Trong báo cáo "Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi - Phạm vi vận động" của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed 2000 đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên bền
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc điạ bàn hành chính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về hướng Bắc
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng nằm trên địa bàn các
xã Thần Sa, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, được thành lập ngày 01 tháng 12 năm 1999 với diện tích là 11.280 ha theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên Khu vực này có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá Nơi đây còn lưu giữ các di chỉ khảo cổ học cũng như các di tích lịch sử, danh lam có giá trị
Năm 2006, thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5 tháng 12 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát 3 loại rừng, Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được quy hoạch theo ranh giới mới trên địa bàn 6 xã và 1 thị trấn gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường,
Vũ Chấn, Phú Thượng, Đình Cả, với tổng diện tích là 17.639,0 ha và đã được
Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết định số 1563/QĐ-UB ngày 08 tháng 8 năm 2007
Theo kết quả điều tra tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thành phần thực vật ở khu bảo tồn có 1.096 loài, 645 chi, 160 họ ở 5 ngành thực vật khác nhau; 56 loài thú 25 họ và 8 bộ; 117 loài Chim; 11 loài lưỡng cư; 28 loài bò sát; 77 loài cá thuộc 13 họ và 4 bộ; trong đó có nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam như: Lan hài Việt Nam, Re hương, Đảng sâm, Trò xanh, Nghiến gân ba, Hoàng đằng, Trai lý, Đinh mật, Hổ mang chúa,
Tê tê, Voọc mũi hếch, Voọc bạc má, Hươu xạ,
Đây là hệ thống rừng núi đá tập trung ở các xã phía Bắc huyện Võ Nhai,
là một trong ít khu vực còn lại diện tích và trữ lượng rừng tự nhiên đáng kể trong tỉnh Thái Nguyên Nó nằm trong vùng núi đá miền Bắc Việt Nam và có tính đa
Trang 2dạng sinh học như khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Kạn), khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên (Lạng Sơn), Với tính đa dạng sinh học cao có thể khẳng định đây là một mẫu rừng đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tỉnh Thái Nguyên Hiện tại, những tác động tiêu cực của một số người dân địa phương và các vùng lân cận đã và đang tàn phá khu rừng , những mối đe dọa không ngừng gia tăng làm cho nguy cơ mất đi một trong những hệ sinh thái rừng đặc thù và còn tính chất đa dạng sinh học cao là một thực tế khó tránh khỏi Trong khi đó, khả năng phục hồi rừng trên núi đá là rất khó khăn, nếu để mất rừng núi đá sẽ làm mất đi nguồn tài nguyên khó khôi phục và sẽ gây nên những hậu quả khó lường Trong những năm gần đây, công tác quản lý bảo vệ rừng đã được quan tâm và thực hiện một cách tốt hơn Tuy nhiên, do địa hình núi đá hiểm trở, phức tạp trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng, địa bàn quản lý rộng nên công tác bảo
vệ rừng thường xuyên gặp khó khăn, rừng trong khu vực vẫn tiếp tục bị đe doạ Mức độ đe dọa đối với hệ sinh thái rừng và các loài động thực vật quý hiếm vẫn đang ở mức cao, nếu không có sự quản lý bảo vệ theo quy chế của một khu bảo tồn thì hệ sinh thái rừng nơi đây sẽ tiếp tục bị tàn phá và trong những năm tới sẽ không còn giá trị bảo tồn Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên, trong
phạm vi luận văn, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng tỉnh Thái Nguyên”
Nguyễn Xuân Tùng
Trang 3Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về quản lý rừng bền vững
Từ lâu việc quản lý rừng bền vững đã được các nhà lâm học xem là vấn
đề cơ bản của kinh doanh rừng Phần lớn các học thuyết về rừng đều hướng vào phân tích những quy luật sinh trưởng, phát triển của cá thể và quần thể rừng trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên và những tác động kỹ thuật của con người làm cơ sở để xây dựng những biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao năng suất và tính ổn định của hệ sinh thái rừng Những kiến thức liên quan đến quản lý rừng bền vững được trình bày trong nhiều môn học khác nhau như Lâm học, trồng rừng, quy hoạch rừng, điều chế rừng, Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhận thức được vai trò quan trọng của rừng với môi trường và sự phát triển bền vững nói chung, vấn đề quản lý rừng bền vững nói riêng được mọi người quan tâm nhiều hơn trong đó có cả những chuyên gia lâm nghiệp, chủ rừng, chính quyền và nhiều tổ chức kinh tế - xã hội khác
Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) thì “QLRBV là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định, nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ của rừng như mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây
ra những tác động tiêu cực của những môi trường vật lý và xã hội” [26]
Theo Tiến trình Helsinki thì QLRBV quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội
và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu, không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác [26]
Hai khái niệm này đã nêu lên được mục tiêu chung của QLRBV là đạt được sự ổn định về diện tích , bền vững về tính đa dạng sinh học , về năng suất
Trang 4kinh tế và đảm bảo hiệu quả về môi trường sinh thái của rừng Tuy nhiên, vấn
đề QLRBV cũng phải đảm bảo tính linh hoạt khi áp dụng các biện pháp quản
lý rừng cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương được quốc gia
và quốc tế chấp nhận
Như vậy, QLRBV được hiểu là hoạt động nhằm ngăn chặn được tình trạng mất rừng, mà trong đó việc khai thác lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chất lượng của rừng, đồng thời duy trì và phát huy được chức năng bảo vệ môi trường sinh thái lâu bền đối với con người và thiên nhiên Quản lý rừng bền vững nhằm phát huy đồng thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng Hệ thống những biện pháp kinh tế,
xã hội và khoa học công nghệ phục vụ quản lý rừng bền vững thường được xây dựng trên cơ sở những kết quả nghiên cứu cụ thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế
và xã hội của mỗi địa phương
Mục tiêu cơ bản của QLRBV là đồng thời đạt được bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường [26] Nội dung cơ bản của những thuật ngữ này như sau:
- Bền vững về kinh tế: Lợi ích mang lại lớn hơn chi phí đầu tư và được
truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
- Bền vững về xã hội: Phản ánh sự liên hệ giữa sự phát triển tài nguyên
rừng và tiêu chuẩn xã hội, không diễn ra ngoài sự chấp thuận của cộng đồng
- Bền vững về môi trường: Đảm bảo hệ sinh thái ổn định, giữ gìn bảo toàn
sản phẩm của rừng, đáp ứng khả năng phục hồi rừng trên quá trình tự nhiên
Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì hiệu quả về mặt môi trường của rừng hoàn toàn có thể xác định được bằng giá trị kinh tế Thực chất việc nâng cao giá trị về môi trường sinh thái của rừng sẽ góp phần giảm những chi phí cần thiết để góp phần phục hồi và ổn định môi trường sống Với ý nghĩa này, quản lý sử dụng rừng bền vững đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một giải pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên
Trang 5xã hội chấp nhận, có cơ sở về mặt khoa học, có tính khả thi về mặt kỹ thuật và hiệu quả về mặt kinh tế
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển [17] Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được quan tâm Vì vậy, họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai
để canh tác nông nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng
đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: Các nhà lâm học Đức (G.L.Hartig - 1840; Heyer - 1883; Hundeshagen - 1926) đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; Các nhà lâm
Trang 6học Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi, vv
Vào cuối thế kỷ 20, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới Nếu theo đà mất rừng mỗi năm khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về kinh tế, xã hội và môi trường [12]
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về bảo vệ và phát triển rừng trong đó có Chiến lược bảo tồn (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNCED tại Rio de Janeiro năm 1992), Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước
về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) Những năm gần đây, nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục được tổ chức [12] Phân tích khái niệm về quản rừng bền vững của Tổ chức gỗ quốc tế thì QLRBV là cách thức quản lý vừa đảm bảo được các mục tiêu sản xuất, vừa đảm bảo giữ được các giá trị kinh tế, môi trường và xã hội của tài nguyên rừng
Là tổ chức đầu tiên áp dụng vấn đề quản lý rừng bền vững ở nhiệt đới,
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đã biên soạn một số tài liệu quan trọng như
“Hướng dẫn quản lý rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1990), “Tiêu chí đánh giá quản lý bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1992), “Hướng dẫn thiết lập
hệ thống quản lý bền vững các khu rừng trồng trong rừng nhiệt đới” (ITTO,
Trang 71993) và “Hướng dẫn bảo tồn ĐDSH của rừng sản xuất trong vùng nhiệt đới” (ITTO, 1993 b) Tổ chức ITTO đã xây dựng chiến lược quản lý bền vững rừng nhiệt đới, buôn bán lâm sản nhiệt đới cho năm 2000
Hai động lực thúc đẩy sự hình thành hệ thống QLRBV là xuất phát từ các nước sản xuất các sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn tái lập một lâm phận sản xuất ổn định và khách hàng tiêu thụ sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn điều tiết việc khai thác rừng để đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu Vấn đề đặt ra là phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV Trên quy mô quốc tế, hội đồng quản trị rừng đã được thành lập để xét công nhận tư cách của các tổ chức xét và cấp chứng chỉ rừng Với sự phát triển của QLRBV, Canada đã đề nghị đặt vấn đề QLRBV trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 [27]
Hiện nay, trên thế giới đã có bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia như: Canada, Thuỵ Điển, Malaysia, Indonesia,vv và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)”
đã được công nhận và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng [26]
Tháng 8/1998, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã họp hội nghị lần thứ 18 tại Hà Nội để thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí
và chỉ số về QLRBV ở vùng ASEAN (Viết tắt là C&I ASEAN) Thực chất C&I của ASEAN cũng giống như C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý [13] Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn, miền núi, thì quản lý rừng theo hình thức phát triển lâm nghiệp xã hội đang là một trong những mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
Trang 8Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra
để áp dụng quản lý rừng bền vững Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giải pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa Ban quản lý vườn và cộng đồng dân cư
Trong báo cáo "Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi - Phạm vi vận động" của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu và đưa
ra giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững tại Vườn quốc gia Richtersveld chủ yếu dựa trên hương ước (Contractual Agreement) quản lý bảo
vệ tài nguyên, trong đó người dân cam kết bảo vệ ĐDSH trên địa phận của mình còn chính quyền và Ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội khác
Tại Vườn Quốc gia Kruger của Nam Phi (2000), nhằm bảo vệ tài nguyên bền vững, Chính phủ đã trao quyền sử dụng đất đai, chia sẽ lợi ích từ du lịch cho người dân, ngược lại người dân phải tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên tại Vườn quốc gia
Theo Shuchenmann (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra của Madagascar, để thực hiện quản lý rừng bền vững, Chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi
để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài
Trang 9nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng[33]
Các mô hình quản lý bền vững các khu bảo vệ được nêu trên đã góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên Chúng đã đưa ra được một số chính sách như chia sẽ lợi ích, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội vv và một số giải pháp như đồng quản lý, quản lý có sự tham gia của người dân, v.v Tuy nhiên, các mô hình trên chỉ phù hợp với một số quốc gia và một
số khu bảo vệ có tiềm năng về du lịch, tài nguyên, đất đai phù hợp
bố ở những vùng sinh thái nhạy cảm như các vùng đầu nguồn rộng lớn, các vùng ngập mặn, các vùng sình lầy vv rừng còn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến môi trường của đất nước Nó góp phần quan trọng vào việc chống lại sự biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nước, giảm tần suất và cường
độ phá hoại của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng vv
Sự thất bại của công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu nguồn trong những thập kỷ qua đã làm Việt Nam mất đi hàng triệu hecta rừng và
là nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất và mức
độ thiệt hại của hạn hán, lũ lụt Hằng năm nhà nước phải đầu tư hàng nghìn tỉ đồng để củng cố đê điều và chống lũ Mất rừng cũng là nguyên nhân chính gây nên sự xói mòn mạnh và sự hoang hoá diện tích đất đồi núi Quản lý rừng không hiệu quả và thiếu quy hoạch cũng làm cho nhiều vùng đất trũng, đất ngập mặn trù phú bởi các thảm rừng tràm, rừng đước với hàng trăm loài động vật hoang dã
Trang 10có giá trị cao đã và đang bị thay thế bởi các vùng nuôi tôm, các rừng trồng công nghiệp với mức độ mặn hoá, phèn hoá ngày càng nghiêm trọng
Ngoài các nguyên nhân mất rừng do sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương thực, phá rừng lấy đất canh tác, khai thác lâm sản quá mức, rừng Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng của 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút vì bom đạn, chất độc hoá học tàn phá nặng nề Nếu như tỷ lệ che phủ của rừng nước ta năm 1945 là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 33,8% [16] Tỷ lệ che phủ thấp nhất là vào năm 1995 với 28,2% Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của nhà nước với những chính sách đổi mới, những chương trình trọng điểm quốc gia như Dự án 327, 661 đã làm cho diện tích rừng tăng lên một cách rõ rệt Đến năm 2000, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước đã nâng lên 33,2% [2] và đến cuối năm 2004 là 36,7% [4]
Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm hoạ sinh thái có thể xảy ra thì việc quản lý rừng bền vững ngày càng trở nên quan trọng Phần lớn các chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào QLRBV Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương trình 327, 773, 661, vv đều xem QLRBV là một trong những mục tiêu quan trọng Lâm nghiệp đang trở thành ngành kinh tế phát triển không chỉ nhờ vào khả năng cung cấp hàng hoá lâm sản mà còn nhờ vào khả năng các hàng hoá
và dịch vụ về môi trường đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế
Theo tài liệu trong Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp [2], trước năm
1945 quản lý lâm nghiệp được tổ chức theo hạt Ranh giới hạt lâm nghiệp không phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà là đơn vị quản
lý nhà nước trong một lãnh thổ có rừng, có chức năng thừa hành pháp luật Trong thời kỳ này, toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau:
+ Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân
Trang 11được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy Việc khai thác sử dụng lâm sản đang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá
+ Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản Những diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng lâm nghiệp quản lý, đấu thầu khai thác
+ Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng có tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ [16]
Nhìn chung, trong thời kỳ trước năm 1945 tài nguyên rừng Việt Nam khá phong phú, nhu cầu lâm sản của con người còn thấp, mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng chưa cao, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng khu vực Đông Dương, diện tích rừng nước ta vào năm 1945 còn khoảng 14,3 triệu hécta, tương đương độ che phủ 43% [16]
Từ sau hoà bình lập lại rừng được chia thành 3 chức năng để quản lý sử dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Tổ chức quản lý sử dụng 3 loại rừng được hình thành và phát triển từ năm 1986 [16]
Trong thời kỳ này, hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Ngay sau khi hoà bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh Nhiệm
vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế và của nhân dân, việc xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt
ra nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá rừng tự nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi và các lâm sản khác càng diễn ra nghiêm trọng hơn Những hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng như trên đã làm cho tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá một cách
Trang 12nặng nề Diện tích rừng đã bị thu hẹp từ 14,3 triệu ha năm 1943 xuống còn khoảng 10 triệu ha năm 1985 Giai đoạn từ năm 1946 - 1960, công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn định công tác định canh, định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh Giai đoạn 1961 - 1975 QLBVR được đẩy mạnh, khoanh nuôi tái sinh rừng gắn chặt với định canh, định cư Công tác khai thác rừng đã chú ý đến thực hiện theo các quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên Nhìn chung, công tác QLBVR được thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Sau ngày thống nhất đất nước, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên rừng thông qua các lâm trường quốc doanh, người dân và cộng đồng đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên rừng Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên rừng một cách nhanh chóng ở nước ta
Do yêu cầu về chức năng bảo tồn và phòng hộ của rừng ngày càng trở nên quan trọng, để đảm bảo môi trường bền vững phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội nên các hoạt động lâm nghiệp đặc biệt quan tâm đến 2 loại rừng đặc dụng
và phòng hộ Tháng 11/1997 Quốc hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010, trong đó gồm 2 triệu ha rừng đặc dụng, phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất Hiện nay, Nhà nước ta đã có hệ thống luật pháp và những chính sách quan trọng để quản lý, bảo vệ phát triển rừng, đó là:
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi 2004;
- Luật Bảo vệ Môi trường;
- Luật Đất đai;
- Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Chỉ thị 12/2003/CT-Ttg ngày 16/5/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;
Trang 13- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Thông tư số 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/3/1999 của Bộ NN&PTNT
về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân
cư thôn, làng, bản, ấp
- Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/1/2006 của Chính phủ quy định
về phòng cháy chữa cháy rừng
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
- Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng
- Quyết định 245/1998/QĐ - TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất Lâm nghiệp
- Quyết định số 186/1006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng
- Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ NN&PTNT về việc ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác
- Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010
- Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Ngoài ra, còn nhiều các văn bản pháp quy khác được ban hành từ Bộ NN & PTNT, liên bộ và cả từ chính quyền địa phương về những vấn đề liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng Những văn bản quy phạm đó đã góp phần giúp các địa phương và ngành Lâm nghiệp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn
Trang 14Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều quan tâm đến công tác QLBVR và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng bằng các giải pháp chính sách, tổ chức quản lý và xã hội hoá nghề rừng Cụ thể đã thực hiện cắt giảm sản lượng khai thác tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, đẩy mạnh và phát triển rừng trồng sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa nghề rừng, Bên cạnh đó, việc thiết lập các khu rừng đặc dụng, xây dựng các dự án trồng và bảo vệ rừng phòng hộ cũng rất được quan tâm thực hiện
Thấy được tầm quan trọng và giá trị to lớn của tài nguyên rừng và ĐDSH, từ năm 1962 Nhà nước ta đã thành lập rừng cấm Cúc Phương, đây là rừng đặc dụng đầu tiên của nước ta Đến nay năm 2003, trên toàn quốc đã có
26 vườn Quốc gia và 99 khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan và khu bảo tồn loài, sinh cảnh với tổng diện tích rừng đặc dụng là 2.541.675 ha [3]
Ngày nay, ở nước ta tuy nhận thức của con người về rừng và vai trò của
nó đã ngày càng đầy đủ hơn nhưng việc phục hồi những diện tích rừng đã mất lại gặp rất nhiều khó khăn do hạn chế về mặt kinh tế và kỹ thuật phục hồi rừng
Vì vậy, công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững càng trở nên cấp thiết hơn Nếu tình trạng suy thoái tài nguyên rừng không chấm dứt và tài nguyên rừng không được phục hồi nhanh chóng thì nguy cơ mất cân bằng sinh thái, giảm tính đa dạng sinh học sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, từ đó dẫn đến nhiều tổn thất
mà chúng ta sẽ gặp phải cả về kinh tế, xã hội và đặc biệt là môi trường
Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc, lương thực
đã đủ ăn và phục vụ xuất khẩu, nhiều loại chất đốt đã thay thế một phần gỗ củi như than, điện, ga, vì vậy, công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng đã có nhiều tiến bộ, Nhà nước có nhiều điều kiện thuận lợi để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng Cụ thể năm 1992, Chính phủ đã phê duyệt chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (chương trình 327) giai đoạn 1993-1998; tiếp đó là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện từ năm 1998-
Trang 152010 với mục tiêu là xây dựng, bảo vệ rừng để đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, đồng thời thoả mãn nhu cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân Hưởng ứng phong trào Quốc tế "Rừng và con người", tháng 6/1997 Bộ Nông nghiệp và PTNT thay mặt Chính phủ nước ta đã ký cam kết bảo tồn ít nhất 10% diện tích rừng gồm các hệ sinh thái rừng hiện có và cùng với cộng đồng Quốc tế, Việt Nam sẽ tham gia thị trường lâm sản bằng các sản phẩm được dán nhãn là khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ trong khối AFTA và WTO [11]
Hiện nay ở Việt Nam, tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV được tổ công tác FSC Việt Nam biên soạn trên cơ sở điều chỉnh bổ sung những tiêu chuẩn và tiêu chí quản lý rừng của FSC quốc tế, có sử dụng những ý kiến đóng góp của các nhà quản lý và sản xuất lâm nghiệp trong nước và trên thế giới, để vừa đảm bảo những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và đã được Ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt năm 1999 Do những tiêu chuẩn và những tiêu chí áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời phải phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp hoàn toàn trong mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương Vì vậy, khi áp dụng những tiêu chuẩn và những tiêu chí cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định, được các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế và FSC quốc gia chấp nhận [31], [22] QLRBV đang được đặt ra như một vấn đề bức xúc cả về quan điểm, phương pháp luận đến những giải pháp cụ thể Các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm trong nước và quốc tế về QLRBV thực sự là những bài học quý cho quản lý rừng ở mỗi địa phương Vấn đề đặt ra là quản lý rừng như thế nào được coi là quản lý bền vững? Để quản lý tài nguyên rừng bền vững cần phải thoả mãn những điều kiện gì? Trong các giải pháp quản lý, giải pháp nào sẽ tác động tích cực đến quản lý tài nguyên rừng bền vững trên địa bàn nghiên cứu? Đây chính là những câu hỏi mà nghiên cứu này cần giải quyết tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
Trang 16Về cơ sở lý luận, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Một
số đề tài nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một
số vùng như:
- Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San của Phạm
Đức Lâm và Lê Huy Cường 1998 [14], các tác giả đã đưa ra các giải pháp về quản
lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại lưu vực sông Sê San;
- Quản lý bền vững rừng khộp ở EaSúp - Đắc Lắc của Hồ Viết Sắc 1998
[19], tác giả đã đề xuất một số giải pháp về xã hội và quản lý nhằm quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp - Đắc Lắc;
- Du canh với vấn đề QLBVR ở Việt Nam của Đỗ Đình Sâm 1998 [20],
tác giả đã phản ánh thực trạng du canh, đánh giá sự ảnh hưởng của nó đồng thời nêu lên một số giải pháp chính sách về định canh và biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc nhằm quản lý rừng bền vững ở Việt Nam;
- Sử dụng đất tổng hợp bền vững của Nguyễn Xuân Quát năm 1996 [18],
tác giả đã nêu lên những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng đất, các mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam, đồng thời đã đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và
- Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia của Trần Ngọc Lân và cộng sự (1999) thực hiện tại Vườn Quốc
gia Pù Mát [15], các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về mặt xã hội và kinh
tế để phát triển bền vững vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát;
Trang 17- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
của Suree và Đào Thị Minh Châu (2004) [7], các tác giả đã đánh giá thực trạng
và ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu ra được một số giải pháp về xã hội và kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống;
- Dự án kết hợp bảo tồn và phát triển (Integrated Conservation and Development - ICD) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên do Quỹ Quốc tế về Bảo tồn
thiên nhiên (WWF) tài trợ (1997), trong dự án này chỉ đưa ra giải pháp đồng quản lý tài nguyên trong đó đề cập đến sự tham gia quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương và các bên liên quan mà chưa đề cập đến các giải pháp khác nhằm QLRBV
Tuy các kết quả nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng ở khu vực còn chưa đầy đủ và có tính hệ thống, nhưng những kết quả nghiên cứu đó sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu một số giải pháp chính
áp dụng cho công tác quản lý sử dụng rừng theo hướng tổng hợp và bền vững trên địa bàn Khu BTTN Thần Sa Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên
Đối với Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng cho tới nay mặc dù đã được thành lập và đi vào hoạt động nhưng trong thực tiễn quản lý tài nguyên rừng còn gặp nhiều khó khăn do chưa có những nghiên cứu cụ thể về các giải pháp
Vì địa bàn Khu BTTN rộng và tình hình quản lý, bảo vệ rừng phức tạp nên cần thiết phải vận dụng đồng thời nhiều biện pháp kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ Những biện pháp này phải giải quyết hài hoà những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường với bảo tồn Chúng phải được lồng ghép với nhau để đáp ứng đồng thời được 3 mục đích là góp phần nâng cao đời sống kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ được Khu BTTN Vì lý do đó, đề tài luận văn đặt ra là cần thiết
Trang 182.2 Giới hạn nghiên cứu
- Về địa điểm: Giới hạn trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng và khu vực vùng đệm thuộc địa phận 7 xã, thị trấn huyện Võ Nhai, bao gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường, Vũ Chấn, Phú Thượng, Thị trấn Đình Cả
- Về nội dung: Chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến
tài nguyên rừng, những giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến công tác bảo tồn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
- Đánh giá thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
- Bước đầu đánh giá hiệu quả các giải pháp đã áp dụng trong quản lý bảo
vệ rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
Trang 19- Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cách tiếp cận và quan điểm nghiên cứu của đề tài
* Cách tiếp cận:
Nghiên cứu này xuất phát từ việc khảo sát, đánh giá các nhân tố chi phối đặc thù đến công tác bảo tồn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khu bảo tồn thiên nhiên; thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở khu vực nghiên cứu, cơ chế,
chính sách,… từ đó nhìn nhận rõ mối quan hệ của công tác quản lý bảo tồn tài
nguyên rừng với các vấn đề kinh tế, xã hội của địa phương để thấy rõ được
những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác bảo tồn tài
nguyên rừng ở đây Trên cơ sở đó, đề tài đi sâu xem xét hiệu quả của các giải
pháp đã áp dụng, những ưu điểm, nhược điểm cần khắc phục làm cơ sở cho
việc đề xuất các giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng Phương hướng giải quyết vấn đề được khái quát hóa qua sơ đồ sau:
Hình 2.1: Sơ đồ các bước tiếp cận nghiên cứu
Các thông tin về thực trạng quản lý rừng trong vùng nghiên cứu
Các thông tin về thể chế, chính sách trong quản
Trang 20Trên cơ sở đó, vấn đề nghiên cứu được xem xét trên các quan điểm sau:
- Quan điểm hệ thống: Rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên,
vừa là một bộ phận của hệ thống kinh tế - xã hội và bản thân nó cũng là một hệ thống hoàn chỉnh
+ Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên: Sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc vào những quy luật của tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố khác trong hệ thống tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật, vv Do rừng có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên mà có thể quản lý rừng bằng tác động vào các yếu tố tự nhiên Trên quan điểm hệ thống có thể xem những giải pháp quản lý rừng như là những giải pháp điều khiển hệ thống
tự nhiên để ổn định thành phần và các mối quan hệ trong hệ sinh thái rừng Vì vậy, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến công tác quản
lý rừng là cần thiết
+ Rừng cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng, khai thác lâm sản, làm nương rẫy, đốt than, săn bắt chim thú, phát triển du lịch, vv Các hoạt động này lại phụ thuộc vào mức sống kinh tế, cơ cấu ngành nghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận, vv Ngoài ra, rừng cũng tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua việc cung cấp nguyên liệu, năng lượng và thông tin cho nhiều hoạt động kinh tế của con người Vì có quan
hệ chặt chẽ với các yếu tố trong hệ thống kinh tế nên có thể quản lý rừng bằng việc tác động vào những yếu tố kinh tế
+ Rừng cũng là một thực thể xã hội Sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc nhiều vào hoạt động của con người Những hoạt động đó theo hướng bảo
vệ và phát triển rừng hay tàn phá rừng luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức về giá trị của rừng, ý thức với pháp luật nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng, kiến thức về quản lý rừng, văn hoá, phong tục tập quán liên quan đến quản lý rừng, vv Do rừng có liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã
Trang 21hội nên có thể quản lý rừng bằng cách tác động vào những yếu tố xã hội Vì vậy, việc phân tích những ảnh hưởng của yếu tố xã hội đến rừng và hiệu quả quản lý rừng là rất cần thiết và quan trọng
- Quản lý rừng bền vững phải là những hoạt động tổng hợp và đa ngành:
Quản lý rừng là hoạt động mang tính kỹ thuật, nhưng cũng là hoạt động mang tính kinh tế - xã hội sâu sắc Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng sẽ bao gồm
cả những giải pháp khoa học công nghệ và những giải pháp kinh tế - xã hội Những giải pháp này sẽ liên quan đến các ngành như Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Thuỷ lợi, Địa chính, Giao thông, Môi trường,
- Quản lý rừng bền vững phải là hoạt động phát triển: Quản lý rừng bền
vững vừa phải bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên vừa phải hướng vào cải thiện chất lượng cuộc sống con người Vì vậy, nghiên cứu quản lý rừng bền vững phải được thực hiện theo cách tiếp cận của nghiên cứu phát triển
- Quản lý rừng bền vững cần phải có sự tham gia: Nằm trên một địa bàn
rộng lớn, rừng có mối liên quan chặt chẽ với đời sống xã hội đặc biệt là đối với những người dân sống gần rừng Vì vậy, công tác quản lý bảo vệ rừng không chỉ là trách nhiệm của Ban quản lý khu bảo tồn mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến sự tham gia của những người dân sống gần rừng
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Thu thập các thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu đã có
- Những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về quản lý rừng của các nước trên thế giới
- Những tài liệu về thể chế, chính sách trong nông lâm nghiệp ở Việt Nam như Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chính sách giao đất lâm nghiệp, Chính sách khoán bảo vệ rừng; quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng và đất lâm nghiệp,vv
Trang 22- Những tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
- Những tài liệu, kết quả nghiên cứu về tài nguyên động thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
2.4.2.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA
+ Lựa chọn 162 người là cán bộ quản lý, cán bộ thôn và các hộ gia đình
để phỏng vấn theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA Các hộ gia đình và cán bộ được lựa chọn từ 5 xã thuộc khu vực trung tâm vùng lõi và vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường, Vũ Chấn
Tiêu chí để lựa chọn là các cá nhân, hộ gia đình phải đại diện cho các địa
vị xã hội, mức sống, địa bàn cư trú, nhận thức, thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận, lĩnh vực quản lý (nếu là cán bộ) khác nhau
+ Địa điểm khu vực thu thập thông tin có tính đại diện cao, phản ánh đúng thực trạng vấn đề nghiên cứu
+ Các chủ đề phỏng vấn tập trung vào: Mức sống của các hộ gia đình, những hoạt động có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, sự phụ thuộc của người dân vào rừng, vai trò của người dân đối với công tác bảo tồn tài nguyên rừng
và những kiến nghị, đề xuất của họ,…
+ Công cụ điều tra chủ yếu là bảng các câu hỏi phỏng vấn với những câu hỏi định hướng, bán định hướng và không định hướng
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA được áp dụng để
kiểm tra kết quả, củng cố những thông tin thu được từ phương pháp kế thừa cũng như phương pháp đánh giá nhanh nông thôn; xác định những cơ hội, thách thức đến quá trình quản lý rừng; lựa chọn các giải pháp ưu tiên cũng như
Trang 23đề xuất và kiến nghị những biện pháp quản lý sử dụng có hiệu quả và hợp lý tài nguyên rừng
+ Đề tài thực hiện những cuộc trao đổi, thảo luận với 5 nhóm người đại diện cho 5 xã với những chủ đề có liên quan đến quản lý rừng Trong quá trình trao đổi, thảo luận, người thực hiện đề tài giữ vai trò là người thúc đẩy và định hướng cuộc trao đổi mà không đưa ra những ý kiến mang tính quyết định và không áp đặt tư tưởng của mình cho những thành viên tham gia thảo luận + Lựa chọn đối tượng: Nhóm đối tượng phỏng vấn, thảo luận thu thập thông tin đa dạng, phong phú về địa vị xã hội, mức sống, địa bàn cư trú, nhận thức, thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận, lĩnh vực quản lý khác nhau nhưng đều có sự hiểu biết về các vấn đề có liên quan đến quản lý rừng
+ Nội dung trao đổi, thảo luận tập trung vào:
Lịch sử thôn bản: Lịch sử thôn bản được sử dụng để tìm hiểu quá trình hình thành, định cư của các thôn bản, quá trình chuyển đổi các phương thức tổ chức sản xuất, diễn biến của hoạt động sử dụng rừng và đất rừng, sự thay đổi
về nhận thức, kiến thức của người dân và những nguyên nhân thay đổi trong quản lý rừng của cư dân địa phương
Biểu đồ thời gian: Biểu đồ thời gian được sử dụng để thu thập thông tin liên quan đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng
Lịch thời vụ: Lịch thời vụ được sử dụng để thu thập thông tin về bố trí
cơ cấu cây trồng, biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây hiện có ở địa phương để xem xét đánh giá các kiến thức bản địa tương ứng
+ Công cụ được lựa chọn cho phương pháp này là bảng câu hỏi phỏng vấn Các câu hỏi phỏng vấn là những câu hỏi bán định hướng và được sắp xếp theo chủ đề phỏng vấn
2.4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để hiệu chỉnh và hoàn thiện kết quả thông tin thu thập sau khi xử lý tài liệu ngoại nghiệp Với phương pháp
Trang 24này, kết quả phân tích đánh giá thông tin của đề tài được gửi đến một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rừng bền vững, các nhà quản
lý và tổ chức cộng đồng của địa phương đóng góp ý kiến Những ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các thông tin đã thu thập ở địa phương
2.4.3 Phương pháp phân tích thông tin và xử lý số liệu
Các số liệu, thông tin thu thập được trong thời gian ngoại nghiệp sẽ được thống kê, sắp xếp theo thư tự ưu tiên, mức độ quan trọng của từng vấn đề, từng
ý kiến và từng quan điểm Sau đó, thông tin được tổng hợp, phân tích và đánh giá theo phương pháp SWOT, khung logic và bằng các phần mềm thông dụng Excel, đối chiếu với kết quả điều tra nhanh Những thông tin thu được bằng phân tích định tính và định lượng đều có tầm quan trọng như nhau và được sử dụng làm tư liệu cơ bản để xây dựng báo cáo tổng kết đề tài Các thông tin, số liệu được tổng hợp, phân tích, đánh giá theo các nội dung sau:
- Phân tích, đánh giá các thông tin về điều kiện tự nhiên liên quan đến quản lý rừng
- Phân tích, đánh giá các thông tin về kinh tế liên quan đến quản lý rừng
- Phân tích các thông tin về thực trạng quản lý rừng trong vùng nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá các thông tin về xã hội liên quan đến quản lý rừng
- Phân tích, đánh giá các thông tin về thể chế chính sách, những tồn tại, vướng mắc về chế độ chính sách trong quản lý rừng
2.5 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.5.1 Điều kiện tự nhiên
2.5.1.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc địa giới hành chính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía Bắc,
có toạ độ địa lý:
Trang 25- Từ 105051’05" đến 106008’38" kinh độ Đụng;
- Từ 21045’12" đến 21056’30" vĩ độ Bắc
Về ranh giới:
Phớa Bắc giỏp huyện Na Rỡ, huyện Chợ Mới Tỉnh Bắc Kạn
Phớa Đụng giỏp huyện Bắc Sơn, Tỉnh Lạng Sơn
Phớa Tõy giỏp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thỏi Nguyờn
Phớa Nam giỏp với cỏc huyện Vừ Nhai tỉnh Thỏi Nguyờn
Phạm vi quy hoạch Khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chớnh bao gồm một phần diện tớch của của 6 xó và một thị trấn thuộc huyện Vừ Nhai gồm: Thị trấn Đỡnh Cả, xó Phỳ Thượng, xó Sảng Mộc, xó Thần Sa, xó Thượng Nung, xó Nghinh Tường, xó Vũ Chấn Tổng diện tớch đất quy hoạch vựng lừi khu rừng đặc dụng là 17.639,0 ha
2.5.1.2 Địa hỡnh địa mạo
Nhỡn chung, địa hỡnh Khu bảo tồn thiờn nhiờn Thần Sa - Phượng Hoàng
bị chia cắt khỏ mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn hỡnh thành Chỳng
cú đặc điểm chung là: nỳi đỏ cú dốc lớn, bị chia cắt sõu Cú 3 kiểu địa hỡnh chớnh như sau:
+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm điện tích khá lớn,
có độ cao d-ới 800m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp vùng đệm của khu bảo tồn
+ Núi kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hầu hết diện tích khu bảo tồn, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 800m
+ Nhóm kiểu địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất: Nhóm này có địa hình thấp, bằng phằng, ở giữa những dãy núi th-ờng xuất hiện những con sông, suối và những cánh đồng lúa hoặc hoa màu của dân chúng thuộc vùng đệm khu bảo tồn
2.5.1.3 Khớ hậu
Khí hậu nóng ẩm, m-a mùa, khá lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh h-ởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từ Bắc Sơn dến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và th-ờng có s-ơng muối vào mùa đông
Trang 26Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa m-a từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,30C; nhiệt độ không khí tối thấp trung bình năm 19,30C, nhiệt độ không khí tối cao trung bình năm 26,90C
L-ợng n-ớc chảy th-ờng xuyên quanh năm Tuy m-a mùa, tập trung song hầu nh- ch-a xảy ra lũ ống, lũ quét, gây hậu quả lớn cho sản xuất và đời sống cho nhân dân
Điều kiện khí hậu cùng với đặc điểm địa hình địa mạo tạo nên những vùng có tài nguyên động, thực vật rừng phong phú, đặc hữu và quý hiếm
2.5.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Qua điều tra, đất đai tại khu bảo tồn gồm 2 loại chính:
- Nhóm đất màu nâu đỏ (feranit) trên núi đá vôi và những nơi dốc tụ chân núi đá:
Loại đất này th-ờng nằm kẹp giữa những dãy núi đá vôi, trên đất th-ờng xuyên xuất hiện nhiều đá lộ đầu, nh-ng đất có độ phì cao nên th-ờng bị đồng bào phát n-ơng làm rẫy Đất có thành phần cơ giới nặng, hơi chua (pH=5,5-6,5), tầng B phát triển mạnh và có mầu đỏ t-ơi rất dễ nhận biết
Xen kẽ loại đất đỏ có loại đất xám trên đá vôi với diện tích không lớn, nh-ng độ phì cao hơn, hàm l-ợng mùn và tầng mùn lớn hơn, kết cấu đất đa phần là hạt, trên loại đất này đồng bào th-ờng trồng ngô, khoai sọ, cây trồng sinh tr-ởng rất tốt
Trang 27- Loại đất đỏ vàng hoặc vàng xám trên phiến thạch sét và đá biến chất:
Đây là loại đất chiếm diện tích khá lớn, nó đ-ợc phân bố ở các thôn: Mỏ
Gà, Cao Lầm, Cao Biền (xã Phú Th-ợng), thôn Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn Dao (xã Thần Sa) Tầng đất của nó từ mỏng đến trung bình và dày Phân bố chủ yếu ở các vùng
đồi núi đất có độ cao d-ới 300-600 m, loại đất này có thành phần cơ giới biến
động khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng nói chung, trên các loại đá biến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn so với trên đá phiến thạch sét
Trong khu vực điều tra có độ cao trên 600-700 m vùng núi đất cũng xuất hiện loại đất này, nh-ng loại đất này ở vùng cao, còn rừng già nên có l-ợng mùn nhiều hơn, tầng A1 phát triển hơn và mầu sẫm hơn, tầng B có hàm l-ợng mùn khá lớn, có nơi có cả tầng AB Độ dày tầng đất thuộc loại trung bình, nhiều nơi có đá lẫn với hàm l-ợng khá lớn, đất thuộc loại chua
2.5.2 Điều kiện kinh tế - xó hội
2.5.2.1 Dõn số, lao động và dõn tộc
Tổng số lao động trong vựng là 9.101 lao động chiếm 39 % dõn số, trong
đú lao động nụng nghiệp là chủ yếu: chiếm 85,7%; lao động thuộc cỏc ngành nghề khỏc bao gồm cỏn bộ chủ chốt xó, huyện, cỏn bộ y tế, giỏo dục
2.5.2.1.2 Dõn tộc và phong tục tập quỏn canh tỏc, sử dụng rừng
Trong khu vực cú 5 dõn tộc chủ yếu sinh sống là Tày, Dao, Nựng, Kinh, H'Mụng Ngoài ra, cũn một số dõn tộc khỏc cú ớt người như Cao Lan, Sỏn Dỡu Dõn tộc Tày cú số dõn đụng nhất với 8.820 người, chiếm 37,9% Tiếp đến là dõn tộc Dao với 5.816 người, tỷ lệ 25 % Dõn tộc Nựng cú 4.151 người, chiếm 17,8% Dõn tộc Kinh cú 2.693 người, chiếm 11,6% Dõn tộc Mụng cú 1.518 người, chiếm 6,5% Cỏc dõn tộc cũn lại chỉ cú: 284 người, chỉ chiếm 1,2%
Trang 28Cùng chung sống trong một cộng đồng, đã có nhiều hoạt động học tập, trao đổi, giao lưu lẫn nhau nhưng giữa các dân tộc vẫn có những phong tục tập quán canh tác khác nhau
2.5.2.2 Tình hình kinh tế trong khu vực
Theo kết quả điều tra dân sinh kinh tế xã hội, cuộc sống của nhân dân trong khu vực còn ở mức thấp Tổng sản lượng lương thực bình quân năm đạt: 9.208,8 tấn, trung bình đạt 451 kg/người/năm Thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/người/năm Số hộ nghèo trong khu vực là 1.1615 hộ, chiếm 32,5 % tổng số
hộ Do cuộc sống khó khăn, người dân thường xuyên vào rừng kiếm củi, khai thác gỗ, để kiếm sống đã tác động xấu đến rừng Đây là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm giá trị của rừng cả về diện tích và chất lượng 2.5.2.3 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Giao thông trong vùng chưa phát triển Toàn bộ hệ thống
giao thông chỉ có gần 150 km đường ô tô Trong đó chỉ có 13 km đường nhựa, còn lại là đường cấp phối và đường đất Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường
ô tô đến được trung tâm xã Tuy nhiên chất lượng đường rất xấu nên việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ
- Thủy lợi: Hệ thống kênh mương đã xây dựng được 17.610 m, trong đó
có 9.110 m kênh mương cứng và 8.500 m kênh mương đất Hiện nay, một số đoạn kênh mương đã xuống cấp và hiệu suất sử dụng các công trình này chưa cao, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất
- Điện: Tất cả các xã trong khu vực đã có hệ thống điện lưới quốc gia
Tuy nhiên, đường điện mới chỉ được kéo đến các trung tâm xã và một số thôn bản nằm ven đường giao thông chính của xã Các bản nằm xa trục đường chính vẫn chưa được sử dụng điện Hiện tại, một số hộ sử dụng máy thủy điện nhỏ và máy nổ để phát điện sử dụng trong gia đình
- Y tế, giáo dục: Các xã trong khu vực đều đã xây dựng trạm y tế đặt ở
trung tâm xã Tại các trạm y tế các xã có 10 bác sỹ, 14 y sỹ, 7 y tá hoạt động
Trang 29khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng Ngoài ra còn có 70 cộng tác viên tham gia y tế cộng đồng, 9 y sỹ hoạt động y tế học đường Về giáo dục: Toàn
bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học: mầm non, tiểu học, phổ thông
cơ sở và phổ thông trung học Các trường ở thị trấn và ở trung tâm các xã được xây dựng khá khang trang nên điều kiện học tập đã cơ bản đảm bảo việc dạy và học của giáo viên và học sinh Còn lại một số trường ở các thôn bản, nhất là các lớp tiểu học chưa được xây dựng kiên cố Cơ sở vật chất rất thiếu thốn
2.5.3 Nhận xét và đánh giá chung
2.5.3.1 Thuận lợi
- Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng có giá trị cao về đa dạng sinh học, có hệ động thực vật đa dạng và phong phú Đặc biệt có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm, nhiều loài có trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới Đây là cơ
sở quan trọng cho việc bảo tồn tài nguyên động thực vật tại địa phương
- Thảm thực vật rừng ở Khu BTTN có tỷ lệ che phủ cao, mang một ý nghĩa lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, đặc biệt là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài sinh vật trong khu vực
- Tiềm năng du lịch: Trong khu bảo tồn có rất nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh có thể khai thác tiềm năng du lịch như Bãi Đá Ngườm, Hang Phượng Hoàng, Suối Mỏ Gà,… và với một diện tích lớn rừng kín thường xanh trên núi đá vôi có tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn
- Trong khu vực có Hạt kiểm lâm Võ Nhai hoạt động tích cực đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác bảo tồn của Khu bảo tồn
2.5.3.2 Khó khăn
- Dân cư sống trong vùng chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, trình
độ dân trí thấp, đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng, vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo tồn tài nguyên trong
vùng như canh tác nương rẫy, săn bắn, khai thác gỗ củi,…
Trang 30- Ban quản lý Khu BTTN đã được thành lập, hoạt động tích cực, song chưa thực sự phát huy được vai trò nòng cốt thúc đẩy nền kinh tế lâm nghiệp khu vực phát triển và bảo vệ rừng Công tác chuyển giao kỹ thuật lâm nghiệp tiến hành vẫn còn chậm
- Người dân trong vùng có trình độ dân trí thấp, thiếu kiến thức hiểu biết
về bảo tồn thiên nhiên Đồng bào ở đây chưa được giáo dục tuyên truyền về bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên
- Cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, các cụm dân cư sống rải rác, nhiều thôn bản sống ở nơi cao xa Đó là những điều kiện bất lợi cho việc đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội của khu vực
- Công tác định canh định cư đã được Đảng và Chính phủ quan tâm nhưng nguồn vốn quá ít và nhỏ giọt, hoặc còn mang tính chất rải đều nên hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo tồn tài nguyên rừng
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến công tác bảo tồn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
3.1.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên
Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng có được tổng hợp ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên của Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
- Địa bàn rộng, tiếp giáp với nhiều tỉnh (Bắc Kạn, Lạng Sơn)
- Nhiều trục đường vào rừng, khó quản lý lượng người vào rừng
- Khó kiểm soát việc vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép
2 Địa hình - Hiểm trở, dễ xác định
ranh giới tự nhiên
- Hạn chế một số tác động vào rừng
- Khó quản lý ranh giới
- Công tác tuần tra kiểm soát gặp khó khăn
- Khó giám sát diễn biến rừng và
đa dạng sinh học
- Điều tra nghiên cứu động thực vật gặp khó khăn
- Thường xảy ra thiên tai
3 Đất đai - Quỹ đất tiềm năng lớn - Đất nông nghiệp ít
- Đất canh tác bị rửa trôi, bạc màu nhanh chóng
4 Khí hậu, thuỷ
văn
- Lượng mưa khá lớn
- Hệ thống sông suối lớn, tạo điều kiện giao thông thuỷ
- Tổng nhiệt lượng lớn
- Lưu vực khá lớn tiềm năng thuỷ năng lớn
- Lượng mưa phân bố không đều trong năm, dễ gây ra lũ lụt, hạn hán
- Sông suối ngắn, độ dốc lớn, thường cạn kiệt vào mùa khô
- Vào mùa mưa, thường xảy ra lũ lụt
Trang 32- Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới:
Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng nằm gần tuyến đường Quốc lộ 1b
từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn và tuyến đường quốc lộ số 3 đi Bắc Kạn, Cao Bằng nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trong vùng, đây là các tuyến đường giao thông rất thuận lợi cho việc đi lại nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức cho việc kiểm soát vận chuyển lâm sản trái phép
Địa bàn của Khu BTTN rộng với trên 200 km đường ranh giới, tiếp giáp với nhiều địa phương khác như các huyện Na Rì, Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn; huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và huyện Bắc Sơn của tỉnh Lạng Sơn
Với vị trí địa lý và phạm vi ranh giới như vậy, địa bàn rộng cùng với số lượng các trục đường vào rừng tự mở của người dân nhiều đã làm cho công tác tuần tra kiểm soát các hoạt động có tác động đến rừng gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó số lượng dân cư trong vùng lõi của khu BTTN cao (20.559 người)
đã gây áp lực rất lớn vào khu BTTN, đặc biệt là trong việc cung cấp các nhu cầu tại chỗ cho người dân như nguồn gỗ củi làm chất đốt, vật liệu làm nhà và các gia dụng khác,… Từ xa xưa, đời sống người dân địa phương với cơ chế tự cung, tự cấp đã phụ thuộc rất lớn vào rừng với hơn 90% nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống được cung cấp từ nguồn tự nhiên ở trong rừng Những nhu cầu thiết yếu này đã bị ảnh hưởng rất lớn từ khi khu BTTN được thành lập và đưa vào quản lý theo Quy chế quản lý rừng được quy định tại Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ Đây là một trong những khó khăn và sức ép lớn nhất của công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng trong những năm qua
- Địa hình:
Về địa hình, Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng chủ yếu là kiểu địa hình núi đá vôi Phần lớn diện tích của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có độ dốc khá lớn từ 300- 600, trong đó địa bàn của các xã Thần Sa, Thượng Nung, Sảng
Trang 33Mộc, Nghinh Tường là hiểm trở nhất Phần ranh giới của Khu BTTN giáp với huyện Bắc Sơn - tỉnh Lạng Sơn và huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn có địa hình rất phức tạp, độ chia cắt sâu, đường đi lại khó khăn, dân cư sống tiếp giáp với khu bảo tồn không có Điều này có những thuận lợi là những hoạt động tác động xấu đến rừng và đa dạng sinh học của khu bảo tồn như xâm lấn rừng, săn bắt thú rừng và khai thác lâm sản; việc xác định ranh giới tự nhiên trên thực địa dễ Tuy nhiên, với địa hình chia cắt, hiểm trở và trải dài trên địa bàn rộng đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học Việc thực hiện các công tác quản lý bảo vệ tại hiện trường như việc quản lý ranh giới gặp rất nhiều khó khăn, công tác tuần tra, kiểm soát, theo dõi giám sát diễn biến rừng
và đa dạng sinh học, công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học, việc đấu tranh truy quét các hoạt động xâm hại đến rừng gặp rất nhiều khó khăn Đối với phân khu phục hồi sinh thái có địa hình ít hiểm trở hơn, độ dốc trung bình từ 200
- 300, các khe suối lớn hơn, ít ghềnh thác hơn và có thể đi lại bằng đường thuỷ Vùng này bao gồm các xã Phú Thượng, Thị trấn Đình Cả, Vũ Chấn và một phẩn diện tích của các xã Sảng Mộc, Nghinh Tường, Thần Sa và Thượng Nung Đây
là vùng tiếp giáp với các trục giao thông đường bộ, thuỷ bộ thuận lợi như Quốc
lộ 1b, quốc lộ 3, sông Cầu và là vùng có nhiều dân cư sống tập trung tiếp giáp với ranh giới của Khu bảo tồn, do đó đây cũng là khu vực thường xảy ra các hoạt động gây hại đến rừng và đa dạng sinh học như khai thác gỗ và các lâm sản phi gỗ, săn bắt động vật hoang dã, xâm lấn rừng làm nương rẫy và nguy cơ gây
ra cháy rừng Điều này đã làm giảm đáng kể số lượng cá thể một số loài, làm giảm chất lượng rừng, mất sinh cảnh, suy thoái các hệ sinh thái đồng thời gây nhiễu loạn đến hoạt động của các loài động vật Mặt khác do địa hình dốc, lưu vực rộng nên khi lượng mưa lớn thường xảy ra lũ lụt, trượt lở đất ảnh hưởng lớn đến sản xuất, sinh hoạt của người dân và ảnh hưởng xấu đến tài nguyên rừng và
đa dạng sinh học và các hoạt động bảo tồn
Trang 34- Đất đai:
Thuận lợi về đất đai là trong vựng nghiờn cứu cú nhúmđất màu nõu đỏ (feranit) trên núi đá vôi và những nơi dốc tụ chân núi đá Vựng đất này rất phự hợp với việc trồng cỏc loại cõy ăn quả cú giỏ trị, cú năng suất và chất lượng cao Với quỹ đất này nếu cú cỏc giải phỏp hợp lý về canh tỏc, sử dụng và khoa học cụng nghệ thỡ sẽ mang lại sản phẩm cho địa phương rất lớn, gúp phần nõng cao mức sống của người dõn, tạo cụng ăn việc làm từ đú sẽ giảm đỏng kể sức
ộp vào Khu BTTN Tuy nhiờn, phần lớn diện tớch canh tỏc trong vựng là đất dốc nờn thường bị rửa trụi mạnh và bị bạc màu nhanh chúng làm cho năng suất cõy trồng bị giảm Bờn cạnh đú điều kiện thõm canh và kỹ thuật canh tỏc tiờn tiến chưa được ỏp dụng nờn năng suất nụng nghiệp thấp, vỡ vậy, để đỏp ứng việc cung cấp lượng lương thực thiếu hụt thỡ người dõn vẫn canh tỏc nương rẫy, vẫn thường xuyờn vào rừng để khai thỏc, săn bắt nhằm cải thiện thờm thu nhập Điều này đó gõy khú khăn lớn trong cụng tỏc quản lý bảo vệ rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học
- Khớ hậu - thuỷ văn:
Về khớ hậuthuỷ văn, Khu bảo tồn thiờn nhiờn Thần Sa - Phượng Hoà ng nằm trong vực ảnh h-ởng bởi địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từ Bắc Sơn dến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và th-ờng có s-ơng muối vào mùa đông
Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong mựa khụ thường xảy ra hạn hỏn ảnh hưởng rất lớn đến cụng tỏc quản lý bảo vệ rừng như cụng tỏc phũng chỏy chữa chỏy rừng Ngoài ra, hạn hỏn sẽ gõy nờn thiếu nước làm cho sản xuất nụng nghiệp và sinh hoạt của người dõn bị ảnh hưởng nặng nề, đời sống người dõn gặp khú khăn
Mựa mưa từ thỏng 5 đến thỏng 9 năm sau với sự hoạt động thường xuyờn của giú mựa Đụng Bắc lạnh L-ợng m-a trung bình năm từ 1400mm đến 1600
Trang 35mm nhưng phân bố không đều, 2 tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 10 và tháng 11 Trong thời kỳ này thường xảy ra mưa bão và lũ lụt, điều này cũng ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý bảo vệ rừng và sản xuất nông nghiệp của người dân Về mùa mưa, sông suối trong rừng chảy mạnh, việc tuần tra kiểm soát và triển khai các hoạt động quản lý bảo vệ rừng khác gặp trở ngại rất lớn Mùa màng và gia súc, gia cầm của người dân thường bị gây hại bởi lũ lụt, giao thông
đi lại bị ách tắc làm ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân trong vùng
3.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế
3.1.2.1 Ảnh hưởng của hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội:
- Mặc dù làm nông nghiệp và trồng lúa lâu đời, nhưng đồng bào vẫn chưa biết thâm canh cây lúa bằng thuỷ lợi và bón phân, chỉ quen phát nương làm rẫy Đất sản xuất nông nghiệp thiếu, năng suất cây trồng lại thấp, dẫn đến sự thiếu đói thường xuyên
- Công tác chuyển giao kỹ thuật lâm nghiệp tiến hành vẫn còn chậm
- Đường giao thông vận tải: Trong 7 xã, 1 thị trấn thì chỉ có xã Phú Thượng, thị trấn Đình Cả là có đường nhựa đi qua Còn lại đều là đường đất gập gềnh khó đi, nhiều ổ gà, lại qua một số suối cắt ngang nên về mùa mưa cũng có lúc bị gián đoạn
3.1.2.2 Ảnh hưởng của đầu tư và thu nhập:
Cơ sở hạ tầng trong vùng kém phát triển, đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội còn ít Bên cạnh Chương trình 135 và Chương trình 661 của Nhà nước, trong các năm qua, khu vực vùng đệm của Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng còn có các dự án hỗ trợ khác như: Dự án xoá đói giảm nghèo của ADB,
Dự án nuôi gà H'mông, Các dự án này đã góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong vùng, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân, tuy nhiên hiệu quả của nó chưa đồng đều và chưa bền vững
Trang 36Mức sống người dân vẫn còn thấp, chưa ổn định và ít được cải thiện, tỉ
lệ hộ nghèo còn cao (39%), hầu hết người dân đều phụ thuộc vào rừng Theo điều tra có 83% hộ dân có các hoạt động tạo thu nhập từ rừng Các nhu cầu thiết yếu của người dân đều được lấy từ rừng như vật liệu làm nhà, gia dụng, chất đốt, thực phẩm, rau rừng, dược liệu, Điều này đã gây sức ép lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trong khu bảo tồn
3.1.2.3 Ảnh hưởng của thị trường:
Hoạt động kinh tế của người dân trong vùng còn theo kiểu tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, lưu thông hàng hoá còn gặp nhiều khó khăn và chi phí cao ảnh hưởng đến mức sống và sinh hoạt của người dân trong vùng Thu nhập bình quân đầu người thấp, bình quân lương thực 30 kg/người/tháng Kinh tế hộ nghèo, chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, ngành nghề và dịch vụ chưa phát triển Một số mặt hàng nông sản người dân sản xuất được như: Na, sắn, chuối, lâm sản phụ, khó tiêu thụ và giá bán thấp Dịch vụ thương nghiệp chủ yếu là hàng tiêu dùng thiết yếu nhưng mới tập trung ở thị trấn và vùng thấp, còn vùng cao xa thì những mặt hàng thiết yếu vẫn còn khan hiếm chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân
3.1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội
3.1.3.1 Ảnh hưởng của dân số, dân tộc, lao động và sự phân bố dân cư: Trong vùng có 6 dân tộc chính sinh sống, dân tộc Tày có số dân đông nhất bằng 8.720 người (chiếm 42,4 %), sau đó đến dân tộc Dao là 4.816 người (chiếm 23,4%) và ít nhất là dân tộc Cao Lan, Sán Dìu Đồng bào dân tộc đã sống lâu đời trong vùng và đời sống phụ thuộc chủ yếu vào rừng Các hoạt động kinh tế, sinh hoạt, tín ngưỡng đều gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến rừng
Dân số nằm trong vùng đệm và vùng lõi Khu bảo tồn có 4.975 hộ với
23.282 nhân khẩu, dân số phân bố không đồng đều giữa các xã trong khu vực, mật độ đông nhất là xã Phú Thượng (90 người/km2), thấp nhất là xã Thần Sa (23 người/km2
) Điều này gây nên nhiều khó khăn trong công tác quản lý và
Trang 37bảo vệ rừng, các lối vào rừng nhiều rất khó kiểm soát lượng người vào rừng Dân cư đông nhưng không có nhiều công việc tạo ra thu nhập, thời gian nông nhàn lớn Do đó lượng lớn người thường xuyên vào rừng để săn bắt, thu hái và khai thác lâm sản Tỷ lệ tăng dân số cao đã làm cho nhu cầu thiết yếu, vật liệu làm nhà, đất canh tác, ngày càng tăng
3.1.3.2 Ảnh hưởng của dân trí, nhận thức:
Toàn bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học: mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Tuy nhiên, những người lớn trong gia đình thường có trình độ thấp hoặc không biết chữ nhưng lại có vị trí quan trọng trong gia đình nên ảnh hưởng lớn đến nhận thức chung của toàn hộ Phần lớn người dân nhận thức về quản lý rừng còn hạn chế, đại bộ phận người dân đều quan tâm đến sử dụng rừng mà ít hiểu biết về giá trị to lớn, nhiều mặt của rừng
và đa dạng sinh học Bên cạnh nhận thức về rừng, người dân cũng không nắm
và hiểu đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, các chính sách về hưởng lợi từ rừng
3.1.3.3 Ảnh hưởng của phong tục tập quán:
Hầu hết đồng bào dân tộc vẫn sống dựa vào nương rẫy, săn bắt và hái
lượm là chính, tình trạng canh tác hầu hết là quảng canh với phương pháp canh tác chủ yếu là phát-đốt-cốt-trỉa với các công cụ thô sơ như dao, rựa, rìu, gậy chọc lỗ, gùi, Trong canh tác hầu như người dân không dùng phân hoặc dùng rất ít phân bón vô cơ, thuỷ lợi tưới tiêu rất ít và công tác bảo vệ thực vật
và thú y còn nhiều hạn chế Sản xuất hầu hết dựa vào tự nhiên Đất canh tác nhanh chóng bị bạc màu sau 1 - 2 vụ , vì vậy mỗi hộ gia đình thường có từ 3 -
4 mảnh nương để luân phiên trồng trọt Điều này làm cho nhu cầu về đất canh tác tăng dẫn đến rừng bị phá để làm nương ngày càng nhiều
Tập quán hái lượm: vào thời kỳ nông nhàn, người dân thường vào rừng thu những sản phẩm từ rừng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu và một phần tăng thu nhập Đây chủ yếu là các lâm sản ngoài gỗ như: mây, tre, măng, rau rừng,
Trang 38dược liệu Các hoạt động này làm giảm tính đa dạng sinh học, giảm số lượng
cá thể của một số loài, gây nhiễu loạn đến hoạt động của động vật và nguy cơ gây ra cháy rừng,
Tập quán săn bẫy động vật hoang dã: Bên cạnh tập quán hái lượm, người dân trong vùng còn có tập quán săn bẫy động vật hoang dã vào lúc nhàn rỗi Các hoạt động săn bắt này một phần đáp ứng nhu cầu thực phẩm, sinh hoạt và tín ngưỡng của người dân địa phương Nhưng hiện nay do sức ép của thị trường về nhu cầu đặc sản và dược liệu nên một bộ phần người dân trong vùng và từ nơi khác đến đã vào rừng săn bẫy, khai thác động vật để cung cấp cho thị trường trong đó có 1 số loài quý hiếm Tập quán này không những làm giảm số lượng loài, cá thể của các loài động vật mà còn tác động ảnh hưởng đến thực vật rừng
do bị chặt phá để bẫy động vật Những hoạt động này làm suy giảm tài nguyên rừng, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả quản lý rừng Tập quán chăn thả gia súc: Cộng đồng người dân trong vùng đệm khu bảo tồn có tập quán chăn thả các loài gia súc trong rừng như trâu, bò, dê, lợn, Các loài gia súc này thường được người dân nuôi và thả tự do trong rừng cho chúng kiếm ăn và sinh trưởng phát triển tự nhiên Thường định kỳ 10 ngày hoặc 2 tuần người dân đi tìm và kiểm tra gia súc của mình một lần Chúng ít được chăm sóc, bảo vệ và phòng chữa bệnh nên năng suất thấp, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân Mặt khác, các loài gia súc thả rông này thường phá hoại các loài cây trồng ở trong vườn nhà và cây tái sinh trong rừng, ảnh hưởng xấu đến năng suất, chất lượng cây trồng, gây ô nhiễm môi trường và làm dịch bệnh phát triển
3.1.3.4 Ảnh hưởng của chính sách:
Đối với diện tích rừng núi đá do chưa được giao cho các tổ chức, cá nhân
và hộ gia đình quản lý nạn chặt phá , khai thác rừng, săn bắt động vật vẫn xảy
ra trên địa bàn Còn đối với rừng núi đất thuộc khu vực vùng đệm của Khu bảo tồn, từ khi có chủ trương giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP và Nghị định 163 sau này, Quyết định 187/CP về chính sách hưởng lợi thì quyền quản
Trang 39lý, sử dụng và hưởng lợi từ rừng và đất lâm nghiệp được xác lập một cách rõ ràng Các chủ rừng với trách nhiệm và quyền lợi của mình đã có sự quan tâm đầu tư về nhân lực, vật lực cho quản lý tài nguyên rừng, việc sử dụng rừng từng bước đi vào khuôn khổ theo qui định của pháp luật, các vụ vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng ngày càng giảm
Một số hộ gia đình đã tích cực tham gia nhận đất, nhận rừng để trồng rừng, quản lý bảo vệ, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo
Chính sách về đầu tư phát triển: Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về đầu tư phát triển như chương trình 135 phát triển cơ sở hạ tầng cho các xã các xã đặc biệt khó khăn, chương trình trồng mới 5 triệu ha từng; chính sách ưu tiên khuyến khích các hộ kinh tế còn khó khăn được vay vốn ưu đãi đầu tư cho phát triển kinh tế, quản lý rừng, xoá đói giảm nghèo; chính sách
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp (Quyết định 178/CP); chính sách về khai thác sản phẩm rừng trồng, kiểm tra giám sát thông thoáng, tạo mọi thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, lưu thông sản phẩm, thị trường tiêu thụ sản phẩm, Song song với các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành một số chính sách hỗ trợ cho công tác quản lý bảo vệ rừng như: Phụ cấp hỗ trợ cho cộng đồng ở các xã vùng trọng điểm được hợp đồng suất khoán bảo vệ rừng, PCCCR trong các tháng cao điểm cháy rừng vào mùa khô Trong các xã vùng đệm của Khu bảo tồn có 07 xuất/ 7 xã, thị trấn với mức hỗ trợ 300.000đ/tháng trong 6 tháng mùa khô
+ Đặc biệt đầu năm 2010, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định
số 852/QĐ-UBND v/v Phê duyệt phương án chống chặt phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn 6 xã huyện Võ Nhai với tổng kinh phí hỗ trợ thực hiện đợt
1 năm 2010 là 850 triệu đồng, huy động lược lượng Công an, Quân đội tham gia
Trang 40phối hợp lực lượng Kiểm lâm thành lập 13 chốt kiểm soát việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn
+ Hiện tại UBND tỉnh đang đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chính phủ cho phép n©ng møc kho¸n b¶o vÖ rõng t¹i c¸c x· träng ®iÓm thuéc khu B¶o tån thiªn nhiªn ThÇn Sa - Ph-îng Hoµng lên mức 300.000 đ/ha/năm
3.2 Đánh giá thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phƣợng Hoàng
3.2.1 Các mối đe doạ đến Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
Diện tích và tài nguyên rừng Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng bị đe doạ do nhiều yếu tố gây ra Hoạt động khai thác gỗ, lâm sản phụ, săn bắt và làm nương rẫy là các mối đe doạ tới tài nguyên rừng trong vùng Hiện nay, các hoạt động này đang là các mối đe doạ chính tới tài nguyên rừng, đặc biệt đối với các sinh cảnh, loài động vật và thực vật có giá trị bảo tồn mang tính toàn cầu và trong vùng Kết quả đánh giá nhu cầu bảo tồn đã xác định hiện nay có 5 mối đe dọa trực tiếp và nguyên nhân của các mối đe dọa, chi tiết được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Các mối đe doạ tới tài nguyên rừng khu BTTN
Các mối đe doạ trực tiếp Nguyên nhân của các mối đe doạ
3) Khai thác lâm sản ngoài gỗ - Nhu cầu thị trường
- Nhu cầu sử dụng tại chỗ