tiếng nói của đàn ông, nhằm thích ứngvới “quy tắc đàn ông”, hay chính xác là để được giống như đàn ông, để có thểthực hiện được lý tưởng của mình Trong số những nữ thi nhân đời Đường, LýTrị (Lý Kỷ Lan) và Tiết Đào là những người theo phong cách thứ hai, thơ camang đậm phong cách nam nhi Do đó, điểm nhìn của chủ thể trữ tình trongsáng tác của Tiết Đào, Lý Trị không trùng với điểm nhìn của chủ thể sáng tác.Điểm nhìn của chủ thể trữ tình vẫn là điểm nhìn của người khuê phụ nhưngđược khúc xạ qua hai lớp: nhà thơ nữ  vị trí đàn ông  khuê phụ Ở đây, nhàthơ nữ đã làm mờ bản chất giới tính của mình, mượn vị trí một người đàn ông,phong cách đàn ông để nhập vai khuê phụ, diễn tả tâm tình của người khuê phụ

Nếu các nhà thơ nam giới khi nói thay lời khuê phụ thường cố gắng đểnói giống lời khuê phụ, thơ ca thường “nữ tính hóa” thì những nhà thơ nữ mượn

vị trí đàn ông mà vào vai khuê phụ lại cố gắng nói cho giống phong cách củanhà thơ nam giới, thơ ca vì thế mạnh mẽ, phóng khoáng khác hẳn cái nhìn nữgiới bình thường

3.3 Chủ thể trữ tình nhập vai - “nam tử tác khuê âm”

3.3.1 Nguyên nhân của hiện tượng nam tử tác khuê âm (Nhà thơ nam giới viết thay lời người nơi khuê phòng)

Ngày đăng: 04/10/2014, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w