Họ và tên : Ngô Thị Giang Mã số sinh viên: 10010753 Lớp : ĐHTN6TH Đề tài: Mâu thuẫn trong cách xác định nợ công, giải pháp hạn chế nợ công ở ngưỡng an toàn. Trong những năm gần đây, nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng khiến toàn thế giới phải quan tâm. Bởi lẽ nợ công đang tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến không chỉ một vài nước mà ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia, bất kể đó là quốc gia nghèo đói, đang phát triển hay phát triển đi nữa. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều biến động từ khủng khoảng kinh tế, xung đột chính trị…làm cho nền kinh tế toàn cầu trở nên ì ạch với tốc độ tăng trưởng chậm như hiện nay. Bối cảnh kinh tế ảm đạm, lạm phát, thất nghiệp và hàng loạt hệ lụy khác đã làm cho Chính phủ của tất cả các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với vấn đề sống còn là phải khôi phục lại nền kinh tế.Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy chung của thế giới. Chính xuất phát từ lý do này mà Chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn cho các chính sách, các gói kích cầu nhằm mục đích khôi phục , đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, để có thể ổn định và phát triển toàn bộ nền kinh tế trong những năm tới đây. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc sử dụng Ngân sách để chi cho các gói kích cầu kinh tế, hay các dự án đầu tư phát triển… trong khi nguồn thu Ngân sách không tăng kịp với tốc độ chi đã dẫn đến tình trạng bội chi ( thâm hụt ) ngân sách ngày càng gia tăng.Và khi đó, Chính phủ thường phải đi vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách, điều này dẫn đến chúng ta phải đối mặt với nợ công. Có thể thấy rằng, không quốc gia nào không có nợ công, tuy nhiên duy trì nợ công như thế nào, ở tỷ lệ nào là hợp lý, thì đây đang là vấn đề nan giải đối với các nhà quản lý đất nước. Do đó việc làm thế nào để tăng mức độ an toàn của nợ công Việt Nam trong giai đoạn tới đang là vấn đề khiến nhiều người quan tâm hiện nay.
Trang 1Họ và tên : Ngô Thị Giang
Mã số sinh viên: 10010753
Lớp : ĐHTN6TH
Đề tài: Mâu thuẫn trong cách xác định nợ công, giải pháp hạn chế nợ công ở ngưỡng an toàn.
Trong những năm gần đây, nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng khiến toàn thế giới phải quan tâm Bởi lẽ nợ công đang tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến không chỉ một vài nước mà ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia, bất kể đó là quốc gia nghèo đói, đang phát triển hay phát triển đi nữa
Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều biến động từ khủng khoảng kinh
tế, xung đột chính trị…làm cho nền kinh tế toàn cầu trở nên ì ạch với tốc độ tăng trưởng chậm như hiện nay Bối cảnh kinh tế ảm đạm, lạm phát, thất nghiệp và hàng loạt hệ lụy khác đã làm cho Chính phủ của tất cả các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với vấn đề sống còn là phải khôi phục lại nền kinh tế.Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy chung của thế giới Chính xuất phát từ lý do này mà Chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn cho các chính sách, các gói kích cầu nhằm mục đích khôi phục , đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh
tế, để có thể ổn định và phát triển toàn bộ nền kinh tế trong những năm tới đây
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc sử dụng Ngân sách để chi cho các gói kích cầu kinh tế, hay các dự án đầu tư phát triển… trong khi nguồn thu Ngân sách không tăng kịp với tốc độ chi đã dẫn đến tình trạng bội chi ( thâm hụt ) ngân sách ngày càng gia tăng.Và khi đó, Chính phủ thường phải đi vay nợ để
bù đắp thâm hụt ngân sách, điều này dẫn đến chúng ta phải đối mặt với nợ
Trang 2công Có thể thấy rằng, không quốc gia nào không có nợ công, tuy nhiên duy trì nợ công như thế nào, ở tỷ lệ nào là hợp lý, thì đây đang là vấn đề nan giải đối với các nhà quản lý đất nước Do đó việc làm thế nào để tăng mức độ an toàn của nợ công Việt Nam trong giai đoạn tới đang là vấn đề khiến nhiều người quan tâm hiện nay
Để có thể tìm hiểu được vấn đề tăng mức độ an toàn cho nợ công Việt Nam, trước hết chúng ta cần hiểu được thế nào là nợ công và cách xác định nợ công, cũng như giới hạn mức độ hợp lý của nợ công
Nợ công còn gọi là nợ chính phủ hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các
khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào
đó Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản
nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Theo tính toán của các tổ chức kinh tế cũng như các chuyên gia cho rằng giới hạn nợ công hợp lý mà các quốc gia nên duy trì hiện nay đó là nhỏ hơn 65% GDP
Vấn đề đang gây nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề nợ công hiện nay của chúng ta là cách xác định nợ công như thế nào là chính xác Điều này là do thực tế hiện nay những con số công bố về tỷ lệ nợ công của Việt Nam từ phía chính phủ và các tổ chức khác, hay từ các chuyên gia kinh tế đưa ra là không đồng nhất Việc này khiến cho chúng ta không thể nắm được thực tế nợ công của chúng ta là bao nhiêu và nó có thực sự đang nằm trong ngưỡng an toàn như Chính phủ công bố hay không?
Trang 3Tại cuối phiên thảo luận ngày 30/5 về việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước (NSNN) những tháng đầu năm 2013, trước một số ý kiến cho rằng nợ công của Việt Nam cao, con số thống kê không chính xác, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định: “Trong
nợ của Nhà nước có nợ Chính phủ bảo lãnh, có nợ Chính phủ vay về rồi cho vay lại và các khoản nợ này đã được tính đầy đủ theo quy định của luật Tại khoản 2, Điều 1, Luật Quản lý nợ công có ghi, phạm vi nợ công là nợ Chính phủ, nợ chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Như vậy, nợ công của Việt Nam tính đến 31/12/2012 tương đương 55,5% GDP Trong đó: nợ Chính phủ là 43,1%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 11,5%; nợ chính quyền địa phương là 0,9% GDP”.Trong khi đó theo tính toán của một số chuyên gia kinh
tế thì cho rằng nợ công của Việt Nam đang xấp xỉ ở mức 95%, vượt xa ngưỡng
an toàn mà thế giới khuyến cáo Hay con số công bố về nợ công năm 2012 của nước ta được Bộ Tài chính đưa ra là 55,4% nhưng theo một số chuyên gia thì con số này là 58,4 % việc không đồng nhất trong kết quả tính toán này bắt nguồn từ việc không đồng nhất trong cách quan niệm về khu vực công của Việt Nam và thế giới
Ở Việt Nam, khu vực công bao gồm Chính phủ và khối các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Trong đó, Chính phủ bao gồm: các đơn vị của Chính phủ ở các cấp trung ương hoặc địa phương; tất cả các quỹ bảo hiểm xã hội hoạt động ở các cấp và tất cả các tổ chức phi lợi nhuận, phi thị trường chịu
sự kiểm soát và nhận tài trợ của Chính phủ
Theo các tổ chức quốc tế, ngoài thành phần chủ chốt của khu vực công
là Chính phủ và chính quyền địa phương, khu vực này còn bao gồm các công
ty công (theo IMF) hoặc các tổ chức tự chủ (theo WB) và cả cơ quan quản lý tiền tệ trung ương Như vậy, khu vực công của các tổ chức quốc tế (IMF, WB)
Trang 4có sự có mặt của Cơ quan quản lý tiền tệ (Ngân hàng Trung ương - NHTW) trong khi ở Việt Nam không được tính đến trong khu vực công
Xuất phát từ sự khác biệt trong khái niệm khu vực công nêu trên mà cách xác định nợ công của Việt Nam và các tổ chức trên thế giới cũng khác nhau Điều này góp phần giải thích cho những con số nợ công được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế và Việt Nam rất khác nhau
Thực tiễn các nước cho thấy, ngoài nợ chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh (hầu hết các quốc gia đều cho vào nợ công) một số nước xác định nợ công còn gồm nợ chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani, Macedonia), nợ của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) phi tài chính (Thái Lan, Macedonia) Tuy nhiên, cần lưu ý ít nước có khu vực DNNN lớn như Việt Nam (các nước trước đây có nhiều DNNN là các nước Đông Âu và Liên Xô cũ nhưng cho đến gần đây khu vực này đã được thu hẹp đáng kể thông qua cổ phần hóa)
Một số nước loại bỏ nợ của NHTW, trừ trường hợp khoản nợ đó được Chính phủ bảo lãnh (Bungari, Macedonia) Một số nước lại bỏ nợ của ngân hàng thương mại nhà nước hoặc định chế tài chính nhà nước như trường hợp của Thái Lan và Macedonia Hầu như không có nước nào quản lý nợ của các đơn vị hành chính, sự nghiệp thuộc hệ thống tổ chức nhà nước trong nợ công
Mới đầu có thể hình dung với cách xác định này thì khoản mục nợ của các DN và tổ chức để tính vào nợ công ở Việt Nam là rộng hơn quốc tế, song trên thực tế điều kiện để một DN hay tổ chức có được sự bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam là vô cùng khó khăn và rất ít các doanh nghiệp hay tổ chức tại Việt Nam có được sự bảo lãnh này (thường là một số ít các DN, tổng công ty nhà nước) Hơn nữa, với cách xác định này, khoản mục DNNN tự vay và tự trả
sẽ không được tính vào nợ công Điều này là bất hợp lý bởi DNNN là DN do
Trang 5Nhà nước đóng góp toàn bộ số vốn điều lệ hoặc nắm cổ phần, vốn góp chi phối
Do vậy, khoản mà các DN tự đi vay cũng thể hiện phần nào đó Nhà nước đi vay (một phần hoặc toàn bộ) và trách nhiệm trả nợ cuối cùng vẫn thuộc về Nhà nước (một phần hoặc toàn bộ) Đặc biệt, tại Việt Nam khu vực quốc doanh rất lớn, mặc dù có quy chế chuyển đổi các DNNN sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhưng về mặt chính trị nếu xuất hiện các khoản nợ thì Nhà nước cũng không thể thoái thác trách nhiệm
Ngoài ra, các tổ chức quốc tế có tính đến nợ lương hưu trong khoản nợ Chính phủ (UNCTAD) còn Việt Nam thì dường như quên mất Theo nguyên tắc tính nợ của một số tổ chức quốc tế, khi một công chức nhận lương họ phải đóng vào quỹ về hưu, còn một phần khác, có thể bằng hoặc gấp đôi Chính phủ phải đóng vào quỹ này Phần Nhà nước đóng góp phải tính vào chi tiêu Dựa vào hợp đồng đã ký về hưu trí, nếu đóng góp không đủ để chi trả trong tương lai thì phải tính vào nợ Khoản mục này trên thực tế là không nhỏ, tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Úc, Nhật và các nước trong khối EU đã tính nợ theo đúng tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc nên đều có tỷ lệ nợ/GDP cao hơn 50% nhiều Tỷ lệ trên 100% đối với các nước này là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn Còn đối với các nước đang phát triển khi không tính nợ lương hưu thì có
lẽ 50% là ngưỡng phù hợp
Tại Việt Nam, Bảo hiểm xã hội (trực thuộc Chính phủ) là cơ quan chuyên trách về chế độ lương hưu, hàng năm bảo hiểm xã hội thu phí bao gồm một phần trích từ lương người lao động và một phần từ ngân sách nhà nước hỗ trợ và thực hiện chế độ hưu bổng cho cán bộ nghỉ hưu Quá trình hạch toán chỉ
rõ Việt Nam chưa hề đề cập tới khoản nợ lương hưu Trong khi hệ thống hưu trí ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đang gặp phải rất nhiều khó
Trang 6khăn Với điều kiện dân số đang ngày càng già hóa nhanh, tỷ lệ sinh thấp và tỷ
lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm thì sự tồn tại của hệ thống hưu trí sẽ bị đe dọa trong tương lai không xaTại Việt Nam, khoản nợ này lại không được phản ánh trong tài khoản tài chính quốc gia và nó trở thành mối đe dọa tiềm ẩn đối với các chính sách tài chính vì Chính phủ phải chuẩn bị một dòng tiền khổng lồ để thanh toán khoản nợ này trong tương lai Bên cạnh đó,
cơ cấu nợ hiện nay của Việt Nam cũng là vấn đề đáng lo ngại Việc tỷ trọng nợ nước ngoài quá cao như hiện nay (chiếm 75,59% tổng số nợ công quốc gia năm 2012) cũng mang lại nhiều nguy cơ tiềm ẩn
Tỷ trọng nợ nước ngoài quá lớn làm gia tăng khả năng tổn thương của nền kinh tế Việt Nam khi nền kinh tế thế giới có biến động Phần lớn nợ nước ngoài có mức lãi suất thấp, tuy nhiên, bên trong các món vay này ẩn chứa nhiều rủi ro về biến động tỷ giá Sự mất giá của đồng nội tệ sẽ khiến cho gánh nặng nợ nước ngoài theo nội tệ tăng lên cao
Việt Nam hiện có những cách hạch toán chưa theo thông lệ quốc tế Nhiều khoản chi ngân sách từ nguồn trái phiếu chính phủ cho các dự án giáo dục, thủy lợi, y tế… được để ngoại bảng và không được tính đầy đủ vào thâm hụt ngân sách và nợ công như thông lệ quốc tế Sự thiếu quy chuẩn trong cách hạch toán tài khóa khiến cho các con số thống kê không phản ánh chính xác về thực trạng nợ công của Việt Nam, gây khó khăn cho việc kiểm chứng thông tin cho các lực lượng tham gia thị trường Đồng thời, khiến cho việc so sánh quốc
tế, đánh giá và quản lý rủi ro nợ công của Việt Nam gặp khó khăn
Trong 10 năm trở lại đây, nợ công tại Việt Nam tăng nhanh một cách đáng lo ngại và có cơ cấu bất hợp lý, rủi ro cao Điều này thể hiện trên các điểm mới:
Trang 7Nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng cao nhất: Là
quốc gia có thu nhập thấp cộng với những thành tựu kinh tế đáng kể đã khiến giúp Việt Nam được hưởng các khoản vay ưu đãi với kỳ hạn dài và lãi suất thấp từ các tổ chức quốc tế trong suốt hơn một thập kỷ qua Theo Bộ Tài chính cho thấy, tính đến 31/12/2010, có tới hơn 76,4% nợ nước ngoài của Chính phủ
có mức lãi suất cố định ưu đãi dưới 3% Tính toán trong tổng nợ công so với GDP, thì có 42,2% GDP là nợ nước ngoài, tăng so với con số 39% GDP năm
2009 và cao nhất kể từ năm 2006 Con số này cũng cao hơn nhiều so với mức 38,8, mà Chính phủ dự kiến hồi cuối năm 2010 Năm 2011, con số này vào khoảng là 41,5% Do vốn vay nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong nợ chính phủ, nên khả năng Việt Nam bị tổn thương khi nền kinh tế thế giới có biến động lớn sẽ là rất cao
Chịu tác động lớn về rủi ro tỷ giá: Mặc dù nợ nước ngoài có thể được
hưởng lãi suất thấp, nó lại tiềm ẩn đầy rủi ro về tỷ giá Sự mất giá của đồng nội
tệ sẽ khiến cho gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ tăng lên.Trong nhiều năm qua, cơ cấu nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam theo các đồng tiền khác nhau khá ổn định Nếu phân theo loại tiền, tính đến hết tháng 12/2010, cơ cấu nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam chủ yếu bao gồm những đồng tiền mạnh, như: JPY (38,8%), SDR (27,1%), USD (22,2%) và EUR (9,2%) Nợ theo các đồng tiền khác chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (chưa đến 3%)
Nếu phân theo chủ nợ, các chủ nợ lớn của Chính phủ Việt Nam bao gồm Nhật (34,3% tổng nợ) và các tổ chức quốc tế, như: IDA (24,9%), ADB (15,0%) Nước Mỹ và khối EU chỉ chiếm lần lượt 0,3% và gần 6,9% tổng nợ của Việt Nam, tuy nhiên nợ theo đồng tiền của các nước/khu vực này lại chiếm
tỷ trọng lớn Điều này cho thấy, các chủ nợ thường có xu hướng sử dụng những đồng tiền mạnh và việc vay nợ theo các đồng tiền mạnh này khiến nợ
Trang 8nước ngoài chịu rủi ro cao khi chúng có xu hướng lên giá theo thời gian.Cụ thể, kể từ đầu năm 2010 đến cuối tháng 6/2011, ba đồng tiền chủ chốt gồm EUR, USD và JPY trong giỏ nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên giá lần lượt khoảng 12%, 13% và 26% so với VND Điều này cho thấy, gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ đang tăng với tốc độ chóng mặt và gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ
Quy mô các khoản vay thương mại trong nợ nước ngoài với lãi suất cao, trong vài năm trở lại đây, đang có xu hướng tăng lên Tính đến hết ngày
31/12/2010, đã có gần 6,8% tổng nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất lên tới 6-10% và hơn 7,0% tổng nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất thả nổi
Bên cạnh đó, cơ cấu kỳ hạn của các khoản nợ công trong nước cũng gây rủi ro khá lớn Trong khi các khoản nợ nước ngoài có kỳ hạn dài tới vài chục năm, thì hơn 88,7% nợ trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính phủ bảo lãnh có
kỳ hạn chỉ từ 2-5 năm Theo báo cáo nghiên cứu “Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam” do Uỷ ban Kinh tế thực hiện, thì nghĩa vụ nợ nước ngoài được dàn khá đều qua mỗi năm (khoảng 1,5-2 tỷ USD/năm) và nghĩa vụ nợ trong nước lại dồn nén ở tương lai gần (xấp xỉ 4,5-5 tỷ USD/năm trong vòng bốn năm tới)
Như vậy, với tỷ trọng đang có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây,
nợ công trong nước đang hàm chứa những rủi ro do lãi suất cao cộng với kỳ hạn ngắn của nó Chỉ tính riêng năm 2012, nghĩa vụ trả nợ lãi và gốc lên tới xấp xỉ 5,44 tỷ USD, tương đương 4,5% GDP của năm 2011
Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế mức tăng nợ công, có thể duy trì nợ công của Việt Nam ở ngưỡng an toàn như kế hoạch.Thời gian tới, để
bù đắp thâm hụt ngân sách, khi điều kiện vay nợ trong nước bị thu hẹp, thì nhiều khả năng phần nợ nước ngoài sẽ tăng lên Điều này cho thấy, Việt Nam
Trang 9đang đứng trước những rủi ro nợ tiềm ẩn Để hạn chế rủi ro, chúng ta có thể tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, cần nhanh chóng chuẩn hóa hệ thống thống kê nợ công theo thông lệ quốc tế.Bởi, nếu không chuẩn hóa số liệu thống kê, thì sẽ không nắm
bắt được thực chất vấn đề nợ công hiện nay và chiều hướng sắp tới Việc có một hệ thống thống kê nợ chuẩn sẽ giúp Quốc hội và cơ quan chức năng giám sát tốt hơn, từ đó có thể đưa ra những giải pháp điều hành phù hợp
Để có thể chuẩn hóa hệ thống này, việc hạch toán ngân sách và nợ công phải được thực hiện một cách công khai, minh bạch theo chuẩn quốc tế Các khoản chi để ngoại bảng phải tuyệt đối tránh Các thước đo thâm hụt ngân sách loại trừ những khoản thu kém bền vững và thu từ bán tài sản cũng cần được tính toán thêm để có thể đánh giá được chính xác thực trạng tài khóa hiện tại Ngoài ra, các gánh nặng ngân sách phát sinh trong tương lai, ví dụ như chi trả lương hưu hay bảo hiểm y tế, cũng cần được đưa vào các dự báo về thâm hụt ngân sách nhằm có được bức tranh chính xác hơn về triển vọng nợ công trung
và dài hạn
Do rủi ro tiềm ẩn của nó đối với nợ công, nợ của khu vực DNNN cũng cần phải được tính toán, phân tích và báo cáo đầy đủ bên cạnh định nghĩa nợ công hiện nay ở Việt Nam Việc phân tích và đánh giá nợ của DNNN nên được coi là một phần không thể tách rời trong các báo cáo về nợ công của Việt Nam
Thứ hai, cần thiết lập một hệ thống các chỉ tiêu về an toàn nơ Để tăng
cường kỷ luật tài khoá, cần thiết lập một hệ thống các chỉ tiêu quy định về giới hạn nợ, cả đối với khối lượng nợ và dòng chi trả nợ Các giới hạn này vừa được thể hiện theo giá trị danh nghĩa, vừa thể hiện theo phần trăm các biến vĩ
mô quan trọng Phạm vi áp dụng giới hạn được phân chia theo từng loại nợ:
Trang 10tổng nợ công, nợ công nước ngoài, nợ công trong nước và tổng nợ nước ngoài Thông thường, các giới hạn đối với tổng nợ thường được biểu diễn dưới dạng
tỷ lệ phần trăm của GDP và xuất khẩu, còn giới hạn đối với nghĩa vụ nợ thường được biểu diễn theo tỷ lệ phần trăm tổng thu thuế và dự trữ ngoại hối hoặc giới hạn tỷ lệ vay nợ/chi đầu tư hàng năm
Tuy nhiên, điều quan trọng là Quốc hội cần phải đưa ra các giới hạn này một cách hợp lý Nếu quá thấp, chúng sẽ cản trở Chính phủ thực hiện các phương án cần thiết để phát triển đất nước, cũng như thực hiện các phản ứng kịp thời trong bối cảnh kinh tế “hậu” khủng hoảng Bởi, Việt Nam là nền kinh
tế đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư phát triển nói chung và phát triển kết cấu
hạ tầng nói riêng là rất lớn Ngược lại, nếu các giới hạn được thiết lập ở mức quá cao, thì chúng lại không có ý nghĩa gì cả
Thứ ba, tăng cường thể chế quản lý và giám sát nợ công, hình thành cơ quan quản lý nợ công thống nhất Để có thể thực hiện giải pháp này, cần
nghiên cứu hình thành bộ máy thống nhất chỉ đạo, quản lý và giám sát các đơn
vị tham gia quản lý nợ công hiện nay Điều này nhằm khắc phục những bất cập trong hệ thống quản lý nhà nước về ngân sách nói chung và nợ công nói riêng Đồng thời, cần tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc giám sát nợ công,
nợ quốc gia luôn đảm bảo an toàn
Thứ tư, trong trung và dài hạn, cần phải gắn với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó với 3 mũi nhọn là tái cơ cấu đầu tư công, tài chính và
DNNN nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách Cụ thể:tiến hành tái cơ cấu đầu tư công theo hướng đầu tư có trọng điểm, tránh dàn trải; khuyến khích nguồn lực
tư nhân tham gia vào các dự án hạ tầng… thông qua mô hình đối tác công - tư ; đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu DNNN theo hướng tinh gọn, hiệu quả