Nhờ có thị trường tài chính, mà những người thiếu vốn có thể huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu.. Những người có vốn dư thừa thay vì đầu tư v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2
MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 5
1.1 Khái niệm: 5
1.2 Chức năng thị trường tài chính: 6
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 8
2.1 Căn cứ vào kì hạn luân chuyển vốn gồm có: 8
2.1.1 Thị trường tiền tệ (Money Markets) 8
2.1.2 Thị trường vốn (Capital Markets): 10
2.1.3 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn: 12
2.2 Căn cứ vào tính chất phát hành của các công cụ tài chính: 13
2.2.1 Thị trường sơ cấp - Thị trường cấp 1 (Primary Markets): 13
2.2.2 Thị trường thứ cấp - Thị trường cấp 2 (Secondary Markets): 14
2.2.3 Mối quan hệ, tác động qua lại giữa hai thị trường: 15
2.3 Căn cứ vào cách thức huy động vốn: 15
2.3.1 Thị trường nợ (Debt Markets): … 16
2.3.2 Thị trường vốn cổ phần (Equity Markets): 16
2.4 Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường: 16
2.4.1 Thị trường tập trung: 16
2.4.2 Thị trường phi tập trung: 17
3 KẾT LUẬN 18
Trang 31 GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm: Trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh tế không chỉ bao gồm các mối quan hệ cung cầu về hàng hoá mà còn xuất hiện quan hệ cung cầu về tiền tệ Quan hệ này xuất hiện tất yếu dẫn đến nhu cầu vận động nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, chủ yếu diễn ra trên thị trường tài chính Nhờ có thị trường tài chính, mà những người thiếu vốn có thể huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu Những người có vốn dư thừa thay vì đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng để sản xuất ra hàng hóa, sẽ đầu tư qua việc mua các tài sản tài chính trên thị trường tài chính do những người có nhu cầu huy động vốn phát hành Thuật ngữ “Thị trường tài chính” được sử dụng để phân biệt thị trường mua bán, giao dịch các loại chứng khoán (tài sản tài chính) với các thị trường khác (thị trường hàng hoá, thị trường sức lao động,…)
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các khoản vốn (ngắn hoặc dài hạn) thông qua các công cụ tài chính nhất định Hoặc thị trường tài chính là nơi di chuyển vốn từ những người có vốn tiết kiệm nhàn rỗi sang những người có nhu cầu về vốn Nói cách khác, thị trường tài chính là nơi trao đổi, mua bán các công cụ hay sản phẩm tài chính
Sơ đồ 1: Các công cụ (sản phẩm) tài chính 1.2 Chức năng thị trường tài chính:
Gồm 5 chức năng:
Thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những người thừa vốn vì họ chi tiêu ít hơn thu nhập tới những người thiếu vốn vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn thu nhập của họ
Thị trường tài chính gián tiếp
Trung gian tài
chính Vốn
Vốn
Công cụ
thị trường tiền tệ
Tín phiếu
kho bạc
Hợp đồng
mua lại CK
Euro – Đô la Phiếu nợ
Chứng chỉ tiền gửi
Hối phiếu có NH
chấp thuận
Trang 4Thị trường tài chính trực tiếp
Sơ đồ 2: Quá trình luân chuyển vốn tài chính
Trong thị trường tài chính trực tiếp các chủ thể có vốn tiết kiệm nhàn rỗi trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp do các chủ thể có nhu cầu vốn phát hành thông qua các thị trường tài chính
Trong thị trường tài chính gián tiếp người cho vay và người đi vay giao dịch gián tiếp thông qua trung gian tài chính thông thường là các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, …
Chức năng thứ hai của thị trường tài chính được thể hiện qua việc hình thành giá của các tài sản tài chính
Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là tạo tính thanh khoản cho các tài sản tài chính.
Chức năng thứ tư của thị trường tài chính là giảm thiểu chi phí tìm kiếm
và chi phí thông tin cho các bên giao dịch.
Chức năng thứ năm của thị trường tài chính là ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.
Tóm lại, thị trường tài chính nâng cao năng suất hiệu quả của toàn bộ
nền kinh tế Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng cách
giúp họ chọn thời điểm cho biệc mua sắm của họ tốt hơn Thị trường tài chính
hoạt động hiệu quả sẽ cải thiện đời sống kinh tế của mỗi người trong xã hội.
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Tùy theo các tiêu chí khác nhau người ta có thể phân loại thị trường tài chính theo một số cách sau đây:
Những người cho
vay - tiết kiệm
+ Hộ gia đình
+ Doanh nghiệp
+ Chính phủ
+ Người nước
ngoài
Những người đi vay - chi tiêu
+ Doanh nghiệp
+ Chính phủ + Hộ gia đình + Người nước ngoài
Thị trường tài chính
Trang 52.1 Căn cứ vào kì hạn luân chuyển vốn gồm có:
2.1.1 Thị trường tiền tệ (Money Markets)
Khái niệm:
Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính trong đó chỉ mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn (thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm)
Thông thường các chủ thể đi vay trên thị trường này là những chủ thể tạm thời thiếu hụt tiền tệ phục vụ cho các nhu cầu thanh toán Do vậy, khi thông qua các giao dịch mua bán quyền sử dụng vốn ngắn hạn mà thị trường tiền tệ đã cung ứng một lượng tiền tệ cho các bên cần vốn nhằm thoả mãn nhu cầu thanh toán (cũng chính vì lý do này mà nó được gọi là thị trường tiền tệ)
Những chủ thể cung vốn (cho vay) thì lại là những chủ thể tạm thời có vốn nhàn rỗi (có thể là do chưa dùng tới hoặc đang tìm kiếm cơ hội đầu tư), do vậy họ tranh thủ chuyển nhượng quyền sử dụng các khoản vốn nhàn rỗi của họ trong thời gian ngắn để hưởng lãi Tuy nhiên, vì là đầu tư thời gian ngắn, đầu tư mang tính nhất thời nên những nhà đầu tư này quan tâm không nhiều tới mức lãi mà quan tâm hơn tới độ an toàn, tính thanh khoản để có thể rút vốn ngay khi cần Các hình thức đầu tư như thế trên thị trường tiền tệ thường có độ an toàn tương đối cao, nhưng lại thường có mức lợi tức thấp
Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có quy mô lớn nên bên cho vay thường là các ngân hàng, công ty tài chính hoặc phi tài chính; còn bên vay vốn thường
là Chính phủ, các công ty và ngân hàng
Các công cụ tài chính lưu thông trên thị trường tiền tệ hay hàng hóa của thị trường tiền tệ bao gồm: tín phiếu kho bạc, các loại thương phiếu, kì phiếu, chứng chỉ gửi tiền,
kì phiếu ngân hàng, khế ước cho vay
Thị trường tiền tệ có một số đặc trưng sau đây:
(1) Các công cụ thị trường tiền tệ có thời gian đáo hạn trong vòng một năm nên có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp và hoạt động tương đối ổn định
(2) Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu là hoạt động tín dụng, do đó giá
cả được hình thành thể hiện thông qua lãi suất tín dụng ngân hàng
Cấu trúc thị trường tiền tệ:
Bao gồm:
+ Thị trường tín dụng;
+ Thị trường liên ngân hàng;
+ Thị trường chứng khoán ngắn hạn;
+ Thị trường ngoại hối
Trong đó:
+ Thị trường tín dụng bao gồm các hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại gồm có hoạt động huy động vốn và cho vay vốn ngắn hạn
Trang 6Gồm có: thị trường chính thức và không chính thức Thị trường này hoạt động dựa vào hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian Các tổ chức này sẽ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân bằng hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm và đem cho các tổ chức kinh tế, cá nhân khác vay lại nếu cần Ví dụ như thông qua các trung gian tài chính như Ngân hàng thương mại, Công ty chứng khoán, Công ty tài chính, Công ty bảo hiểm, Quỹ đầu tư ở nước ta tồn tại các tổ chức tín dụng như: các Tổ chức Tín dụng Nhà nước, các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đô thị, các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng liên doanh, các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài,
+ Thị trường liên ngân hàng là thị trường hoạt động phục vụ cho các giao dịch về vốn chỉ diễn ra giữa các ngân hàng (kể cả NHTW)
Không phải lúc nào ngân hàng cũng luôn có đủ tiền để cho vay, không phải lúc nào ngân hàng cũng tìm được khách hàng để cho vay hết khoản tiền mà mình có Vì thế sẽ phát sinh nhu cầu vay và cho vay giữa các ngân hàng nhằm phục vụ tốt cho hoạt động chính của mình là huy động vốn và cho vay vốn
+ Thị trường chứng khoán ngắn hạn là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng và trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, kì phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
+ Thị trường ngoại hối (Exchange Markets): Thị trường này là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán, chuyển nhượng, vay và cho vay bằng ngoại tệ và các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ
Các công cụ của thị trường ngoại hối gồm có: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp đồng giao kì hạn (Forward), hợp đồng giao hoán đổi (Swap), các hợp đồng quyền chọn (Option), … Nhờ công cụ này mà thị trường ngoại hối có thể đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các tổ chức kinh tế, đồng thời tạo cho thị trường ngoại hối hoạt động ổn định
Khác với các loại thị trường khác, người ta dùng tiền để đổi lấy hàng hoá, thì trên thị trường này người ta dùng tiền để đổi lấy tiền Một đặc tính riêng biệt nữa của thị trường ngoại hối đó là tất yếu nó sẽ là thị trường quốc tế Khi nào người dân ở các khu vực khác nhau còn dùng những đồng tiền khác nhau thì thị trường ngoại hối tồn tại là cần thiết
2.1.2 Thị trường vốn (Capital Markets):
Khái niệm:
Là thị trường trao đổi mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn (thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm trở lên)
Thị trường này cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ, và các hộ gia đình Do thời gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền tệ nên các công cụ tài chính trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn tính thanh khoản kém hơn và đi theo nó là mức lợi tức kỳ vọng cũng cao hơn
Trang 7Thị trường tiền tệ là thị trường được hình thành trước vì ban đầu do kinh tế chưa phát triển nên nhu cầu vốn và nhu cầu tiết kiệm vốn chưa nhiều chủ yếu là ngắn hạn Sau khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn cho đầu tư xuất hiện thì thị trường vốn ra đời Bên cạnh việc huy động vốn dài hạn thông qua các định chế tài chính trung gian thì Chính phủ và các doanh nghiệp còn tự huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán
Một khi chứng khoán ra đời thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu mua bán chứng khoán Chính vì thế mà thị trường chứng khoán ra đời với tư cách là một bộ phận của thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán
Các công cụ của thị trường vốn bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty
Cấu trúc thị trường vốn:
Bao gồm:
+ Thị trường tín dụng dài hạn;
+ Thị trường chứng khoán
Trong đó:
+ Thị trường tín dụng dài hạn gồm thị trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tài chính
o Thị trường cho vay thế chấp là thị trường chuyên cho vay các món nợ dài hạn dùng để tài trợ mua bán địa ốc, nhà xưởng Do thời hạn dài và thường giá trị của các món nợ vay thường rất lớn để hình thành bất động sản (nhà, đất, nhà xưởng, ) nên cần có sự thế chấp tài sản cho món nợ vay này Tài sản thế chấp có thể là những tài sản sẵn có của những người đi vay và kể cả những tài sản được hình thành từ khoản nợ vay đó
o Thị trường cho thuê tài chính (tín dụng thuê mua) là hình thức tín dụng trung và dài hạn, trong đó người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và
là người nắm giữ quyền sở hữu tài sản đó Người thuê là người sử dụng tài sản và phải thanh toán tiền thuê cho người cho thuê tài sản trong một khoảng thời gian đã được thảo thuận trước Trong suốt thời gian thuê, người thuê không được quyền huỷ bỏ hợp đồng thuê trườc
kỳ hạn Khi kết thúc hợp đồng, người thuê có thể chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê như đã thoả thuận trong hợp đồng
+ Thị trường chứng khoán: Đây là thị trường được hình thành dùng để giao dịch mua bán chứng khoán Gồm bộ phận thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu dài hạn của các công ty
2.1.3 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn:
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài chính cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế Do đó, các nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường có mối liên quan bổ sung và tác động qua lại
+ Lãi suất trên thị trường tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trường vốn Nếu lãi suất của các ngân hàng trả cho người tiết kiệm cao,
Trang 8điều này sẽ khiến cho người tiết kiệm thích gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất và rủi ro thấp hơn so với việc đầu tư vào chứng khoán Bên cạnh đó, các biến đổi về giá cả và lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn như quan hệ cung cầu và giá của cổ phiếu và trái phiếu Chẳng hạn như, một số chứng khoán dài hạn có lãi suất thả nổi, căn cứ để điều chỉnh lãi suất là lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng Hay khi định giá của cổ phiếu hay trái phiếu tại một thời điểm bất kỳ nào đó trên thị trường, người ta phải tham khảo lãi suất của ngân hàng được hình thành trên thị trường tiền tệ Giữa lãi suất thị trường và giá của trái phiếu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất của ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, trái phiếu sẽ sụt giá và tình hình ngược lại khi lãi suất ngân hàng hạ xuống hơn lãi trái phiếu
+ Ngược lại, các thay đổi về chỉ số giá cổ phiếu của thị trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt hay xấu, đã đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ Đối với thị trường vốn, việc duy trì một lãi suất ổn định không thăng trầm quá đáng là cần thiết cho sự ổn định của thị trường
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực hiện đồng bộ xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo thành cơ cấu hoàn chỉnh của một thị trường tài chính Những chứng khoán của thị trường tiền tệ thường có xu hướng mua bán rộng rãi hơn so với những chứng khoán dài hạn hơn và như vậy có xu hướng lỏng hơn(tính lỏng thêm của những tài sản taì chính khiến chúng được ưa chuộng hơn và như thế làm dễ dàng hơn chức năng dẫn vốn và chức năng tiết kiệm của thị trường tài chính) Ngoài ra những chứng khoán ngắn hạn có dao động giá nhỏ hơn với những chứng khoán dài hạn khiến cho chúng là những khoản đầu tư an toàn hơn vì vậy các công ty và các ngân hàng hiện nay dung thị trường này để thu hút lãi từ vốn dư thừa mà họ mong đợi có được chỉ một cách nhất thời Các chứng khoán ở thị trường vốn như những cổ phiếu và trái phiếu dài hạn thường do những người trung gian tài chính như là các công ty bảo hiểm, và các quỹ trợ cấp nắm giữ những trung gian tài chính này cũng có chút ít không chắc chắn về các khoản vốn mà họ có thể có trong tương lai
2.2 Căn cứ vào tính chất phát hành của các công cụ tài chính:
Dựa vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài chính, người ta chia thị trường tài chính thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
2.2.1 Thị trường sơ cấp - Thị trường cấp 1 (Primary Markets):
Khái niệm:
Thị trường sơ cấp là nơi tập trung diễn ra quá trình mua bán lần đầu đối với các chứng khoán mới phát hành Thị trường sơ cấp còn được gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành Thị trường sơ cấp của chứng khoán là thị trường mà công chúng không biết
rõ bởi vì việc bán của chứng khoán cho người đầu tiên mua nó diễn ra trong phòng kín
Đặc điểm:
Trang 9+ Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho nhà phát hành Sau đó, việc mua bán các chứng khoán này trên thị trường chứng khoán thứ cấp sẽ không làm ảnh hưởng đến số vốn của nhà phát hành Cũng từ thị trường này mà lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế
+ Giá của chứng khoán trên thị trường sơ cấp (giá phát hành) do tổ chức phát hành quy định Việc phát hành lần đầu tiên chứng khoán ra công chúng là giai đoạn quan trọng nhất,
vì nếu không đạt được kết quả tốt thì chứng khoán phát hành sẽ không tiêu thụ được và làm mất uy tín của đơn vị phát hành Không phải nhà phát hành nào cũng có đủ điều kiện để thực hiện tốt việc phát hành nên trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và người đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành Tuỳ thuộc vào cung cầu, giá chứng khoán ở thị trường sơ cấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị danh nghĩa của chứng khoán
+ Người bán và người mua trên thị trường sơ cấp
Hoạt động giao dịch ở thị trường này thường được thực hiện theo hình thức bán buôn giữa nhà phát hành là bên cần huy động vốn (công ty, các tổ chức tài chính, Chính phủ, ) và các nhà đầu tư lớn (các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm,
…)
Các nhà đầu tư đóng vai trò như nhà bảo lãnh đợt phát hành chứng khoán Họ sẽ mua lại toàn bộ số chứng khoán phát hành ra theo mức giá thoả thuận (thường là thấp hơn mức giá công bố) rồi sau đó tiến hành bán lẻ ra thị trường cho các nhà đầu tư khác Các thoả thuận về bảo lãnh chứng khoán thường được tổ chức riêng, kín nên hoạt động giao dịch cụ thể tại thị trường sơ cấp thương không công khai
+ Là thị trường bán buôn chứng khoán, hoạt động không liên tục
2.2.2 Thị trường thứ cấp - Thị trường cấp 2 (Secondary Markets):
Khái niệm:
Thị trường thứ cấp, hay còn gọi là thị trường lưu hành chứng khoán, là thị trường giao dịch các công cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp còn được gọi là thị trường cấp hai Giao dịch các chứng khoán đã phát hành cung cấp tính thanh khoản cho các nhà đầu tư mà trong đó những cổ phiếu phát hành được đem ra mua bán hay như thị trường hối đoái, thị trường tài chính kì hạn và thị trường chọn lựa Những ví dụ về thị trường thứ cấp như Sở giao dịch chứng khoán Mỹ và New York, …
Đặc điểm:
+ Việc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các chứng khoán chứ không gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế (không trực tiếp mang lại vốn cho nhà phát hành) Hoạt động giao dịch chứng khoán có thể xác định giá trị thị trường của công ty phát hành ra chứng khoán đó Đây là thị trường cạnh tranh tự do
+ Giá cả của chứng khoán giao dịch do quan hệ cung cầu quyết định
+ Trên thị trường thứ cấp người mua và người bán là các nhà đầu tư
+ Là thị trường bán lẻ chứng khoán, hoạt động liên tục
Trang 10 Thị trường thứ cấp thực hiện hai chức năng:
(1) Thứ nhất, nó tạo điều kiện dễ dàng để bán những công cụ tài chính nhằm thu tiền mặt, tức làm cho các công cụ tài chính này “lỏng” thêm ra Tính lỏng thêm khiến cho các công
cụ được ưa chuộng hơn và nhờ vậy dễ dàng hơn cho công ty phát hành bán chúng ở thị trường cấp một
(2) Thứ hai, nó giúp cho công ty phát hành xác định giá của thị trường sơ cấp Những hãng mua các chứng khoán ở thị trường sơ cấp sẽ chỉ thanh toán cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận mua cho chứng khoán này Vì vậy, nếu giá chứng khoán ở thị trường thứ cấp càng cao thì công ty phát hành sẽ nhận được tổng vốn đầu tư càng lớn
2.2.3 Mối quan hệ, tác động qua lại giữa hai thị trường:
Thị trường sơ cấp là thị trường cơ sở, là tiền đề để cho thị trường thứ cấp hoạt động, nó tạo hàng hoá để mua bán trên thị trường thứ cấp
Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó có thể hoạt động một cách trôi chảy được : thị trường thứ cấp sẽ tạo tính lỏng cho các hàng hoá được cung cấp từ thị trường sơ cấp (qua đó làm tăng tính hấp dẫn và tạo sự thuận lợi cho các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp); thị trường thứ cấp cũng góp phần xác định giá các chứng khoán phát hành trên thị trường sơ cấp
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Trong thực tế, hoạt động của thị trường chứng khoán chúng ta không thể chỉ rõ ra được đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, bởi vì trong hoạt động của thị trường chứng khoán vừa diễn ra việc phát hành chứng khoán vừa diễn ra việc mua đi bán lại chứng khoán
2.3 Căn cứ vào cách thức huy động vốn:
Căn cứ vào cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được chia thành:
2.3.1 Thị trường nợ (Debt Markets): Là thị trường mua bán trao đổi các công cụ nợ trong đó công cụ nợ là công cụ làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ như trái phiếu tín phiếu hối phiếu,
…
Phát hành các công cụ nợ là phương pháp thông dụng nhất mà các công ty sử dụng
để vay vốn trên thị trường tài chính Đây là dạng thoản thuận theo hợp đồng, trong đó người vay phải trả cho người nắm giữ các công cụ nợ một khoản tiền nhất định trong những khoản thời gian đều đặn và giới hạn cố định (vốn và lãi) vào ngày tháng cụ thể (thời điểm đáo hạn – khi khoản chi trả cuối cùng được thực hiện ) Trong thời gian đáo hạn của công cụ nợ là khoản thời gian cho đến khi công cụ nợ hết hạn dựa vào thời gian đáo hạn
Có 3 công cụ nợ: công cụ nợ ngắn hạn thời gian đáo hạn nhơ hơn 1 năm, công cụ
nợ dài hạn thời gian đáo hạn lớn hơn 10 năm và công cụ nợ trung hạn thời gian đáo hạn khoảng 1 đến 10 năm