Tôi cũng xin hết lòng cám ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Phạm Huy Thông, Ủy ban đoàn kết Công giáo Trung ương; quý thầy cô trong ban Dân vận Trung Ương, ban Tôn giáo Chính Phủ, ban tôn giáo tỉ
Trang 1BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 2để đánh giá sức học của sinh viên qua những năm ngồi trên ghế giảng đường đại học Để thực hiện luận văn tốt nghiệp này, người học không chỉ phải đạt được những kết quả học tập khá giỏi qua bảy học kỳ và có những kiến thức chuyên môn nhất định, mà còn phải có sự cố gắng và nỗ lực hết mình Song, với kiến thức và cố gắng của bản thân mà không có sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn và giáo viên trong khoa Đông Phương, thì luận văn cũng không thể hoàn thành một cách tốt đẹp
Tôi cũng xin chân trọng gửi lời cám ơn đến quý Thầy cô khoa Đông Phương, đặc biệt là Ths Phạm Thị Bích Hằng – trưởng bộ môn Việt Nam học, quý Thầy cô ngành Việt Nam học, những người với lòng nhiệt tình và sự yêu thương đã truyền thụ cho chúng tôi thật nhiều kiến thức quý báu, để khi rời xa mái trường, đó chính là những nền tảng vững chắc để tôi vững bước trên bước đường tương lai
Xin được gửi lời tri ân chân thành tự đáy lòng đến Tiến sĩ Đinh Thị Xuân Trang Cô đã luôn động viên hướng dẫn, cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến, đề xuất hướng phát triển khóa luận Tôi cũng xin hết lòng cám ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Phạm Huy Thông, Ủy ban đoàn kết Công giáo Trung ương; quý thầy cô trong ban Dân vận Trung Ương, ban Tôn giáo Chính Phủ, ban tôn giáo tỉnh Đồng Nai đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tư liệu, giúp đỡ và động viên để bài luận văn được hoàn thành cách tốt nhất Những lời nhận xét, động viên của quý thầy cô mãi là những lời dạy bảo đối với tôi khi rời xa ghế nhà trường
Sau cùng, xin được bày tỏ lòng tri ân đến gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi khi gặp khó khăn trong suốt thời gian học đại học tại trường Đại học Lạc Hồng
Trang 31 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử nghiên cứu: 3
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu: 4
5 Đóng góp của đề tài: 4
6 Cấu trúc của đề tài: 5
NỘI DUNG CHÍNH 6
Chương 1: CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG NAI 7
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Đồng Nai 7
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.3 Thành phần dân cư 12
1.1.4 Văn hóa xã hội 13
1.2 Tình hình tôn giáo ở Đồng Nai 16
1.3 Sự hình thành và phát triển Công giáo ở Đồng Nai 16
1.3.1 Từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1965: 16
1.3.2 Từ năm 1965 đến nay: 20
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2: VAI TRÕ CỦA CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI 24
2.1 Công giáo với tín ngưỡng truyền thống 25
2.1.1 Công giáo với văn hóa bản địa 25
2.1.2 Công giáo với việc thờ kính tổ tiên 38
2.1.3 Công giáo với hôn nhân – gia đình 45
2.2 Công giáo với văn hóa nghệ thuật 49
2.2.1 Công giáo với kiến trúc 49
2.2.2 Công giáo với âm nhạc, văn học 59
2.2 Công giáo với giáo dục đạo đức, lối sống xã hội 62
Trang 42.3.1 Công giáo với giáo dục đạo đức 63
2.3.2 Công giáo với đời sống xã hội 68
2.3.3 Công giáo với từ thiện, bác ái xã hội 71
Tiểu kết 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Trang 5Hình 2.1: Thiếu nhi xứ Văn Hải trong trang phục áo dài khi rước kiệu 27
Hình 2.2: Giáo dân giáo xứ Văn Hải trong trang phục áo dài truyền thống 28
Hình 2.3: Giáo dân xứ Văn Hải trong trang phục áo dài 28
Hình 2.4: Giáng sinh ở Long Thành 30
Hình 2.5: Không khí Giáng sinh ở Tân Mai 31
Hình 2.6: Đài Đức Mẹ tại giáo xứ Biên Hòa 35
Hình 2.7: Đài Đức Mẹ tại giáo xứ Ngọc Đồng 35
Hình 2.8: Đài Đức Mẹ tại Đan viện Xitô Thánh Mẫu 36
Hình 2.9: Đài Đức Mẹ tại nhà giáo dân ở Hố Nai 36
Hình 2.10: Tượng thánh Antôn 37
Hình 2.11: Tượng thánh Martino 37
Hình 2.12: Đền thánh Vicente ở Bắc Hải 38
Hình 2.13: Bốn vị Thánh tại đền thánh Hải Dương 38
Hình 2.14: Bản thờ tổ tiên tại một số gia đình Công giáo 43
Hình 2.15: Bàn thờ tổ tiên trong ngày giỗ 44
Hình 2.16: Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc 50
Hinh 2.17: Nhà thờ Bắc Hải, Hố Nai 50
Hình 2.18: Nhà thờ Kẻ Sặt 51
Hình 2.19: Đền Thánh Hải Dương 51
Hình 2.20: Nhà nguyện Đan viện Xitô Thánh Mẫu, Ngọc Đồng 51
Hinh 2.21: Nhà thờ Suối Tre 52
Hình 2.22: Tượng Rồng chầu ở giáo xứ Hòa Bình 52
Hình 2.23: Hoa sen trên khung cửa giáo xứ Nagoa 53
Hình 2.24: Họa tiết trống đồng trên cửa nhà thờ Biên Hòa 53
Hình 2.25: Tháp chuông xứ Văn Hải 54
Hình 2.26: Tháp chuông xứ Hòa Bình 54
Trang 6Hình 2.30: Hạc thờ ở nhà nguyện Đan viện Xitô 56
Hình 2.31: Hạc thờ ở nhà thờ Thiết Nham 56
Hình 2.32: Chữ viết theo kiểu cuốn thƣ tại nhà nguyện Xitô 57
Hình 2.33: Nhà thờ Lộc Lâm 57
Hình 2.34: Đại hội di dân tại đền thánh Martino ở Hố Nai 65
Hình 2.35: Đại hội di dân tại Long Thành 66
Hình 2.36: Văn nghệ tại buổi đại hội di dân 67
Hình 2.37: Khám bệnh từ thiện tại phòng khám Xuân Hòa 72
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ý định “ mở rộng nước Chúa” của Giáo hội Công Giáo đã gặp gỡ ý định mở rộng thị trường của các nước phương Tây, đặc biệt được thực hiện mạnh mẽ từ sau những phát kiến địa lý thế kỷ XV ra nhiều khu vực, trong đó có Đông Nam Á, Đông Dương và Việt Nam
Từ những thập niên đầu thế kỷ XVI, có một số giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo ở Việt Nam (vùng Ninh Cường, Quần Anh, tỉnh Nam Định) Tuy nhiên,
do bất đồng ngôn ngữ, không quen thông thổ nên các vị ấy không gặt hái được kết quả như mong muốn
Từ năm 1613 đến năm 1645, các giáo sĩ Dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao (Trung Quốc) vào Việt Nam Họ hiện diện ở cả đàng trong lẫn đàng ngoài, trong đó có nhiều giáo sĩ biết tiếng Việt, lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp những khó khăn phức tạp về điều kiện xã hội, có khi phải đổ máu vì chính sách bách hại đạo của triều đình, nhưng các vị vẫn thu hút được nhiều người theo đạo
Năm 1933 ( sau hơn 400 năm truyền giáo) Vatican mới trao quyền tự quản cho Giáo hội Việt Nam và phong cho người bản xứ đầu tiên tên là Nguyễn Bá Tòng chức Giám Mục Năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam được thiết lập Giáo hội Công giáo Việt Nam chia làm 3 giáo tỉnh ( Hà Nội, Huế, Sài Gòn) với 3 vị Tổng Giám Mục người Việt Nam phụ trách, tất cả 25 giám mục từ “hiệu tòa” được nâng lên “chính tòa” Tính đến năm 2008, cả nước có trên 6 triệu tín đồ Công giáo, 2.565 giáo xứ, 26 giáo phận, 47 giám mục, 2.476 linh mục triều, 513 linh mục dòng, 113.254 tu sĩ nam nữ, 1.479 chủng sinh, 5.456 nhà thờ nhà nguyện và 1.041 cơ sở
từ thiện nhân đạo1
Đồng Nai là một trong những địa bàn được truyền giáo sớm ở Đàng Trong
và đã từng có những giáo sĩ Thừa sai nổi tiếng đương thời như Giám mục Labbé, Giám mục D.Lefèbvre hoạt động truyền giáo ở đây Tuy nhiên, từ ngày đầu
1
Kết quả báo cáo kỳ họp Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2009
Trang 8truyền giáo đến năm 1954, Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai chưa trở thành một tôn giáo phát triển sâu rộng như Phật Giáo Số dân đến Biên Hòa - Đồng Nai cư trú
từ lâu đời theo đạo Công giáo chiếm tỷ lệ rất thấp Một vùng đất vốn có truyền thống tín ngưỡng tôn giáo hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía nên khi tiếp nhận Công giáo, giáo dân Biên Hòa - Đồng Nai cũng không có niềm tin "tinh ròng", lễ nghi, phong tục, tập quán cũng không quá rườm rà, hình thức Đạo không có vùng tập trung đông giáo dân, các xứ họ không phải là một lãnh địa khép kín, giáo dân sống xen kẽ với người ngoài đạo chan hòa cởi mở Trong một dòng họ, một gia đình cũng có người theo, có người không theo Công giáo Thậm chí trong một con người
họ là tín đồ Công giáo, họ đi nhà thờ cầu phúc, nhưng cũng có khi họ đi đình, chùa cầu cúng thần, Phật
Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai hiện nay thuộc giáo phận Xuân Lộc, là một giáo phận thuộc giáo tỉnh Sài Gòn của Giáo hội Công giáo Việt Nam Giáo phận Xuân Lộc có Tòa Giám mục, 12 giáo hạt, 223 giáo xứ và hơn 100 họ lẻ và các cụm giáo dân ở các vùng kinh tế mới Có 2 Giám mục và 297 Linh mục với 841.231 giáo dân.2 Bên cạnh hệ thống triều, các dòng tu cũng là một tổ chức của Giáo hội với nhiều loại hình khác nhau Các dòng tu do Tòa thánh thiết lập hầu hết
là dòng miễn trừ, đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Tòa thánh ít bị chi phối của giáo quyền, giáo phận Các dòng tu do Tòa thánh thiết lập có cơ sở ở Việt Nam đều thuộc tỉnh dòng nước ngoài và do các tỉnh dòng nước ngoài chi phối Mãi đến năm
1956 trở đi, Việt Nam mới có tỉnh dòng riêng, nhưng cho đến nay vẫn còn các dòng
tu trực thuộc tỉnh dòng nước ngoài Các dòng tu do Giám mục giáo phận thiết lập thì mọi hoạt động đều đặt dưới sự kiểm soát của Giám mục giáo phận
Hầu hết các dòng tu có ở Việt Nam đều có các cơ sở ở giáo phận Xuân Lộc Đến nay số dòng tu đã đăng ký hoạt động có 13 dòng nam và 24 dòng nữ với 62 cơ
sở dòng tu và 1510 tu sĩ
2
Ủy ban văn hóa – Hội đồng Giám mục Việt Nam, Dấu ấn 350 năm Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb
Phương Đông, trang 252
Trang 9Với châm ngôn “ Tốt đời – đẹp đạo” bà con giáo dân Công giáo đã và đang cùng chung tay xây dựng quê hương Đồng Nai ngày một phát triển, tích cực tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo
Hiện nay Giáo phận Xuân Lộc đang chuẩn bị kỷ niệm 50 năm Kim khánh Giáo phận Do đó, cókhá nhiều tư liệu được truy tìm lại sẽ là một thuận lợi để tác giả nghiên cứu quá trình hội nhập của Công Giáo trong văn hóa ở Đồng Nai;đây cũng là một đề tài nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến ngành Việt Nam học Cho nên tác giả chọn đề tài nghiên cứu “ CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
- XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI”
2 Lịch sử nghiên cứu:
Đồng Nai là tỉnh có số lượng giáo dân Công giáo lớn của cả nước Văn hóa Công giáo cũng góp phần làm nên nét văn hóa riêng chỉ có ở Đồng Nai, vì tôn giáo bản thân nó cũng là một thành tố văn hóa Do đó, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam nói chung
và văn hóa của Đồng Nai nói riêng Đến nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam như:
“ Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam” của Tiến sĩ
Nguyễn Hồng Dương, xuất bản năm 2001 Công trình nghiên cứu đã nêu lên được một vài hướng tiếp cận của Công giáo trong quá trình hội nhập
“Tìm hiểu về Tôn giáo” của Tổng cục chính trị xuất bản năm 1998 cũng đã
giới thiệu được những điểm khái quát về cộng đồng Công giáo Việt Nam, cách thực hiện nghi lễ, lễ hội Công giáo
Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Huy Thông với đề tài “Sự tác động
qua lại của Công giáo và văn hóa Việt Nam” cũng đã phần nào nêu lên những nét
ảnh hưởng qua lại giữa Công giáo và văn hóa Việt Nam
Một số ấn phẩm của Tòa Giám mục Xuân Lộc như: Kỷ yếu giáo phận, tập san Một thời để nhớ cũng phần nào giới thiệu khái quát những sinh hoạt của giáo
dân Công giáo
Trang 10Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào tìm hiểu về sự tác động giữa Công giáo và văn hóa Đồng Nai Các công trình nghiên cứu đi trước đều tập trung nghiên cứu Công giáo trên phạm vi cả nước Các công trình nghiên cứu đã đưa ra một số nét ảnh hưởng của Công giáo trong tiến trình lịch
sử của mình như ảnh hưởng trên lĩnh vực kiến trúc, hội họa, âm nhạc Và những yếu tố hội nhập ấy cũng thể hiện rất rõ nét trong đời sống Công giáo ở Đồng Nai Trên cơ sở tiếp thu kết quả một số công trình nghiên cứu đi trước, tác giả muốn nghiên cứu một cách cụ thể và rõ nét sự ảnh hưởng của Công giáo trong đời sống văn hóa xã hội ở Đồng Nai Từ đó, giới thiệu bức tranh đời sống văn hóa Công giáo Đồng Nai trên bình diện văn hóa xã hội ở Đồng Nai
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu: Công giáo xuất hiện ở Đồng Nai từ rất sớm, dù trải qua nhiều biến động của lịch sử nhưng Công giáo vẫn để lại dấu ấn đậm nét trong văn hóa Đồng Nai Công giáo đang dần hòa nhập vào nền văn hóa bản địa của dân tộc Mục tiêu nghiên cứu của luận án này là làm sáng tỏ những tác động của Công giáo trong đời sống văn hóa – xã hội ở Đồng Nai
Phạm vi nghiên cứu: Công giáo ở Đồng Nai trên bình diện văn hóa – xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp liên ngành, nghĩa là những thành tựu của các ngành như Sử học, Triết học, Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học, cùng các phương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp,
5 Đóng góp của đề tài:
- Về mặt khoa học: Giới thiệu bức tranh tổng thể sự ảnh hưởng của Công giáo Đồng Nai và văn hóa Đồng Nai Đề tài khẳng định rằng Công giáo đã ảnh hưởng sâu sắc vào nền văn hóa ở Đồng Nai Từ vai trò là chiếc cầu nối giao lưu giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa thế giới, từ đóng góp trên lĩnh vực báo chí, văn học nghệ thuật, lễ hội đến những danh nhân văn hóa, từ kiến trúc hội họa đến việc xây dựng lối sống lành mạnh của Công giáo Đồng Nai Đề tài thêm một minh chứng cho thấy việc tiếp biến văn hóa là một quy luật tất yếu của mọi nền văn hóa,
Trang 11và sự tác động giao thoa văn hóa luôn diễn ra trong mọi thời đại, mọi không gian,
và đây cũng là một đề tài đầu tiên nghiên cứu sự tác động của Công giáo đến một vùng cụ thể là tỉnh Đồng Nai
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác lập những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách về tôn giáo, về văn hóa – xã hội của chính quyền địa phương Đồng thời, với kết quả nghiên cứu cũng góp phần ứng dụng trong xử lý quan hệ giữa đạo và đời đặc biệt đối với Công giáo
ở Đồng Nai.Với những kết quả nghiên cứu có được cũng góp phần định hướng phát triển loại hình du lịch tôn giáo ở Đồng Nai, góp phần tạo nên thế mạnh riêng cho du lịch tỉnh nhà
6 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, đề tài này chia làm 2 chương:
Chương 1: Với dung lượng khoảng 23 trang, nội dung chương 1 nhằm giới thiệu khái quát về Công Giáo ở Đồng Nai
Chương 2: Phân tích vai trò của Công giáo trong đời sống văn hóa xã hội ở Đồng Nai
Trang 12NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Công giáo ở Đồng Nai
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Đồng Nai
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.3 Thành phần dân cư
1.1.4 Văn hóa xã hội
1.2 Tình hình tôn giáo ở Đồng Nai
1.3 Sự hình thành và phát triển Công giáo ở Đồng Nai
1.3.1 Từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1965
1.3.2 Từ năm 1965 đến nay
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Công giáo hội nhập trong đời sống văn hóa xã hội ở Đồng Nai 2.1 Công giáo với tín ngưỡng, truyền thống
2.1.1 Công giáo với hội nhập văn hóa bản địa
2.1.2 Công giáo với việc thờ kính tổ tiên
2.1.3 Công giáo với hôn nhân – gia đình
2.2 Công giáo với văn hóa nghệ thuật
2.2.1 Công giáo với kiến trúc
2.2.2 Công giáo với âm nhạc, văn học
2.3 Công giáo với đạo đức, lối sống xã hội
2.3.1 Công giáo với giáo dục, đạo đức
2.3.2 Công giáo với đời sống xã hội
2.3.3 Công giáo với từ thiện, bác ái xã hội
Tiểu kết chương 2
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13Chương 1: CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG NAI
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Đồng Nai
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai
Thế kỷ XV - XVI, Đồng Nai chưa có tên trên bản đồ nước Việt Nhưng theo các tài liệu khảo cổ đã chứng minh người xưa sinh sống ở Đồng Nai từ rất sớm,
cách đây hàng nghìn năm Có đủ dấu ấn của các nền văn minh: Đá cũ, đá mới, đồng
thau, sắt Mọi nơi ở Đồng Nai, từ vùng bán sơn địa như: Hàng Gòn, Dốc Mơ, Dầu
Giây, Suối Linh, Nam Cát Tiên đến miền đồng bằng ven sông biển như: Phước Tân, Gò Bường, Cái Vạn, Rạch Lá, Bưng Bạc đều có dấu ấn người xưa với nếp sống quần cư, chế tác vũ khí và vật dụng sinh hoạt ở trình độ cao, có quan hệ giao lưu với văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo và các nền văn minh khác trong khu
vực Đông Nam Á Kết quả khảo cổ cho phép nhận xét: Từ giai đoạn sắt sớm, nền
kinh tế nông nghiệp bán sơn địa đã hình thành, biến Đồng Nai từ thiên nhiên còn hoang sơ, nguyên thủy, trở thành địa bàn kinh tế dân cư “trù phú vào bậc nhất của trung tâm văn minh nông nghiệp Đồng Nai - Đông Nam bộ”3 Những: Mộ cổ Hàng
Gòn, đàn đá Bình Đa, qua đồng Long Giao, cổ vật Nam Cát Tiên là di sản văn
hóa chứng minh thời rực rỡ của các nền văn minh cổ xưa Những nền văn minh này hiện không còn “phát sáng”, chỉ vương lại những “hồi quang” đứt gãy trong đời sống của người thời nay
Từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII người Việt bắt đầu có những đợt di
cư vào vùng đất Đồng Nai Tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ
Cột mốc đánh dấu lịch sử hành chính của Đồng Nai thường được nhắc đến là năm Mậu Dần (1698) khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phương Nam, đưa vùng đất Đồng Nai vào lãnh thổ cai quản của Chúa Nguyễn Nhưng trước đó, thần dân của Chúa Nguyễn đã là chủ nhân của xứ Đồng Nai Sự xuất hiện của hai sở thuế ở Sài Gòn và Bến Nghé năm 1623 đã hé mở sự xuất hiện của người Việt sinh sống
3
Lê Xuân Diệm – Phạm Quang Sơn - Bùi Chu Hoàng (1991), Khảo cổ Đồng Nai, Nxb Đồng Nai, trang 201
Trang 14buôn bán tại đây từ thập niên 20 của thế kỷ XVII Tài liệu của nhà truyền giáo Gouge và Labbé thừa nhận người Đàng Trong và cả người nước ngoài khai hoang, cày cấy ở vùng Đồng Nai trước năm 1701 đến vài chục năm Năm 1658, Chúa Nguyễn sai Nguyễn Phước Yến đem 3.000 quân dẹp loạn đến Mô Xoài (Mỗi Xuy) chứng tỏ người Việt đã làm chủ tình hình ở đây Năm 1679, nhóm người Hoa gồm Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn, Trần Thượng Xuyên đem 50 thuyền, 3.000 gia nhân đến xin trú ngụ, Chúa Nguyễn Phước Tần cho khai khẩn đất phương Nam: Nhóm Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn đến Mỹ Tho (Tiền Giang); nhóm Trần Thượng Xuyên đến Bàng Lân (Biên Hòa), góp phần xây dựng Cù Lao Phố thành thương cảng sầm uất, giao dịch với thương nhân trong và ngoài nước
Như vậy, tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ Đến năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược, thiết lập hệ thống quản lý hành chính , tổ chức việc khai thác đất đai và ổn định trật tự xã hội
Năm 1802, nhà Nguyễn thành lập Nhà Nguyễn đã có nhiều chính sách khẩn hoang vùng đất phương Nam chưa được khai thác Đồng Nai trong giai đoạn này, nhiều vùng đất hoang được khai thác
Trong thời kỳ Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, thực dân Pháp đã có nhiều đợt khai thác vùng đất bazan ở Đồng Nai để trồng các loại cây công nghiệp nhiệt đới phuc vụ cho nhu cầu thị trường, nhu cầu vơ vét thuộc địa của Pháp
Trong suốt quá trình lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai, nhân dân các bộ tộc ở Đồng Nai đã cùng nhau chung sức khai phá vùng đất màu mỡ để phục vụ cuộc sống, phục vụ sản xuất Cư dân Đồng Nai đã để lại nhiều công trình sản xuất, nhiều di tích lịch sử tạo điều kiện cho sự phát triển của vùng đất Đồng Nai trong tương lai
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng Đông nam bộ, với diện tích tự nhiên là 5.862,37 km2 (bằng 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ) Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương; phía Đông
Trang 15giáp tỉnh Bình Thuận; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay tỉnh Đồng Nai có tất cả là 11 đơn vị hành chính gồm thành phố Biên Hoà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh, thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Thạch, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ, Trảng Bom.
Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc
- Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
Đồng Nai được xem là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, điều kiện tư nhiên khá thuận lợi
Về địa hình: Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên
với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:
- Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính:
Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 mét hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 mét dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài kilomet Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại
Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 mét, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng
- Dạng địa đồi lượn sóng:
Độ cao từ 20 đến 200 mét Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80 Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám
- Dạng địa hình núi thấp:
Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800 mét Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh
Trang 16thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét
Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc < 8o, 92% đất có độ dốc <15o, các đất có độ dốc >15o
chiếm khoảng 8% Trong đó: Đất phù sa, đất sét và đất cát có địa hình bằng phẳng , nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm
Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc <8o
, đất đỏ hầu hết < 15oRiêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao
Về đất đai
Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu.Có 10 nhóm đất chính Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau:
* Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có
độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc
và đông bắc của tỉnh Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu…
* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phí nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch) Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…
* Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…
Về khí hậu
Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa)
Trang 17Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao
Nhiệt độ bình quân năm 2005 là: 26,3oC chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2o
C
Số giờ nắng trung bình trong năm 2005 là: 2.243 giờ
Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.065,7mm phân bố theo vùng và theo vụ
Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng, cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển
Độ ẩm trung bình năm 2005 là 80%
Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm 2005 là: 109,24 mét
Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm 2005: 113,12 mét
Về tài nguyên
Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông Ngoài ra Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km2
và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên
Năm 2004 độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010
Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Khu Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu
Trang 18du lịch ven sông Đồng Nai , Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Thác Mai - hồ nước nóng , Đảo Ó
Đến Đồng Nai du khách sẽ có dịp tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long Ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà, hay tham quan các di tích lịch sử, văn hóa: chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa…
Từ sau khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn, kinh lược đến Nam Bộ năm 1698, ông đã sắp đặt bộ máy quản lý hành chánh trên vùng đất này và chiêu mộ người dân từ miền Trung vào đây khai khẩn Dân số Đồng Nai có
sự phát triển ngày càng tăng với mức độ đẩy mạnh chính sách khai phá Nam Bộ của nhà Nguyễn, thể hiện qua việc tăng số làng, thôn, ấp và nâng cấp các đơn vị hành chánh cấp tổng, huyện
Từ năm 1698 đến nay, có 5 đợt nhập cư lớn của các nguồn di dân đến Đồng Nai làm tăng dân số và thành phần dân cư Đó là cuộc di dân từ các tỉnh miền Trung (vùng Ngũ Quảng) đến Đồng Nai theo chính sách khai khẩn của thời nhà Nguyễn; đợt mộ dân các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào làm phu tại các đồn điền cao su trên địa bàn Đồng Nai những thập niên 30, 40 thế kỷ XX; đợt di dân đồng bào Công giáo miền Bắc sau Hiệp định Giơ – ne – vơ năm 1954; đợt di dân từ các vùng thành thị ở miền Nam xây dựng vùng kinh tế mới tại Đồng Nai sau năm 1975; các đợt đồng bào các tỉnh phía Bắc theo kế hoạch nhà nước đến Đồng Nai xây dựng cuộc sống mới những thập niên cuối thế kỷ XX
Trang 19Ngoài ra các cuộc chuyển cư lớn trên, trong từng giai đoạn lịch sử, có một số trường hợp một bộ phân dân cư cũng khá đông đảo tìm đến Đồng Nai sinh sống với nhiều lý do, hoàn cảnh khác nhau như tránh sự khủng bố của chính quyền Mỹ - Diệm, hoặc chuyển theo chế độ chuyển đi của binh sĩ thời Mỹ Diệm (1954 – 1975);
và nhiều trường hợp những nhóm cộng đồng dân cư chuyển đến tự do…Mỗi đợt di dân làm dân số ở Đồng Nai từng thời kỳ tăng đột biến; số di dân lên con số trên hàng vạn người mỗi đợt
Một số tóm lược sau trong các nguồn tư liệu cho thấy tình hình phát triển dân
số trên địa bàn Đồng Nai qua các mốc lịch sử: Huyện Phước Long (đất Biên Hòa xưa) có 5.532 người; năm 1808, trấn Biên Hòa, phủ Phước Long có 10.600 người; năm 1832 có 20.841 người; năm 1863 tỉnh Biên Hòa có 31.381 người; năm 1873 có 59.568 người; năm 1901 có 102.941 người, năm 1923 có 132.165 người; năm 1946
có 202.570 người, năm 1948 có 221.000 người; năm 1956 có 335.700 người, năm
1963 có 487.178 người, năm 1972 có 650.435 người; năm 1976 có 1.261 người; năm 1996 có 1.936.055 người và năm 2005 có 2.218.900 người Tỉ lệ tính từ năm
2005 cho thấy 30,8% dân số sống đô thị, người Kinh chiếm 91,4% dân số; kế đến là người Hoa và các dân tộc khác Dân tộc Chơro, Mạ, Xtiêng, Kơho được xem là các
1.1.4 Văn hóa xã hội
Về tín ngưỡng tôn giáo
Ngoài tín ngưỡng dân gian, Đồng Nai còn có một số tôn giáo lớn: Ðạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hoà Hảo Trong đó,
Trang 20thờ cúng Ông Bà, đạo Phật và đạo Thiên Chúa có nhiều ảnh hưởng trong đời sống
xã hội và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hóa và kiến trúc
Về trang phục
Trang phục Việt Nam nói chung, Đồng Nai và Nam Bộ nói riêng có một ít thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử Hiện nay, bộ Âu phục dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông Trong khi đó, phụ nữ vẫn mặc áo dài và đội nón lá (với một số cải tiến) Áo dài Việt Nam vẫn là trang phục độc đáo của Đồng Nai
Về âm nhạc cổ truyền
Đó là một dòng chảy từ xa xưa.Âm nhạc Đồng Nai có truyền thống khá lâu đời Ngay từ thời cổ, cư dân ở Đồng Nai đã coi âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu Bởi vậy tiếp nối quá trình phát triển lịch sử, cư dân Nam Bộ đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động, chiến đấu, để giáo dục cho con cháu truyền thống của ông cha, đạo lý làm người, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng và để bay lên với những ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai
Tại Đồng Nai, đàn đá Bình Đa được biết đến như một di chỉ khảo cổ học, cho thấy việc chế tác đàn đá đã xuất hiện từ trên dưới 3.000 năm trước Đó là loại nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone Mỗi bộ đàn gồm nhiều thanh đá hợp thành Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ.Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung bộ và Đông Nam bộ (Bộ đàn đá đầu tiên tìm được tại Việt Nam vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng "Con người" ở Paris)
Lễ hội truyền thống
Tết Nguyên đán nhằm ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch, là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đã tiềm tàng nhiều giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với
Trang 21thiên nhiên, vũ trụ.Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng
Ngày Tết, mọi người trang hoàng nhà cửa, treo tranh, trưng bày hoa quả, rước tổ tiên về cùng ăn Tết Hoa Mai ở Đồng Nai là loại hoa không thể thiếu trong mọi nhà ngày đầu năm
Tết, trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái cũng không thể thiếu mâm ngũ quả Mâm ngũ quả ở Đồng Nai cũng như nhiều tỉnh thành Nam Bộ gồm dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người
vì sự đầy đủ, sung túc Ngày Tết, người Đồng Nai cũng còn duy trì các mỹ tục cổ truyền như khai bút, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ
Rằm tháng Bảy theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân, nghĩa là bao nhiêu tội nhân ở âm phủ ngày này đều được tha tội Bởi vậy trên dương thế mọi gia đình đều làm cỗ bàn, đốt vàng mã cúng gia tiên và đồng thời cúng những linh hồn
bơ vơ không được ai chăm sóc Người ta cũng thả chim lên trời, thả cá xuống sông,
để làm điều phúc đức
Tết Trung thu như tên gọi đến với mọi nhà vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm tháng Tám âm lịch Tết Trung Thu là tết của trẻ em Một loại bánh đặc biệt thơm ngon chỉ được sản xuất và bày bán trong dịp này gọi là bánh trung thu Trẻ em đón tết Trung Thu có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao sặc sỡ thắp sáng kéo nhau đi thành từng đoàn ca hát vui vẻ ngoài đường, ngoài ngõ, cùng với những đám múa lân, múa Ông Địa với tiếng trống, tiếng thanh la náo nhiệt Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc vui được bày ra.Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em
Về ẩm thực
Do thời tiết hai mùa mưa nắng, sản vật biển, rừng, sông nước, vườn ruộng phong phú, cách ăn uống của người Đồng Nai vừa thể hiện nét chung của văn hóa Việt Nam, vừa có sắc thái mang dấu ấn Nam Bộ Các món ăn quen thuộc của người
Trang 22Biên Hòa - Đồng Nai: cháo đậu ăn với cá lóc kho tiêu, cháo đậu nước cốt dừa, canh bầu nấu với cá trê vàng, cá lóc kho thơm, canh chua cá lóc, mắm kho ghém rau sống, mắm đồng chưng trứng, canh khổ qua dồn thịt…
1.2 Tình hình tôn giáo ở Đồng Nai
Đồng Nai từ lâu đời là một địa bàn sinh tụ và cư trú của nhiều dân tộc với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, có sự giao lưu và ảnh hưởng tôn giáo lẫn nhau
Vào khai hoang lập ấp ở Đồng Nai, người Việt đã trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường Ngoài văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống được mang theo vào vùng đất mới, người Việt đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của các cộng đồng cư dân mà họ cùng sinh sống Khi người phương Tây vào truyền giáo, họ lại tiếp nhận văn hóa Ki tô giáo Do điều kiện lịch
sử, địa lý nhân văn nên tín ngưỡng tôn giáo Đồng Nai không mang tính cổ điển mà được hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía tạo nên sắc thái riêng Dù theo tôn giáo này hay tôn giáo khác thì truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ những người có công với dân, với nước, nhớ ơn nghĩa người xưa theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn" vẫn
là truyền thống phổ biến nhất, sâu rộng nhất
Hiện nay Đồng Nai là một địa bàn đa tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi giáo Trong đó, Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất Theo kết quả thống kê của ban Tôn giáo tỉnh thì giáo dân Công giáo ở Đồng Nai năm 2008 là 841.231 người trên tổng số dân của tỉnh là 2,1 triệu người, chiếm khoảng 40% dân số của tỉnh nhà
1.3 Sự hình thành và phát triển Công giáo ở Đồng Nai
Công giáo ở Đồng Nai thuộc giáo phận Xuân Lộc, thuộc Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Để tìm hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển Công giáo ở Đồng Nai, chúng ta cùng tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của giáo phận Xuân Lộc qua các tời kỳ:
1.3.1 Từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1965:
Việc truyền giáo vào Biên Hòa - Đồng Nai từ bao giờ cho đến nay chưa có tài
liệu nào xác định rõ Chỉ biết rằng "Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn
Trang 23Hữu Cảnh vào Nam kinh lý lấy đất Đồng Nai đặt ra huyện Phước Long, đất Sài Gòn đặt ra huyện Tân Bình và đặt phủ Gia Định thì đã có đông lưu dân đến đây lập nghiệp Trong số lưu dân sớm sủa ấy đã thấy có sự hiện diện của người Công giáo
Họ lác đác đến đây lập nghiệp tại vùng ven sông Đồng Nai, đồng bằng sông Mê Công từ đầu thế kỷ 17 hay thế kỷ 16 Như vậy, số người Công giáo tới đây đã theo đạo rồi chứ không phải tới đây mới theo đạo”4
Trong thư gởi Ban Giám đốc chủng viện truyền giáo Paris đề ngày 24 - 7 - 1710, Giám mục phó giáo phận Đàng Trong Labbé viết:
"Có một miền gọi là Đồng Nai (Dou - nai) ở giữa Cao Miên và Chiêm Thành, đây là vùng đồng bằng đất tốt, khá rộng và dài, rừng rậm cây to, nơi mà người Đàng Trong đến đây lập nghiệp từ 35 hay 40 năm nay Tôi nghĩ là đã có hơn 20.000 người Đàng Trong tới đây, trong số đó có ít nhất 2000 người Công giáo Cách đây 13 hay 14 năm có một cha dòng Tên người Bồ Đào Nha (Pires) đến đây, ông đã xây một nhà thờ khá lớn "5
Ngược dòng lịch sử, năm 1659, Giáo hội Công giáo Việt Nam chính thức được Giáo hoàng Alexandre VII chấp thuận cho lập 2 giáo phận Tông toà: Giáo phận Đàng Ngoài do Giám mục Francois Pallu làm Đại diện Tông toà và Giáo phận Đàng Trong do Giám mục Lambert de la Motte chịu trách nhiệm coi sóc Hai mươi năm sau, Giáo phận Đàng Ngoài được chia làm 2 giáo phận: Giáo phận Tây Đàng Ngoài và Giáo phận Đông Đàng Ngoài Trong khi đó, mãi đến năm 1844, Toà Thánh La Mã mới có Sắc chỉ chia tách Giáo phận Đàng Trong thành 2 giáo phận: Giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) do Giám mục Cuénot (tên Việt Nam là Thể) đảm trách và Giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) được trao cho Giám mục D.Lefèbvre (tên Việt Nam là Ngãi) Giáo phận Sài Gòn bấy giờ gồm Nam kỳ, xứ Cao Miên và các tỉnh phía Nam Ai Lao Vùng Giáo phận Xuân Lộc ngày nay thuộc Giáo phận Tây đàng Trong
Trang 24Năm 1850, Toà Thánh La Mã một lần nữa chia Giáo phận Tây đàng Trong (Sài Gòn) bằng cách tách khỏi phần đất Cao Miên để thành lập Giáo phận Nam Vang,
do Giám mục Miche (tên Việt Nam là Mịch) quản nhiệm Đến năm 1859, khi thực dân Pháp chiếm Sài Gòn, Sài Gòn trở thành dinh cố định của Toà Giám mục Giáo phận Tây Đàng Trong Đến năm 1924, tên của các giáo phận không còn được gọi theo miền hay xứ mà được gọi theo tên hành chính của tỉnh Sài Gòn được Toà Giám mục lấy làm nơi đặt trụ sở Bắt đầu từ đây, Giáo phận Tây Đàng Trong chính thức được gọi là Giáo phận Sài Gòn
Những họ đạo đầu tiên được nhắc tới ở Biên Hòa - Đồng Nai:
- Họ đạo Bến Gỗ (nay thuộc thành phố Biên Hòa) có từ cuối thế kỷ 17 do thừa sai Feret quy tụ giáo dân thành lập, đến năm 1747 có khoảng 200 giáo dân Khi Hội thừa sai nước ngoài Paris vào truyền giáo ở Đàng Trong thì năm 1750, Hội đặt trụ sở tại Bến Gỗ Bến Gỗ trở thành nhà thờ đầu tiên của Hội thừa sai nước ngoài Paris ở Nam bộ
- Họ đạo Tân Triều (nay thuộc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), có từ thời giám mục Pigneau làm giám mục đại diện tông tòa Đàng Trong (1771 - 1733) Trong thời gian này có 4 năm (1778 - 1782) Tân Triều là nơi đặt trụ sở của đại diện tông tòa Đàng Trong và chủng viện cũng được quy tụ về đây Tân Triều có 3034 giáo dân của các họ đạo: Tân Triều, Bến Gỗ, Mỹ Hội
Ở Biên Hòa cũng từ đó về sau, các nhà thờ lớn của các xứ đạo, các cơ sở dòng tu được xây dựng Nhà thờ Tân Triều xây dựng lại năm 1862, nhà thờ Biên Hòa có từ năm 1861 đến năm 1870 xây dựng lại to đẹp hơn, nhà thờ Bến Gỗ xây dựng lại năm 1862, nhà thờ Phước Lễ có từ năm 1664 đến năm 1877 xây dựng lại với quy mô lớn được coi là một trong những nhà thờ lớn nhất ở giáo phận Tây Đàng Trong lúc bấy giờ Nhà thờ Mỹ Hội, Long Thành xây năm 1889 Phước Lý (huyện Nhơn Trạch) có sổ "rửa tội" từ năm 1885, nhưng mãi đến năm 1900 mới xây dựng nhà thờ
Cơ sở dòng tu có quy mô lớn đầu tiên được xây dựng ở Phước Lễ, năm 1877, Phước Lễ đã có trường học của nhà dòng, năm 1890 các nữ tu dòng Phao Lô đến
Trang 25Phước Lễ lập Dưỡng lão đường và giảng dạy ở trường dòng Các cơ sở kinh tế có đồn điền cao su ở Mỹ Hội, trại trồng điều ở Phước Bửu
Năm 1954, trong đời sống chính trị xã hội Việt Nam đã diễn ra một sự kiện đáng chú ý: 860.000 người Miền Bắc di cư vào Nam, trong đó có 550.000 người
Công giáo (Dẫn theo: Đỗ Quang Hưng (1991), Một số vấn đề về lịch sử Thiên Chúa
giáo ở Việt Nam, Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr.4), định cư rải rác khắp các
tỉnh miền Trung và miền Nam Trong số đó, một lượng khá lớn tín đồ Công giáo Miền Bắc định cư tại Xuân Lộc, dần dần hình thành các xứ đạo toàn tòng như Hố Nai, Gia Kiệm, Phương Lâm, Long Khánh, Bà Rịa,… làm cho số lượng giáo dân các tỉnh Biên Hoà, Long Khánh, Phước Tuy tăng gấp 20 lần so với trước đó, từ
khoảng 8.000 người lên 160.000 người (Toà Giám mục Xuân Lộc (2003), Kỷ yếu
Giáo phận Xuân Lộc 1965-2003, Nxb Tôn giáo, tr.30) Người dân ở các khu này nổi
tiếng là rất sùng đạo, làm việc lành phúc đức, giúp đỡ người nghèo và những nơi khác cần giúp đỡ Từ năm 1954 đến năm 1965, Biên Hòa - Đồng Nai đã có 133 giáo
xứ và 105 họ lẻ, 175 linh mục, 3 dòng tu nam, 8 dòng tu nữ với 865 tu sĩ và 164.144 giáo dân6 Năm 1960, Toà Thánh La Mã thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và phân chia địa giới hành chính đạo thành 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, đánh dấu một bước phát triển mới của Giáo hội Công giáo Việt Nam Giáo phận Sài Gòn được chia thành 3 giáo phận: Giáo phận Sài Gòn, Giáo phận Đà Lạt và Giáo phận
Mỹ Tho Khi ấy, Giáo phận Xuân Lộc nằm trong địa giới Giáo phận Sài Gòn
Theo thời gian, do dân số tăng nhanh, nhằm đáp ứng nhu cầu sống đạo của giáo dân ngày càng cao, năm 1965, Giáo hoàng Phaolô VI ban hành Tông thư tách Giáo phận Sài Gòn thành 3 giáo phận: Giáo phận Sài Gòn, Giáo phận Xuân Lộc và Giáo phận Phú Cường Giáo phận Xuân Lộc khi đó bao gồm 3 tỉnh: Long Khánh, Biên Hoà và Phước Tuy (Bà Rịa) Linh mục Lê Văn Ấn được Toà Thánh La Mã bổ nhiệm làm Giám mục tiên khởi của Giáo phận Xuân Lộc Lễ tấn phong được tổ chức tại Nhà thờ Chính toà Đà Nẵng vào ngày 9/1/1966 Đến ngày 13/1/1966, Giám mục
Lê Văn Ấn chính thức nhận giáo phận mới tại Nhà thờ xứ Xuân Lộc dưới quyền chủ
6
Tòa giám mục Xuân Lộc (2000), Giáo phận Xuân lộc trong bối cảnh Giáo hội Việt Nam, lưu hành nội bộ,
trang 06
Trang 26toạ của Khâm sứ Angelo Palams (Toà Giám mục Xuân Lộc (2003), Kỷ yếu Giáo
phận Xuân Lộc 1965-2003, Nxb Tôn giáo, tr.31)
1.3.2 Từ năm 1965 đến nay:
Ngày 14 – 10 – 1965, Đức Thánh Cha Phaolo VI đã thành lập Giáo phân Xuân Lộc và trao cho Đức Cha Giuse Lê Văn Ấn làm Giám mục tiên khởi Giáo
phận Xuân Lộc (tiếng Latin: Dioecesis Xuanlocensis) là một giáo phận Công giáo
Rôma Việt Nam Giáo phận đã chọn Thánh cả Giuse là quan thầy Giáo phận Toà giám mục đặt tại thị xã Long Khánh, Đồng Nai Địa giới giáo phân Xuân Lộc khi mới thành lập có hình ngũ giác không đều Phía Đông giáp giáo phận Đà Lạt và Phan Thiết, phía Tây giáp Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp biển đông, phía Bắc giáp Giáo phận Phú Cường Khi mới được thành lập, Giáo phận Xuân Lộc có diện tích 4.815 km2 Sau đó, theo sự phân chia lại địa giới hành chính của chính quyền Sài Gòn, địa giới của Giáo phận Xuân Lộc đã có sự thay đổi sau khi Vũng Tàu được tách ra khỏi Phước Tuy Đến năm 1975, theo sự sắp xếp lại cơ cấu hành chính đạo, Giáo phận Xuân Lộc bao gồm: tỉnh Tân Phú (phần đất thuộc quận Định Quán và tỉnh Long Khánh cũ), tỉnh Biên Hoà (gồm tỉnh Biên Hoà cũ và quận Kiệm Tân, tỉnh Long Khánh cũ), tỉnh Bà Rịa - Long Khánh (gồm quận Xuân Lộc thuộc Long Khánh, tỉnh Phước Tuy và thị xã Vũng Tàu)
Sau năm 1975, trong khi hầu hết các giáo phận ở Miền Nam giảm sút về số lượng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, thì Giáo phận Xuân Lộc lại tăng nhanh do tiếp nhận một lượng khá lớn dân di cư (trong đó phần đông là giáo dân) từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Bắc về lập nghiệp ở các vùng kinh tế mới như Long Khánh, Xuân Lộc, Định Quán,… tạo thành vùng đồng bào Công giáo mới
Qua nhiều lần chia tách địa giới hành chính, đến năm 1990, Giáo phận Xuân Lộc giới hạn trong 3 tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Đến năm 2005, được sự chấp thuận của Chính phủ Việt Nam và sự phê chuẩn của Giáo hoàng Bênêdictô XVI, Giáo phận Xuân Lộc tách làm 2 giáo phận, gồm: Giáo phận Xuân Lộc và Giáo phận Bà Rịa Địa giới của Giáo phận Xuân Lộc
Trang 27sau lần chia tách này gồm tỉnh Đồng Nai và một phần huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Ngày đầu thành lập, Giáo phận Xuân Lộc với số giáo dân 164.144 giáo dân (trên tổng số 521.595 dân cư), 135 Linh mục triều, 19 Linh mục dòng, khoảng 250
tu sĩ nam nữ 7 Ngay từ khi Giáo phận mới được thành lập, vị Giám mục tiên khởi
đã tổ chức Hội đồng Linh mục để giúp Ngài điều hành Giáo phận Sau năm 1975, các sinh hoạt của Giáo phận tạm ngưng Đầu năm 2005, Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh tái lập Hội đồng Linh mục Hiện nay, Giáo phận có 12 ban theo các ủy ban của Hội đồng Giám mục, mỗi ban có một Linh mục đặc trách: Giáo lý Đức Tin, đặc trách Linh mục, phụ trách Chủng Sinh, đặc trách Tu sĩ, Giáo dân, Phụng tự, loan báo Tin Mừng, Thánh nhạc, bác ái xã hội, thông tin, di dân
Giáo phận gồm 12 giáo hạt phân bổ đều trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:
Hạt An Bình (Trảng Bom)
Hạt Hòa Thanh (Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Biên Hòa)
Hạt Hố Nai (Biên Hòa)
Hạt Tân Mai (Biên Hòa)
Hạt Biên Hòa (Biên Hòa)
Trang 28Hình 1.1: Sơ đồ Giáo phận Xuân Lộc ( Nguồn: Tòa Giám mục Xuân Lộc ) Các Giám mục đã từng cai quản:
Giám mục tiên khởi là Đức Cha Giuse Lê Văn Ấn (1916-1975) Cai quản Giáo phận từ 9 tháng 1 năm 1965 đến 17 tháng 06 năm 1974
Giám mục Đaminh Nguyễn Văn Lãng (1974-1988)
Giám mục Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật (1988-2004) Giám mục Tôma Nguyễn Văn Trâm (1942) phụ tá từ 1992-2005
Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh (2004 - nay)
Giám mục Tôma Vũ Đình Hiệu, phụ tá từ 2009
Tuy giáo phận Xuân Lộc chưa tới ngũ tuần, nhưng được kế vị một gia sản về truyền thống, nhân sự và địa dư đầy tiềm năng Từ khi thành lập đến nay, giáo phận không ngừng phát triển Giáo phận Xuân Lộc hiện nay tự hào là giáo phận có số giáo dân lớn, phát triển Là giáo phận có hệ thống cơ sở vật chất tốt khang trang nhất cả nước Tính đến cuối năm 2008, nhân sự giáo phận Xuân Lộc gồm: 841.231
Trang 29giáo dân thuộc 223 giáo xứ trong 12 giáo hạt, 297 Linh mục triều, 96 Linh mục dòng và hơn 2000 tu sĩ nam nữ
nỗ lực, chung tay cùng nhau xây dựng Đồng Nai ngày càng phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống, hợp với tinh thần “ Tốt đời – đẹp Đạo” của giáo dân Công giáo Việt Nam
Trang 30Chương 2: VAI TRÕ CỦA CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI
Công giáo là một tôn giáo thành viên trong gia đình Kitô giáo (cùng với Tin Lành, Anh giáo và Chính Thống giáo) ra đời ở khu vực Trung Đông thế kỷ I Công nguyên8 Mặc dù vậy, Công giáo đã phát triển cực thịnh ở Tây Âu giai đoạn Trung
cổ (từ thế kỷ V - XV) Ở những quốc gia trải qua hàng thiên niên kỷ thần quyền Công giáo, đã khiến văn hóa Kitô và văn minh phương Tây “khúc xạ” nhau, trong
đó Công giáo chịu ảnh hưởng một cách sâu đậm Nói cách khác, sau “nghìn năm Trung cổ”, Công giáo đã trở thành một tôn giáo mang bản sắc văn hóa phương Tây Tuy vậy, những thập kỷ cuối thế kỷ XIX đến khoảng giữa thế kỷ XX, cùng với nền kinh tế, khoa học kỹ thuật - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tình hình chính trị,
xã hội, trong đó có đời sống tôn giáo cũng có nhiều biến động, tác động không nhỏ tới niềm tin tôn giáo nói chung, Giáo hội Công giáo nói riêng Ở một số tôn giáo lớn như Phật giáo, Hồi giáo, Tin lành… đã có những thay đổi về nội dung tổ chức, phương thức truyền giáo, khiến Công giáo phải nhìn nhận lại chính mình Ngay trong Giáo hội, các phong trào thần học cũng diễn ra khá sôi động, nổi bật có các dòng Thần học Á châu, Thần học Giải phóng, Thần học Phụ nữ,…là những dòng thần học nổ ra như một cuộc phản kháng đòi hỏi phải có sự canh tân để đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử
Đứng trước bối cảnh mới, Tòa thánh Vatican tiếp tục cho cải cách Giáo hội Đại Hội nghị các Giám mục trên toàn thế giới lần thứ hai (còn gọi là Công đồng Vatican II)9
Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã được tổ chức tại Rôma từ năm 1962 đến năm 1965 Trải qua 4 năm với bốn phiên họp, Công đồng
đã đề ra nhiều nội dung đổi mới có tính chiến lược, trong đó đáng chú ý là vấn đề
Trang 31cởi mở với thế giới và hội nhập văn hóa Giáo triều đã chấp nhận sự đa dạng, mở rộng đối thoại và hiệp thông văn hóa, dần xóa bỏ rào cản địa văn hóa cho phù hợp
với yêu cầu chung của Giáo hội Tuyên bố chung nêu rõ: “Những gì tốt đẹp trong
tâm hồn và tư tưởng của loài người hoặc trong lễ nghi và văn hoá riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội Thánh không nhằm tiêu diệt, nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người” Cùng với đó, Công đồng Vatican II còn đặt ra yêu cầu giáo dân phải
sống theo đúng tinh thần Phúc âm ngay tại quê hương mình: “Các người Kitô giáo
từ mọi dân tộc tụ họp trong Hội Thánh, không phân cách với những người khác về chế độ, cũng như về tổ chức xã hội trần gian, nên họ phải sống cho Thiên Chúa và cho Chúa Kitô trong nếp sống lành mạnh của dân tộc mình; là công dân tốt, họ phải thật sự và tích cực vun trồng lòng yêu nước”10
2.1 Công giáo với tín ngưỡng truyền thống
2.1.1 Công giáo với văn hóa bản địa
Nền văn hoá của một dân tộc được ví như những tấm vải muôn màu mà những sợi dọc là những cốt lõi văn hoá của chính dân tộc đó, trong khi những sợi ngang là những đón nhận qua nhiều thế hệ Như vậy, Công giáo đã dệt nên những sợi ngang muôn màu trong một quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam Khi Công giáo hiện diện ở Việt Nam thì đã có một yếu tố mới làm giàu cho văn hoá Việt Nam Công giáo là tôn giáo giúp cho con người cảm nhận thực tại thần thiêng một cách rõ ràng và hữu lý nhất Vì thực tại thần thiêng trong Công giáo không là những giáo thuyết cao siêu, những chân lý trừu tượng, hay những bí nhiệm từ trời cao, nhưng là một ngôi vị cụ thể, một Thiên Chúa siêu việt nhưng làm người ở giữa nhân loại, trở nên một con người hữu hình trong lịch sử, trong thời gian Linh đạo Công giáo không chỉ dành cho những con người uyên thâm, tài năng, những nhà tu đức đạo hạnh, hay những học giả tư tưởng thời danh, mà còn là con đường nên rộng mở tiếp nhận tất cả những người nghèo, tầng lớp lao động chân chất, thế giới bình dân đông
10
Martinus Von Cochen O.S.F (2011), Thánh thể hy tế tuyệt vời (giải thích hy tế Thánh thể), lưu hành nội bộ,
trang 58
Trang 32đảo mà xã hội nào cũng có Công giáo có khả năng đồng hành với mọi nỗi niềm của con người, cho dù họ là học giả cao siêu hay kẻ cùng đinh trong xã hội
Người ta cho rằng đức tin luôn luôn xuất hiện trong một bộ áo văn hoá và nhờ đó người đón nhận có cơ may và tự do dựa theo bản sắc dân tộc mình mà tự khám phá ra những phương cách thích hợp cho việc thâu nhập đức tin Nếu Ngôi Lời đã trở thành nhục thể trong Ðức Giêsu thì việc hội nhập văn hoá là điều tất yếu Niềm tin Công giáo có thể tháp nhập được vào trong nền văn hóa Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng Vì cảm thức "cái thiêng" của người dân Việt phù hợp với bản chất "dung dị" của Tin mừng Cái thiêng ở đây rất cụ thể trong cuộc sống thường ngày của người dân Việt Có gì cụ thể hơn cây đa, bến nước, bờ tre, mảnh vườn; có gì thân thương hơn tình làng nghĩa nước và thắm thiết hơn tương quan máu mủ, ruột thịt trong văn hóa Việt Nam Cũng vậy, có gì rõ ràng hơn, thiết thực hơn hình ảnh một cánh huệ ngoài đồng, dáng chim sẻ đang bay, một mẻ cá lớn, những hạt giống gieo vãi trên đường mòn, giữa bụi gai, trên đá sỏi, mưa đổ, sông tràn, gió thổi trong lời rao giảng của Ðức Giêsu Và có gì thắm thiết hơn một tình yêu cho đi cả mạng sống mình của Ðức Giêsu Nếu trong Công giáo, bí tích Rửa tội
là cửa ngõ đầu tiên của người tín hữu gia nhập vào cộng đoàn dân Chúa, thì nghi lễ Cáo gia tiên trong văn hoá Việt Nam là cửa ngõ cho những thành viên mới gia nhập vào cộng đồng gia tộc, làng nước Nếu trong Công giáo, một chút bánh, chút rượu
và lời truyền phép của vị linh mục làm nên thực tại Thiên Chúa hiện diện nơi bí tích Thánh Thể, thì trong phong tục cúng bái Việt Nam, một nén hương, đĩa xôi, chút rượu trước hương án ông bà tổ tiên thiết lập được tương quan linh thiêng giữa cõi dương và âm Qua bí tích Hôn nhân Công giáo, đôi nam nữ được chính thức công nhận là vợ chồng trước mặt Giáo hội và Thiên Chúa, thì qua những tục lệ cưới hỏi Việt Nam, họ cũng được gia tộc, xã hội, làng nước công nhận là đôi vợ chồng Có thể nói, chính nhờ cảm thức về "cái thiêng" mà văn hoá Việt Nam có những sự tương đồng rất gần gũi với những thực tại Công giáo
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xin nêu lên một vài nét tiêu biểu của việc hội nhập văn hóa này
Trang 33Hội nhập văn hóa trong y phục
Như chúng ta đã biết, chiếc áo dài là một trang phục truyền thống của Việt Nam Và ngày nay với sự hội nhập văn hóa mà hình ảnh của chiếc áo dài đã có mặt rộng rãi và trở nên phổ biến trong các thánh đường Công giáo ở Đồng Nai Trong các lễ hội, các cuộc rước kiệu của giáo dân Đồng Nai ngày nay thì hình ảnh tà áo dài càng trở nên phổ biến Tại một số giáo xứ, họ đạo ở Đồng Nai thì áo dài trở thành trang phục của bà con giáo dân khi tham dự Thánh Lễ hay các nghi thức tôn giáo Theo khảo sát thì tại các vùng Công giáo toàn tòng như Hố Nai, Tân Mai, Gia Kiệm… thì rất nhiều giáo xứ chỉ mặc áo dài khi đi tham dự Thánh Lễ như ở xứ Tiên Chu, giáo xứ xuân Trà, giáo xứ xuân Hòa, giáo xứ Bắc Hải…
Hình 2.1 : Thiếu nhi xứ Văn Hải trong trang phục áo dài khi rước kiệu
( Nguồn : Tác giả )
Trang 34Hình 2.2 : Giáo dân giáo xứ Văn Hải trong trang phục áo dài truyền thống
Trang 35tôi khuyến khích giáo dân mặc trang phục áo dài truyền thống trong khi tham dự các cử hành Phụng Vụ”
Cũng theo chị Nguyễn Kim Hiền, một giáo dân xứ Xuân Trà cho biết : “ Tôi thấy mặc áo dài truyền thống rất đẹp, xứ tôi ai cũng tự hào khi mặc trang phục này đến nhà thờ đi lễ Áo dài vừa thể hiện nét riêng của dân tộc, vừa lịch sự, phù hợp với những nơi tôn nghiêm như nhà thờ”
* Ưu điểm: Mặt tích cực đáng nhìn nhận của việc mặc trang phục áo dài trong
khi tham dự các cử hành Phụng Vụ là góp phần giữ gìn nét đẹp trang phục văn hóa dân tộc, tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống bản địa Đây được xem như một yếu
tố tích cực của Công giáo Đồng Nai trong quá trình đồng hành và phát triển
* Hạn chế: Bên cạnh điểm tích cực đáng ghi nhận thì việc mặc trang phuc áo
dài truyền thống khi tham dự các cử hành tôn giáo của Công giáo Đồng Nai cũng gặp một số ý kiến bất cập Cũng phải nhìn nhận rằng các nhà thờ là nơi tôn nghiêm, khi tham dự các cử hành tôn giáo thì người giáo dân cũng phải ăn mặc trang phục xứng hợp Tuy nhiên theo trào lưu của văn hóa phương Tây nên một số ít người tham dự các nghi lễ tôn giáo lại ăn mặc các trang phục phản cảm, hở hang, thiếu thái độ tôn trọng như đầm dây, quần đùi, áo ống…Chính vì thế mà ở một vài giáo
xứ đã quy định cách buộc việc mặc áo dài khi đi lễ đã gây ra không ít sự bất tiện Việc mặc áo dài chỉ với lý do là kín đáo thì nhiều trang phục khác cũng rất kín đáo như quần tây, áo sơmi … Hơn nữa, áo dài không phải ai mặc cũng đẹp, cũng hợp
mà còn tùy thuộc vào từng người, từng hoàn cảnh Do vậy, theo tôi việc mặc áo dài của người dân Công giáo khi tham dự Phụng Vụ chỉ nên dừng lại ở việc khuyến khích, tự nguyện chứ không nên bắt buộc
Công giáo và các lễ hội
Công giáo ở Đồng Nai có rất nhiều các ngày lễ hội truyền thống như giáo dân Công giáo ở các tỉnh khác như Lễ Phục Sinh, Lễ Giáng Sinh, Lễ quan Thầy của giáo phận, giáo xứ… Tuy nhiên, với đặc điểm là nơi có số đông giáo dân Công Giáo nên các lễ hội truyền thống của giáo dân Công giáo ở Đồng Nai được tổ chức với quy mô lớn, thu hút rất nhiều người tham gia, điển hình như ngày lễ Giáng Sinh
Trang 36Không khí đón chào đón lễ Giáng Sinh của giáo dân ở tỉnh Đồng Nai đã được chuẩn bị suốt trong tháng 12 Những ngày gần kề đêm Noel, tất cả các ngôi sao, hang đá đều được thắp sáng Trên mọi ngả đường, ngõ hẻm, nơi đâu cũng lung linh ánh sáng đặc trưng mùa Noel Những bộ trang phục ông già Noel với màu đỏ rực ấm áp và cây thông được bày bán khắp mọi nơi
Không khí Giáng sinh đang tràn ngập trên xứ đạo Đồng Nai, nơi có hơn 800.000 giáo dân, với trên 300 giáo họ, giáo xứ và khoảng 50 dòng tu nam nữ Tại các nhà thờ, công việc trang trí đèn màu, cây thông, hang đá đang được gấp rút chuẩn bị, nhiều dãy phố được bà con kết đèn với đủ màu sắc kéo dài 3, 4 cây số tạo nên vẻ lung linh huyền ảo mang đặc trưng rất riêng của xứ đạo, báo hiệu một mùa Giáng Sinh an lành, no ấm đang về với giáo dân Công giáo Đồng Nai Một điều đặc biệt mà tất cả các giáo xứ nơi đây đều giống nhau trong mùa Noel là tất cả xóm, ngõ, đường phố đều trang hoàng lộng lẫy và sạch sẽ Mọi người chú ý trang hoàng không gian chung, phố phường không kém trong nhà mình Hai bên quốc lộ 15 phường Tân Mai, quốc lộ 1, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, hay như ở các huyện xa thành phố như Định Quán, Tân Phú…đều một không khí lễ hội tràn ngập
Hình 2.4: Giáng sinh ở Long Thành
( Nguồn: Tác giả )
Trang 37Hình 2.5: Không khí Giáng sinh ở Tân Mai
( Nguồn: Tác giả ) Ông Nguyễn Văn Độ, giáo dân ấp Tân Bắc, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom nói: “Chúng tôi là những giáo dân sống tốt đời đẹp đạo, dịp lễ Noel nào xóm đạo chúng tôi quy tụ lại mỗi người mỗi công việc để giăng đường điện và làm một cái hang đá để tạo tinh thần đoàn kết trong xóm và đem lại niềm tin kính Chúa yêu nước”
Phải nói rằng, ngày lễ Giáng sinh của đồng bào Công giáo không chỉ riêng ở Đồng Nai mà hầu hết ở các địa phương trong cả nước ngày càng vui tươi hơn Điều
đó cũng thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với giáo dân Công giáo, luôn tạo điều kiện tốt nhất để người có đạo thực hiện nghĩa vụ sống tốt đời đẹp đạo, sống và phục vụ với tinh thần kính Chúa - yêu nước - thương người Qua đó, giáo dân Công giáo luôn mở rộng lòng bác ái với tâm niệm sống phúc âm giữa lòng dân tộc, đạo đời gắn bó, sống bác ái, chia sẻ yêu thương là những điều bà con giáo dân luôn hướng tới và đó cũng rất phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam
Trang 38Nếu so với lễ Phật đản của đồng bào Phật giáo ở Đồng Nai thì lễ hội Giáng Sinh của Công giáo được tổ chức với quy mô lớn hơn, thu hút được đông đảo mọi người tham dự Đồng bào Công giáo ở Đồng Nai đã thực sự làm cho lễ Giáng Sinh của mình trở thành ngày hội lớn, tạo được sức ảnh hưởng, là một trong số các lễ hội lớn của Đồng Nai
Bên cạnh ngày lễ Giáng Sinh là ngày lễ đậm nét Công giáo được nhiều người biết tới thì Công giáo Đồng Nai còn có ngày lễ Phục Sinh cũng rất đặc sắc Ngày lễ Quan thầy của giáo xứ, một hình thức thể hiện hình thức văn hóa làng xã rất đặc trưng Mỗi giáo xứ ở Đồng Nai đều có một ngày lễ Quan thầy (hay còn gọi là lễ Bổn mạng của xứ đạo, họ đạo) Ở nhiều làng Công giáo - xứ đạo tuy không quan niệm nhà thờ là ngôi đình làng nhưng thánh quan thầy làng giáo - xứ đạo được người dân xem là thần hoàng làng Ngày kỷ niệm thánh quan thầy là ngày kỷ niệm thần hoàng làng Đó không phải là một ngày lễ trọng mà còn là một trong những ngày vui tươi, náo nhiệt của làng giáo – xứ đạo Ngoài thánh lễ như bất kỳ thánh lễ nào khác, lễ kỷ niệm thánh quan thày có những đặc trưng riêng Giáo dân xứ đạo lo chuẩn bị từ những ngày trước lễ: sửa soạn đường sá, nhà xứ, nhà thờ, trang hoàng nhà thờ, nhà xứ, dựng cổng chào, chăng hoa, kết đèn Có cả việc tập dượt nghi thức, nghi lễ sẽ diễn ra trong ngày lễ Trước thánh lễ là một cuộc đi kiệu Ở những xứ đạo cổ là kiệu vàng, trên đó là ảnh hoặc tượng vị thánh quan thày Kiệu đươc kết hoa lá Đi trước kiệu còn có ban nhạc cùng hành tiến rước kiệu Sau cuộc đi kiệu là Thánh lễ
* Hạn chế: Bên cạnh những mặt tích cực thì dịp Lễ của người Công giáo
Đồng Nai cũng có một vài điểm hạn chế như gây ra tình trạng kẹt xe, ăn uống quá chén…gây ảnh hưởng đến an ninh và trật tự xã hội Đến những vùng Công giáo toàn tòng như Hố Nai, Tân Mai, Gia Kiệm… vào những ngày Noel không thể tránh khỏi tình trạng kẹt xe, có khi kẹt xe hàng giờ vào những ngày cao điểm Điều này
đã trở thành một điều nhức nhối của các cơ quan chức năng trong kỳ lễ hội Hơn thế lợi dụng kẹt xe mà một số thanh niên đã không chấp hành luật giao thông khi đi đường như cẩu 3, không đội mũ bảo hiểm… khi lưu thông trên đường Mừng lễ quá
Trang 39hồ hởi khiến không ít người ăn uống quá chén, uống nhiều bia rượu và gây mất an ninh trật tự trong khu vực Không rầm rộ như ngày Giáng Sinh nhưng ngày lễ quan thày hay lễ Phục Sinh của Công giáo cũng còn một vài hạn chế như ăn uống, sử dụng rượu bia quá chén trong các cuộc vui gây mất trật tự, gây tai nạn giao thong…Thiết nghĩ, nếu như khi những ngày lễ hội diễn ra mà không xảy ra các tệ nạn xã hội thì lễ hội Công giáo càng ý nghĩa bội phần
Nhìn chung lễ hội Công giáo đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của người Công giáo Đồng Nai nói riêng và người dân Đồng Nai nói riêng
Trang 40
Công giáo với yếu tố trọng nữ của văn hóa Việt
Ở đây xin nêu lên một nét ảnh hưởng văn hóa truyền thống dân tộc rõ nét trong việc tôn kính Đức Maria và các Thánh
Trước hết là danh xưng mang tính hoàn vũ, nghĩa là tất cả tín đồ Công giáo trên toàn thế giới đều hiểu biết được mầu nhiệm, ý nghĩa mỗi danh xưng Các danh xưng đó là: Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo hội, Mẹ vô nhiễm nguyên tội, Mẹ ban ơn, Mẹ sầu bi
Một số danh xưng của Đức Maria mang tính địa phương rồi lan truyền ra nhiều dân tộc theo Công giáo như: Mẹ Lộ Đức ( Pháp), Mẹ Fatima ( Bồ Đào Nha)
Một số danh xưng của Đức Maria chỉ xuất hiện ở Việt Nam như: Mẹ La Vang, Mẹ Trà Kiệu, Mẹ Bãi Dâu
Tuy cũng là hình ảnh Đức Maria, nhưng mỗi danh xưng lại có những nét đặc thù.Xét về quan niệm tín lý của Giáo Hội, Đức Maria và các Thánh chỉ được thờ kính, đóng vai trò trung gian cho các tín hữu Tuy nhiên, trên thực tế thì người Công giáo Đồng Nai nói riêng và Công giáo Việt Nam nói chung đã chuyển hóa vai trò tôn thờ cũng có nghĩa là chuyển hóa niềm tin nơi Đức Maria theo một quan niệm
Nữ thần
Tôn giáo truyền thống Việt Nam coi trọng việc tôn thờ Mẹ (mẫu, thánh mẫu,
nữ thần) Mẹ là sinh sôi, nảy nở, mẹ là khoan dung, che chở, hộ phù…
Các nhà dân tộc học giải thích yếu tố thờ mẹ là tàn tích hay bản thân chế độ mẫu hệ tồn tại dai dẳng Vai trò mẹ, yếu tố nữ xâm nhập vào hầu hết các tôn giáo truyền thống và tôn giáo bình dân.Ở Đồng Nai, giáo dân gọi Đức Maria là Mẹ, là Thánh Mẫu Sự chuyển hóa vai trò tôn thờ và niềm tin nơi Đức Maria thể hiện ở các đặc trưng sau: Che chở, ban ơn
Che chở: Trong khó khăn, gian khổ hay khi gặp hoạn nạn, giáo dân thường cầu xin với Đức Mẹ
Ban ơn: Giáo dân Công giáo luôn tìm đến Mẹ để xin đươc ban ơn toại nguyện trong cuộc sống hằng ngày như bình an, có việc làm