1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DẠY học TÍCH hợp LUYỆN từ và câu, tập đọc, CHÍNH tả, TLV

22 4,6K 84

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phân môn tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Phân môn Tập đọc: giúp học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc trôi chảy, diễn cảm đến chỗ hiểu được nghĩa của từ, ý của câu và nội dung của bài. Phân môn Chính tả: rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói quen viết chữ ghi tiếng việt đúng với chuẩn viết đúng chính tả, giúp cho học sinh có điều kiện để sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ môn văn hóa, trong việc viết các văn bản, thư từ. Phân môn Luyện từ và câu: có vai trò quan trọng đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như là phương tiện giao tiếp. Luyện từ và câu còn phát triển năng lực, trí tuệ, ngôn ngữ, những phẩm chất đạo đức ở trẻ em. Nó có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm văn: là một phân môn sử dụng tổng hợp các hiểu biết về luyện từ và câu, chính tả, khả năng nghe nói tiếng việt, vốn hiểu biết về đời sống của học sinh do bài học khác nhau mang lại. Mỗi bài tập làm văn là sản phẩm của từng cá nhân học sinh trước một đề tài. Sản phẩm này ít nhiều in dấu ấn riêng từng em trong cách suy nghĩ, cách kể, cách tả, cách diễn đạt… Chính Luyện từ và câu, chính tả, tập đọc là nền tảng để học tốt tập làm văn Dạy tích hợp : Luyện từ và câu + Tập đọc + Chính tả + Tập làm văn” nhằm kết nối tri thức trong dạy học các phân môn Tiếng Việt, nâng cao kĩ năng tiếng Việt cho trẻ

Trang 1

cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trongmỗi học sinh.

Trong thực tế giảng dạy, để đạt được mục tiêu đề ra thật không dễdàng Qua những năm trực tiếp giảng dạy lớp 5, bản thân tôi nhận thấycác phân môn tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn có mốiquan hệ chặc chẽ với nhau Thật vậy:

- Phân môn Tập đọc: giúp học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc trôi chảy,diễn cảm đến chỗ hiểu được nghĩa của từ, ý của câu và nội dung của bài

- Phân môn Chính tả: rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói quenviết chữ ghi tiếng việt đúng với chuẩn viết đúng chính tả, giúp cho họcsinh có điều kiện để sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc họctập các bộ môn văn hóa, trong việc viết các văn bản, thư từ

- Phân môn Luyện từ và câu: có vai trò quan trọng đặc biệt trong hệthống ngôn ngữ Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngônngữ như là phương tiện giao tiếp Luyện từ và câu còn phát triển nănglực, trí tuệ, ngôn ngữ, những phẩm chất đạo đức ở trẻ em Nó có vai tròhướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết

Trang 2

- Phân môn Tập làm văn: là một phân môn sử dụng tổng hợp các hiểubiết về luyện từ và câu, chính tả, khả năng nghe nói tiếng việt, vốn hiểubiết về đời sống của học sinh do bài học khác nhau mang lại Mỗi bài tậplàm văn là sản phẩm của từng cá nhân học sinh trước một đề tài Sảnphẩm này ít nhiều in dấu ấn riêng từng em trong cách suy nghĩ, cách kể,cách tả, cách diễn đạt… Chính Luyện từ và câu, chính tả, tập đọc là nềntảng để học tốt tập làm văn

- Xuất phát từ những lý do cơ bản trên nên tôi chọn đề tài “Dạy tíchhợp : Luyện từ và câu + Tập đọc + Chính tả + Tập làm văn” để nghiêncứu

2 Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất một số biện pháp dạy học tích hợp các phân môn luyện từ vàcâu + tập đọc + chính tả + tập làm văn trong tiếng việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách nâng cao tiếng việt

- Tham khảo ý kiến của một số đồng nghiệp đang dạy ở các lớp 4, 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Tôi nghiên cứu qua các tài liệu: Phương pháp dạy học môn tiếng việtlớp 5, tiếng việt nâng cao lớp 5, “Giúp em học tốt tiếng việt 5” của ĐỗNhư Thiên (cử nhân giáo dục tiểu học), Phan Thế Ngọc – Trần VănMinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1 Nghiên cứu cơ sở tâm lý học sinh tiểu học

4.2 Nghiên cứu cơ sở ngôn ngữ học

4.3 Điều tra thực trạng học sinh đang học lớp 5 môn tiếng Việt.4.4 Đề xuất một số biện pháp dạy tích hợp luyện từ và câu + tậpđọc + tập làm văn trong tiếng Việt

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện được đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu cónội dung giảng dạy các phân môn trong tiếng Việt để sưu tầm

Trang 3

5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp: qua các tài liệu đã thu thậpđược tôi phân tích tổng hợp thành từng dạng để rút ra phương pháp dạyhọc thích hợp cho học sinh dễ hiểu bài hơn.

5.3 Phương pháp thực nghiệm: giảng dạy để khảo sát rút kinhnghiệm

Trang 4

B PHẦN II:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Nội dung cơ sở tâm lý, ngôn ngữ của học sinh tiểu học

1 Cơ sở tâm lý của học sinh tiểu học:

1.1 Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học

Bằng những dụng cụ trực quan, hình ảnh cụ thể học sinh dễ khắc sâunội dung bài học Còn những bài học chỉ giảng giải bằng những từ ngữtrừu tượng nghĩa là tài liệu thì học sinh khó tiếp thu hơn mà cũng chóngquên

Ví dụ: để giảng giải từ “ quan trành quết đất” trong bài “Hạt gạo làngta” của Trần Đăng Khoa thì nên sử dụng tranh

1.2 Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học

Đây là một quá trình tâm lý mà học sinh dựa vào những hình ảnh đãbiết để tạo ra được hình ảnh mới

Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới thìphải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng Những học sinh khá, giỏihình ảnh tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về kết cấu, chi tiết, tính logic Cònnhững học sinh trung bình, yếu vốn kinh nghiệm còn hạn chế vì tưởngtượng phải dựa vào hình ảnh đã biết

Ví dụ: Nói về con sông:

Học sinh trung bình, yếu: con sông uốn cong như một con rắn khổnglồ

Học sinh khá, giỏi: con sông khoác lên mình một bộ áo màu xanhbiếc, cong cong uốn lượn quanh làng như một dải lụa mềm

1.3 Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học

Đối với học sinh lớp 5 tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với

tư duy cụ thể, nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằngcách tiến hành các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các kí hiệu, qui tắc

Ví dụ: trong tiếng Việt khi học về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa học sinh

có thể dùng kí hiệu để viết gọn hơn như: kiến thiết đồng nghĩa với xâydựng ( kiến thiết = xây dựng), đen trái nghĩa với trắng (đen>< trắng)

Trang 5

Trong toán: a x 0 = 0, a x 1 = a…

1.4 Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học:

Học sinh tiểu học thường chú ý vào những câu hỏi, những tình huốnghấp dẫn mà giáo viên nêu ra để hướng chúng vào nội dung bài học Sựchú ý của học sinh hình thành sẽ đáp ứng nhu cầu hoạt động học - Đểduy trì điều này nội dung mỗi tiết học phải trở thành một đối tượng hoạtđộng của học sinh Giáo viên chỉ hướng dẫn để học sinh tự tìm ra bàihọc, có như vậy thì các em mới hứng thú học tập

Ví dụ: Bài chuyện một khu vườn nhỏ của Vân Long, giáo viên có thểhỏi để học sinh tranh luận: Tại sao ban công nhà Thu, Hằng bảo khôngphải là vườn? Tại sao khi có chim về Thu mừng rỡ đi gọi Hằng? Tại saoông nói: “Đất lành chim đậu”?

1.5 Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học:

Tình cảm của học sinh tiểu học được biểu hiện qua những cảm xúc,hành động cụ thể đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhucầu, động cơ của học sinh Học sinh tiểu học dễ xúc cảm hay xúc độngkhó làm chủ được cảm xúc của mình Quá trình hưng phấn của các emmạnh hơn ức chế Chính vì thế mà tình cảm của học sinh chưa ổn định

dễ thay đổi nhiều tình cảm mới bắt đầu được hình thành và phát triển

Ví dụ: Bài bà tôi của Mác-xim Go-rơ-ki không những giúp học sinhlàm văn mà còn tạo được tình cảm của các em đối với ông bà và ngườithân trong gia đình

2 Cơ sở ngôn ngữ học của học sinh tiểu học:

2.1 Ngôn ngữ không phải là hiện tượng mang tính bẩm sinh hay

di truyền Nó là kết quả của một sự học hỏi, bắt chước do tiếp xúc với xãhội chung quanh, với những người xung quanh Điều này có thể chứngminh qua những cứ liệu trong thực tế như sau:

- Nếu trẻ sơ sinh phải sống tách biệt với xã hội thì mãi mãi chúngkhông biết đến ngôn ngữ mặc dầu chúng vẫn có những khả năng bẩmsinh như biết ăn, biết thở, biết đi…

- Nếu trẻ sơ sinh sống ở một môi trường ngôn ngữ khác cách ly hẳnvới bố mẹ và chủng tộc xuất thân, thì chúng sẽ học nói và nói bằng ngôn

Trang 6

ngữ của môi trường xã hội này chứ không phải bằng ngôn ngữ của bố

mẹ chúng, của chủng tộc xuất thân Chẳng hạn, nếu một đứa trẻ sơ sinhngười Việt Nam, ngay khi mới ra đời, vì lí do nào đó, phải sống cách lyvới bố mẹ, sống và tiếp xúc với toàn những người nói tiếng Anh… thìsau đó chúng không biết nói tiếng Việt mà chỉ biết nói tiếng Anh

2.2 Lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào nhữngđiều kiện giao tiếp cụ thể

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.Sống trong xã hội, con người luôn luôn có nhu cầu cần phải giao tiếp vớinhau Giao tiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin hay truyền đạt nhậnthức tư tưởng, tình cảm từ người này sang người khác Nó vừa là khảnăng, vừa là nhu cầu của con người, không ai có thể sống cô độc, táchbiệt hẳn với những người xung quanh

Thật ra với ngôn ngữ, con người có thể giao tiếp với nhau qua các thờiđại cách xa nhau hàng thế kỷ Những nhận thức, tư tưởng, những kinhnghiệm sống và hoạt động, những tình cảm và thái độ của tổ tiên và cácthế hệ đã qua đều được lưu trữ trong ngôn ngữ và truyền đến ngày naynhờ ngôn ngữ Nhờ các từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, nhờ các tácphẩm văn học truyền miệng hoặc các văn bản viết, các thế hệ đã qua vẫncòn có thể “giao tiếp” được với xã hội ngày nay và thế hệ ngày nay lĩnhhội, hiểu biết được lịch sử, hiểu được những nội dung lưu trữ trong đó.Cùng với chữ viết và các phương tiện kĩ thuật hiện đại như truyềnthanh, truyền hình… ngôn ngữ còn giúp cho con người giao tiếp đượcvới nhau trong những không gian vô cùng rộng lớn

2.3 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường có ít nhất 2 người:người nói (người viết) và người nghe ( người đọc) Hai người đó dùngcùng một phương tiện ngôn ngữ thông qua các đường kênh giao tiếp màthông báo và trao đổi các thông tin Sự giao tiếp luôn luôn diễn ra trongnhững hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Vì thế muốn hoạt động giao tiếp đạtđược kết quả tốt, những người tham gia hoạt động giao tiếp cần nhậnthức rõ tất cả các nhân tố của hoàn cảnh giao tiếp

Trang 7

Ví dụ: câu ca dao

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:

“Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”

Hoạt động giao tiếp này diễn ra trong hoàn cảnh một “đêm trăngthanh” với 2 nhân vật là người nam và người nữ trẻ tuổi “anh” và

“nàng” Cái ẩn ý của chàng trai được thể hiện bằng một hình ảnh bóngbẩy “tre non đủ lá đan sàng” những nhân tố ấy tất nhiên rất dễ khiến cho

cô gái và cả người đọc nhận ra ẩn ý tế nhị của chàng trai Sự giao tiếpbằng ngôn ngữ như vậy đã đạt đến hiệu quả mong muốn!

Ngôn ngữ là công cụ của hoạt động nhận thức, tư duy Ngôn ngữ thamgia trực tiếp vào quá trình hình thành nhận thức, tư duy của con người

II Các nguyên tắc và phương pháp dạy học tiếng việt

1 Các nguyên tắc dạy học tiếng việt:

1.1 Nguyên tắc phát triển lời nói thông qua giao tiếp và thực hành:

- Giáo viên cần nghiên cứu kĩ về âm, vần trong tiếng để giảng dạyphân môn chính tả Tìm hiểu về nghĩa của từ, ý của câu trong đoạn,trong bài để dạy phân môn tập đọc, luyện từ và câu

- Giáo viên nghiên cứu kĩ nội dung của bài học để đưa ra những câuhỏi gợi ý, những tình huống cụ thể để hướng học sinh hình thành các kĩnăng nghe, nói, đọc, viết

- Giáo viên cần tổ chức hoạt động nói của học sinh trong dạy họctiếng Việt nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như là một phương pháp dạyhọc chủ đạo

1.2 Nguyên tắc phát triển tư duy:

- Trong giờ dạy, giáo viên cần gợi ý để học sinh tự phân tích, so sánh,tổng hợp… để lĩnh hội kiến thức mới

- Học sinh phải hiểu được nội dung các vấn đề cần nói và viết nhất làtiết tập làm văn Giáo viên định hướng giao tiếp, gợi ý cho học sinh quansát, tìm ý…và biết thể hiện nội dung này bằng phương tiện ngôn ngữ

1.3 Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng việt của học sinh:

Song song với quá trình học tiếng việt ở trường là quá trình tích lũy,học hỏi tiếng việt của học sinh thông qua môi trường gia đình, xã hội, do

Trang 8

đó các em đã có một vốn từ và quy tắc ngữ pháp nhất định Vì vậy giáoviên cần điều tra nắm vững vốn tiếng việt của học sinh lớp mình chủnhiệm để xác định nội dung, kế hoạch, phương pháp dạy học đồng thờiphải tận dụng và phát huy tối đa vốn tiếng việt của học sinh bằng cáchphát huy tính tích cực chủ động của các em Mặc khác giáo viên cần chú

ý hạn chế và xóa bỏ những mặc tiêu cực về lời nói của học sinh

2 Các phương pháp dạy học tiếng việt:

2.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ:

- Giáo viên sử dụng phương pháp này một cách có hệ thống trong việcxem xét các mặt của ngôn ngữ như: cấu tạo tiếng, từ, câu… với mục đíchlàm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức phát triển cách thứccấu tạo, ý nghĩa của việc sử dụng chúng trong nói năng

- Các bước phân tích thể hiện rất rõ trong tiết luyện từ và câu: từ chỗhướng dẫn học sinh đọc, quan sát ngữ liệu, giáo viên gợi ý để học sinhphân tích các ngữ liệu nhằm tìm ra điểm giống và khác nhau để sắp xếpchúng theo một trật tự nhất định

2.2 Phương pháp luyện tập theo mẫu:

- Đây là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ, lời nóibằng cách mô phỏng mẫu mà giáo viên đưa ra hoặc mẫu có trong sáchgiáo khao

- Phương pháp này thể hiện rất rõ ở tiết tập làm văn Chẳng hạn khi tảmột đồ vật cụ thể, giáo viên cần thực hiện:

+ Lựa chọn và giới thiệu mẫu cho cả lớp cùng thấy

+ Đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để học sinh quan sát, tìm hiểu đặcđiểm của mẫu

+ Học sinh vận dụng những hiểu biết và kết quả quan sát của mình để

2.3 Phương pháp giao tiếp:

Đây là phương pháp coi trọng sự phát triển lời nói của từng cá nhânhọc sinh Vì thế để thực hiện phương pháp giao tiếp, giáo viên phải tạo

Trang 9

ra cho học sinh nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, môi trường giaotiếp, các phương tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp.

Trong thực tế giảng dạy, giáo viên cần sử dụng phối hợp các phươngpháp một cách hợp lý, tùy từng nội dung, tùy từng bước lên lớp mà mộtphương pháp nào đó nổi lên chủ đạo Có như thế thì tiết học sẽ sinhđộng, học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, kiến thức được khắc sâu hơn

2.4 Phương pháp rèn học sinh nói và viết:

- Giọng nói sử dụng chất liệu là âm thanh, âm thanh chỉ tồn tại trongmột khoảng thời gian, không gian nhất định vì thế dạy nói được dùngtrong giao tiếp trực tiếp

- Dạy nói đòi hỏi học sinh phải thực hiện một cách tự nhiên, khi nóicác em biết hướng tới người nghe, chú ý tín hiệu phản hồi từ phía ngườinghe để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa Có thể sữa chữa theo hướng màngười nghe mong muốn bằng cách điều chỉnh nội dung chẳng hạn trả lờicâu hỏi ở phần tìm hiểu bài tiết tập đọc; làm bài tập ở tiết luyện từ vàcâu, chính tả…cũng có thể điều chỉnh cách diễn đạt mà vẫn giữ nguyênnội dung, phải điều chỉnh âm sắc, giọng nói chẳng hạn phần luyện đọcdiễn cảm tiết tập đọc

- Dạy nói được sử dụng trong giao tiếp trực tiếp nên cần rèn học sinhnói với tốc độ vừa phải để các em kịp nghĩ, người nghe kịp theo dõi Đểtạo sự tự nhiên và hào hứng trong giao tiếp dạy nói, giáo viên cần hướngdẫn học sinh sử dụng phối hợp với điệu bộ, cử chỉ thích hợp cụ thể quatiết tập làm văn “luyện tập thuyết trình tranh luận” Khi nói giáo viên cầnyêu cầu học sinh không nên nói lặp, có thể sử dụng các câu tỉnh lược; sửdụng từ, ngữ, câu, cách diễn đạt và thái độ phải phù hợp với hoàn cảnh

cụ thể

- Dạy viết sử dụng chất liệu là chữ viết và hệ thống dấu câu thườngđược sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp gián tiếp Vì thế học sinh có điềukiện sửa chữa, đọc đi, đọc lại văn bản nhiều lần Dạng viết thể hiện rất rõqua tiết tập làm văn; bài văn viết của học sinh cần phải đúng trọng tâm

đề bài, cấu trúc bài chặc chẽ, sử dụng các phép tu từ để bài văn sinhđộng

Trang 10

•Chính vì dạy nói và viết có những đặc điểm như trên nên khi dạy nói

và viết giáo viên cần hướng dẫn kĩ cho học sinh nói đúng đặc điểm củadạy nói; viết đúng đặc điểm của dạy viết

III Thực trạng dạy học môn tiếng việt ở tiểu học

1 Thuận lợi:

Công tác giảng dạy hiện nay đã được nhà trường và chính quyền địaphương quan tâm chỉ đạo sát sao Nhà trường tạo mọi điều kiện cần thiếtđảm bảo cho công tác giảng dạy đạt hiệu quả như: phòng học, đồ dùngdạy học, thời gian để các tổ sinh hoạt chuyên môn dự giờ, thao giảng rútkinh nghiệm, nâng cao chất lượng giảng dạy

2 Khó khăn:

- Giáo viên: kiến thức tiếng việt còn hạn chế, kinh nghiệm bồi dưỡngcho học sinh còn ít

- Học sinh: có nhiều em trong giao tiếp còn dùng từ địa phương

- Học sinh chưa được tham gia câu lạc bộ tiếng việt (trường chưa cóđiều kiện tổ chức) để thể hiện tài năng của mình

- Bồi dưỡng học sinh giỏi về phân môn tiếng việt còn hạn chế (chỉdừng lại ở lớp 4, lớp 5)

- Điều kiện kinh tế gia đình của học sinh còn khó khăn, thời gian dànhcho việc học tập ở nhà còn ít nhất là các vùng nông thôn, việc mua sắmtài liệu tham khảo còn ít dẫn đến chất lượng chưa cao

•Nói chung, giáo viên cần phải nhiệt tình và kết hợp với nhà trường,phụ huynh học sinh tìm ra cách giải quyết những khó khăn và phát huynhững thuận lợi để việc dạy tích hợp này đạt hiệu quả cao

IV Một số biện pháp dạy tích hợp các phân môn tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, tập làm văn trong tiếng Việt.

Để nắm được mối quan hệ giữa các phân môn này, tôi đã xem toàn bộchương trình về số tiết, bài dạy, nội dung có liên quan với nhau Chính vìthế nên khi giảng dạy tôi thường lồng ghép chúng với nhau

Cụ thể tôi đã làm như sau:

1 Dạy tập đọc:

1.1 Khi giảng hoặc lúc giao tiếp với học sinh, tôi tránh nói tiếngđịa phương, cố gắng sử dụng ngôn ngữ viết thay cho ngôn ngữ nói

Trang 11

Ví dụ: học sinh thường nói: rửa reo, đeo đầu, bà nậu, bà quại, xỏkim…

Tôi sửa cho học sinh: rửa rau, đau đầu, bà nội, bà ngoại, xâu kim…1.2 Khi đọc mẫu bài tập đọc, tôi cho cả lớp dùng bút chì gạchchéo (/) những chỗ ngắt giọng hoặc ngắt nhịp thơ Tôi chú ý ngắt câu dàithành nhiều cụm từ nhỏ để học sinh yếu và trung bình dễ đọc

Ví dụ: “Ngày nay/ chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã

để lại cho chúng ta,… nước nhà trông mong/ chờ đợi ở các em rấtnhiều…”

(Thư gửi các học sinh – Hồ Chí Minh – SGK TV5T1)

1.3 Khi giảng bài, nhất là phần tìm hiểu bài giáo viên cần tạohứng thú cho học sinh Đây là một khâu quan trọng, là một hiện tượngtâm lý trong đời sống mỗi người, tạo hứng thú là tạo điều kiện cho họcsinh học tập, lao động được tốt hơn Để tạo được hứng thú cho học sinh,giáo viên phải tạo cho học sinh sự thoải mái trong học tập, phải làm chocác em cảm nhận được vẻ đẹp và khả năng kì diệu của ngôn từ để kíchthích vốn từ sẵn có của từng em

Ví dụ: Bài “sắc màu em yêu” của Phạm Đình Ân – giáo viên có thểgợi ý học sinh tìm hiểu những màu sắc trong bài được tác giả gợi ranhững hình ảnh nào? Tại sao bạn nhỏ yêu tất cả các màu sắc đó? Em cóthể liên tưởng những màu sắc đó bằng những hình ảnh nào khác trongthực tế?

1.4 Trên cơ sở học sinh đã được tiếp thu bài học, giáo viên bồidưỡng cảm thụ văn học cho học sinh khá, giỏi Đây là một quá trình lâudài và công phu trong phân môn tập đọc Để bồi dưỡng tốt, trước hếtgiáo viên bồi dưỡng cho các em vốn sống, có vốn sống học sinh mới cókhả năng liên tưởng để tiếp cận tác phẩm Giáo viên cần tạo cho học sinhtiếp cận với nhiều tác phẩm Giáo viên chỉ gợi mở, dẫn dắt cho sự tiếpxúc của học sinh với những tác phẩm hay Hoạt động của giáo viên chỉ

có tác dụng hỗ trợ cho cảm xúc thẩm mĩ nảy nở trong hoạt động Cần tôntrọng những suy nghĩ, cảm xúc thực của học sinh và nâng chúng lên ở

Ngày đăng: 04/10/2014, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w