Phương pháp dạy học bằng trò chơi là phương pháp giáo viên cung cấp và tổ chức cho người học tiến hành các trò chơi. Hệ quả là người học thu nhận được các tri thức khoa học, thái độ và kĩ năng hành động (trí óc và chân tay) sau khi kết thúc trò chơi. Đề tài nhằm trang bị cho giáo viên kiến thức lí luận về dạy học bằng trò chơi, vận dụng trò chơi trong giờ dạy chính khóa cũng như ngoại khóa (thiết kế nội dung trò chơi, thiết kế trò chơi trên phương tiện hiện đại).
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY
LÊ MINH THU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI VÀO
DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2010 – 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, với mục tiêu học tập để cùng chung sống với nhau (thực chất
là học thích ứng với người khác và với xã hội nói chung) và học để làmngười thì các phương pháp dạy học tổ chức tương tác hành động ngày càngtrở thành phương pháp dạy học trụ cột trong nhà trường hiện đại Dạy họcbằng trò chơi là một trong ba nhóm dạy học tổ chức tương tác hành động(các phương pháp kịch, các phương pháp trò chơi, dạy học tương tác pháttriển)
Phương pháp dạy học bằng trò chơi là phương pháp giáo viên cung cấp
và tổ chức cho người học tiến hành các trò chơi Hệ quả là người học thu nhận được các tri thức khoa học, thái độ và kĩ năng hành động (trí óc và chân tay) sau khi kết thúc trò chơi.
Phương pháp dạy học bằng trò chơi xuất phát từ những trò chơi trong thực tế cuộc sống: Trong dân gian có rất nhiều trò chơi, có trò chơi vận
động, có trò chơi trí tuệ Tất cả đều hướng tới mục đích thông qua trò chơi
mà rèn các kĩ năng, tích lũy tri thức, phát triển trí tuệ
Phương pháp dạy học bằng trò chơi xuất phát từ yêu cầu của quá trình
dạy học: Dạy học cần đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học để giờ học
sinh phát huy được tính tích cực của người học; dạy học trên cơ sở nắmvững đặc điểm tâm sinh lí của đối tượng học sinh Phương pháp trò chơihọc tập đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy học
Phương pháp dạy học bằng trò chơi xuất phát từ thực tế dạy học:
Phương pháp trò chơi học tập là tổ chức một số hoạt động dạy học bằnghình thức trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh.Hình thức trò chơi trong học tập rất phổ biến trong dạy học hiện nay Đây là
hình thức học vui: học mà chơi, chơi mà học Hình thức này tạo nên sự say
mê và hứng thú trong học tập “Biết mà học không bằng vui mà học”
(Khổng Tử) Song trên thực tế, các trò chơi được giáo viên phổ thông thựchiện còn khá hình thức, chưa đáp ứng được yêu cầu vì nhiều lí do khácnhau Thực tế dạy học ở trường phổ thông cho thấy, một số giáo viên khôngchọn hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Ngữ văn bằng trò chơi vìquan niệm rằng mất thời gian, phá vỡ đặc trưng giờ học bộ môn Một số rấtthích hình thức này nhưng kĩ năng thiết kế trò chơi về nội dung còn nhiềuhạn chế, chỉ một số giáo viên biết thiết kế trò chơi trên phương tiện dạy họchiện đại Chính vì vậy việc vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy họcNgữ văn còn nhiều hạn chế
Tài liệu tham khảo về vấn đề này cả về lí luận cũng như thiết kế cụ thểrất thiếu, không đáp ứng nhu cầu của giáo viên
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy cần thiết phải có thêm các tài liệutham khảo về phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở trường Trunghọc cơ sở cho giáo viên và học sinh vì:
Trò chơi là một phương pháp dạy học, một hình thức tổ chức dạy họcđược dùng khá phổ biện trong dạy học ngày nay Có thể vận dụng phương
Trang 3pháp trò chơi để dạy học kết hợp với các phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học khác trong dạy học môn Ngữ văn để giờ học có hiệu quả cao.
Nhiều giáo viên hiện nay chưa mạnh dạn vận dụng phương pháp nàytrong dạy học Ngữ văn vì còn lúng túng trong định hướng
Nhiều giáo viên hiện nay chưa được trang bị kiến thức lí luận về dạyhọc bằng trò chơi nên còn nhiều lúng túng khi vận dụng trò chơi trong giờdạy chính khóa cũng như ngoại khóa (thiết kế nội dung trò chơi, thiết kế tròchơi trên phương tiện hiện đại)
Nhiều giáo viên hiện nay chỉ dùng trò chơi trong tổ chức hoạt độngngoại khóa, ít quan tâm tới sử dụng trong giờ chính khóa
Từ những lí do cơ bản trên, với tư cách là giáo viên CĐSP trực tiếptham gia dạy phương pháp dạy học Ngữ văn, chúng tôi thực hiện đề tài
‘‘Vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở” với mong muốn giúp đỡ sinh viên ngành Văn và giáo viên
THCS có thêm tư liệu về phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn đểvận dụng trong giờ chính khóa cũng như hoạt động ngoại khóa
2 Lịch sử vấn đề
Hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn mặc dù không có sách lí luậnnghiên cứu sâu như như những vấn đề khác trong dạy học Ngữ văn nhưngA.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của
dạy học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp,
nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi…Khi các mối quan
hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập” Đây chính là đặc trưng và vai trò tác dụng của trò chơi trong dạy học.
Về tài liệu hướng dẫn hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn dùngcho giáo viên và sinh viên hiện nay, có thể kể đến các tài liệu sau:
Trong Dự án Việt Bỉ: Với sự hợp tác tích cực của các chuyên gia quốc
tế, chuyên gia trong nước, Dự án đã biên soạn nhiều tài liệu dạy học tíchcực gồm lý luận chung về dạy học tích cực, các Phương pháp và kĩ thuậtdạy học cụ thể, quy trình thực hiện…Dự án giới thiệu các hình thức tổ chứcdạy học, trong đó một số hình thức dạy học vui, tích cực được xem nhưphương pháp học vui Phương pháp học vui được vận dụng cho tất cả cácmôn học ở các cấp học khác nhau, đặc biệt là ở phổ thông
Cho tới nay, đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục vềvấn đề dạy học tích cực có đề cập tới phương pháp trò chơi
Tiến sĩ Trần Thị Minh Hằng trong bài giảng “Một số vấn đề về phương
pháp dạy học tích cực” (nguồn Thư viện Bài giảng điện tử) trình bày quan
niệm, đặc trưng phương pháp dạy học tích cực và nhận diện những phươngpháp dạy học tích cực thường sử dụng trong DH ở trường THCS, trong đó
có phương pháp trò chơi
Trang 4Một số tác giả đã biên soạn thiết kế trò chơi: Nguyễn Thế Truyền cócuốn “Vui học Tiếng Việt dành cho học sinh THCS”, Lê Minh Thu vàNguyễn Thị Thúy có cuốn “Tiếng Việt lí thú”, “Vui học tiếng Việt”…
Nhìn chung, các tác giả của các tài liệu trên đã đưa ra định hướng dạyhọc tích cực theo lí thuyết hoạt động hoặc đi vào cung cấp các tư liệu cụ thể
về trò chơi dạy học chủ yếu là phần tiếng Việt
Các tài liệu chưa đi sâu nghiên cứu về tình huống đưa ra trò chơi học tập,cách thiết kế cho từng kiểu trò chơi về nội dung, về hình thức
Các tài liệu chưa hình thành được một mô hình hệ thống các trò chơi cóthể vận dụng trong dạy học Ngữ văn
Các dạng trò chơi còn đơn điệu hoặc khó có thể thực hiện
Các câu hỏi trong trò chơi chưa đi vào chiều sâu, kiến thức trọng tâm củabài học, chưa có tính khái quát cao
Các câu hỏi trong trò chơi chưa phân loại được mức độ nhận thức, kĩnăng một cách hợp lí theo thang của Bloom
Các trò chơi chưa có hướng dẫn cụ thể về phương pháp cách đánh giá,cách thức vận dụng cho giáo viên trong từng tình huống điển hình…
Từ những định hướng của công trình nghiên cứu trên, đề tài lựa chọnnghiên cứu về việc vận dụng sao cho có hiệu quả phương pháp trò chơi,phát huy tích cực của người học phù hợp với dạy học theo đúng đặc trưngmôn học, tổng hợp lý thuyết, kĩ năng môn học và vận dụng hiệu quả vào
từng đơn vị bài học Ngữ văn trong SGK THCS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Lý luận dạy học hiện đại đã xác định nhiệm vụ đầu tiên và cuối cùng làphát hiện và áp dụng những phương pháp dạy học nào làm cho giáo viênlao động sư phạm ít mà học sinh học được nhiều, làm cho không khí nhàtrường bớt nhàm chán, giảm sự đơn điệu, cứng nhắc trong giờ học, tăngcường sự thích thú, tăng cường sự tự do và đạt đến những tiến bộ thực sự
Bởi vậy đề tài “Vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường
THCS” được nghiên cứu với mục đích:
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động củangười học:
Khai thác hình thức “học vui” dạy học Ngữ văn
Giới thiệu và vận dụng những trò chơi học tập trong dạy học Ngữ văn nhằm giúp sinh viên và giáo viên THCS có thêm tư liệu tham khảo đểdạy học tích cực
Đề tài này nếu nghiên cứu thành công cũng có thể sử dụng như một tài liệu để bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên Ngữ văn THCS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sauđây:
- Xây dựng cơ sở lí thuyết, lí luận về phương pháp trò chơi trong dạy họcNgữ văn ở trường THCS
Trang 5- Khảo sát thực trạng hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn trườngTHCS trong các kì đi thực tập sư phạm của sinh viên Văn Trường CĐSP
Hà Tây, khảo sát thực trạng hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn củagiáo viên Trường THCS trên một số địa bàn Hà Nội
- Đề xuất những giải pháp vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy họcNgữ văn theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh
- Dạy học thực nghiệm tại một số trường THCS ở địa bàn của thành phố
Hà Nội và đề xuất phương án triển khai ứng dụng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là phương pháp trò chơi trong dạyhọc; vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Ngữ văn ở THCS phục vụ
dạy học học phần Phương pháp dạy học Ngữ văn, Rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm, Tự chọn ở trường CĐSP
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và dạy học thực nghiệm về phương pháptrò chơi học tập Ngữ văn trên một số địa bàn tiêu biểu của thành phố HàNội
Đề tài chỉ nghiên cứu sự vận dụng phương pháp trò chơi học tập Ngữvăn nói chung, không hướng dẫn cụ thể cách thiết kế trò chơi trên máy tính
Đề tài chỉ nghiên cứu phương pháp trò chơi với các hình thức trò chơivào việc dạy học Ngữ văn ở trường THCS hiện nay, không đề cập đến việcvận dụng trò chơi vào dạy học tiếng Việt tiểu học hoặc Ngữ văn THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra khảo sát.
Chúng tôi thực hiện điều tra khảo sát tình tình vận dụng phương pháp tròchơi trong dạy học Ngữ văn trên địa bàn Hà Nội ở một số trường THCS Từ
đó có được những đánh giá chung về các mặt được và chưa được, nhữngkhó khăn và yêu cầu, kiến nghị của SV, GV trực tiếp thực hiện vận dụngphương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn Đây chính là cơ sở thực tiễncho việc thực hiện đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu lí luận về phương pháp trò chơi trong dạy học
Lí luận về phương pháp trò chơi trong dạy học là cơ sở lí thuyết cho việc
thực hiện đề tài Đồng thời để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hànhnghiên cứu tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, nghiên cứu SGK Ngữvăn mới ở THCS với các đơn vị bài học tuần cụ thể, với ba phân môn có
trong chương trình Từ đó có thể đề xuất việc “Vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy Ngữ văn ở trường THCS”
5.3 Phương pháp đối chiếu so sánh, phân tích, tổng hợp.
Các phương pháp đối chiếu so sánh, phân tích, tổng hợp rất cần thiết choviệc nghiên cứu của đề tài Đây đồng thời là các thao tác để chúng tôi cóthể nghiên cứu kĩ lường từng khía cạnh của vấn đề rồi tổng hợp lại theomục đích mà đề tài đặt ra
5.4 Phương pháp dạy học thực nghiệm
Trang 6Dạy học thực nghiệm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đềtài, để đánh giá tính khả thi của những đề xuất mà đề tài đưa ra Trong đềtài này, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trên các đối tượng là SV và GVcủa trường CĐSP và THCS trên địa bản Hà Nội.
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài này nếu được thực hiện thành công sẽ giúp cho:
- Sinh viên Văn CĐSP có thêm tư liệu tham khảo phục vụ cho mônPhương pháp dạy học Ngữ văn, đi thực tập sư phạm làm công tác giảng dạy
và chủ nhiệm
- Giáo viên phổ thông có thêm tư liệu tham khảo khi thiết kế bài giảngNgữ văn
- Giáo viên sư phạm dạy phương pháp Ngữ văn có thêm tư liệu tham khảo
để hướng dẫn sinh viên thiết kế bài giảng, thiết kế chương trình ngoại khóaNgữ văn
- Dùng làm tài liệu cho chuyên đề bồi dưỡng giáo viên đổi mới phươngpháp dạy học
- Học sinh phổ thông có thêm hệ thống trò chơi để tự học, tự kiểm tra kếtquả học tập của mình khi tự học ở nhà môn Ngữ văn
- Phụ huynh học sinh có thể sử dụng tài liệu tham khảo này để kiểm trakiến thức của con em mình về môn Ngữ văn
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương và phần phụ lục
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học Ngữ văn ở THCS
Chương 2: Vận dụng dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Ngữ văn ở
THCS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần phụ lục bao gồm: phiếu điều tra khảo sát thực trạng, bài giảng minh
họa, đề kiểm tra thực nghiệm, hệ thống trò chơi Ngữ văn thiết kế minh họa
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ SỬ DỤNG TRỊ CHƠI TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1.Khái niệm trị chơi học tập
Phương pháp dạy học bằng trị chơi là giáo viên cung cấp và tổ chức chohọc sinh tiến hành các trị chơi Hệ quả là học sinh thu nhận được các trithức khoa học, thái độ và kĩ năng hành động (trí ĩc và chân tay) sau khi kếtthúc trị chơi
Trị chơi học tập là một vấn đề thời sự
Bộ Giáo dục – Đào tạo thực hiện chương trình thay sách giáo khoa bậc Trunghọc cơ sở nhằm đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học Mục đích là đểnâng cao mặt bằng dân trí, chuẩn bị đào tạo nguồn nhân lực cho công nhiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Mục tiêu của giáo dục THCS là giúp củng cố và pháttriển những kết quả của giáo dục tiểu học, đào tạo học sinh cĩù trình độ học vấnphổ thông cơ sở và hiểu biết ban đầu về kĩ thuật hướng nghiệp để các em tiếptục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc bước vàocuộc sống lao động Như vậy bậc THCS không chỉ nhằm mục tiêu lên trung họcphổ thông mà còn chuẩn bị vào sự phân luồng sau THCS Học sinh học THCSphải có những giá trị đạo đức lối sống phù hợp với mục tiêu, có những kiến thứcphổ thông gắn với cộng đồng và thực tiễn cuộc sống, có khả năng vận dụng kiếnthức đã học đểû giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống, bản thân,gia đình và cộng đồng Để thực hiện một mục tiêu trên của Bộ Giáo dục – Đàotạo, các giáo viên lâu năm trong nghề có kiến thức và phương pháp dạy tươngđối vững vàng, đứng trước sự đổi mới của phương pháp dạy học văn luơn luơntrăn trở làm thế nào để thực hiện được ý đồ của Bộ Giáo dục là đổi mới về mụctiêu, nội dung và phương pháp học Trong đó sự đổi mới về phương pháp mangtính quyết định tới sự thành công của bài dạy Bởi vì nếu chỉ đổi mới về mụctiêu, nội dung mà phương pháp không đổi thì chắc chắn kết quả đổi mới sẽkhông có được
Một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là đa dạnghĩa hình thức tổ chức dạy học, trong đĩ cĩ hình thức sử dụng trị chơi trong dạyhọc Hình thức này đang được các trường, các giáo viên ưa thích vận dụng
Trò chơi học tập ở đây được hiểu theo nghĩa “Đố vui để học” Người dạycó thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đạt được mục đíchcuối cùng là học sinh hiểu bài, khắc sâu kiến thức, khơi dậy trong các emniềm yêu thích bộ môn văn Các em không còn thấy nặng nề, buồn chán,thụ động trong giờ học văn
Trang 8Xét về mặt mục đích và y đồ dạy học, thì phương pháp trò chơi trong dạyhọc bao giờ cũng thể hiện y đồ của người giáo viên đứng lớp, cho nên mỗitrò chơi được vận dụng trong giờ dạy là một cố gắng vận động tích cực,sáng tạo, một tấm lòng của giáo viên gửi gắm Ý đồ đó bao giờ cũng đượcthể hiện qua một trò chơi mang nội dung học tập nhằm giải quyết một nộidung học tập nào đó và dưới một hình thức trò chơi cụ thể thích hợp
Bản chất của trò chơi học tập
A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của
dạy học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp,
nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi…Khi các mối quan
hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập.”
Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thâncủa mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệuquả, kích thích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của ngườihọc Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi nhớ dễ dàng và bềnvững hơn
Trò chơi học tập khác với trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức vàluật chơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việcthực sự nhưng chúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị(chơi là phương tiện, học là mục đích) Học trong quá trình chơi là quá trìnhlĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tựnguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho người học
Trong quá trình chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, người học phải dùng cácgiác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, sosánh, phân loại và khái quát hóa, tùy theo nhiệm vụ nhận thức của mỗi tròchơi làm cho tư duy ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượngphát triển hơn, các thao tác trí tuệ được hình thành Qua trò chơi học tập,người học tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu nhiều tri thức, nhiều khái niệm vàhình thành những biểu tượng rõ rệt về các sự việc, hiện tượng xung quanh Trò chơi học tập giúp học sinh lĩnh hội những tri thức và kỹ năng khácnhau mà không có chủ định từ trước Đồng thời, giúp người học cảm nhậnđược một cách trực tiếp kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tínhtích cực, mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiểu biết của người học
HS thấy vui, nhanh nhẹn, cởi mở HS tiếp thu tự giác HS được củng cố
và hệ thống hóa kiến thức Tăng cường khả năng giao tiếp
Trò chơi học tập là một loại trò chơi đặc biệt, không chỉ nhằm giúpngười học giải trí mà còn là hình thức giúp học sinh tự lãnh nhận kiến thứcthông qua trò chơi hoặc củng cố những gì đã học
Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung cao của người học.Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ trở nên sinh động và hấp dẫnnếu được tổ chức dưới hình thức trò chơi Và nhờ đó kết quả học tập củahọc sinh sẽ tăng lên Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinhthể hiện qua các tiết học có trò chơi làm tăng tình cảm của các em đối vớimôn học và cả thầy cô giáo của mình
Trang 9Người học tham gia tích cực vào quá trình học Họ được quyền đưa raquyết định, tự giải quyết các vấn đề và phản ứng với kết quả của các quyếtđịnh do mình đưa ra
Trong trị chơi, nhất là những trị chơi trí tuệ thường hàm chứa yếu tốkích thích, thi đua, sự thử thách và khả năng nâng cao hiểu biết, sự sáng tạo
và tính kiềm chế của người chơi
1.1 2 Cơ sở lí luận của vấn đề sử dụng trị chơi trong dạy học
1.1.2.1 Phương pháp dạy học tích cực và trị chơi trong dạy học
Căn cứ vào những đặc trưng chủ yếu của Phương pháp tích cực, chúng ta
cĩ thể xác định việc tổ chức những trị chơi trong quá trình dạy học là hợp
lí, cĩ cơ sở, gĩp phần tích cực hĩa hoạt động học tập Trong những trị chơihọc tập, chúng ta nhận thấy tất cả các dấu hiệu biểu hiện của dạy học tíchcực
Dạy học bằng tổ chức trị chơi là một hình thức dạy học lấy học sinh
làm trung tâm:
Trong PP dạy học tích cực người học được cuốn hút vào các hoạtđộng học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, qua đó tự lực khám phá nhữngđiều mình chưa biết chứ không tiếp thu thụ động kiến thức có sẵn.Những hoạt động của HS bao gồm: nghe, nói, đọc, ghi chép, làm báocáo, thực hành thí nghiệm, thảo luận, điều tra, nghiên cứu… Tức là phảiđặt HS vào tình huống giải quyết vấn đề
GV không chỉ đơn thuần cung cấp kiến thức mà còn hướng dẫn HS
hoạt động Trong PP dạy học tích cực, học chữ và học làm phải song
hành “Từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và
phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động sáng tạo” (Nguyễn Kỳ –Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung
tâm)
Khi tham gia trị chơi học tập, người học được hoạt động tự giác, đầyhào hứng Thơng qua hình thức hoạt động này, người học sẽ phát huy đượctính tích cực chủ động, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân
Dạy học bằng tổ chức trị chơi là một hình thức dạy học tổ chức các hoạt động của học sinh:
GV tổ chức cho người học – Chủ thể hoạt động, tự mình tìm ra kiếnthức thông qua hành động của chính mình PP dạy học tích cực dựa trên
cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành và pháttriển thông qua hoạt động chủ động, hành động có ý thức Trí tuệ của trẻchỉ thực sự phát triển thông qua sự đối thoại giữa chủ thể với đối tượngvà môi trường
“Học để hành, học và hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích;
hành mà không học thì không trôi chảy” (Hồ Chí Minh)
“Cách tốt nhất để hiểu là làm” (Kant)
Trang 10PPTC dựa trên cơ sở tâm lí học cho rằng nhân cách của trẻ được hìnhthành thơng qua các hoạt động cĩ y thức Nhiều tác giả cho rằng: Trí thơngminh là hoạt động cĩ chủ định được điều khiển từ nội tâm bằng cách xáclập những mối liên hệ giữa chủ thể với hành động Trí thơng minh của trẻphát triển nhờ sự đối thoại giữa chủ thể hoạt động với với đối tượng và mơi
trường Hồ Chí Minh cũng đã nĩi: “Học để hành, học với hành phải đi đơi.
Học mà khơng hành thì vơ ích Hành mà khơng học thì hành khơng trơi chảy” Theo PPTC, dạy học thơng qua hình thức tổ chức trị chơi khơng chỉ
cung cấp tri thức mà cịn phải hướng dẫn hành động Khả năng hành động
là một yêu cầu đặt ra khơng chỉ đối với từng cá nhân trong mỗi trị chơi cụthể mà thơng qua đĩ, nĩ gĩp phần trau giồi khả năng hành động cả ở cấp độcộng đồng từ nhỏ tới lớn, từ địa phương tới tồn xã hội
Chương trình giảng dạy giúp cho từng cá nhân người học biết hànhđộng và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng Mụcđích của học tập theo các giai đoạn phát triển của xã hội đã cĩ sự phát triển:
Từ học để biết đến học để hành rồi đến học để thành người (đảm bảo cho
học sinh phát triển thành cơng dân cĩ trách nhiệm và hành động cĩ hiệuquả) Các trị chơi rất phong phú và đa dạng về hình thức, cách thức hànhđộng, gắn với từng nội dung tri thức và kĩ năng cụ thể Tham gia trị chơihọc tập, người học khơng chỉ tích lũy được tri thức khoa học một cách nhẹnhàng mà sâu bền mà cịn đồng thời được tích lũy những kĩ năng học tập, kĩnăng nghề nghiệp, kĩ năng sống Điều này đồng nghĩa với mục đích của họctập là hình thành nhân cách cho người học
Dạy học bằng tổ chức trị chơi là một hình thức dạy học chú trọng việc rèn luyện phương pháp tự học:
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, phương pháp dạy học tích cực xemviệc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là biện pháp nâng
cao chất lượng học tập mà còn là mục tiêu dạy học “Người thầy giáo tồi
truyền đạt chân lý, còn người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý”(Desterwerg) Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn
diện, do vậy rèn luyện kỹ năng tự học nhắm phát triển khả năng tư duyđộc lập của học sinh trong việc khám phá sáng tạo chiếm lĩnh tri thức
Trong xã hội hiện đại sự bùng nổ thông tin, sự phát triển khoa họccông nghệ diễn ra như vũ bão thì việc dạy phương pháp tự học lại càngcần thiết Đây là cách hữu hiệu để tạo ra những con người thích ứng vớixã hội học tập Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiêncứu Nếu rèn luyện cho người học thói quen và phương pháp tự học họcó thể biết linh hoạt giải quyết những tình huống nhận thức mới, khơi gợilòng ham học Bản chất của phương pháp tự học là tạo ra sự chuyển biếntừ học tập thụ động sang tự học chủ động tích cực
Để hoạt động tự học đạt hiệu quả, giáo viên cần định hướng cho họcsinh ý thức và phương pháp tự học một cách thường xuyên Cụ thể lànhững việc làm sau:
Trang 11Rèn luyện cho học sinh thói quen tự học, coi đó là nhiệm vụ thườngnhật của người học sinh, tránh tư tưởng học đối phó theo mùa vụ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập, thường xuyêntheo dõi kiểm tra hoạt động tự học ở nha.ø
Giáo viên chuẩn bị các phiếu học tập trong đó xác định yêu cầu nộidung kiến thức học sinh cần lĩnh hội trong từng bài học cụ thể
Dạy học mới, trong đĩ cĩ vận dụng phương pháp trị chơi học tập sẽ rènluyện cho người học cĩ được kĩ năng, phương pháp, thĩi quen tự học, biếtứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết phát hiện và
tự lực giải quyết những vấn đề đặt ra, sẽ tạo nên lịng ham học, khơi dậytiềm năng vốn cĩ trong mỗi con người Như vậy kết quả học tập sẽ nâng lêngấp bội, người học sẽ dễ dàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội Chính
vì vậy, trong quá trình dạy học vận dụng phương pháp trị chơi học tậpthực chất là đã chú trọng đến hoạt động học, tạo ra sự chuyển biến từ họctập thụ động sang học tập chủ động
Dạy học bằng tổ chức trị chơi là một hình thức dạy học cá thể và dạy
học hợp tác:
PP dạy học tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí lực cao của mỗi HS tự
mình lĩnh hội tri thức Ý chí và năng lực của người học trong một lớpkhông đồng đều nhau, do vậy sẽ diễn ra sự phân hóa khi học Bài họcđược thiết kế thành một chuỗi các công việc độc lập giao cho từng cánhân Việc cá thể hoá phân hóa hoạt động học tập diễn ra ngay trong giờhọc trên lớp (Hệ thống câu hỏi, bài tập mang tính phân hóa đối tượnghọc), hoạt động tự học ơ ûnhà
Trong kiểu dạy học thông báo truyền thống thông tin đi từ thầy đếntrò, quan hệ giao tiếp chủ yếu là Thầy-Trò; trong PP học tập hợp tác vẫncó giao tiếp Thầy-Trò nhưng nổi lên mối quan hệ giao tiếp Trò-Trò Họctập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ( từ 4-6 người) Mỗi thành viênđều được bộc lộ suy nghĩ chính kiến của mình trước tập thể, qua đó đượctập thể thảo luận tìm ra chân lý Hoạt động này giúp cho HS làm quenvới sự phân công hợp tác trong cộng đồng, giáo dục ý thức cá nhân đốivới cộng đồng, phát triển tình bạn , ý thức kỷ luật trong học tập để giảiquyết những tình huống khó khăn trong bài học
Quan niệm học tập hợp tác mâu thuẫn với học tập cá thể làm hạnchế ý thức của mỗi cá nhân là sai lầm Bởi lẽ trong từng nhóm nhỏ mỗicá nhân đều phải nỗ lực, không ỷ lại vào người khác, toàn nhóm phảicùng phối hợp để giải quyết tình huống Kết quả làm việc của từngnhóm sẽ được trình bày thảo luận trước tập thể sẽ tạo ra không khí thiđua giữa các nhóm đóng góp kết quả chung vào bài học
Phương pháp trị chơi học tập địi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực caocủa mỗi học sinh Năng lực và y chí của mỗi học sinh khơng đồng nhất vì
Trang 12vậy cĩ sự phân hĩa về cường độ và tiến độ hồn thành các nhiệm vụ họctập Cần phải dạy học đáp ứng yêu cầu cá thể hĩa việc học tập theo nhu cầu
và năng lực của mỗi học sinh Mặt khác, lớp học là mơi trường giao tiếp tạonên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới các mụctiêu học tập, rèn luyện Thơng qua hoạt động trong tập thể với các nhĩmchơi, đội chơi, các y kiến, quan niệm của cá nhân được điều chỉnh và qua
đĩ người học nâng mình lên một trình độ mới Hoạt động trị chơi học tậpmang tính tập thể, qua đĩ tính cách, năng lực của mỗi cá nhân được bộc lộ,uốn nắn, phát triển tình bạn, y thức tổ chức kỉ luật, tương trợ lẫn nhau, ythức cộng đồng Phương pháp trị chơi thể hiện được chức năng hợp tác làmcho người học quen dần với đời sống xã hội, trong đĩ mỗi người sống vàlàm việc trong sự phân cơng hợp tác với tập thể cộng đồng
Sự đa dạng hóa các phương pháp dạy học là yêu cầu tất yếu củaphương pháp dạy học tích cực Do lấy HS làm trung tâm trong hoạt độngdạy học nên không thể có phương pháp nào chung cho tất cả các đốitượng học tập, cũng không thể có phương pháp nào là tối ưu trong dạyhọc Người GV có bản lĩnh là phải năng động sáng tạo trong việc sửdụng các phương pháp tuỳ theo tình huống, đối tượng dạy cụ thể
Dạy học trên tinh thần phân hóa đối tượng học đòi hỏi GV phải đadạng hoá phương pháp dạy tùy theo từng tình huống và đối tượng dạyhọc cụ thể
Phương pháp trị chơi học tập mang tính tích cực cao, coi trọng vai trịchủ động của người học khi tham gia chơi trực tiếp cũng như khi cổ vũ ủng
hộ đội chơi Phương pháp trị chơi học tập cũng gĩp phần rèn luyện phươngpháp tự học để chuẩn bị cho học sinh năng lực tự học liên tục, suốt đời nhưmột mục tiêu giáo dục Giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng tự đánh giá
để tự điều chỉnh khi tham gia trị chơi học tập Việc kiểm tra đánh giá và tựđánh giá trong Phương pháp trị chơi học tập mang tính khuyến khích ĩcsáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của họcsinh trước tình huống của trị chơi cũng như trước những vấn đề của đờisống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết cácvấn đề trong những tình huống thực tế
1.1.2.2 Lí thuyết hoạt động và trị chơi trong dạy học
Theo lí thuyết hoạt động tâm lí thì hành động làm nên hoạt động Do đĩ,nếu hình thành được hành động học sẽ cĩ cơ hội hình thành hoạt động học.Hoạt động học cĩ thể được phân li thành nhiều hành động học nhưng tạimột thời điểm nhất định chỉ diễn ra một hành động học Để hình thành đượchành động học, ít nhất phải cĩ hai điều kiện: Xác định được mục đích học
và hình thành được thao tác học Thao tác học được hiểu là hành động vật
chất ở bên ngồi được chuyển vào trong và cải biến ở trong đĩ, rút gọn và
nội hiện ở trong đầu người học.
Dạy học bằng trị chơi học tập chính là thực hiện hoạt động học với cáchành động học, các thao tác học cụ thể
Trang 13Trò chơi lă một hoạt động bổ trợ trong dạy học Ngữ văn Ho¹t ®ĩng năythiªn vÒ phần chơi do vỊy nê giúp xoâ đi sự nặng nề Học sinh được tiếpnhận nhiều kiến thức, kĩ năng qua những hoạt động dễ dăng, gđy hứng thú Hôc sinh kh«ng chØ cê c¬ hĩi t×m hiÓu, «n tỊp l¹i kiÕn thøc mă cßn ®ưîcthÓ nghiÖm hănh vi, rÌn kÜ n¨ng, sù tư duy, ph¶n øng nhanh C¸c em sÏ
®ưîc rÌn kh¶ n¨ng quyÕt ®Þnh lùa chôn c¸c phư¬ng ¸n ®óng, c¸ch gi¶i quyÕtt×nh huỉng §©y lă bưíc tr¶i nghiÖm thùc tÕ trưíc khi hôc sinh rót ra mĩtkÕt luỊn, lÝ thuyÕt trõu tưîng
Trß ch¬i còng lă biÖn ph¸p t¨ng cưíng sù thi ®ua, phÍn ®Íu tÝch cùctrong c¸ nh©n hoƯc c¸c nhêm hôc sinh NÕu tư chøc trß ch¬i nhêm cßn giópt¨ng cưíng ho¹t ®ĩng lăm viÖc nhêm Tõ ®ê, ph¸t triÓn kÜ n¨ng giao tiÕpcho hôc sinh
XÐt vÒ lÝ luỊn vă thùc tiÔn, ®©y lă phư¬ng ph¸p d¹y hôc thó vÞ trong d¹yhôc Ng÷ v¨n Nê sÏ gêp phÌn tÝch cùc văo viÖc ®ưi míi phư¬ng ph¸p d¹yhôc Ng÷ v¨n hiÖn nay
1.1.2.3 Tđm – sinh lí vă trò chơi trong dạy học
Muốn giải quyết vấn đề trò chơi học tập cần phải chú y đến vấn đề sinh
lí học vă tđm lí học Hoạt động nói chung vă hoạt động trò chơi nói riíng lălao động tích cực, lă sự huy động tổng hợp câc giâc quan như: thính giâc,thị giâc, xúc giâc, câc cơ quan hô hấp, bộ mây phât đm, sự vận động củacâc cơ bắp,…đồng thời có sự tham gia cả cơ chế bín trong của con người: ythức, tiềm thức, trí nhớ, kinh nghiệm,…Nếu tiếp thu kiến thức, kĩ năngbằng hình thức học tập khô cứng, việc chuyển tri thức từ ngoăi văo trong sẽchậm chạp vă rất khó khăn Bằng hình thức học vui, việc tiếp thu tri thức sẽxuất phât từ hứng thú nín dễ dăng hơn rất nhiều “Biết mă học không bằngvui mă học” (Khổng Tử) Câc phương phâp dạy học bằng trò chơi có tâcdụng hấp dẫn, cuốn hút tập trung cao độ của người học mă ít phương phâpnăo có được Hơn nữa trong trò chơi, tình cảm của người học, đối với mônhọc, đối với bạn học vă đối với giâo viín được nảy nở vă duy trì
Nhu cầu giải trí, ca hát, đặc biệt là trò chơi khôngthể thiếu được trong các hoạt động của thanhthiếu, niên Từ lâu, người ta đã thấy rõ các giá trịgiáo dục chuyên biệt thông qua những trò chơi đãđược nhiều nhà Tâm lý xã hội và Giáo dục lưu tâmnghiên cứu và thực nghiệm
Trò chơi là hoạt động tự nhiên và cần thiết củatuổi trẻ Tự nhiên vì bản năng thúc đẩy và cầnthiết để rèn luyện thân thể, phát triển các giác quanvà kỹ năng giúp học sinh phát triển cả về thể chấtlẫn tinh thần Trò chơi cũng là cách thức rất hiệuquả giúp học sinh hứng thú trong giờ học làm choviệc học trở thành niềm vui và giúp các em chủđộng, tự giác, tích cực trong học tập
Trò chơi giúp các em phản xạ nhanh nhẹn, thôngminh, hứng thú, các giác quan thêm nhạy bén qua đó
Trang 14giáo dục tính cách và truyền thụ kiến thức cho các
em một cách sống động Vì thế giáo viên phải rấtchọn lọc trò chơi cho phù hợp với tâm sinh lí họcsinh, phù hợp từng chủ diểm nhưng theo hướng thíchhợp trong ba phân môn: Tiếng việt - Văn - Tập làmvăn Đặc biệt chú trọng đến các giờ ôn tập cuốihọc kỳ Giúp các em chủ động tiếp thu bài, quan sátxem tính cách và ưu khuyết điểm để giáo dục kịpthời
Học sinh THCS phần lớn ở độ tuổi 11 - 15 Ở độtuổi này các em dễ bị cuốn hút vào các hình thứchoạt động độc lập để phát triển các kỹ năng vànhu cầu tự khẳng định bản thân Yếu tố này rấtphù hợp với trò chơi nhằm phát huy toàn bộ khảnăng tầm tàng của học sinh, Vì ở Tiểu học, các emngồi nghe giáo viên giảng một cách tỉ mĩ chu đáo Tròchơi ở lớp 6 kích thích tính tích cực, tự giác, độclập tư duy, sáng tạo và gây hứng thú nhiều tronghọc tập và nó rất phù hợp với sự nghiệp đổi mớigiáo dục của nước nhà
Một số người cho rằng trò chơi là vô bổ, phí thôøigian, nhöng cuõng coù ngöôøi nhaôn thöùc raỉng : trò chơi để giải trí,nâng cao, nắm vững kiến thức Trò chơi không chỉ thựchiện 5 phút trong giờ học, các trò chơi có thể được thựchiện vào giờ ôn tập hay ngoại khóa điều đó tránhđược sự máy móc, buồn tẻ trong giờ ôn tập Hơnthế nữa, các trò chơi này còn có thể tổ chức chocác lớp trong khối thi với nhau để nhằm giao lưu.Học hỏi, nâng cao phần hiểu biết, cạnh tranh nhautrong học tập và liên kết tình bạn
1.1.2.4 Giao tiếp vă trò chơi trong dạy học
Mục đích cuối cùng của dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông lă nđngcao năng lực ngôn ngữ, đồng nghĩa với việc nđng cao năng lực giao tiếpbằng tiếng mẹ đẻ cho học sinh
Tieâng Vieôt vöøa toăn tái ôû dáng tónh vöøa toăn tái ôû dáng ñoông Moôt maịttieâng Vieôt laø moôt heô thoâng keât caâu nhö moôt thöïc theơ ñöôïc cạ coông ñoăngngöôøi Vieôt chaâp nhaôn, maịt khaùc tieâng Vieôt lái ñöôïc theơ hieôn ra ngoaøinhö moôt phöông tieôn ñeơ thöïc hieôn hoát ñoông giao tieâp Chư coù trong giaotieâp tieâng Vieôt môùi theơ hieôn cú theơ ñaịc tröng heô thoâng cụa mình Thođngqua hoát ñoông giao tieâp trong moâi quan heô vôùi caùc nhađn toâ giao tieâp caùcquy luaôt söû dúng tieâng Vieôt môùi boôc loô
Trang 15Bản chất môn tiếng Việt trong nhà trường THCS góp phần sử dụngthành thạo tiếng Việt, rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, gắn kếtngôn ngữ với chức năng sử dụng (tính hành chức của ngôn ngữ) Chươngtrình tiếng Việt gần đây đã chú ý đến vấn đề ngữ dụng học Do vậy dạyhọc tiếng Việt theo quan điểm hoạt động lời nói và lý thuyết giao tiếp làđịnh hướng cơ bản trong quá trình dạy học.
Sự thể hiện quan điểm giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt:
Dạy tiếng Việt hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ: Trên cơ sở nắm vững các tri thức về hệ thống tiếng Việt, các quytắc sử dụng tiếng Việt để tạo lập và tiếp nhận lời nói trong mối quan hệvới các nhân tố giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp đề ra
Triệt để sử dụng các phương pháp dạy học tích cực: Để thực hiện tốtquan điểm giao tiếp trong việc dạy tiếng Việt giáo viên luôn chú ý đặthọc sinh vào những tình huống giao tiếp cụ thể, tạo ra những hoàn cảnhvà nhu cầu giao tiếp trong hoạt động dạy học (Tổ chức thảo luận, hoạtđộng nhóm, tăng cường thực hành luyện tập) Phương pháp dạy họctiếng Việt theo hướng tích cực dựa trên lý thuyết giao tiếp đòi hỏi giáoviên cố gắng giảm thiểu tối đa dạy học theo lối thuyết giảng mang tínhkinh viện (Giáo viên trình bày, học sinh nghe ghi thụ động) Khái niệmgiao tiếp hóa dạy học có nghĩa là chuyển hóa quá trình trình bày củagiáo viên thành những cuộc đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, giữahọc sinh với nhau Mặt khác giao tiếp hóa đồi hỏi khi dạy bất kỳ phânmôn nào, nội dung gì cũng phải đặt nó vào ngữ cảnh cụ thể để phát hiện
ra mục đích, ý định và cách thức trình bày nội dung và hình thức củavăn bản sao cho phù hợp với mục đích người nói, viết đặt ra
Trị chơi bao giờ cũng cĩ sự tham gia hoạt động của nhiều người mộtcách tự giác, mang nội dung tin cụ thể gắn với từng nội dung nhất định củabài học Trị chơi học tập cũng là một hình thức đặc biệt của giao tiếp
Giao tiếp hằng ngày địi hỏi phần lớn phải vận dụng ngơn ngữ nĩi vànhững yếu tố phi ngơn ngữ như: ánh mắt, nụ cười, nét mặt,…Những sự xúccảm được bộc lộ qua các yếu tố đĩ chỉ sinh ra trong tình huống giao tiếp vàtrong mục đích giao tiếp Nĩ bắt nguồn từ y đồ chủ quan của ngơn ngữ giaotiếp Trị chơi học tập là một hình thức giao tiếp cĩ tính mục đích cao theochủ đề Mỗi trị chơi đều là sự ủy thác nội dung học tập trong tình huống cụthể Những tình huống đĩ là nhân tố kích thích tư duy, kích thích ngơn ngữ.Những người tham gia trị chơi sẽ tích cực tư duy, sản sinh ngơn ngữ đápứng tình huống Các trị chơi khi thực hiện bao giờ cũng mang tính tổnghợp của các hành động (hành động ngơn ngữ, hành động phi ngơn ngữ) đểđạt mục đích Mỗi một trị chơi học tập khi thực hiện thành cơng nghĩa là đãđạt được đích giao tiếp Mà đích giao tiếp ở đây là tri thức, là kĩ năng cầnđạt của từng nội dung bài học cụ thể
Trang 16A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của
dạy học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp,
nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi…Khi các mối quan
hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập.”
Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thâncủa mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệuquả, kích thích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của ngườihọc Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi nhớ dễ dàng và bềnvững hơn
Trò chơi học tập khác với trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức vàluật chơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việcthực sự nhưng chúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị(chơi là phương tiện, học là mục đích) Học trong quá trình chơi là quá trìnhlĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tựnguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho học viên
Trong quá trình chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, người học phải dùng cácgiác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, sosánh, phân loại và khái quát hóa, tùy theo nhiệm vụ nhận thức của mỗi tròchơi làm cho tư duy ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượngphát triển hơn, các thao tác trí tuệ được hình thành Qua trò chơi học tập,người học tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu nhiều tri thức, nhiều khái niệm vàhình thành những biểu tượng rõ rệt về các sự việc, hiện tượng xung quanh.Đối với bộ môn Tiếng Việt, trò chơi học tập đặt học viên trước một tìnhhuống ngôn ngữ để huy động, luyện tập, củng cố và mở rộng vốn kiến thứccủa mình
Trò chơi học tập giúp học sinh lĩnh hội những tri thức và kỹ năng khácnhau mà không có chủ định từ trước Đồng thời, giúp người học cảm nhậnđược một cách trực tiếp kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tínhtích cực, mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiểu biết của người học
Phương pháp trò chơi học tập được vận dụng, giới thiệu sẽ cung cấp chosinh viên, các giáo viên Ngữ văn tương lai nhiều y tưởng giúp phát triển các
kĩ năng vận dụng ngôn ngữ cơ bản của học sinh và hố trợ phát triển học tậpchủ động của các em trong lớp
1.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ VẬN DỤNG TRÒ CHƠI
TRONG DẠY HỌC
1.2.1 Mục đích khảo sát
Để đánh giá thực trạng vận dụng trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường
THCS của SV Văn trường CĐSP, của GV Văn trường THCS chúng tôi đã
tiến hành khảo sát việc vận dụng trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường THCS
của SV và GV ở một số trường thuộc địa bàn huyện Thường Tín, thị xã HàĐông…
Trang 17Việc khảo sát được tiến hành bằng nhiều hình thức: Phiếu đo nghiệm
khách quan, quan sát giờ dạy của giáo sinh, giáo viên có vận dụng trò chơi
vào dạy Ngữ văn ở trường THCS
Nội dung khảo sát gồm:
- Chương trình, tài liệu dạy Ngữ văn ở trường THCS
- Thực trạng vận dụng trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường THCS
của giáo sinh ngành Văn trường CĐSP, của giáo viên trường THCS
Việc khảo sát thực trạng vận dụng trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường
THCS nhằm:
- Có tư liệu tin cậy về thực hiện trò chơi học tập trong dạy học Ngữ văn
- Xác lập cơ sở và phương pháp cho việc đề xuất các phương án thíchhợp khi vận dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Ngữ văn
1.2.2 Đối tượng khảo sát
- Sinh viên Văn khoa Xã hội trường CĐSP Hà Tây:
+ Chuẩn bị hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn như thế nào?
+ Thể hiện hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn như thế nào?
- Giáo viên Ngữ văn trường THCS ở một số địa bản thành phố Hà Nội
+ Chuẩn bị hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn như thế nào?
+ Thể hiện hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn như thế nào?
1.2.3 Địa bàn và thời gian khảo sát
- Địa bàn: Một số trường THCS ở Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, ThườngTín, Phú Xuyên, Đông Anh, Ba Vì,…
- Dự giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy với giáo sinh, giáo viên THCS
1.2.5 Nội dung và kết quả khảo sát
1.2.5.1 Thực trạng vấn đề vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS.
*Về phía giáo viên
Đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH, đa dạng hóa các hoạt động dạy học của
quá trình giáo dục, hiện nay ở trường phổ thông THCS trong cả nước cũng
như trên địa bàn Hà Nội, vấn đề vận dụng trò chơi trong dạy học đã trở nênkhá phổ biến cả trong chính khóa và ngoại khóa
Tuy vậy, vẫn còn nhiều giáo viên có quan niệm rằng trong giờ đọc hiểuvăn bản nếu tổ chức hoạt động trò chơi sẽ phá vỡ đặc trưng phân môn nênkhông tổ chức trò chơi Một số khác lại cho rằng tổ chức hoạt động trò chơitrong giờ học khiến học sinh phấn khích Vào tiết học sau vẫn còn dư âm,ảnh hưởng tiêu cực tới việc tiếp thu bài mới của tiết học sau
Trong chính khóa, khảo sát về các hình thức trò chơi, chúng tôi có kếtquả như sau:
Trang 18Chương trình ngoại khóa môn Ngữ văn trín thực tế ít được chú y Ở một
số trường có điều kiện giâo dục thuận lợi, một văi năm tổ chức được mộtlần, dưới câc hình thức như: Đi thăm quan học tập câc di sản văn hóa, mờibâo câo viín lă câc nhă thơ nhă văn, tổ chức ngoại khóa theo chủ đề Câctrường ở vùng giâo dục kĩm phât triển hầu như không tổ chức ngoại khóa
bộ môn cho học sinh
Trong những giờ dạy có tổ chức hoạt động trò chơi, lao động sư phạmcủa giâo viín trín lớp có nhẹ nhăng hơn Nhưng để thiết kế một trò chơihọc tập thật sự bổ ích, giâo viín cần phải đầu tư suy nghĩ tìm tòi rất côngphu Thông thường giâo viín hay tổ chức câc trò chơi như: giải ô chữ, băitập trắc nghiệm có nhiều phương ân lựa chọn, tranh tăi theo nhóm nhỏ, ….Như vậy câc hình thức trò chơi chưa thực sự được đa dạng, chưa hấp dẫnđược người học
Về nội dung câc trò chơi nói chung đều hướng văo nội dung học tập củabăi học cụ thể hoặc cụm băi để khởi động, tạo tđm thế văo băi, để củng cốbăi, để luyện tập Tuy vậy, một số câ nhđn khi thiết kế trò chơi cho băi họchoặc ngoại khóa thường mắc lỗi lă không tập trung văo chủ đề, hoặc chủ đềkhông tiíu biểu, câc cđu hỏi không tập trung văo chủ đề, thường tản mạn.Câc cđu hỏi phần lớn chỉ mới dùng ở mức độ tư duy thấp như biết, một số ítcđu ở mức hiểu
Ví dụ 1 (khảo sât trong Sâng kiến kinh nghiệm của giâo viín phổ thông):
TRÒ CHƠI Ô CHỮ
1 Mục tiêu: Đây là trò chơi đầu tiên và thông dụng
nên học sinh rất hứng thú Vì vậy giúp học sinh tìmhiểu và ôn lại kiến thức của mình về truyện dângian và văn tự sự
Trang 192 Cách thức: Giáo viên có thể kẻ ô chữ lên bảng
hoặc vào giấy khổ lớn Nếu ghi đáp án vào giấykhổ lớn, thì giáo viên phải cắt giấy che khuất đápán, rồi giới thiệu cách chơi Cứ trả lời đúng được 1câu ô chữ được tính 10 điểm Giáo viên lấy 1 tổ 5
học sinh (3 hoặc 4 tổ), số còn lại làm khán giả Số
nhóm tham gia tự chọn ô chữ, suy nghĩ 30 giây đểtrả lời Nếu không trả lời được thì ô chữ đó thuộcvề khán giả Nhóm nào trả lời được ô chữ chọn
chữ cái sắp xếp lộn xộn sẽ được 30 điểm (ô chữ
Trang 204- Gợi ý câu hỏi và đáp án của các ô chữ.
1) Ô chữ này gồm: 22 chữ cái Mục đích giao tiếpcủa văn bản tự sự
2) Ô chữ này gồm: 5 chữ cái Khi viết văn, làm thơ người viết phải xác định vấn đề này trước
3) Ô chữ này gồm: 18 chữ cái Đây là tên của mộttruyện Ngụ Ngôn sử dụng toàn thể danh từ riêng
4) Ô chữ này gồm: 11 chữ cái Đây là vật dụngthể hiện sự tài năng vaø taâm loøng của Thạch Sanh
5) Ô chữ này gồm: 8 chữ cái Tên của nhân vật
chính trong truyện “Bánh chưng, bánh giầy”.
6) Ô chữ này gồm: 15 chữ cái Đây là tác phẩm mởđầu cho chương trình Ngữ văn 6
7) Ô chữ này gồm: 10 chữ cái Một vật dụng mànhân vật này sử dụng để giúp người nghèo vàtrừng trị kẻ ác
8) Ô chữ này gồm: 25 chữ cái Đây là ý nghĩa của
truyện “Em bé thông minh”.
9) Ô chữ này gồm: 7 chữ cái Truyện “Thầy bói
xem voi” thuộc thể loại văn học này.
10) Ô chữ này gồm: 17 chữ cái Nhân vật Sọ dừathuộc kiểu nhân vật này trong truyện cổ tích
Trang 2111) Ô chữ này gồm: 6 chữ cái Đây là từ láy miêutả tiếng sáo của Sọ dừa.
Ví dụ 2:
KÕt hîp kiÓm tra bµi cò víi giíi thiÖu bµi míi
tr¶ líi nhanh c¸c c©u hâi ?1/Mĩt bµi th¬ nưi tiÕng cña bµ HuyÖn Thanh Quan mµ em ®· hôc ị líp8?
2/T×m tõ thÝch hîp ®iÒn vµo chì trỉng trong c©u th¬ sau ?
“Mìi n¨m hoa ®µo nị
L¹i thÍy ………… ”
(Ng÷ v¨n 8) 3/ Mĩt tªn gôi kh¸c cña truyÖn KiÒu ?
4/ Thuý KiÒu cê s¾c ®Ñp nh thÕ nµo ?5/ NguyÔn §×nh ChiÓu cßn cê tªn gôi kh¸c lµ?
6/ Ngíi lîi dông ®ªm tỉi ®Ỉy Lôc V©n Tiªn xuỉng s«ng lµ ?7/ Mĩt bµi th¬ nưi tiÕng cña Ph¹m TiÕn DuỊt viÕt vÒ ngíi lÝnh Tríng S¬n
vµo bµi míi lu«n
Tõ sau c¸ch m¹ng th¸ng t¸m n¨m 1945 trong V¨n hôc hiÖn ®¹i ViÖt NamxuÍt hiÖn mĩt ®Ò tµi míi ®ê lµ t×nh “ §ơng chÝ, ®ơng ®ĩi”cña ngíi chiÕn sÜ
c¸ch m¹ng, anh bĩ ®ĩi Cô Hơ Lµ mĩt nhµ th¬ ®Ìu tiªn ®êng gêp thµnh
c«ng vµo ®Ò tµi nµy b»ng mĩt bµi th¬ ®Ưc s¾c mang tªn “§ơng chÝ”- ®ê lµ
ChÝnh H÷u Vµ ®©y còng chÝnh lµ môc tiªu mµ tiÕt hôc nµy muỉn giíi thiÖu
®Õn c¸c em
* Về phía học sinh
Đối với học sinh, đa số câc em rất thích được tham gia câc trò chơi họctập Câc em cho rằng hình thức học tập như vậy thoải mâi nhẹ nhăng vă dễ
tiếp thu hơn Tuy nhiín cũng có một số em không thích vì đa số câc trò
chơi tính trí tuệ không cao, mức độ tư duy thấp, không bộc lộ được năng
lực học tập thực sự
1.2.5.2.Đânh giâ về vấn đề vận dụng trò chơi trong dạy học Ngữ văn
Trang 22Hiện nay, thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhiều giáo
viên, đặc biệt là các giáo viên trẻ đã không ngừng tìm tòi, tích lũy kinhnghiệm, sáng tạo ra những ý tưởng hay, để có thể tạo ra một giờ giảng sinhđộng, ấn tượng và đạt được mục tiêu của bài học cần chuyển tải đến ngườihọc Không nằm ngoài mục đích đó, trước yêu cầu ngày càng nâng cao hơnnữa chất lượng bài giảng với phương châm rút ngắn khoảng cách giữangười dạy và người học bằng những hoạt động, sản phẩm cụ thể trong dạyhọc, phương pháp giảng dạy có sử dụng “trò chơi học tập” là một sản phẩmnhư thế Chúng ta vẫn thường đưa ra phương châm hay khẩu hiệu: “tạo ramột giờ học dân chủ”, hay “tạo ra một giờ học thân thiện” và bằng cách nàyhay cách khác, phương pháp truyền thống hay hiện đại, đôi khi chúng tavẫn loay hoay để có một giờ giảng tốt nhất, thân thiện và dân chủ nhất, thìchính phương pháp sử dụng “trò chơi học tập” giúp chúng ta đạt được yêu
cầu này Theo đó, phương pháp sử dụng “trò chơi học tập” có thể được
hiểu đó là một phương thức, cách thức truyền tải một thông điệp, một nội dung cụ thể nào đó đến người nghe thông qua hình thức trò chơi – chơi mà học, từ đó ý nghĩa của nội dung bài học được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng, nhưng đầy sâu sắc và dễ hiểu Hay nói cách khác “trò
chơi học tập” là “chiếc cầu nối” hữu hiệu và thân thiện nhất, tự nhiên nhấtgiữa người dạy và người học trong giải quyết nhiệm vụ chung và cùnghướng tới đạt được mục tiêu của bài học
Trên thực tế, những giờ dạy có vận dụng trò chơi học tập đã manglại cho giờ học một không khí mới, một màu sắc mới, tạo ra hiệu quả họctập tốt Mỗi phân môn với các kiểu bài học khác nhau đều có thể vận dụngnhững trò chơi thích hợp trong giờ học, đáp ứng nhu cầu học tập của cácem
Trang 23CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Chương trình, sách giáo khoa và khả năng sử dụng phương tiện trò chơi học tập
2.1.1 Sách giáo khoa - tài liệu dạy Ngữ văn của trường THCS
Sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện nay được biên soạn theo hướng tíchhợp, nội dung gồm cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn Các bàihọc Ngữ văn được sắp xếp theo đơn vị bài học/tuần, có đủ cả ba phân môn,mỗi tuần là bốn tiết ở khối 6,7,8 riêng lớp 9 là năm tiết Hệ thống văn bảnđọc của phần Văn được lựa chọn thích hợp, tiêu biểu theo trục văn bảnđược dạy ở Tập làm văn: tự sự, miêu tả, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh,ngoài ra còn có một số văn bản nhật dụng đáp ứng yêu cầu cập nhật nhữngvấn đề thời sự bức thiết của cuộc sống
Về tài liệu phần văn bản, nhìn tổng quát trong chương trình và sách giáokhoa Ngữ văn THCS, những văn bản rất phong phú, đa dạng Văn bảnthuộc các loại hình khác nhau: tự sự, trữ tình, kịch; bên cạnh các loại hình
đó còn có những văn bản nghị luận, văn bản nhật dụng mới được đưa vàotrong chương trình Ngữ văn từ năm 2000 Ở mỗi khối lớp, văn bản đọc đều
có đủ các loại văn bản trên Mỗi loại văn bản lại có nhiều tiểu loại Tự sựcó: truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện trung đại,truyện ngắn, tiểu thuyết (trích), kí sự, bút kí Trữ tình có: ca dao, thơ luậtĐường, thơ Đường, khúc ngâm, truyện thơ Nôm, thơ mới Kịch có: chèodân gian, hài kịch, chính kịch Nghị luận có: tục ngữ, nghị luận văn học,nghị luận xã hội Văn bản nhật dụng có các đề tài: quyền trẻ em, môitrường sống, môi trường sinh thái, vấn đề chiến tranh, vấn đề di sản văn hoávật thể và phi vật thể Như vậy ngoài VBVH, còn có những văn bản khôngphải là VBVH ở mảng văn bản nhật dụng Văn bản thuộc nhiều thể loại, đa
Trang 24dạng nên có thể cho học sinh chơi nhiều trò chơi ở các kiểu giờ học khácnhau: giờ học bài mới, giờ ôn tập theo cụm bài, giờ tổng kết Với việc sắpxếp các văn bản theo trục kiểu văn bản tập làm văn rất thuận lợi cho việc tổchức các trò chơi tích hợp dọc theo cụm bài của phân môn cũng như tíchhợp ngang.
Phần tiếng Việt được bố trí đều ở các khối lớp phần từ vựng, phẩn ngữpháp, phần phong cách và tu từ Các kiểu bài học tiếng Việt như: bài học líthuyết nhằm hình thành kiến thức mới, bài luyện tập nhằm củng cố líthuyết, hình thành các kĩ năng bộ phận, bài ôn tập tổng kết nhằm hệ thốnghóa kiến thức, kĩ năng của môn học theo từng chương mục hoặc thời gianthực hiện, ngoài ra còn có những bài hoạt động Ngữ văn, chương trình địaphương Như vậy, chương trình, các kiểu bài học của phân môn tiếng Việtđược cấu trúc, sắp xếp, cũng rất thuận tiện cho việc tổ chức hoạt động tròchơi theo đơn vị bài, theo cụm bài học thuộc phân môn
Phần tập làm văn được bố trí đều ở các khối lớp Mỗi khối lớp đều cóphần tạo lập văn bản chung, phần riêng là kiểu văn bản cụ thể với cá kiểubài học: bài học lí thuyết tập làm văn, bài học luyện tập, bài học ôn tập tổngkết tập làm văn, ngoài ra còn có những bài hoạt động Ngữ văn, chươngtrình địa phương Như vậy, chương trình, các kiểu bài học của phân môntập làm văn được cấu trúc, sắp xếp cũng rất thuận tiện cho việc tổ chức hoạtđộng trò chơi theo đơn vị bài, theo kiểu văn bản cụ thể
Chương trình từng phân môn với cấu trúc chung là cung cấp trithức mới (nội dung lí thuyết), luyện tập, ôn tập tổng kết, chươngtrình địa phương, hoạt động Ngữ văn Chương trình này tạo điềukiện cho người dạy tổ chức hình thức học tập tích cực bằng cáchoạt động trò chơi: Các trò chơi cho từng bài học của mỗi phânmôn, trò chơi cho một cụm bài, trò chơi cho bài ôn tập tổng kết,trò chơi cho bài chương trình địa phương, trò chơi cho bài hoạtđộng Ngữ văn
Sách giáo khoa có cấu trúc theo đơn vị bài học tuần; mỗi bài họccủa từng phân môn đều có thể đưa trò chơi vào để tạo điều kiệncho học sinh “học vui” ở các thời điểm khác nhau trong giờ dạy:thời điểm khởi động, thời điểm chiếm lĩnh các đơn vị nội dungbài học, thởi điểm củng cố, thời điểm luyện tập
Như vậy, người giáo viên hoàn toàn có thể thiết kế các trò chơi học tập theo sát nội dung chương trình và sách giáo khoa phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ tổ chức hoạt động nhận thức bài học cho học sinh đạt hiệu quả cao.
Trang 252.2 Xây dựng các loại trò chơi học tập tương ứng với các mục đích dạy học trong bài học Ngữ văn
2.2.1 Các loại trò chơi học tập tương ứng với các mục đích dạy học trong bài học Ngữ văn
Muốn xây dựng một trò chơi học tập cho một bài học, trước hết ngườigiáo viên cần phải dựa trên mục tiêu bài học cần đạt được những chuẩnkiến thức, kĩ năng và thái độ gì Trên cơ sở mục tiêu bài học mà nảy sinh ytưởng trò chơi học tập cho bài học đó như thế nào? Trò chơi được tổ chứcvào thời điểm nào: khởi động, củng cố hay luyện tập? Vào mỗi thời điểmkhác nhau sẽ chọn hình thức trò chơi khác nhau (tùy theo phân môn)
Dựa trên các mục đích dạy học dạy học trong bài học Ngữ văn của baphân môn, có thể có các loại trò chơi tương ứng: 1 Trò chơi khởi động 2.Trò chơi chiếm lĩnh tri thức mới 3 Trò chơi luyện tập, 4 Trò chơi củng cố
Khởi động bằng trò chơi là một phương thức dắt dẫn học sinh một cách
có y thức, có mục đích đi vào tri thức mới hay một hoạt động dạy học; làkhâu mở đường, bắt đầu của dạy học trên lớp Mục đích là : Dẫn vào bàihọc, nối liền cũ với mới, gợi y học sinh, kích thích hứng thú, làm rõ mụcđích, ngầm báo động cơ, tạo ra không khí học tập, xây dựng tình cảm…Khởi động tốt có thể đốt cháy lên nguồn hứng thú vô tận, mở ra cánh của đitìm chân lí và sự hiểu biết, tiếp thêm sức mạnh để giảng giải bài học
Tác dụng của trò chơi khởi động là kích thích ham muốn đi tìm chân lí
và hứng thú học tập của học sinh; là hướng dẫn thông qua trò chơi để gợi,phát động, động viên tinh thần học sinh, sự hướng dẫn kịp thời làm cho sựtìm tòi và lòng đam mê của các em được nâng lên theo hướng đã được dựđoán trước của giáo viên, từ đó đưa học sinh vào quỹ đạo học tập có hiệuquả; là đặt nền móng để điều khiển cả quá trình dạy học là sự nắm vữngtổng thể nội dung bài học
Đặc trưng thứ nhất của trò chơi khởi động là tính mở đường Một mặt làđưa học sinh vào không khí lớp học bình thường, mặt khác lại dẫn học sinhhướng đến tương lai Trong tâm hồn các em dần hiểu được suy nghĩ và mụcđích của trò chơi, của lời dẫn mà giáo viên nói trên lớp Kĩ năng khởi độngbằng trò chơi có sự hài hòa thống nhất giữa khoa học và nghệ thuật
Đặc trưng thứ hai của trò chơi khởi động là tính khái quát Tính kháiquát biểu hiện chủ yếu là do hình thức ngắn gọn của lời dẫn quyết định Lờidẫn cần phải súc tích, khái quát cao, lời gọn y sâu, lấy ít tổng kết nhiều Nộidung cần khái quát, cô đọng, thăng hoa nhưng vẫn phải phong phú Sựphong phú và tinh luyện của nội dung, sự tinh tế và ngắn gọn của ngôn ngữlàm cho tính khái quát của lời dẫn tự nhiên hiển hiện ra
Đặc trưng thứ ba của trò chơi khởi động là tính định hướng Tính địnhhướng quyết định bởi điều khiển, tác dụng thống lĩnh của lời dẫn
Trang 26Các trò chơi khởi động cần đáp ứng được 5 yêu cầu sau:
1 Làm nổi bật tính mũi nhọn của đối tượng Dạy học trên lớp là lấy hìnhảnh của giáo viên, cùng ngôn ngữ hữu thanh và ngôn ngữ vô thanh củamình để tác dụng trực tiếp vào học sinh Chất lượng dạy học quyết định bởi
sự cố gắng chung của giáo viên và học sinh Cần chuẩn bị kiến thức songsong với chuẩn bị học sinh trước khi bước vào dạy học Mũi nhọn ở đâychính là sự chuẩn bị học sinh về mọi mặt mà hướng sự đáp ứng của mìnhvào mong muốn, nhu cầu , tiếng nói của người học, tình hình và trạng tháitâm lí của họ
2 Làm nổi bật tính quan hệ của nội dung Làm nổi bật tính quan hệ củanội dung là khi vận dụng ntrof chơi khởi động phải nối liền hoặc chỉ rõ ,hoặc ám thị, hoặc đặt nền móng cho kiến thức ở phần sau một cách côngkhai hoặc ngấm ngầm chứ không thể để trò chơi đó tác rời, không liên quan
gì tới nội dung bài giảng
3 Làm nổi bật tính đơn giản, dễ hiểu của ngôn ngữ Cần thiết kế trò chơiđơn giản, dễ hiểu, trong sáng Ngôn ngữ đạt tới giản dị mà phong phú, ngắngọn mà sáng rõ, lời gọn y sâu, rõ ràng thấu triệt, cho học sinh cảm giác lưuloát dễ hiểu
4 Làm nổi bật tính đa dạng của phương thức Khi thiết kế trò chơi cần đadạng hóa hình thức, tránh lặp đi lặp lại một hình thức trò chơi Nếu như vậy
sẽ sinh đơn điệu, nhàm chán Giaos viên phải xuất phát từ thực tế, ứng biếnlinh hoạt, sẵn sàng thay đổi, nhiều màu nhiều vẻ, đổi mới hình thức, trẻtrung sôi động Điều này yêu cầu giáo viên khi thiết kế phải liên hệ chặt chẽnội dung bài học với thực tế kiến thức mới, dựa theo nhu cầu “tùy theo nhucầu mà chọn hình thức” Mỗi trò chơi có một đặc điểm, độ nông sâu khácnhau, cho dù là cùng một dạng thức, về mặt vận dụng cũng đòi hỏi nhiềubiến hóa, mạng nhiều y mới Hơn nữa phải mạnh dạn sáng tạo và dám thayđổi
5 Làm nổi bật tính thú vị của nghệ thuật Do vị trí của trò chơi là mở đầucủa quá trình dạy học trên lớp nên nó sẽ thổi lên ngọn lửa đam mê và hưngphấn để đốt cháy tinh thần học tập của học sinh, làm cho không khí lớp sôinổi, điều này rất có lợi chon các khâu dạy học về sau Do có tác dụng thốnglĩnh và định điệu, nên nhấn mạnh tính thú vị có nghĩa là bắt dầu đã đem lạicho bài học sự vui vẻ, thú vị, làm cho học sinh học tập kiến thức mới trongtâm trạng vui vẻ và phấn chấn
Trò chơi khởi động cần rất ít thời gian để thực hiện, nhưng đem lại chohọc sinh nhiều cơ hội tham gia tích cực vào việc học, hỗ trợ hiệu quả sự hàohứng tích cực học tập, phát triển các kĩ năng ngôn ngữ của học sinh
Thời điểm khởi động bài học có thể tổ chức các trò chơi như: ô chữ,
đóng vai, tranh tài nhóm nhỏ, đố vui, ai nhanh ai giỏi
Minh họa về các trò chơi khởi động có thể vận dụng trong dạy học Ngữvăn: (xem Phụ lục 1)
2.2.1.2 Trò chơi chiếm lĩnh nội dung bài học
Nội dung bài học của mỗi phân môn được chia ra thành những đơn vịkiến thức của bài học Mỗi đơn vị kiến thức của bài học phân môn có tính
Trang 27tương đối độc lập và có mối quan hệ mật thiết với các đơn vị kiến thức kháctrong bài học Với từng đơn vị kiến thức cụ thể, người giáo viên có thể tìmtòi, lựa chọn, mạnh dạn tổ chức thành trò chơi để học sinh tham gia hoạtđộng học một cách tích cực, tự giác Giờ đọc hiểu có thể cho học sinh chơitrò chơi đóng vai, kể chuyện diễn cảm theo đoạn (văn bản tự sự), truyền tin(ghi nhớ những giá trị tiêu biểu về nội dung, nghệ thuật) Giờ tiếng Việt vàtập làm văn có thể tổ chức nhiều hình thức trò chơi trên cơ sở các câu hỏitìm hiểu, khám phá bài học như: Trèo cây hái quả, ai nhanh ai giỏi, ngôi saomay mắn, Chinh phục đỉnh cao, truyền tin,….
Đặc trưng thứ nhất của trò chơi chiếm lĩnh nội dung bài học là tínhchuyên sâu Một mặt là đưa học sinh vào không khí lớp học bình thường,mặt khác lại dẫn học sinh đi sâu vào khám phá những nội dung cụ thể củabài học Phân môn Văn: Khám phá những yếu tố hình thức phù hợp với nộidung của văn bản, khám phá sự tái tạo tác phẩm của học sinh, khám pháthái độ của tác giả đối với nhân vật, đối với vấn dề được nói tới trong vănbản… Phân môn Tiếng Việt: phân tích từng nhóm ngữ liệu, củng cố địnhnghĩa khái niệm Phân môn Tập làm văn: Phân tích mẫu quan sát, phân tíchcác vấn đề đặt ra trong các mẫu quan sát, củng cố các vấn đề cơ bản của bàihọc….Trong tâm hồn các em dần hiểu được suy nghĩ và mục đích của tròchơi, của lời dẫn dắt mà giáo viên nói trên lớp Kĩ năng chiếm lĩnh nội dungbài học được tổ chức thông qua trò chơi có sự hài hòa thống nhất giữa khoahọc và nghệ thuật
Đặc trưng thứ hai của trò chơi chiếm lĩnh nội dung bài học là tính kháiquát Tính khái quát biểu hiện chủ yếu là do hình thức ngắn gọn của tròchơi nhằm khái quát kiến thức, neo nhẫn những trọng tâm kiến thức và yêucầu thuộc bài ngay tại lớp quyết định Trò chơi cần phải ngắn gọn, kháiquát cao, lời gọn y sâu, lấy ít tổng kết nhiều Nội dung trò chơi cần kháiquát, cô đọng, thăng hoa nhưng vẫn phải phong phú Sự phong phú và tinhluyện của nội dung, sự tinh tế và ngắn gọn, dễ thực hiện làm cho tính kháiquát của nó tự nhiên hiển hiện ra
Các trò chơi chiếm lĩnh nội dung bài học cần đáp ứng những yêu cầusau:
1 Làm nổi bật nội dung trọng tâm của bài học Dạy học trên lớp là lấy hìnhảnh của giáo viên, cùng ngôn ngữ hữu thanh và ngôn ngữ vô thanh củamình để tác dụng trực tiếp vào học sinh Dạy học trên lớp theo định hướngdạy học tích cực còn là cách giáo viên tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh kiếnthức, kĩ năng sao cho việc học được sâu sắc, hiểu quả mà lại hứng thú, nhẹnhàng Một hình thức tổ chức để góp phần đa dạng hóa cách dạy học là tổchức học qua trò chơi Chất lượng dạy học quyết định bởi sự cố gắng chungcủa giáo viên và học sinh Cần chuẩn bị kiến thức, kế hoạch dạy học songsong với chuẩn bị học sinh trước khi bước vào dạy học Mũi nhọn ở đâychính là sự chuẩn bị học sinh về mọi mặt mà hướng sự đáp ứng của mìnhvào mong muốn, nhu cầu, tiếng nói của người học, tình hình và trạng tháitâm lí của họ
Trang 282 Làm nổi bật tính quan hệ của nội dung Làm nổi bật tính quan hệ củanội dung là khi vận dụng trò chơi phải nối liền hoặc chỉ rõ, hoặc ám thị,hoặc đặt nền móng cho kiến thức ở phần tiếp sau một cách công khai hoặcngấm ngầm chứ không thể để trò chơi đó tách rời, không liên quan gì tớinội dung bài giảng.
3 Làm nổi bật tính đa dạng của phương thức trò chơi Khi thiết kế trò chơicần đa dạng hóa hình thức, tránh lặp đi lặp lại một hình thức trò chơi, đemlại cho bài học sự vui vẻ, thú vị, làm cho học sinh học tập kiến thức mớitrong tâm trạng vui vẻ và phấn chấn
Thời điểm chiếm lĩnh nội dung bài học có thể tổ chức các trò chơi như:
tranh tài nhóm nhỏ, ai nhanh ai giỏi, làm giàu vốn từ, cùng tạo câu, lấp đầykhoảng trống, hợp sức đồng đội, trèo cây hái quả, thử tài hái hoa, tra từđiển, chinh phục đỉnh cao, mẹ yêu mùa nào, em biết – em làm, tuyển biêntập viên, thi hùng biện, thi tuyển hướng dẫn viên du lịch, kể chuyện diễncảm
Minh họa về các trò chơi chiếm lĩnh nội dung bài học có thể vận dụngtrong dạy học Ngữ văn: (xem Phụ lục 2)
2.2.1.3 Trò chơi luyện tập
2.2.1.3.1 Trò chơi phần luyện tập trong một bài học
Dạy học theo hai công đoạn là công đoạn hình thành tri thức mới vàcông đoạn luyện tập thực hành Phần thực hành nhằm mục đích củng cố,khắc sâu lí thuyết cụ thể hóa những tình huống thực tiễn có liên quan tớivấn đề đang được đề cập Các trò chơi học tập ở phần luyện tập có thể đượcxây dựng trên cơ sở chuyển những bài tập luyện tập sang hình thức trò chơithích hợp hoặc xây dựng trò chơi có nội dung tích hợp với vấn đề đangđược đề cập trong bài học
Đặc trưng của trò chơi luyện tập là hình thành và rèn luyện kĩ năng chohọc sinh Những kĩ năng bộ phận cần được hình thành sau khi nắm được líthuyết bài học gắn với nội dung bài học cụ thể Những kĩ năng bộ phận nàyđều tập trung vào việc nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh
Yêu cầu của trò chơi phần luyện tập là củng cố lí thuyết và hình thànhcác kĩ năng cho học sinh ở các mức độ khác nhau: nhớ biết, thông hiểu, vậndụng thấp - cao
Thời điểm luyện tập có thể tổ chức các trò chơi như: Trò chơi làm giàu
vốn từ, cùng tạo câu, lấp đầy khoảng trống, hợp sức đồng đội, ai nhanh aigiỏi, trèo cây hái quả, thử tài hái hoa, lật tranh ghép hình, đối mặt, xử lí tìnhhuống, đuổi hình bắt chữ, thả thơ, chinh phục đỉnh cao, đấu trường, sưu tầmkiến thức, tập làm thơ, ngôi sao may mắn, kể chuyện diễn cảm, viết tiểuphẩm, chuyển thể thơ, đố vui
Minh họa về các trò chơi luyện tập trong bài học có thể vận dụng trongdạy học Ngữ văn: (xem Phụ lục 3)
2.2.1.3.2.Trò chơi luyện tập trong giờ ôn tập, tổng kết cụm bài
Nhóm bài này thường được bố trí vào cuối học kì hoặc cuối năm học, sốlượng bài không nhiều nhưng kiểu bài học này chiếm một vị trí quan trọngtrong chương trình Mục đích của kiểu bài nhằm hệ thống lại kiến thức, kĩ
Trang 29năng của một vấn đề, một cụm bài, một mảng kiến thức, một phân mônđược học trong một thời gian dài.
Trò chơi dành cho bài ôn tập tổng kết thường nhằm hệ thống lại kiếnthức, kĩ năng một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng Việc hệ thống đó có sựtham gia của nhiều học sinh, tạo ra không khí thi đua học tập giữa cá nhânvới cá nhân, giữa nhóm với nhóm…
Giáo viên có thể tổ chức giờ học ôn tập tổng kết đó thành một giờ “họcvui” theo chủ đề Nghĩa là có thể liên kết các trò chơi thành một chươngtrình, phục vụ cho việc ôn lại kiến thức, kĩ năng hợp lí có hiệu quả nhất
Minh họa về các trò chơi dành cho bài ôn tập, tổng kết có thể vận dụngtrong dạy học Ngữ văn: (xem Phụ lục 4)
2.2.1.4 Trò chơi củng cố bài học
Kết thúc quá trình dạy học cần có sự tương ứng với mở đầu bài học tạonên “ đầu vĩ viên hợp” Nghệ thuật dạy học cũng đòi hỏi một quá trình hoànchỉnh Trò chơi được thực hiện vào thời điểm này có giá trị khẳng định lạicác nội dung chính đã học của bài học Lúc này toàn bộ kiến thức sẽ đượcquy nạp, tổng kết và nâng lên; đồng thời còn phải kéo dài, khai thác và pháttriển, chuyển tiếp đến kiến thức mới Hoặc là đem kiến thức mới đã họcbiến thành kĩ năng thực tiễn Người giáo viên trong dạy học cần đặc biệtchú y khâu củng cố vì đây là khâu thu hoạch, khâu thăng hoa, khâu khaithác và phát triển
Kĩ năng kết thúc phải là phương thức hành vi kết thúc nhiệm vụ dạy họccủa giáo viên thông qua các hoạt động dạy học như quy nạp tổng kết, thựctiễn sáng tạo cái mới, chuyển hóa thăng hoa…Nó có thể làm cho học sinhkịp thời tiến hành hệ thống hóa, củng cố và vận dụng kiến thức đã họckhiến cho kiến thức mới hòa vào kết cấu nhận thức vốn có một cách hữuhiệu
Tác dụng của trò chơi củng cố bài học là tổng kết, làm rõ mục đích bàihọc, củng cố kiến thức thăng hoa lên cao và khai thác phát triển sáng tạo cáimới Phần bài học ở trên là hình thành kiến thức mới thì đến đây là kếtthúc: Tổng kết lại nội dung đã giảng ở phần trước khiến cho những gì chưamạch lạc trở nên mạch lạc, chưa hệ thống trở nên hệ thống, rõ ràng, nổi bật.Khi củng cố, giáo viên luôn phải chỉ rõ, chính xác và thích đáng, tổng kếtkhái quát, điểm ra một cách tập trung Từ đó khiến học sinh nắm được ynghĩa chính, thu được cái tinh túy
Củng cố kiến thức là tiến hành thu gọn, tổng kết và làm mạch lạc nhữngkiến thức đã giảng và nội dụng bài học Từ đó khiến học sinh thu được ynghĩa quan trọng và những gì tinh túy Nội dung củng cố nhấn mạnh vànêu bật không phải là lặp lại và giải thích một cách giản đơn đối với nhữngkiến thức đã học trong bài mà là tái hiện và ứng dụng, cường hóa và nêu bậtmột kiểu ôn tập Trong nội dung củng cố đã có luyện tập Và chính điều nàylàm nảy sinh mĩ cảm trong lòng người học
Tác dụng của kết thúc, đồng thời với việc củng cố kiến thức đã có cônghiệu thăng hoa nâng cao Nghĩa là không chỉ làm cho người học nắm vững
Trang 30kiến thức mà là nhận thúc và đột phá mới, đạt được ở trình độ hiểu biếtmới.
Trò chơi củng cố kiến thức được tổ chức vào thời điểm: giờ đọc hiểu làsau phần tổng kết, giờ tiếng Việt và tập làm văn là sau phần ghi nhớ
Thời điểm củng cố bài học có thể tổ chức các trò chơi như: Trò chơi
làm giàu vốn từ, cùng tạo câu, lấp đầy khoảng trống, hợp sức đồng độ, ainhanh ai giỏi, trèo cây hái quả, thử tài hái hoa, lật tranh ghép hình, đối mặt,
xử lí tình huống, đuổi hình bắt chữ, truyền tin, thả thơ, chinh phục đỉnh cao,đấu trường
Minh họa về các trò chơi dành cho phần củng cố bài học có thể vận dụngtrong dạy học Ngữ văn: (xem Phụ lục 5)
2.2.1.5 Ngoại khóa Ngữ văn
Hoạt động ngoại khoá môn Ngữ văn có một vai trò, vị trí rất quan trọng.
Hoạt động ngoại khoá là hình thức học tập Ngữ văn ngoài giờ lên lớp Nó đóngvai trò quan trọng trong việc tạo ra những hình thức học tập sing động, đa dạng,phong phú và góp phần nâng cao chất lượng Môn Ngữ văn
Tham gia hoạt động ngoại khoá Ngữ văn, HS có điều kiện sử dụng Tiếng Việttrong nhiều goàn cảnh giao tiếp khác nhau Các cuôc thi về Tiếng Việt giúp các
em hiểu sâu hơn kiến thức ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…và ứng dụng chúng linhhoạt với tốc độ nhanh Tham gia viết báo tường, sáng tác văn học, HS có điềukiện rèn luyện năng lực sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật để giãi bày tình cảm, xâydựng các hình tượng văn học.Các cuộc lửa trại, sân khấu… tạo điều kiện cho HSphát triển và trau dồi ngôn ngữ nói Chính những hoạt động ngoại khoá muônmàu muôn vẻ đó đã đặt HS vào nhiều tình huống giao tiếp , nhờ đó tiếng Việtcủa các em trở nên sinh động, có khả năng diễn tả ý nghĩ, tình cảm, mongmuốn… của các em một cách tự nhiên, hồn nhiên, chân thực và hấp dẫn Theoquan điểm dạy tiếng thông qua hoạt động giao tiếp, tổ hợp các hình thức họcchính khoá, ngoại khoá Ngữ văn mới thực sự tạo nên một môi trường học tậpđầy đủ, hài hoà, trọn vẹn Chúng bổ sung cho nhau, thúc đẩy sự phát triển thực
sự năng lực ngôn ngữ cho HS
Yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản của ngoại khóa Ngữ văn: Góp phần phát triển bốn
kĩ năng sử dụng Tiếng Việt và củng cố, khắc sâu các tri thức Tiếng Việt, Vănhọc; góp phần khơi dậy và nuôi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Việt, Văn học
Hoạt động ngoại khoá Ngữ văn ở truờng THCS được tuân thủ theo bốn
nguyên tắc:
a Nguyên tắc gắn với đời sống trong hoạt động ngoại khoá.
Hoạt động ngoại khoá Ngữ văn không chỉ thu hẹp ý nghĩa trong việc gắnvới đời sống của việc dạy Ngữ văn Nó bao hàm một phạm vi rộng lớn, đó là sựvận dụng tri thức và kinh nghiệm cũng như năng lực Ngữ văn vào hoạt độngnhận thức và sáng tạo nghệ thuật ngoài giờ học Thực chất hoạt động ngoại khoá
là tiếp tục thức hiện việc giáo dục thẩm mĩ để hình thành và phát triển nhân cáchthẩm mĩ cho HS
Hoạt động ngoại khoá phải giữ mối liên hệ sinh động với văn hoá, văn nghệngoài xã hội, đồng thời không thể tách rời chính khoá
Trang 31b Nguyên tắc phối hợp trong hoạt động ngoại khoá: Phối hợp GV – HS, HS
– HS trên cơ sở tham gia cùng một nhiệm vụ ; phối hợp nhà trường với văn nghệ
sĩ, nhà lí luận phê bình, nhà sư phạm có uy tín, nhà đạo diễn và các cơ quanngoài nhà trường…
c Nguyên tắc tự nguyện trong hoạt động ngoại khoá: HS tham gia tự nguyện
theo sở trường, sở đoản; HS tham gia cổ vũ, rút kinh nghiệm,…
d Chủ động, sáng tạo trong hoạt động ngoại khoá: Tăng cường cho HS chủ
động đề xuất, tham gia hoạt động sáng tạo
Có nhiều các hình thức hoạt động ngoại khoá Ngữ văn.
Các hình thức hoạt động ngoại khoá Ngữ văn trong phạm vi lớp học, trường học:
- Báo tường
- Thi sáng tác thơ, văn, kịch
- Thi đọc thơ, ngâm thơ, kể chuyện…
Các hình thức hoạt động ngoại khoá Ngữ văn ngoài nhà trường:
- Tham quan bảo tàng, mộ chí, quê hương, di cảo nhà văn
- Thăm và gặp gỡ các tác giả có tên trong sách Ngữ văn
- Hoạt động giới thiệu sách mới, toạ đàm văn học, xây dựng tủ sách, viết báo cáo
về tiểu sử và sự nghiệp nhà văn
- Hoạt động nghệ thuật nghiệp dư của HS: tạo hình, sáng tác, khéo tay hay làm,sân khấu, điện ảnh, múa…
- Toạ đàm về văn học nghệ thuật, mời các tác giả có tên trong nhà trường về nóichuyện, hội nghị độc giả, tổ chức văn nghệ…
Thông thường tiết ôn tập, tổng kết GV có thể tổ chức thành một ngoại khóatheo chủ đề
Ví dụ minh họa về chương trình ngoại khóa theo chủ đề (xem phụ lục 6)
Các loại trò chơi học tập tương ứng với các mục đích dạy học trong bài học Ngữ văn
1 Trò chơi khởi động
2 Trò chơi chiếm lĩnh nội dung bài học
3 Trò chơi luyện tập 3.1 Trò chơi phần luyện tập trong một bài học 3.2.Trò chơi luyện tập trong giờ ôn tập, tổng kết cụm bài
Trang 324 Trò chơi củng cố bài học
5 Ngoại khóa Ngữ văn
2.2.2 Thiết kế trò chơi học tập môn Ngữ văn
2.2.2.1 Hệ thống câu hỏi trong trò chơi học tập môn Ngữ văn
Các loại trò chơi được xây dựng trên cơ sở hệ thống câu hỏi Thôngqua hệ thống câu hỏi trong trò chơi mà giúp phát triển kĩ năng suy nghĩ củahọc sinh Hệ thống câu hỏi bao gồm câu hỏi ở các mức độ nhận thức, kĩnăng khác nhau Hệ thống câu hỏi là nội dung học tập chuyển thành câuhỏi, được tổ chức hoạt động dưới dạng trò chơi Trên cở sở hệ thống câuhỏi mà định hình hình thức trò chơi
Loại câu hỏi khuyến khích học sinh suy nghĩ về các y nghĩa và khám phásâu sắc bài học, bài đọc cần được sử dụng nhiều Kĩ năng nghe, nói, đọc, viếtcủa học sinh chỉ có thể được phát triển khi giáo viên sử dụng nhiều loại câuhỏi thuộc nhiều mức độ suy nghĩ khác nhau Giáo viên không nên chỉ hỏi họcsinh các câu hỏi yêu cầu học sinh tìm kiếm các thông tin có sẵn trong bài –các câu hỏi này không thể cho thấy học sinh hiểu được những gì các em đang
học, đang đọc hay không Bảng phân loại câu hỏi của Bloom có thể được
xem như một bảng hướng dẫn cách đặt câu hỏi ở các mức độ suy nghĩ khácnhau Học sinh cần có khả năng vận dụng kĩ năng suy nghĩ để thể hiện sự hiểubiết của các em về bài học, bài đọc Ví dụ dạy phần đọc hiểu, giáo viên đặtcâu hỏi phải làm sao để học sinh suy nghĩ về y nghĩa của văn bản đọc Giáoviên nên có các câu hỏi hướng suy nghĩ của các em về y nghĩa văn bản (chủ
đề, tư tưởng chủ đề của văn bản) Giáo viên cần suy nghĩ cách đặt câu hỏi chohọc sinh khi đọc văn bản
Câu hỏi của bạn có khuyến khích học sinh suy nghĩ sâu sắc hay không – hay bạn chỉ đặt câu hỏi dựa trên các thông tin có sẵn trong bài?
Giáo viên cần dựa vào Bảng phân loại câu hỏi của Bloom và suy nghĩ làm
thế nào có thể đưa ra câu hỏi thử thách học sinh suy nghĩ Cố gắng xây dựngcâu hỏi theo bảng hướng dẫn này và vận dụng chúng với học sinh Nếu chúng
ta muốn thúc đẩy các em học tập chủ động, hãy tạo điều kiện cho các em pháttriển khả năng suy nghĩ
Câu hỏi nhận biết: HS nhớ các khái niệm cơ bản của môn học, có thể nêu
hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu
Ví dụ:
Câu 1 Bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm là bài văn như thế nào?
A Miêu tả là chính, tự sự và biểu cảm là thứ yếu
B Tự sự là chính có đan xen miêu tả và biểu cảm
C Biểu cảm là chính, có đan xen tự sự và miêu tả
D Thuyết minh là chính, có đan xen tự sự , miêu tả và biểu cảm
Câu 2 Các từ nào dưới đây là từ tượng thanh?
A Tàn nhẫn
B Mạnh mẽ
C Lộp độp
Trang 33D Kì quặc
Câu hỏi thông hiểu: Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản của môn học và có
thể vận dụng được chúng khi chúng được thể hiện theo cách tương tự nhưcách giáo viên đã giảng dạy hoặc theo các ví dụ tiêu biểu của khái niệm đó
Ví dụ :
Câu 1 Từ „nhưng” trong câu: „ Nhưng Giôn-xi không trả lời” có vai trò gì?
A làm dấu hiệu xuất hiện câu chủ đề của đoạn
B Triển khai đoạn, triển khai y
C Liên kết y giữa hai đoạn văn
D Đánh dấu một vấn đề được kết thúc
Câu 2 Các từ : „gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi” thuộc trường từ vựng nào dưới đây?
A Chỉ tính cách của con người
B Chỉ trình độ của con người
C Chỉ thái độ cử chỉ của con người
D Chỉ hình dáng của con người
Câu hỏi vận dụng ở cấp độ thấp: Học sinh có thể hiểu được khái niệm ở
cấp độ cao của thông hiểu, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơbản của môn học và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đãđược trình bày giống với bài giảng của giáo viên hoặc sách giáo khoa
Ví dụ:
Viết một đoạn văn diễn dịch hoặc quy nạp (từ 7 đến 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của Ô.Hen-ri
Câu hỏi vận dụng ở mức độ cao hơn: Học sinh có thể sử dung các khái
niệm về môn học – chủ đề để giải quyết các vấn đề mới, không giống vớinhững điều đã được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa nhưng phùhợp khi được giải quyết với kiến thức và kĩ năng được giảng dạy ở mức độnhân thức này Đây là những vấn đề giống với các tình huống học sinh sẽgặp ngoài xã hội
Dạng câu hỏi tự luận: Có khả năng rèn kĩ năng nói, đánh giá được khả
năng diễn đạt, đặc biệt là diễn đạt theo tư duy hình tượng, tạo cơ hội đểngười học phát huy tính sáng tạo trí tuệ và cảm xúc
Các dạng câu hỏi tự luận:
1 Tóm tắt một văn bản đã học
Trang 342 Nêu hệ thống nhân vật, đề tài, chủ đề của một tác phẩm đã học
3 Thuyết minh về một tác giả, tác phẩm, một thể loại văn học
4 Thuyết minh về một hiện tượng, sự vật (sử dụng miêu tả và các biệnpháp nghệ thuật)
5 Viết một văn bản hành chính - cơng vụ …
6 Chép lại chính xác một đoạn thơ đã học
7 Sắp xếp các sự việc trong một tác phẩm theo đúng thứ tự
8 Thống kê tên các tác phẩm viết cùng một đề tài, cùng một giai đoạn
9 Phân tích ,cảm thụ một tác phẩm văn học
10 Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật hoặc một tác phẩm văn học
11 Nghị luận về một vấn đề (Nội dung hoặc Nghệ thuật) trong tác phẩmvăn học
12 Phân tích, suy nghĩ (nghị luận)… về một nhân vật trong tác phẩm vănhọc
13 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
14 Nghị luận về một sự việc, hiện tượng cĩ thật trong cuộc sống
15 Kể một câu chuyện cĩ thật trong cuộc sống hoặc theo tưởng tượng, sángtạo của cá nhân
16 Suy nghĩ về ý nghĩa của một câu chuyện
17 Cho một câu chủ đề (câu chốt) yêu cầu phát triển thành một đoạn văn
cĩ độ dài giới hạn, theo một trong ba cách diễn dịch, quy nạp, tổng phânhợp
18 Cho một đoạn văn bản, yêu cầu HS tìm câu chủ đề và chỉ ra cách pháttriển của đoạn văn đĩ
19 Phân tích và bình luận về ý nghĩa của nhan đề một tác phẩm nào đĩ
20 So sánh hai tác phẩm, hai nhân vật hoặc hai chi tiết trong văn học
21 Nhận diện và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ nào đĩ trongmột đoạn văn, thơ cụ thể
22 Viết mở bài hoặc kết luận cho một đề văn cụ thể
…v.v
Ví dụ về trị chơi với câu hỏi tự luận: Trị chơi “Ai nhanh ai giỏi”
dùng cho bài Ơn tập truyện dân gian:
GĨI 1 NHÂN VẬT
Câu 1 Hãy kể tên của 4 vị “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian người
Việt?
Đáp án: Đức Thánh Tản, Chữ Đạo Tổ (Chữ Đồng Tử), Đức Thánh Giĩng
(Thánh Giĩng), Mẫu Liễu Hạnh ( Liễu Hạnh)
Câu 2 Theo truyền thuyết “An Dương Vương Mị Châu Trọng Thuỷ” ai
đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa?
Đáp án: Rùa vàng (thần Kim Quy)
Câu 3 Ai là người làm ra bánh chưng, bánh giày để dâng lên vua Hùng?
Đáp án: Lang Liêu
Trang 35Câu 4 “Cậu bé 3 tuổi” ra trận giúp vua Hùng đánh đuổi giặc Ân là ai?
Đáp án: Thánh Gióng
Câu 5 Cuộc gặp gỡ giữa Tiên - Rồng trong truyền thuyết Con Rồng Cháu
Tiên là chỉ 2 nhân vật nào?
Đáp án: Lạc Long Quân - Âu Cơ
Gói 2 CHI TIẾT NGHỆ THUẬT
Câu 1 Thạch Sanh đã lập bao nhiêu chiến công?
Đáp án: Giết chằn tinh, bắn đại bàng cứu công chúa, diệt hồ tinh cứu con
vua Thủy Tề, đánh tan quân18 nước chư hầu.
Câu 2 Hình ảnh nào trong truyền thuyết An Dương Vương minh oan cho
Mị Châu ?
Đáp án: Trai sò ăn phải máu Mị Châu đều biến thành ngọc châu.
Câu 3 Lạc Long Quân thực hiện lời hứa giúp đỡ mẹ con Âu Cơ, cũng có
nghĩa là tổ tiên luôn luôn phù hộ các thế hệ con cháu dựng nước, giữnước thể hiện ở tình tiết nào trong « Truyền thuyết về Hồ Gươm »?
Đáp án: Tình tiết Lạc Long Quân cho mượn gươm và đòi gươm.
Câu 4: Hãy kể tên những lễ vật mà vua Hùng Vương thứ 18 thách cưới đối
với Sơn Tinh và Thủy Tinh
Đáp án: Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.
Câu 5 Tại sao các thầy bói trong truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” lại
nói về hình dạng con voi khác nhau?
Đáp án: Vì các thầy bói bị mù.
GÓI 3 PHÂN TÍCH CHI TIẾT
Câu 1 Hình ảnh niêu cơm ăn mãi không hết có y nghĩa gì?
Đáp án: Hình ảnh niêu cơm là biểu hiện của tình thương, y thức tiết kiệm,
lòng nhân ái, khát vọng đoàn kết để các dân tộc sinh sống hòa bình, yên ổn làm ăn
Câu 2 Vì sao Thánh Gióng lại bay lên trời cao, còn An Dương Vương lại
đi xuống biển sâu?
Đáp án: Thể hiện thái độ của tác giả dân gian: Thánh Gióng là biểu tượng
cho sự chiến thắng, còn An Dương Vương lại để mất nước
Câu 3 Kết thúc truyện Thánh Gióng, tác giả dân gian xây dựng hình ảnh
Gióng bay lên trời từ đỉnh Sóc Sơn là có dụng y gì? Tại sao không để
Trang 36Gióng về Phong Châu nhận tước phong của vua, hoặc chí ít cũng về quêchào mẹ già đang mỏi mắt chờ đợi?
Đáp án: Nó chứng tỏ Gióng coi hoàn thành nhiệm vụ tự nguyện là quan
trọng nhất Gióng không bơn chút công danh Gióng là con của thần, củatrời thì nhất định Gióng phải về trời, trả lại cho người áo giáp sắt, nón sắt,
Câu 4 Sự thiên vị của Vua Hùng đối với Sơn Tinh thể hiện thái độ của
nhân dân như thế nào trước tự nhiên?
Đáp án: Sự thiên vị của vua Hùng phản ánh thái độ của người Việt cổ đối
với núi rừng và lũ lụt Lũ lụt là kẻ thù chỉ mang lại tai họa Rừng núi là quêhương là lợi ích, bè bạn, ân nhân
Câu 5 Vì sao địa điểm trả gươm lại ở hồ Lục Thủy mà không phải ở Thanh
Hóa?
Đáp án: Nơi phát tích mở đầu khởi nghĩa là ở Lam Sơn Thanh Hóa còn nơi
kết thúc cuộc kháng chiến lại chính ở Đông Đô Nếu để nơi nhận và trả
kiếm cùng một chỗ thì không hợp lí và đơn điệu Nhận gươm ở xứ Thanh,
quê hương Lê Lợi, hoàn kiếm ở hồ Tả Vọng là ở thủ đô, trung tâm chính trị văn hóa là mở ra một thời kì hòa bình, lao động xây dựng
GÓI 4 YẾU TỐ THẦN KÌ
Câu 1 Kể tên các yếu tố thần kì dạng người trong truyện cổ ?
Đáp án: Tiê, Bụt, bà Chằng, Ngọc Hoàng, mụ Phù thủy
Câu 2 Kể tên các yếu tố thần kì dạng loài vật trong truyện cổ ?
Đáp án: Con gà, đại bàng, phượng hoàng, trằn tinh, cá bống, chim
vàng anh,
Câu 3 Kể tên các yếu tố thần kì dạng đồ vật trong truyện cổ ?
Đáp án: Búa thần, cung thần, đàn thần, bút thần, niêu cơm thần, khung cửi
Câu 4 Kể tên các yếu tố thần kì dạng cây cối trong truyện cổ ?
Đáp án: Cây xoan, cây thị
Câu 5 Kể tên các yếu tố thần kì dạng vô hình trong truyện cổ ?
Đáp án: ma quỷ
Dạng câu hỏi trắc nghiệm: Đây là các câu hỏi có tính chuyên biệt, thường
là nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi nêu một vấn đề và có những thông tin cầnthiết để HS có thể trả lời ngắn gọn Dùng câu hỏi trắc nghiệm sẽ phủ kínđược bài học, thời gian “đo” kết quả của cá nhân chơi hoặc đội chơi sẽnhanh, đảm bảo sự công bằng, khách quan, chính xác khi chơi
Có năm loại câu hỏi trắc nghiệm:
Trang 37* Câu hỏi đúng sai:
Đưa ra một nhận định, HS phải chọn 1 trong 2 phương án trả lời đúnghoặc sai (không có phương án thứ 3)
VD: Câu ghép là câu có 2 cụm C – V không bao nhau
A Đúng B Sai
* Câu hỏi điền khuyết:
Nêu một mệnh đề, một đoạn văn có khuyết một bộ phận, HS phải lựachọn nội dung thích hợp để điền vào chôc tróng
VD: Điền từ thích hợp vào chỗ trống:
Từ nhiều nghĩa là từ bao gồm cả nghiã…và nghĩa…
Trả lời: chính, chuyển
* Câu hỏi ghép đôi
Câu hỏi ghép đôi có hai phần: phần dẫn và phần trả lời Phần dẫn thường
ở bên trái, thường là các câu, các mệnh đề Phần trả lời ở bên phải, cũng làcác câu, mệnh đề mà nếu ghép đúng vào mệnh đề dẫn bên trái sẽ tạo thành
Câu trắc nghiệm đòi hỏi trả lời bằng một câu rất ngắn
VD: Hành động được thực hiện bằng lời nói được gọi là gì?
Trả lời: Hành động nói
* Câu nhiều lựa chọn:
Đưa ra một nhận định và 4-5 phương án trả lời HS phải chọn để đánhdấu vào một phương án đúng
- Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có hai phần:
+ Phần dẫn: nêu vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu câu hỏi
+ Phần sau: các phương án để chọn ( thường 4-5 phương án) đánh dấubằng chữ hoặc số
- Trong các phương án chọn chỉ một phương án đúng nhất, các phương
án còn lại chỉ có tác dụng gây nhiễu (mồi nhử) Trong khi soạn thảo, cốgắng làm cho các phương án nhiễu có vẻ “hợp lí” gần giống với phương ánđúng
VD: Trong các từ sau đây, từ nào là từ Hán – Việt?
A Hồng hào B Phúc hậu
C Tròn trĩnh D Bụ bẫm
Ví dụ về câu hỏi trắc nghiệm trong trò chơi học tập Ngữ văn: Trò chơi Chinh phục đỉnh cao bài Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự
Trang 38Bộ Câu hỏi và đáp án :
Câu 1 Khái niệm nào sau đây đúng nhất khi nói về chủ đề văn tự sự?
A Là vấn đề chủ yếu mà người viết muồn đặt ra trong văn bản
B Là câu chủ chốt của văn bản
C Là nội dung quan trọng của văn bản
C Thân bài D Kết bài
Câu 4 Tên gọi khác của thao tác xây dựng khung (sườn) cho một bài văn nói
chung và bài văn tự sự nói riêng ?
A Xác định chủ đề B Chỉnh sửa bài
C Xây dựng dàn bài D Hoàn thành bài
Câu 5 Tên gọi khác của phần giải quyết vấn đề ?
A Chứng minh B Phân tích
C Giải thích D Thân bài
Câu 6 Phần chốt lại vấn đề có tên gọi chung là gì?
A Kết bài B Kết thúc
C Kết quả D Thâu tóm vấn đề
Câu 7 Sau khi đọc xong một đoạn văn hay một bài văn ta cần:
A Nắm được nội dung của đoạn
B Xác định được chủ đề của đoạn
C Nắm được nhân vật, sự việc trong đoạn
D Kể lại được đoạn văn đó
Câu 8 Cho đoạn văn sau:
“ Thuở ấy, ở làng quê, mẹ tôi dạy những đứa trẻ vốn chỉ quen mò cua, bắt
ốc, chăn trâu, cắt cỏ Có những thằng cu nghịch ngợm và viết xấu quá, nhiều buổi tối mẹ tôi bảo cả mấy đứa đến ngồi bên Mẹ tôi đặt bàn tay thon thả xanh xao cầm lấy bàn tay nhỏ bé nhưng đã sớm khô ráp chai sần của những thằng cu ấy Mẹ tôi cầm tay học trò viết từng nét cong, nét thẳng rồi khi buông ra để học trò tự viết lấy, tôi thấy mẹ tôi khẽ mím môi, hơi thở nhẹ hẳn đi, mái đầu như đưa theo bàn tay của các em Đến khi xem lại những chữ học trò tròn trịa ngay ngắn, mẹ tôi khẽ gật đầu Rồi mẹ tôi cất tiếng đọc, một giọng thanh thoát nhẹ nhàng để trẻ con bắt chước theo Nghe học trò đọc, không thấy ngọng nữa, mẹ tôi mỉm cười trìu mến lắm”.
Trang 39Chủ đề của đoạn văn trên là:
A Bàn tay mẹ B Cử chỉ của mẹ
C Mẹ tơi D Mẹ tơi là cơ giáo
Đáp án :
(1) C; (2) B; (3)C; (4) A; (5) A; (6) D; (7) C
Có rất nhiều cách xếp loại trò chơi học tập :
Theo yêu cầu rèn kĩ năng :
- Nghe
- Nói
- Đọc
- Viết
Theo hình thức sử dụng phương tiện trị chơi:
- Trị chơi sử dụng phương tiện truyền thống
- Trị chơi dụng phương tiện máy tính và cĩ mơ phỏng truyền hình
Theo hình thức tổ chức số người tham gia trị chơi:
- Trị chơi tranh tài theo nhĩm nhỏ
- Trị chơi dành cho mọi người
Theo phân môn :
- Văn
- Tiếng Việt
- Tập làm văn
Trong đề tài này, chúng tơi xếp loại trị chơi theo mục đích sử dụng :
- Trò chơi dẫn dắt học sinh tiếp cận tri thức: trị chơi khởi động, trị chơikhám phá, chiếm lĩnh tri thức
- Trò chơi rèn kĩ năng luyện tập thực hành và củng cố kiến thức
- Trò chơi nhằm ôn tập tổng hợp và rèn óc tư duy
Cùng bộ câu hỏi đĩ cĩ thể chuyển thành nhiều trị chơi khác nhau Từ bộ
câu hỏi trong một bài học nhằm dẫn dắt học sinh tiếp cận tri thức, GV cĩthể thiết kế trị chơi Trèo cây hái quả, Thử tài hái hoa, Ngơi sao may mắn,Hợp sức đồng đội, …Từ bộ câu hỏi tổng hợp, củng cố kiến thức cho mộtcụm bài, GV cĩ thể thiết kế trị chơi Ơ chữ, Đấu trường 100, Rung chuơngvàng, Ơ cửa bí mật,…
Ví dụ: với 3 gĩi câu hỏi sau về cách làm bài văn tự sự cĩ thể thiết kế trị
chơi Đấu trường 100, Đối mặt, Ơ cửa bí mật, Ai nhanh ai giỏi,…
*Gĩi 1:
Câu 1 Đề văn : “Kể một câu chuyện em thích bằng lời văn của em”(*)
Lời văn trên nêu ra những yêu cầu gì?
A Kể chuyện B Câu chuyện em thích
C Bằng lời văn của em D Cả A,B và C đều đúng
Trang 40Câu 2 Những chữ nào trong đề (*) cho em biết điều đó?
A Kể B Câu chuyện
C Ấn tượng D Nhất với em
Câu 3: Những đề nào sau đây không phải là đề văn tự sự?
A Kể chuyện về một người bạn tốt
B Kỉ niệm ngày thơ ấu
C Miêu tả con mèo nhà em
D Ngày sinh nhật của em
Câu 4 Trong đề văn (*) từ nào là từ trọng tâm?
B Câu chuyện em đã từng trải qua
C Một câu chuyện buồn
D Câu chuyện em vừa mới trải qua
Đáp án gói 1: 1 D; 2 A; 3 C; 4 C; 5 A
Gói 2:
Câu 1 Các đề nào sau đây nghiêng về kể việc và tường thuật?
A Kỉ niệm ngày thơ ấu
B Ngày sinh nhật của em
Câu 4 Em hiểu thế nào là viết “bằng lời văn của em”?
A Suy nghĩ kĩ càng rồi viết ra bằng chính lời văn của mình