Tuy nhiên, vấn đề phân loại hàm ý chưa đạt được sự thống nhất cao giữa các nhànghiên cứu, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ yếu giới hạn ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ng
Trang 1MỞ ĐẦU
0.1.Lý do chọn đề tài
Khái niệm hàm ý cùng lý thuyết hàm ngôn hội thoại của H.P Grice được đánh giá là một bước tiến quan trọng của
ngôn ngữ học, mới ra đời cách đây non nửa thế kỷ Tuy nhiên, việc sử dụng hàm ý để chuyển tải những thông tin mà vìmột số lý do nhất định, người ta không tiện hoặc không nên nói thẳng ra là một hiện tượng bình thường trong thực tế,hẳn đã có ngay từ những cuộc giao tiếp đầu tiên trong xã hội văn minh Trong các công trình của mình, H.P Grice nhậnxét: trong giao tiếp, nhiều khi chúng ta “nói điều này nhưng thật ra muốn nói một điều khác” Thậm chí, Hoàng Phê –người đầu tiên giới thiệu và vận dụng lý thuyết của H.P Grice vào nghiên cứu tiếng Việt, còn cho rằng: “Khi một lờinói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí, có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàmngôn là ý chính”[ Hoàng Phê, 1989]
Không chỉ có tác dụng trong giao tiếp hằng ngày, hàm ý còn có giá trị sử dụng rất lớn trong các hoạt động chính trị,ngoại giao và sáng tác văn học Tuy nhiên, vấn đề phân loại hàm ý chưa đạt được sự thống nhất cao giữa các nhànghiên cứu, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ yếu giới hạn ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ngữ (tạohàm ý ngôn ngữ) và một số biện pháp vi phạm phương châm giao tiếp (tạo hàm ý hội thoại) Đặc biệt, việc nghiên cứuhàm ý trong sáng tác văn học chưa được đầu tư thỏa đáng nên kết quả chưa có chiều sâu Phần lớn các nhà văn, nhànghiên cứu, phê bình văn học mới dừng ở việc khai thác các chi tiết, hình tượng nghệ thuật từ kinh nghiệm cá nhân.Ngược lại, phần lớn các nhà ngôn ngữ học tự bằng lòng giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi ngôn ngữ học đơnthuần, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa những kiến giải của lý thuyết hàm ngôn hội thoại với lĩnh vực văn học
Tình hình trên đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn những vấn đề chưa có sự thống nhất cao, chưa có điều kiện đi sâu đểgóp phần phát triển nhận thức chung về hàm ý, phương thức biểu thị hàm ý và khả năng ứng dụng những kiến giải này
vào thực tế Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài luận án Hàm ý và các phương thúc biểu thị hàm ý trong tiếng Việt
0.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
0.2.1 Về khái niệm hàm ý
Khái niệm hàm ý lúc đầu được H.P Grice gọi là hàm ngôn hội thoại ra đời từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX rồi hoàn thiện trong các công trình sau đó như tập bài giảng tại Đại học Harvard năm 1967 và cuốn Logic và hội thoại
Trang 2(1975) Phần lớn công trình Logic và hội thoại của Grice tập trung làm rõ sự khác biệt (về mặt trực giác) giữa “cái được
diễn tả bằng lời” trong câu nói và “cái được gợi ý” (hoặc nói bóng gió) trong câu nói Để chỉ “cái được gợi ý” này,
Grice (1975; 1978) đã sử dụng các thuật ngữ mới là hàm ý (implicate) và hàm ngôn (implicature); đồng thời, ông xem
phần được mã hóa ngôn ngữ của phát ngôn là “cái được nói đến” Ông quan niệm tổng số “cái được nói đến trong câu”
và “cái được hàm ý” trong cùng một câu nói đó là “các ý nghĩa biểu hiện của một phát ngôn” [Dẫn theo GergelyBottyán]
Phát hiện của Grice đã mở ra một trào lưu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ W.A Davis (2005) khẳng định: “Hàmngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.”
Cho đến nay, có thể nói các công trình nghiên cứu ngữ dụng học đã đạt được quan niệm thống nhất về hàm ý nhưsau:
(1) Hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn (nghĩa hàm ngôn) không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưngđược suy ra từ nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn) và hoàn cảnh giao tiếp
(2) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập với tiền giả định (TGĐ) là phần không có giá trịthông tin
Mặc dù đã đạt được sự thống nhất cơ bản như trên, giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn những khác biệt tương đối lớn
và có thể coi đây là những điểm chưa rõ trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại, cần được tiếp tục nghiên cứu thêm
Sự khác nhau trước hết là cách dùng thuật ngữ Khi nghiên cứu thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice cũng như vậndụng nó vào việc tìm hiểu một vấn đề ngôn ngữ cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu đều sử dụng thống nhất thuật ngữ
hàm ý (implicate) với tư cách động từ và thuật ngữ hàm ngôn (implicature) với tư cách danh từ Ngoài các thuật ngữ trên, nhiều nhà nghiên cứu còn dùng động từ to imply (nói bóng gió) thay cho implicate Trong một số công trình, kể cả công trình của Grice (1975), hàm ý còn được dùng như một danh từ, với hai biến thể implicating và implication
Ở Việt Nam, trong các công trình ngữ dụng học, có tình trạng cùng một hiện tượng được gọi bằng những thuật ngữkhác nhau và ngược lại, cùng một thuật ngữ lại được hiểu theo những nội dung khác nhau, phản ảnh quan niệm rộng,
hẹp khác nhau ở mỗi nhà nghiên cứu Chẳng hạn, thuật ngữ hàm ý được hiểu tương đương với thuật ngữ implicature
(hàm ngôn) trong ngôn ngữ học nước ngoài nhưng trong nghiên cứu, mỗi tác giả lại đặt cho loại nghĩa hàm ẩn này một
tên gọi khác nhau như: hàm ngôn, ẩn ý, ngụ ý, dụng ý, hiểu ngầm, ám chỉ,…
Trang 3Cùng với những khác biệt trong sử dụng thuật ngữ, các nhà nghiên cứu ngữ dụng học còn thể hiện quan niệm khácnhau về phạm vi của hàm ý Phần đông các tác giả có xu hướng giới hạn hàm ý ở nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề)[Hoàng Phê, Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp], chỉ có một số ít tác giả cho rằng nghĩa tình tháicũng có thể là hàm ý [Hồ Lê, Nguyễn Văn Hiệp]
H.P.Grice cũng như nhiều tác giả nước ngoài theo học thuyết của ông và các nhà nghiên cứu ở Việt Nam nhưHoàng Phê, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu,… đều thống nhất dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp đểphân biệt hai loại hàm ý là hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại Tuy nhiên, theo cách phân loại này, ranh giới giữa TGĐ,dẫn ý với hàm ý quy ước cũng vẫn còn là vấn đề gây tranh luận trong các thuyết giao tiếp Hậu Grice và Tân Grice Bêncạnh đó, sự phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ cáckhía cạnh rất phong phú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp của con người Hồ Lê đã đề xuất phân loại
hàm ý theo khu vực tình thái mà người nói ký gửi vào phát ngôn [44; 139 – 143], nhưng ranh giới của các loại hàm ý
trong cách phân loại này rất mờ nhạt, khiến người học khó nhận diện đối tượng
0.2.2 Về phương thức biểu thị hàm ý
Theo nhiều công trình nghiên cứu, hàm ý được biểu thị bằng hai phương thức sau:
a) Vi phạm quy tắc ngữ dụng hay quy tắc hội thoại
b) Sử dụng một số phương tiện từ ngữ và cấu trúc phát ngôn đặc thù
Tuy vậy, các tác giả mới dừng ở sự trình bày khái quát với một số ví dụ đơn giản Nhận thức này sẽ phải được pháttriển với những phân tích sâu hơn, cụ thể hơn
0.3 Tính thời sự của đề tài
Từ cuối thế kỷ XX, ngôn ngữ học đã chuyển hẳn sang nghiên cứu về hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trong giaotiếp mà một trong những trọng tâm là ngữ nghĩa ngữ dụng của các đơn vị này, vì nói như Whorf thì “thực chất của ngônngữ học chính là tìm hiểu nghĩa” [Dẫn theo Hoàng Phê, 1989] Đến bây giờ, hầu như không có công trình nào về nghĩachỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hệ thống tĩnh về nghĩa của từ như trước mà không bàn về nghĩa của từ trong hoạtđộng giao tiếp, nghĩa của câu/phát ngôn và những vấn đề ngữ dụng học khác như diễn ngôn, hành vi ngôn ngữ, phươngchâm giao tiếp,…
Nghiên cứu về hàm ý và các phương thức biểu thị hàm ý là đề tài nằm trong xu hướng trên Thực hiện đề tài này,người nghiên cứu có điều kiện tìm hiểu mối quan hệ giữa hàm ý với các khái niệm khác về nghĩa của câu/phát ngôn vốn
Trang 4được xác định trên những bình diện phân tích khác như nghĩa mệnh đề/nghĩa tình thái, chủ đề/thuật đề,… Điều này nóilên tính thời sự của đề tài.
0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về phương diện lý luận, đề tài là cơ hội để làm sáng tỏ thêm những đặc trưng cơ bản của hàm ý trên cả hai phươngdiện khái niệm và phương thức biểu thị; góp phần vào việc nghiên cứu quy tắc chung của giao tiếp – một trong nhữngvấn đề mà ngữ dụng học đặc biệt quan tâm
Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để bổ sung cho giáo trình ở bậc đạihọc, sách giáo khoa ở trường phổ thông, góp phần hướng dẫn người nói, người viết nâng cao chất lượng sử dụng ngônngữ trong giao tiếp hằng ngày và giúp người đọc có phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học một cách chắc chắn hơn,khoa học hơn Kết quả của đề tài cũng có thể là gợi ý cho công việc của những người sáng tác
0.5 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý trong tiếng Việt Phạm vi nghiên cứu
là các hình thức diễn ngôn khác nhau, từ những cuộc thoại (đối thoại, đơn thoại) đến văn bản, bao gồm các văn bản báochí và nghệ thuật Vì vậy, đơn vị mà chúng tôi dựa vào đó tìm hiểu đối tượng nghiên cứu không chỉ là đoạn thoại trựctiếp có chứa từ hoặc phát ngôn có hàm ý, mà còn là các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
- Hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận hữu quan về phát ngôn, cơ cấu nghĩa của phát ngôn, khái niệm hàm
ý, ranh giới và mối quan hệ của hàm ý với các loại nghĩa khác của phát ngôn trong hoạt động giao tiếp trên cơ sở tư liệutiếng Việt và những kết quả nghiên cứu mới của giới nghiên cứu
- Phân loại hàm ý từ nhiều bình diện khác nhau
- Hệ thống hóa và bổ sung các phương thức tạo hàm ý trực tiếp, hàm ý trong tiếng Việt
0.6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
0.6.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận án này là phương pháp phân tích ngữ cảnh Cụ thể là đểxác định hàm ý mà người phát ngôn muốn gửi đến người nghe/người đọc, các phát ngôn đều được đặt trong ngữ cảnh
Trang 5mà nó xuất hiện Ví dụ, để hiểu người nói có hàm ý gì khi dẫn câu thơ Trẻ em như búp trên cành, cần xem câu ấy xuất
hiện trong hoàn cảnh nào, với những từ ngữ kèm theo nó như thế nào So sánh:
(1) [Thấy bạn đang đánh con, A nói:] Này ông ơi, “trẻ em như búp trên cành” đấy !
(2) [Nghe B tâm sự về sự “đầu tư” cho con cái trong năm học mới: Chẳng biết quan điểm của ông thế nào chứ với
tôi, riêng việc đầu tư cho học hành của con cái là tôi không tiếc, A đáp:] Ừ, “trẻ em như búp trên cành” mà !
(3) [Nghe B kêu ca, phàn nàn về sự tốn kém tiền nong khi con bắt đầu vào năm học mới, A nói:] Trẻ em như búp trên cành đấy !
Ở (1), phát ngôn Trẻ em như búp trên cành có hàm ý nhắc nhở, phê bình người bạn về cách giáo dục con cái; ở (2),
phát ngôn này mang hàm ý đồng tình với quan điểm của B về việc đầu tư cho chuyện học hành của con cái; còn ở (3),phát ngôn của A lại là sự chia sẻ và động viên đối với B
Trong nhiều trường hợp, để hiểu đúng hàm ý của phát ngôn, ta không chỉ dựa vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc giaotiếp mà còn phải dựa vào bối cảnh rộng lớn hơn là những tri thức nền về ngôn ngữ, văn hóa và những mảng hiện thựckhách quan ngoài ngôn ngữ
0.6.2 Nguồn tư liệu
Ngoài một số tư liệu có được do quan sát thực tế trong giao tiếp hằng ngày, chúng tôi sử dụng những đoạn thoại môphỏng những đối thoại trực tiếp ngoài đời thực trong tác phẩm báo chí, văn chương Trong một số trường hợp cần thiết(để so sánh, đối chiếu hoặc minh chứng cho quan điểm của tác giả), chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã dẫn trongcác tài liệu nghiên cứu về ngữ dụng học trong, ngoài nước
0.7 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1 hệ thống hóa và phát triển một số khái niệm xuất phát làm cơ sở để triển khai đề tài.
Chương 2 tập trung miêu tả các loại hàm ý, làm chỗ dựa để phân tích phương pháp biểu thị hàm ý trong chương
tiếp theo
Ở Chương 3, trên cơ sở điểm lại danh sách các phương thức biểu thị đã được tổng kết trong các công trình ngữ dụng
học, chúng tôi mạnh dạn đề xuất và miêu tả một số phương thức biểu thị hàm ý thường dùng trong tiếng Việt, gắn với
văn hóa Việt
Trang 6CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM XUẤT PHÁT
1.1 Phát ngôn
Trong ngôn ngữ học, có một số tác giả coi phát ngôn là một thành phẩm của hoạt động giao tiếp tương đương vớicâu nhưng ở bình diện lời nói Có tác giả tuy thống nhất xếp phát ngôn vào cấp độ lời nói nhưng cho rằng kích thướccủa nó có thể nhỏ hơn, tương đương hoặc lớn hơn câu nhiều lần Cũng có những nhà nghiên cứu quan niệm phát ngôn
thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước lớn hơn câu Có thể nhận thấy khái niệm phát ngôn theo cách hiểu thứ 2 và thứ 3
đã được ngôn ngữ học ngày nay biểu thị bằng một thuật ngữ khác là diễn ngôn Bởi vậy, trong luận án này, phát ngôn
được quan niệm là biến thể của câu trong hoạt động giao tiếp, tức là một đơn vị thuộc cấp độ lời nói, có kích thướcbằng câu
1.2 Cơ cấu nghĩa của phát ngôn
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng cả ba cặp đối lập – nghĩa mệnh đề/nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề/nghĩa thuật đề,nghĩa tường minh/nghĩa hàm ẩn với quan niệm đó là kết quả của những bình diện phân tích khác nhau đối với nghĩa củaphát ngôn, cụ thể là:
- Phân biệt nghĩa mệnh đề với nghĩa tình thái là phân biệt trên cơ sở đối chiếu nội dung các bộ phận phát ngôn vớihiện thực
- Phân biệt nghĩa chủ đề với nghĩa thuật đề là phân biệt trên cơ sở xem xét quan hệ giữa nội dung các bộ phận phátngôn với giá trị thông báo của chúng
- Phân biệt nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn là phân biệt trên cơ sở xem xét quan hệ giữa nội dung các bộ phậnphát ngôn với cách thức biểu hiện chúng
1.3 Nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái
Trong công trình này, chúng tôi hiểu nghĩa mệnh đề là loại nghĩa biểu thị sự tình, do các từ riêng biệt và cấu trúc cúpháp tạo ra hoặc được suy ra từ ngữ cảnh Trong trường hợp nghĩa mệnh đề do các từ riêng biệt và cấu trúc cú pháp tạo
ra (nghĩa tường minh), nó là nghĩa của câu, nhưng vì câu là bất biến thể của phát ngôn nên nghĩa nó cũng bao hàmtrong nghĩa của phát ngôn Loại nghĩa mệnh đề đặc trưng của phát ngôn là nghĩa được xác định bởi ngữ cảnh
Trang 7Còn nghĩa tình thái, theo định nghĩa của Liapol, “là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khácnhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo” [Dẫntheo Nguyễn Văn Hiệp, 2008] Phần lớn nghĩa tình thái được mã hóa trong những hình thức ngôn ngữ nhất định, phần nàođộc lập với hoàn cảnh sử dụng Bộ phận nghĩa tình thái này gọi là tình thái của lời, thuộc về nghĩa tường minh của phátngôn Bộ phận còn lại (không được mã hóa bởi các phương tiện ngôn ngữ) chỉ bộc lộ đầy đủ khi xét đến tình huống sửdụng, gọi là tình thái của hành động phát ngôn (tình thái của mục đích phát ngôn), thuộc về nghĩa hàm ẩn của phát ngôn Ví
dụ: (4) [Thấy con đi học về muộn, mẹ bảo:] Con xem hộ mẹ mấy giờ rồi ! Lời nói của mẹ trong hoàn cảnh này được hiểu là một lời trách móc (Con đi học về muộn quá đấy !) với một thái độ không hài lòng Đó chính là nghĩa tình thái
hàm ẩn của phát ngôn
1.4 Nghĩa chủ đề: Khác với nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề (thematic meaning) “được xem là loại
nghĩa có liên quan đến việc tổ chức thông điệp của câu nói, xét đến trình tự các thành tố của thông điệp, tiêu điểm vànhấn mạnh” [G.Leech, Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2008]
Đưa nghĩa chủ đề vào cơ cấu nghĩa của phát ngôn, chúng tôi có mục đích giải đáp cho các vấn đề như: Nghĩa chủ đề
có mối quan hệ với hàm ý không? Việc xác lập nghĩa chủ đề có liên quan như thế nào đến việc biểu thị hàm ý, đặc biệt
là trong tiếng Việt – ngôn ngữ được cho là thiên chủ đề?
1.5 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Nghĩa tường minh là ý nghĩa rút ra từ nghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ có mặt trong câu và quan hệ cú phápgiữa các từ ấy
Còn nghĩa hàm ẩn là thông tin không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng có thể nhận biết nhờsuy ý trên cơ sở hiển ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điềukhiển hội thoại,…
1.6 Hàm ý
1.6.1 Thuật ngữ hàm ý
Trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice (1975; 1978), thuật ngữ implicate (hàm ý) là một động từ chỉ hành
động biểu đạt ngầm một điều gì đó khác với điều được nói ra bằng hiển ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định
(gọi là điều được hàm ý) Còn thuật ngữ implicature (hàm ngôn) là một danh từ, biểu thị điều được hàm ý trong phát
ngôn Hàm ngôn là “kết quả”, là “sản phẩm” của hoạt động hàm ý
Trang 8Khi nghiên cứu về thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìm hiểu một vấn đề ngôn
ngữ cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu nước ngoài đều sử dụng thống nhất các thuật ngữ implicate (hàm ý) và implicature (hàm ngôn) như cách dùng của Grice Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cũng dùng động từ imply (nói bóng gió) để biểu thị hàm ý và danh từ implication (sự ngụ ý) để biểu thị sản phẩm của hàm ý (tức hàm ngôn, cái được
hàm ý)
Khác với nước ngoài, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ hàm ý để chỉ cả implicate lẫn implicature Mặt khác, thuật ngữ implicaturre (hàm ngôn) cũng được các tác giả Việt Nam dịch theo rất nhiều cách khác nhau Ví dụ: dịch là hàm ngôn (một loại nghĩa hàm ẩn trong đối lập với tiền giả định [TGĐ]); dịch là hàm nghĩa và ẩn ý; dịch là hàm
ý với những cách hiểu khác nhau.
Để khỏi thay đổi một thuật ngữ đã quen dùng ở Việt Nam suốt hơn 20 năm nay, trong công trình này, chúng tôi tiếp
tục sử dụng hàm ý với hai nghĩa: a) để chỉ cái mà Grice gọi là implicature; và b) để chỉ hành động tạo ra implicature, tương đương implicate trong tiếng Anh.
1.6.2 Quan niệm về hàm ý
Mặc dù các nhà nghiên cứu thống nhất coi hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn có giá trị thông tin được suy ra từ hiển ngôn(nghĩa tường minh) và hoàn cảnh giao tiếp, nhưng giữa họ có những quan niệm khác nhau về các loại hàm ý và phạm vitồn tại của hàm ý
H.P.Grice (1975) phân biệt ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning, là “ý nghĩa được suy ra một cách ngẫunhiên”) với ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning, là “ý nghĩa được truyền đạt một cách có ý định”)
Ở Việt Nam, Hoàng Phê (1989) dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh và độ tin cậy của sự suy ý để phân loạihàm ý Ông sử dụng thuật ngữ hàm ý để chỉ phần nội dung được suy ý trực tiếp, ít phụ thuộc vào ngữ cảnh và có độ tincậy của sự suy ý tương đối cao Đối lập với hàm ý là ngụ ý – phần nội dung hàm ngôn phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh,người nghe phải suy ý gián tiếp từ hoàn cảnh, từ khả năng nhận thức, khả năng vận dụng kinh nghiệm sống,… nên độtin cậy thường không cao
Hồ Lê (1996) đối lập hàm ý với hàm nghĩa Theo ông, hàm ý là ý nghĩa hàm ngôn có nội dung khác với hiển ngôn,bao gồm: ngụ ý, ẩn ý và dụng ý; còn hàm nghĩa là ý nghĩa hàm ngôn bổ sung một phương diện nào đó cho hiển ngôn
Trang 9Cao Xuân Hạo (1998) coi hàm ý là điều mà người nghe rút ra từ phát ngôn như một hệ quả tất nhiên, gồm hàm nghĩa
và ẩn ý Theo ông, nếu ý suy ra vẫn còn diễn đạt được bằng ít nhiều chữ nghĩa trong nguyên văn thì đó là hàm nghĩa;còn nếu ý suy ra chỉ có thể thấy trong ngôn cảnh thì đó là ẩn ý
Trong khi đó, Nguyễn Đức Dân (1998) và Đỗ Hữu Châu (2005) gọi hàm ý là hàm ngôn Theo các tác giả, loại hàmngôn được suy ý từ ngôn ngữ (đặc biệt là từ sự quy ước của cơ chế ngôn ngữ), không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp
là hàm ngôn ngôn ngữ; còn loại hàm ngôn được suy ý từ hiển ngôn, TGĐ và hoàn cảnh tồn tại của phát ngôn, phụ thuộcvào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn dụng học
Về phạm vi tồn tại của hàm ý, phần lớn các nhà Việt ngữ học đều coi hàm ý là thông tin mà người nghe suy ý được
từ phát ngôn và hoàn cảnh giao tiếp Khác với các tác giả trên, Nguyễn Đức Dân (1998) và Nguyễn Văn Hiệp (2008)cho rằng hàm ý thuộc về người nói, tức là điều mà người nói muốn gửi đến người nghe
Phần đông các tác giả có xu hướng giới hạn hàm ý ở phạm vi nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề) Nhưng cũng có một sốtác giả coi nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái đều thuộc phạm vi ngữ nghĩa của hàm ý [J Lyons, 1995; Nguyễn Văn Hiệp,2008]
1.6.3 Quan niệm về hàm ý trong luận án
Trong luận án này, chúng tôi không giới hạn việc xác định hàm ý trong phạm vi nghĩa mệnh đề Trong trường hợpnghĩa tình thái không được biểu đạt bởi các phương tiện biểu đạt tình thái chuyên biệt thì nghĩa tình thái đó là hàm ý.Tất nhiên, chỉ những ý nghĩa tình thái hàm ẩn nằm trong chủ định của người phát ngôn, tức là “điều người nói gửi tớingười nghe, muốn người nghe hiểu” mới được coi là hàm ý
Để làm rõ ranh giới của khái niệm hàm ý, cần phân biệt hàm ý với các loại nghĩa hàm ẩn khác là TGĐ và dẫn ý Hàm ý và TGĐ đều là nghĩa hàm ẩn của phát ngôn bởi chúng đều không được nói ra một cách tường minh và đềukhông không phụ thuộc vào chân trị của phát ngôn chứa nó (không mang tính hàm chân trị) Tuy nhiên, giữa hàm ý vớiTGĐ có những điểm khác nhau rõ ràng:
- TGĐ là một trong những cơ sở để tạo nên nghĩa tường minh, còn hàm ý là điều được suy ra từ nghĩa tường minh vàTGĐ của nghĩa tường minh
- TGĐ được xem là bất tất phải bàn cãi bởi nó có tính bất biến, còn hàm ý thì không mang đặc điểm này
- TGĐ không thể khử bỏ, trong khi hàm ý có thể dễ dàng bị khử bỏ trong một số điều kiện, hoàn cảnh nhất định
- TGĐ có ảnh hưởng đến giá trị xác tín, còn hàm ý không có ảnh hưởng này
Trang 10- Nhiều TGĐ được đánh dấu bởi các đơn vị từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp cụ thể, còn hàm ý, trái lại, không nhấtthiết phải được đánh dấu.
- TGĐ nói chung ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, còn hàm ý lệ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp
- TGĐ không có giá trị thông tin đặc biệt, không phải là cơ sở để phát triển cuộc thoại; còn hàm ý mang giá trị thôngtin và tính năng động hội thoại cao, là cơ sở để phát triển cuộc thoại
Giữa hàm ý và dẫn ý cũng có những điểm khác nhau căn bản:
- Hàm ý không mang tính hàm chân trị còn dẫn ý, ngược lại, mang tính hàm chân trị Điều đó có nghĩa là dẫn ý phụthuộc vào chân trị của phát ngôn trước nó
- Hàm ý có thể dễ dàng bị khử bỏ trong những điều kiện, hoàn cảnh thích hợp còn dẫn ý, giống như TGĐ, lại là loạithông tin không thể khử bỏ
- Nhiều hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh, còn dẫn ý không phụ thuộc vào ngữ cảnh
Về phạm vi tồn tại của hàm ý, chúng tôi quan niệm một khi nghĩa tình thái được biểu thị bằng liên từ và tiểu từ mànhững từ này thực hiện chức năng liên kết các tác tử logic, biểu thị hội của hai mệnh đề thì đó là nghĩa tường minh; cònkhi nó được biểu thị bằng liên từ, tiểu từ mà những từ này biểu thị mối liên kết chìm – liên kết các hành vi ngôn ngữ vàđược suy ra từ nghĩa tường minh và ngữ cảnh thì đó là hàm ý
Tất nhiên, chỉ những ý nghĩa tình thái hàm ẩn nằm trong chủ định của người phát ngôn, người phát ngôn có thể “phủnhận trách nhiệm” đối với nó (tức có thể khử bỏ được) và là “điều người nói gửi tới người nghe, muốn người nghe hiểu”mới được coi là hàm ý
1.7 Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp
1.7.1 Hoàn cảnh giao tiếp
Hiểu theo nghĩa hẹp thì hoàn cảnh giao tiếp là văn cảnh nhưng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó bao gồm: ngữ cảnhvới tư cách là đơn vị ngôn ngữ cho phép xác định ý nghĩa của các đơn vị; bối cảnh với tư cách là một mảng hiện thựckhách quan ngoài ngôn ngữ nhưng tạo điều kiện cho việc xuất hiện phát ngôn và xác định ý nghĩa của chúng; cuối cùng
là ngữ cảnh riêng với tư cách là những tri thức riêng của người đối thoại
Hoàn cảnh giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của phát ngôn và sự hình thành hàm ý Tuynhiên, không phải mọi hoàn cảnh giao tiếp đều tham gia tác động vào quá trình tạo hàm ý Có những hoàn cảnh giaotiếp chỉ là môi trường cho hiển ngôn tồn tại Hoàn cảnh giao tiếp làm điểm tựa cho hàm ý là những hoàn cảnh đặc biệt
Trang 11Phần lớn các nhà nghiên cứu đều xếp vào hoàn cảnh đặc biệt này những nhân tố như: sự chi phối của tính lịch sự, tếnhị, sự mong muốn “giữ thể diện” cho mình (người nói) và cho người tham gia giao tiếp (người nghe), thậm chí, giữ
“uy tín” cho cả người (hoặc vấn đề) đang được đề cập đến trong phát ngôn
1.7.2 Nhân vật giao tiếp
Để cuộc giao tiếp bằng phát ngôn có hàm ý thành công, trước hết phải có sự cộng tác tích cực giữa người nói vớingười nghe Người nói phải tính đến năng lực giải đoán hàm ý ở người nghe Nếu người nói, trong quá trình tạo lậpphát ngôn mang hàm ý, không quan tâm tới năng lực giải đoán hàm ý ở người nghe thì hàm ý rất có thể sẽ không đượcnhận biết Và như vậy, việc dùng hàm ý thất bại Về phía người nghe, trong giao tiếp, họ cũng sẽ là người nói, nênnhững yếu tố tham gia vào cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn trong chừng mực nào đó cũng có thể giúp người nghe nắm bắt đượcnghĩa hàm ẩn của các phát ngôn mà mình nghe được Tuy vậy, không phải người nghe nào, trong bất kỳ cuộc giao tiếpnào cũng đủ năng lực tiếp nhận mọi thông tin hàm ẩn trong các phát ngôn Để tiếp nhận được, họ phải có năng lực ngônngữ, năng lực ngữ dụng, tri thức nền và lẽ thường
CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HÀM Ý
2.1 Vấn đề phân loại hàm ý trong các tài liệu ngữ dụng học
Trong mục này, tác giả luận án phân tích kết quả phân loại hàm ý của các nhà nghiên cứu và đề xuất một số hướngphân loại hàm ý theo những bình diện và tiêu chí khác nhau Cụ thể là:
- Dựa vào tiêu chí “phương tiện biểu hiện”, hàm ý được chia thành hàm ý của từ và hàm ý của toàn phát ngôn
- Dựa vào tiêu chí “số lượng hàm ý của phát ngôn” (tầng nghĩa), hàm ý được chia thành hàm ý đơn và hàm ý phức
- Dựa vào tiêu chí “quan hệ với nghĩa tường minh”, hàm ý được chia thành hàm ý tăng tiến và hàm ý trái ngược
- Dựa theo tiêu chí “quan hệ với các nghĩa hàm ẩn khác”, hàm ý được chia thành hàm ý kiêm chức và hàm ý khôngkiêm chức
- Dựa theo tiêu chí “quan hệ với hoàn cảnh”, hàm ý được chia thành hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại
Trang 122.2.Các loại hàm ý phân loại theo phương tiện biểu hiện
2.2.1 Hàm ý của từ
Hàm ý của từ được hiểu là những nghĩa của từ phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, là tầngnghĩa thứ hai của từ, đồng thời là điều mà người nói gửi tới người nghe và muốn người nghe hiểu
Có hai loại hàm ý của từ là hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại
Hàm ý quy ước của từ là loại hàm ý có được do sử dụng những từ ngữ chuyên biệt như phó từ, trợ từ hay liên từ Vídụ:
(24) [Một anh khóa vào hàng cô Phương chọn bút Cô đưa loại bút nào anh khóa cũng lắc đầu, chê xấu Anh chànghỏi mua bằng được thứ bút Tảo Thiên Quân Thấy thầy khoá ăn mặc đồ vải xuềnh xoàng, cô Phương ra giọng bỉ thử:]
Có Tảo Thiên Quân lông trắng nhưng mà những hai quan một chiếc [Nguyễn Tuân]
Trong ví dụ này, cô Phương cố ý dùng từ những (nhấn mạnh số lượng nhiều) để biểu thị hàm ý coi thường anh khóa
ăn mặc xuềnh xoàng: “Có đủ tiền mua không mà hỏi?”.
Khác với hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại của từ được hình thành từ sự kết hợp giữa việc sử dụng từ ngữ với hoàncảnh giao tiếp Qua khảo sát, chúng tôi thấy sự chi phối của hoàn cảnh giao tiếp thường mang lại cho từ những loại hàm
ý sau:
a) Hàm ý về khoảng cách mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp
Khi một trong số những người tham gia giao tiếp đột ngột chuyển đổi cách xưng hô thông thường thì trong cáchxưng hô mới bao giờ cũng ẩn chứa hàm ý về sự thay đổi mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp (thường làkhoảng cách giữa các nhân vật bị kéo ra xa hay xích lại gần trên cả hai trục: trục quan hệ thân sơ và quan hệ vị thế) Ví
dụ :
(29) [Bà Huyện trước kia vay tiền để mua chức cho chồng, nay chồng mất chức mà bà vẫn chưa trả được nợ Chủ nợ
đến nhà bà Huyện đòi nợ Ban đầu, còn xưng hô chị - em nhưng khi biết bà Huyện vẫn chưa thể trả nợ cho mình, chủ
nợ liền đổi giọng:) Này, do đồng tiền của đứa nào mà người ấy được vác mặt lên bảnh chọe làm bà lớn thì chớ quên Mua danh ba vạn bán danh chẳng được đồng nào đâu [Vũ Trọng Phụng]
b) Hàm ý về thái độ, sự đánh giá của người phát ngôn
Trang 13Loại hàm ý này có thể được tạo ra bởi sự kết hợp giữa hoàn cảnh giao tiếp với việc sử dụng một cách hợp lý các hư
từ hoặc thực từ Thậm chí, các nghĩa chuyển của từ cũng tham gia khá tích cực vào việc hình thành nên loại hàm ý này
Ví dụ:
(32) [Sau cái chết của Bá Nhỡ, cô Tơ đã bỏ nghề hát để đi tu và trở thành sư thầy Tuệ Không Nhân vật “tôi” khôngđồng tình với việc làm đó, bởi theo nhân vật này, “thái độ của sư thầy là một chuyện đánh bạc và cái thời khắc biểu củanhà chùa chỉ là những ngày tháng của bệnh nhân trầm trệ” Trong một lần “hầu chuyện” sư thầy Tuệ Không, nhân vật
“tôi” thể hiện “chính kiến” của mình:] Sư thầy bỏ chùa Đàn, sư thầy tìm ra quét lá ăn mày sư tổ ở ngoài tỉnh Đông Rồi
sư thầy gửi mình ở Quỳnh Lâm, Dật Yên, ở chùa Keo, chùa Dận, Yên Tử, chùa Cói Sư thầy tu, kể cũng tốn nhiều chùa ! [Nguyễn Tuân].
Nghĩa gốc của từ tốn là phải dùng vào công việc gì một số lượng lớn của cải, sức lực hoặc thì giờ mà không đạt kết
quả tương xứng Thông thường, không thể nói là người tu hành đã “dùng một số lượng lớn các ngôi chùa vào việc tu”.Nhưng đặt trong bối cảnh cụ thể của câu chuyện, kết hợp từ bất thường “tu tốn chùa” lại làm nổi bật hàm ý mỉa maichuyện tu hành của sư thầy Tuệ Không
2.2.2 Hàm ý của toàn phát ngôn
Hàm ý của toàn phát ngôn được hiểu là nghĩa hàm ẩn của phát ngôn gắn với một kiểu cấu trúc cụ thể hoặc một hoàncảnh giao tiếp cụ thể và là nội dung đích thực mà người nói hướng đến người nghe, muốn người nghe hiểu
Hàm ý của một phát ngôn có thể là nghĩa mệnh đề hay nghĩa tình thái Do đó, có thể phân biệt hai loại hàm ý củatoàn phát ngôn là hàm ý mệnh đề và hàm ý tình thái
Ví dụ về hàm ý mệnh đề: (45) [Sau khi kí Tạm ước 14/9/1946 với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nướcbằng đường biển trên chiến hạm Dumont d’Urville Ngày 18/10, chiến hạm tiến vào vịnh Cam Ranh Một chiếc tàu nhỏ
ra đón Chủ tịch lên chiếc thiết giáp hạm Suffren để hội kiến với đô đốc hải quân D’Argenlieu và tướng tư lệnh lục quân
Morlière Trong buổi chiêu đãi, viên đô đốc bố trí Bác ngồi giữa ông ta và Morlière rồi đắc ý bóng gió:] Thưa Chủ tịch, Ngài đang bị đóng khung (encadre) giữa Lục quân và Hải quân đó Bác Hồ thản nhiên cười: Nhưng thưa đô đốc, chính bức họa (tableau) mới làm cho khung tranh có chút giá trị [Đỗ Hoàng Linh]
Trong ví dụ trên, hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và bối cảnh quan hệ Việt - Pháp năm 1946 đã giúp Chủ tịch Hồ ChíMinh giải mã phát ngôn của D’Argenlieu: “Nước Ngài đã bị bao vây bởi lực lượng quân đội hùng mạnh của Pháp.”Nhưng Chủ tịch đã tận dụng ngay biểu tượng “bức họa” và “khung” tranh trong câu ví von bóng bẩy của D’Argenlieu