Nhiều chương trình trồng rừng như: Dự án trồng rừng 661, Dự án trồng rừng Việt - Đức và nhiều Dự án khác đã sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng, làm giàu rừng và cải tạo rừng, như
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN TIẾN
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
GÂY TRỒNG CÂY RE GỪNG (Cinnamomum obtusifolium A Chev)
TẠI PHÚ THỌ VÀ LẠNG SƠN”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN TIẾN
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
GÂY TRỒNG CÂY RE GỪNG (Cinnamomum obtusifolium A Chev)
TẠI PHÚ THỌ VÀ LẠNG SƠN”
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số : 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Huy Sơn
Trang 3LỜI NểI ĐẦU
Trong quỏ trỡnh thực hiện và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp, tỏc giả đó được sự quan tõm giỳp đỡ của Ban giỏm hiệu Trường Đại học Nụng Lõm Thỏi Nguyờn, Khoa Sau Đại học, cỏc thầy cụ giỏo, Trung tõm nghiờn cứu lõm đặc sản
- Viện Khoa học Lõm nghiệp Việt Nam và một số cơ quan, đơn vị nơi thực hiện
đề tài
Trước hết, tỏc giả xin bày tỏ lũng cảm ơn chõn thành tới TS Nguyễn Huy Sơn - người thầy hướng dẫn khoa học, đó tận tỡnh giỳp đỡ, truyền đạt những kiến thức quớ bỏu và dành những tỡnh cảm tốt đẹp cho tỏc giả
Xin chõn thành cảm ơn Ban giỏm hiệu, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Nụng Lõm Thỏi Nguyờn, đó tạo mọi điều kiện giỳp đỡ tỏc giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn Xin chõn thành cảm ơn cỏc thầy cụ giỏo đó giảng dạy, cung cấp kiến thức và giỳp đỡ tỏc giả hoàn thành khoỏ học
Xin cảm ơn Trung tõm nghiờn cứu lõm đặc sản - Viện Khoa học Lõm nghiệp Việt Nam, Trung tõm giống Lõm nghiệp Hũa Bỡnh, Ban quản lý Vườn quốc gia Xuõn Sơn - Phỳ Thọ, Hạt Kiểm lõm Chi Lăng - Lạng Sơn, Cơ sở sản xuất cõy giống Lõm nghiệp Thịnh Phương -Yờn Lập - Phỳ Thọ đó tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tỏc giả trong suốt quỏ trỡnh nghiờn cứu
Cuối cựng xin chõn thành cảm ơn cỏc đồng nghiệp, bạn bố và người thõn trong gia đỡnh đó giỳp đỡ, động viờn tỏc giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Thỏi Nguyờn, thỏng 10 năm 2010
Tỏc giả
Nguyễn Văn Tiến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, chƣa đƣợc sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Văn Tiến
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.3 Đánh giá chung 17
Chương 2 Mục tiêu, giới hạn, nội dung và phương pháp nghiên cứu 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.2 Giới hạn nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
Chương 3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 30
3.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.3 Nhận xét, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã-hội khu vực nghiên cứu 36 Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38
4.1 Một số đặc điểm hình thái và sinh thái cây Re gừng 38
4.1.1 Một số đặc điểm hình thái 38
4.1.2 Một số đặc điểm sinh thái tự nhiên của cây Re gừng 40
4.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 1 số quần thể cây Re gừng ở Lạng Sơn và Phú Thọ 40 4.1.2.2 Đặc điểm khí hậu nơi phân bố Re gừng 42
4.1.2.3 Đặc điểm đất đai dưới những quần thể Re gừng tự nhiên 43
4.1.2.4 Đặc điểm lâm học một số quần thể tự nhiên của loài Re gừng 46
a) Tổ thành loài tầng cây cao 46
b) Tổ thành loài tầng cây tái sinh 49
c) Ảnh hưởng của độ tàn che tầng cây cao tới tái sinh tự nhiên của Re gừng 52
4.2 Kỹ thuật nhân giống hữu tính 54
Trang 64.2.1 Đặc điểm vật hậu 54
4.2.2 Kỹ thuật tạo cây con từ hạt 56
4.2.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây con trong giai đoạn vườn ươm 57
4.2.4 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng cây con trong giai đoạn vườn ươm 64
4.3 Kết quả nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép nêm 71
4.4 Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng Re gừng 74
4.4.1 Khả năng sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng Re gừng 74
4.4.2 Ảnh hưởng của vị trí địa hình đến khả năng sinh trưởng của Re gừng trồng thuần loài 77
4.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng Re gừng 79
4.5.1 Kỹ thuật nhân giống hữu tính 79
4.5.1.1 Chọn giống, tạo cây con từ hạt 79
4.5.1.2 Dàn che 79
4.5.1.3 Chăm sóc 79
4.5.2 Kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép 80
4.5.3 Kỹ thuật gây trồng và chăm sóc 81
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 7BẢNG TÊN KHOA HỌC CÁC LOÀI CÂY NÊU TRONG LUẬN VĂN
11 Lát hoa Chukrasia tabularis A.Juss
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
4.1 Vị trí địa lý, địa hình, đất đai và kiểu rừng của các quần thể tự
4.11 Sinh trưởng về chiều cao của Re gừng trong vườn ươm ở các
4.16 Sinh trưởng Re gừng và các loài trong một số mô hình trồng
4.18 Sinh trưởng của Re gừng tại các vị trí chân sườn đỉnh tại Chi
Lăng - Lạng Sơn
79
Trang 9Ảnh 4.5 Một số mô hình trồng Re gừng tuổi 3 ở Chi Lăng - Lạng
Trang 10BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
- BNN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- D1,3: Đường kính cây tại vị trí 1,3 m;
- Doo: Đường kính gốc cây;
- E: Kinh độ Đông;
- F: Tiêu chuẩn kiểm tra F;
- Hchồi: Chiều cao chồi;
- ZD: Tăng trưởng thường xuyên hàng năm về đường kính;
- ZH: Tăng trưởng thường xuyên hàng năm về đường chiều cao;
- [1]: Số hiệu tài liệu trích dẫn trong danh sách tài liệu tham khảo
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, tổng diện tích rừng và rừng mới trồng nước ta là 13.258.843ha, chiếm 39,1% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305ha, diện tích rừng trồng là 2.919.538ha (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2010) [4] Tuy diện tích rừng và độ che phủ rừng toàn quốc trong những năm qua đã tăng lên đáng kể nhưng chất lượng và trữ lượng rừng còn rất thấp Diện tích rừng tự nhiên ngày càng suy giảm cả về diện tích và chất lượng, chủ yếu là rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế, phòng hộ, đa dạng sinh học không cao, không còn khả năng đáp ứng nhu cầu cho sản xuất, đặc biệt là nhu cầu bảo vệ môi trường sinh thái trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay Rừng trồng chủ yếu là những loài cây mọc nhanh, sau 5-7 năm đã khai thác, trong đó đa số là rừng thuần loài kém bền vững nên rất hạn chế về mặt bảo vệ môi trường sinh thái
Những năm gần đây, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững rất được coi trọng, với định hướng vừa phát triển kinh tế, đồng thời vừa bảo vệ được môi trường sinh thái Do đó, việc gây trồng rừng bằng các loài cây bản địa, lá rộng, thường xanh đang được chú ý Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành danh mục các loài cây trồng chính ở nước ta, trong
đó có rất nhiều loài cây lá rộng bản địa thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau như: Lát hoa, Trám, Dẻ, Giổi xanh, Lim xanh Nhiều chương trình trồng rừng như: Dự án trồng rừng 661, Dự án trồng rừng Việt - Đức và nhiều Dự án khác đã sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng, làm giàu rừng và cải tạo rừng, nhưng cơ sở khoa học về đặc điểm sinh vật học cũng như kỹ thuật tạo cây con và kỹ thuật gây trồng còn rất hạn chế, rất ít loài được nghiên cứu
Re gừng (Cinnamomum obtusifolium A.Chev) là một trong những loài cây
gỗ bản địa đã được quan tâm nghiên cứu để gây trồng Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài cây này còn chưa nhiều, một số đặc điểm sinh thái cơ bản phục vụ
Trang 12trồng rừng chưa được nghiên cứu sâu và chưa có hệ thống Hơn nữa, giống là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng rừng trồng cũng chưa được nghiên cứu
Để góp phần gây trồng thành công loài cây này, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống gây trồng cây Re gừng (Cinnamomum obtusifolium A.Chev) tại Phú Thọ và Lạng Sơn” là rất cần thiết, góp phần bổ
sung thêm một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống, nhất là nhân giống
vô tính bằng phương pháp ghép, phục vụ công tác cải thiện giống loài cây này được tốt hơn
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
Trong những năm gần đây, các nước nhiệt đới đặc biệt là các nước ở vùng Đông Nam Á và châu Mỹ La tinh đã dành nhiều sự quan tâm đến việc nghiên cứu, sử dụng các loài cây bản địa phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ và các sản phẩm khác Tuy nhiên, có rất ít các tài liệu nước ngoài nghiên cứu về loài Re
gừng Cinnamomum obtusifolium A.Chev, chỉ có một số tài liệu mô tả, đánh giá
khái quát về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng , có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu nổi bật liên quan đến các vấn đề sau đây:
1.1.1 Phân loại thực vật
Theo một số tài liệu nghiên cứu trên thế giới như Forest inventory and planning institute (1996) 36; Lecomte (1910-1931) 38, [39] thì loài Re gừng
có tên khoa học là: Cinnamomum obtusifolium A.Chev Theo các tác giả Ashish
Kumar, Bruce G.Marcot and Ajai Saxena (2006) [34]; Chaya Deori, Samim Sofika Begum & A.A Mao (2007) [35]; J Exp Biol (1990) [37]; Assam (2009) [41]; USDA, ARS (2000) [43]; Xie Zongwa & Yu Youqin (1996) [46] , thì Re
gừng có tên khoa học là Cinnamomum bejolghota (Buch – Hamex Ness) Sweet
Như vậy, các tên gọi trên đều cho thấy Re gừng thuộc họ Long não
(Lauraceae), nhưng khác nhau ở tên loài và tên tác giả, điều đó chứng tỏ cây Re
gừng là loài có phân bố rộng và được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới bởi nhiều nhà khoa học khác nhau
Họ Long não (Lauraceae) là một họ thực vật lớn, vì vậy trên thế giới cũng
có khá nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về phân loại họ Long não Tuy nhiên, hệ thống phân loại của Takhtajan A L (1996) 42 là đầy đủ và hợp
Trang 14lý hơn cả Theo hệ thống phân loại này, họ Long não gồm khoảng 50 chi, hơn 2.000 loài Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là vùng Đông Nam Á và Brazin thuộc Nam Mỹ Trong đó, loài Re gừng có tên khoa học
Cinnamomum obtusifolium A.Chev thuộc chi Cinnamomum, họ Long não - Lauraceae, bộ Long não - Laurales, lớp Ngọc lan - Magnoliopsida (Lớp hai lá
mầm - Dicotyledoneae), ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
1.1.2 Về hình thái
Trên thế giới, một số tác giả đã nghiên cứu, mô tả hình thái Re gừng Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ mô tả khái quát về đặc điểm thân, cành, lá, rễ và các cơ quan sinh sản
Theo Lecomte (1910) [38] Re gừng là cây gỗ thường xanh, thân thẳng, cao 20 - 30m, đường kính có thể đạt trên 50cm, vỏ ngoài màu nâu xám hay nâu sẫm, nhẵn, có mùi thơm của quế, cành nhỏ màu nâu, lúc non có 4 cạnh sau hình trụ, nhẵn Lá mọc so le hay gần đối, dạng bầu dục tròn dài hay trái xoan thuôn dài 9 - 30cm, rộng 3,5 - 9cm, đỉnh có mũi nhọn dài hay tù, gốc hình nêm, mép nguyên, dai, mặt nhẵn bóng; 3 gân gốc, 2 gân bên kéo dài tới đỉnh, gân nhỏ hình mạng lưới; cuống lá dài 10 - 20mm Cụm hoa chùy ở nách lá gồm nhiều xim, dài
20 - 25cm; hoa lưỡng tính có hai dạng, hoa ở giữa lớn và có cuống dài hơn các hoa ở bên Bao hoa 6 mảnh, thuôn, có lông ở hai mặt Nhị sinh sản 9, xếp thành
3 vòng, nhị thoái hóa 3, bầu hình trứng nhẵn, vòi dài bằng bầu, đầu nhụy khá lớn Quả mọng hình trứng, dài 1,5cm, gốc có bao hoa tồn tại, có thùy tròn, khi chín có màu đen
1.1.3 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Lecomte M H (1929 - 1930) [39] khi nghiên cứu thực vật ở Đông Dương
đã cho rằng các loài cây thuộc họ Long não thường phân bố ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là vùng Đông Nam Á và Brazin thuộc khu vực Nam
Trang 15Mianma, Trung Quốc, Lào và Việt Nam Cây mọc trong rừng thường xanh nhiệt đới, ở độ cao dưới 800m Ưa loại đất thịt pha cát, có tầng đất sâu dày, thoát nước Tái sinh bằng hạt tốt dưới tán cây mẹ có nhiều cây con, sinh trưởng tương đối nhanh
1.1.4 Giá trị sử dụng
Theo các tác giả Chaya Deori, Samim Sofika Begum & A.A Mao (2007) [35]; Assam (2009) [41] thì Re gừng là loài gỗ lớn, gỗ mềm, màu sáng hồng nhạt, tỷ trọng 0,42-0,47, gỗ màu xám sẫm, để lâu sẫm màu, vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm và nặng trung bình, dễ chế biến nhưng kém chịu mục, dùng làm gỗ xây dựng, đóng đồ gia dụng, làm nông cụ Vỏ thân lá và rễ đều chứa tinh dầu thơm
Ở Nêpan, vỏ được dùng trị trướng bụng và bệnh đau gan Còn ở Trung Quốc, vỏ
và lá dùng làm thuốc trị tỳ vị, lạnh, tê đau, ỉa chảy, đau bụng bế kinh, phong thấp đau xương, đòn ngã ứ đau, lưng cơ đau mỏi, liệt dương Dùng ngoài trị xuất huyết, gãy xương và rắn cắn Ngoài ra, các nhận định trên về giá trị sử dụng của loài Re gừng cũng được khẳng định trong các tài liệu nghiên cứu của Wannissorn B et al (2005) [44]; Xie Zongwa & Yu Youqin (1996) [46]; Xishuangbanna Tropical Botanical Garden (2009) [47]
1.1.5 Kỹ thuật nhân giống và gây trồng Re gừng
Nhìn chung, đa số các tài liệu nước ngoài khi nghiên cứu về loài Re gừng
Cinnamomum obtusifolium A.Chev, chỉ có một số ít tài liệu mô tả, đánh giá khái
quát về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng Còn về kỹ thuật nhân giống và gây trồng hiện vẫn chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu cụ thể
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
1.2.1 Phân loại thực vật
Ở nước ta, ngoài tên gọi thông thường là Re gừng, thì loài cây này còn có rất nhiều tên gọi khác nhau Trong các tài liệu của Võ Văn Chi (1999, 2003, 2007) [10], [12], [13]; Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002) [11]; Viện sinh thái và tài
Trang 16Quế hương, Quế lá tù, Re lá tù, Re bầu Các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (2003) [16] gọi Re gừng là Quế lá tà
Về danh pháp quốc tế, Re gừng cũng được nhiều nhà khoa học gọi với các tên khác nhau Theo Nguyễn Bá Chất (1994, 2002) [6], [8], Re gừng có các tên
khác nhau như Cinnamomum obtusifolium A.Chev hoặc Cinnamomum
bejolghota (Buch – Hamex Ness) Sweet, sau khi đi sâu phân tích tác giả xác định
đây chính là một loài, quan điểm này cũng được nhiều tác giả ủng hộ (Vụ KHCN&CLSP - Bộ NN&PTNT, 2000) [33]
Trong nhiều tài liệu hiện nay, vẫn sử dụng cả hai tên khoa học nêu trên để
xác định cho loài Re gừng Tuy nhiên, thời gian gần đây, tên Cinnamomum
obtusifolium A.Chev, thuộc họ Long Não (Lauraceae) được các tác giả sử dụng
nhiều hơn như Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW (2001) [1]; Hoàng Văn Thắng (2007) [23]; Phạm Quang Thu (2003) [24], đặc biệt là các tài liệu của Nguyễn Bá Chất đã trình bày ở trên Đây cũng chính là tên khoa học của loài Re gừng được sử dụng trong luận văn này
Ở Việt Nam, họ Long não (Lauraceae) còn được gọi là họ Nguyệt quế, là
một trong 10 họ có số loài lớn nhất (Nguyễn Tiến Bân, 1997) 2 Chính vì vậy,
họ Long não là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, bao gồm các loài cây gỗ nhỏ, gỗ nhỡ và
gỗ lớn Đặc điểm chính của họ Long não có lá mọc so le, đơn nguyên, gân lá lông chim, thường có 3 gân gốc lớn; Cụm hoa xim, cờ hay tán giả, hoa đều, thường lưỡng tính, 3 lá đài, 3 cánh hoa rời nhau; Bộ nhị gồm 9 nhị xếp thành 3 vòng, đôi khi có thêm 1 vòng nhị lép; Bộ nhụy gồm 1 lá noãn, bầu trên, 1 ô đựng
1 noãn; Hoa thức: P3+3 A3+3+3G 3-1; Quả mọng hình cầu đựng trong đài hoa tồn tại bao quanh như một cái chén; Hạt không nội nhũ Các kết quả nghiên cứu
về số loài trong họ Long não ở nước ta đều cho thấy đây là họ có nhiều loài thuộc dạng bậc nhất nước ta Về phân loại, do là một họ có số lượng loài rất lớn
Trang 17nên các nghiên cứu ở nước ta mới chủ yếu tập trung vào phân loại các phân họ
và chi, việc phân loại đến cấp loài còn rất ít nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002) [11] cho thấy Re gừng là loài cây gỗ thường xanh; thân thẳng, cao 20 - 30 mét, đường kính 50 cm hay hơn; vỏ ngoài màu nâu xám hay nâu sẫm, nhẵn, có mùi thơm của quế; cành nhỏ màu nâu, lúc non 4 cạnh sau hình trụ, nhẵn Lá mọc so le hay gần đối; phiến dai, dạng gần bầu dục tròn dài hay trái xoan thuôn, dài 9 - 13 cm, đỉnh có mũi nhọn dài hay tù, góc hình nêm, mép nguyên, hai mặt nhẵn bóng, gân hình cung,
3 gân gốc, 2 gân bên kéo dài tới đỉnh, gân nhỏ hình mạng lưới; cuống lá dài 10 -
20 mm Cụm hoa chuỳ ở nách lá gồm nhiều xim, dài 15 - 20 cm Hoa lưỡng tính
có hai dạng, những hoa ở giữa lớn và có cuống dài hơn các hoa ở bên; bao hoa 6 mảnh, thuôn, có lông ở hai mặt; nhị hữu thụ 9, xếp thành 3 vòng, nhị lép 3; nhuỵ
có bầu hình trứng, nhẵn, vòi dài bằng bầu, núm khá lớn Quả mọng hình trứng, dài 1,5 cm, gốc có mang bao hoa tồn tại, có thuỳ tròn Khi chín quả có màu đen
Phạm Hoàng Hộ (2003) [16], mô tả về cây Re gừng cho rằng đại mộc cao
10 mét, nhánh không lông Lá có phiến bầu dục, tròn dài, hẹp, dài 13 - 18cm,
Trang 18dưới màu nâu hơi hồng, gân chỉ gồm cặp gân đi từ đáy chạy đến chót, cuống vào 1cm Chùm tụ tán dài, có lá; nhánh ngắn Trái to, bầu dục, dài 15 mm; đầu còn lại nhỏ, có thuỳ tròn tròn
Theo Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2003) [32], Re gừng là cây gỗ cao 10 - 30 mét Mọc rải rác trong rừng thường xanh núi đất hoặc núi đá, ở độ cao 500 - 800 mét Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 6 - 9
Nhìn chung, mô tả của các tác giả là khá giống nhau, tuy có khác nhau đôi chút về kích thước, màu sắc lá, thân là do các tác giả nghiên cứu mô tả ở các vùng sinh thái khác nhau và ở những thời điểm khác nhau, nhưng những đặc điểm đã nêu đều thuộc về đặc điểm hình thái của loài Re gừng
1.2.3 Đặc điểm phân bố, sinh thái và vật hậu
Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) [5] đã chỉ ra họ Long não là một họ lớn phân bố rộng khắp thế giới, chủ yếu trong các khu vực nhiệt đới, đặc biệt là
ở khu vực Đông Nam Á và Brazil thuộc Nam Mỹ Đối với cây Re gừng, nhiều tác giả cho biết đây là loài có phân bố tự nhiên ở nhiều nơi trên thế giới như: Ấn
Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Lào và Việt Nam (Võ Văn Chi, 1999, 2002, 2003) [10], [11], [12]; (Phạm Hoàng Hộ, 2003) [16]
Ở Việt Nam, Re gừng phân bố rộng trên nhiều vùng sinh thái, thường gặp
Re gừng trong các rừng thứ sinh ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hòa Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk (Nguyễn Bá Chất, 1994, 2002) [6], [7] Theo Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2003) [32] thì Re gừng có phân bố ở Vị Xuyên - Hà Giang, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Thủ Dầu Một - Bình Dương Vụ KHCN&CLSP - Bộ NN&PTNT (2000) [32] cũng khẳng định Re gừng có phân
bố tại các vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ ở Việt Nam Ngoài
ra, một số tác giả còn phát hiện ra Re gừng phân bố ở các tỉnh Nam bộ như Đồng
Trang 19Về độ cao phân bố, một số tác giả cho rằng Re gừng thường phân bố ở độ cao 500 - 800 mét so với mực nước biển (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, 2003) [32] Theo Võ Văn Chi (2003) [12] Re gừng có phân bố ở độ cao dưới 800 mét Tuy nhiên, đa số các tài liệu nghiên cứu gần đây khẳng định Re gừng có phân bố ở độ cao từ 200 mét trở lên (Nguyễn Bá Chất, 2002) [7], (Phạm Quang Thu, 2003) [24] Như vậy, về độ cao phân bố, loài Re gừng có phân bố rất rộng, gặp ở rất nhiều vùng sinh thái và ở nhiều độ cao khác nhau, đặc biệt là ở độ cao
từ 200 - 800 mét
Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của loài Re gừng, nhiều tác giả cho rằng đây là loài thường mọc trong các rừng nhiệt đới thường xanh Ở Việt Nam thường gặp Re gừng trong các rừng thứ sinh (Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW, 2001) [1]; (Nguyễn Bá Chất, 2002) [7]; (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002) [11]; (Phạm Quang Thu, 2003) [24]
Theo Đào Thế Trung (2009) [25] khi nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phục hồi tính đa dạng thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
- Vĩnh Phúc đã kết luận rằng Re gừng là một trong những loài cây gỗ tiên phong, cây có sức sinh trưởng mạnh và có giá trị kinh tế, thường có mặt ở tầng cây gỗ tại khu vực Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc
Đỗ Đình Sâm và cộng tác viên (2001) [22] khi xây dựng cơ sở khoa học
bổ sung những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao năng suất rừng tự nhiên sau khai thác và rừng trồng công nghiệp cũng chỉ ra bằng chứng tại Cầu Hai - Phú Thọ là một số băng chừa ở rừng nghèo kiệt dường như không phát hiện cây tái sinh có giá trị kinh tế, nhưng sau 10 năm một số cây có giá trị kinh tế đã xuất hiện như Lim xanh, Ràng ràng, Re gừng
Theo Nguyễn Bá Chất (2002) [7], Re gừng thích hợp với khí hậu nhiệt đới
ẩm mưa mùa, phân bố rộng trên nhiều vùng sinh thái Ở Việt Nam Re gừng có phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên, nhiệt độ trung bình năm từ
Trang 2021oC - 24oC, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 32o
C - 34oC, tháng lạnh nhất
với mực nước biển Khi cây còn nhỏ ưa bóng nhẹ, lớn lên ưa sáng, tốc độ tăng trưởng đường kính bình quân đạt 1cm/năm và tăng trưởng chiều cao bình quân là 0,8 - 1m/năm Re gừng sống được trên nhiều loại đất, sinh trưởng tốt trên đất nâu
đỏ bazan, đất nâu vàng trên bazan, đất đỏ vàng trên đá sét biến chất; đất vàng đỏ trên đá mác ma axít Chúng có thể chịu được ở nơi có tầng đất nông mỏng, đất xấu, ngay cả những vùng có tầng kết cứng Re gừng sống hỗn loại với nhiều loại
cây khác: Giổi (Michelia mediocris), Kháo (Cinnadenia paniculata), Gội (Aglaia
perviridis), Ngát (Gironniera subaequalis), Táu (Hopea mollissima) có khi mọc thành từng đám 5-7 cây trong rừng thứ sinh Re gừng tái sinh tự nhiên khá mạnh dưới tán rừng có cây mẹ gieo giống, mật độ cây con tái sinh trung bình từ 1500-2300 cây/ha Chúng thường có tỷ lệ tổ thành cao trong một vài loại rừng
Re gừng thường chiếm tầng cao của rừng
Về đặc điểm vật hậu, một số tác giả cũng đã xác định Re gừng ra hoa từ tháng 11 - 12, có quả tháng 3 - 5 hàng năm (Võ Văn Chi, 1999, 2002) [10], [12]; (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002) [11] Theo Nguyễn Bá Chất (2002) [7], Re gừng
ra hoa tháng 3 - 5 năm trước và quả chín tháng 2 - 3 năm sau Theo Ban quản lý
vật (2003) [32] thì Re gừng ra hoa tháng 3 - 5 và quả chín tháng 6 - 9 Như vậy,
có thể thấy các quan điểm về vật hậu của Re gừng là chưa đồng nhất Điều này cho thấy có thể do các tác giả nghiên cứu ở các vùng sinh thái khác nhau nên có
sự lệch pha nhau
1.2.4 Giá trị sử dụng
Re gừng là loài cây gỗ lớn, gỗ mềm, màu sáng hồng nhạt, hoặc xám sẫm, vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm, tỷ trọng 0,42- 0,47, ít bị cong vênh, nứt nẻ, mối mọt, dễ gia công chế biến Gỗ dùng để xẻ ván đóng đồ, làm nhà, làm nông cụ rất
Trang 21được nhân dân ưa chuộng Cây mọc được trên đất xấu, tán lá xanh quanh năm,
bộ rễ cọc phát triển, có thể trồng rừng phòng hộ, là nguồn cung cấp gỗ tốt cho vùng trung du (Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW, 2001) [1]; (Nguyễn Bá Chất, 2002) [7]; (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, 2003) [32]
Vỏ thân, lá và rễ đều chứa tinh dầu thơm có thể chưng cất được, làm gia
vị, làm thuốc có vị ngọt, cay, tính ấm, tác dụng ôn trung, tán hàn, lý khí, chỉ thống, chỉ huyết sinh cơ, cầm máu, nối xương, tiêu thũng, làm thuốc chữa chướng bụng, đau gan, trị tê đau, hư hàn, ỉa chảy, đau bụng bế kinh, đau lưng mỏi cơ, liệt dương, dùng ngoài trị xuất huyết, gãy xương, rắn cắn (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002) [11]; (Vụ KHCN&CLSP-Bộ NN&PTNT, 2000) [32]
1.2.5 Kỹ thuật nhân giống, gây trồng Re gừng
Trong một số ít tài liệu cũng đã mô tả khái quát về sản xuất cây giống Re gừng bằng phương pháp nhân giống hữu tính Điển hình là công trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Chất (2002) [8], Re gừng trồng được 9-10 tuổi đã bắt đầu có hoa quả, khi thu hái hạt giống nên lựa chọn thu hái ở những cây đã ra quả được 3 năm trở đi Khi quả Re gừng chín, vỏ có màu xanh đen, thu hái về ủ 1-2 ngày,
đó ủ vào cát ẩm Khi hạt nảy mầm, đem cấy vào bầu Hạt Re gừng tương đối khó bảo quản, sau khi thu hái nên xử lý và đem gieo ngay vào cát ẩm, 1kg hạt có
Trang 22mầm đạt 70-85% Hạt ủ từ 5-7 ngày thì nứt nanh, đem cấy vào bầu hoặc đem
hoặc lớp đất mặt trong rừng, có thành phần cơ giới nhẹ, trộn 10-15% phân chuồng hoai Bầu xếp theo luống nổi, có chiều rộng 70-80 cm, mỗi bầu chỉ cấy 1 hạt đã nứt nanh Cắm tế guột hoặc làm dàn che có độ che sáng khoảng 40-50%, sau 10-20 ngày cây mầm ra lá thật Khi cây con được 3-4 tháng tuổi điều chỉnh bớt độ che sáng bằng cách giảm bớt tế guột, nâng dàn che lên cao hay điều chỉnh dàn che đảm bảo độ che sáng còn khoảng 25% Chú ý tưới nước phải đủ
ẩm và phòng ngừa nấm bệnh cho cây con như các bệnh do nấm rỉ sắt, nấm thối
cổ rễ gây ra Cây con 6-7 tháng tuổi chiều cao đạt từ 30-35 cm, cây con 12 tháng tháng tuổi chiều cao đạt 50-65 cm
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu và
đề xuất các phương pháp nhân giống vô tính cây Re gừng như ghép, giâm hom, nuôi cấy mô
1.2.5.2 Gây trồng Re gừng
Ở nước ta hiện nay, sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng đã và đang được quan tâm Đối với loài Re gừng được nghiên cứu và trồng thử nghiệm ở một số nơi
Tại Lâm trường Trạm Lập, huyện Kbang - tỉnh Gia Lai, Re gừng được trồng theo rạch ở rừng nghèo, có chiều cao trung bình 15 mét, độ rộng của rạch trồng là 5 mét, băng chừa 10 mét, trên rạch trồng phát sạch dây leo cây bụi, trồng với khoảng cách là cây cách cây 2 mét Sau 5 năm tuổi , tỷ lệ sống đạt 85%, cây
có đường kính bình quân 3,86 cm, chiều cao bình quân 4,38 m, sự phân hóa đường kính và chiều cao chưa rõ Đến 12 năm tuổi, tỷ lệ sống chỉ còn 65%, cây phân hóa mạnh, 30% cây tốt có đường kính bình quân 12 cm, cao 9m, cây lớn nhất có D1,3 =17 cm, chiều cao 14,3 m, số cây còn lại bị cây băng chừa lấn át do không được chăm sóc, phát dọn thực bì (Nguyễn Bá Chất, 2002) [8]
Trang 23Tại Trung tâm lâm sinh Cầu Hai - Phú Thọ Đề tài KN0302B trồng theo phương thức làm giàu trong rạch: khu thí nghiệm là rừng nghèo, cây lớn đã bị chặt hết, chỉ còn cây bụi và dây leo có chiều cao 3 - 4 mét, mở rạch rộng 2 mét, chừa 3 mét, trồng cây cách cây 3 mét Một loại rạch chỉ trồng Re gừng với công thức sau 3 cây Re gừng trồng tiếp 3 cây Xoan đào Sau 7 năm tuổi, Re gừng trồng trong rạch và trồng ngoài đất trống có tỷ lệ sống đều đạt trên 90%, cây sinh trưởng phát triển tốt, đối với cây trồng nơi đất trống có D1,3 trung bình là 7,2cm,
Hvn trung bình là 6,2m, cây trồng trong rạch có D1,3 trung bình từ 8,3 - 8,4cm,
Hvn trung bình 7,2 - 7,3m Như vậy, khả năng sinh trưởng về đường kính và chiều cao cây trong rạch tốt hơn so với trồng nơi đất trống
Năm 1993, Dự án 327 đã trồng Re gừng nơi đất trống, cây bụi tại Trung tâm Cầu Hai - Phú Thọ, phương thức trồng thuần loài theo hàng trên dạng đất đã khai thác Mỡ, Bồ đề với cự ly 3 x 2 mét, có trồng cốt khí để che phủ ban đầu Ở Đoan Hùng - Phú Thọ trồng hỗn loài Re gừng với Trám trắng và Keo tai tượng Theo đánh giá của Nguyễn Bá Chất (2002) [8] về mô hình này ở tuổi 3 thì chưa thấy rõ sự phân hoá về tăng trưởng của Re gừng và Trám trắng, nhưng tốc độ sinh trưởng chiều cao và đường kính của Keo tai tượng, đặc biệt tốc độ tăng trưởng của tán Keo tai tượng rất mạnh, tuổi 3 đường kính tán của Keo từ 2,6 - 2,8 m, tán khép gần kín với nhau che trùm hết cả Re gừng và Trám trắng Do đó, theo tác giả khi trồng Re gừng trong mô hình hỗn loài như đã mô tả, tuy chưa đến lúc biểu lộ rõ sự cạnh tranh giữa các loài, nhưng chiều hướng phát triển tán của Keo tai tượng cần được chú ý để xử lý kịp thời, có thể xem xét bố trí cự ly hàng hợp lý hơn hoặc sớm tỉa thưa Keo tai tượng để không ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài chính
Trong một số nghiên cứu điều tra khảo sát, thu thập hạt giống phục vụ bảo tồn và xây dựng phương án bảo tồn cho các loài cây gỗ rừng tự nhiên bị đe dọa, diện tích rừng trồng bảo tồn tại Cầu Hai - Phú Thọ là 29,5ha, gồm nhiều loài cây
Trang 24cần được bảo tồn trong đó có loài Re gừng Số liệu báo cáo về rừng trồng Re gừng của Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai - Phú Thọ cũng cho thấy diện tích rừng trồng Re gừng bao gồm 35,5ha Trong đó, rừng trồng thuần loài là 5,5ha (4ha-1995; 1,5ha-2001), rừng trồng hỗn giao với các loài cây bản địa khác là 30ha (1997), tỷ lệ sống của Re gừng đều đạt trên 90%, cây sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006) [19]
Hoàng Văn Thắng (2007) [23] khi nghiên cứu sinh trưởng các mô hình
bản địa 5 tuổi trong mô hình rừng trồng hỗn loài ở Cát Bà - Hải Phòng và các mô hình trồng rừng hỗn loài trong Chương trình 327 ở một số tỉnh phía Bắc, loài Re gừng có mức tăng trưởng bình quân chung về đường kính (D = 0,9 cm/năm)
trồng rừng hỗn loài Re gừng, Lim xanh, Lim xẹt, Trám trắng, Dẻ đỏ và cây phù trợ là Keo tai tượng ở Cầu Hai - Phú Thọ được đánh giá là mô hình có triển
lá tràm ở Núi Luốt - Trường đại Học Lâm nghiệp tăng trưởng về đường kính và chiều cao của Re gừng được đánh giá là tương đối tốt (ZD = 0,6 cm/năm, ZH = 0,5 m/năm) Mô hình trồng các loài cây bản địa 6 tuổi trồng trên đất rừng sau khai thác Bạch đàn ở Đền Hùng - Phú Thọ kết quả cho thấy ở tuổi 6 Re gừng có
D1,3 = 6,7 cm, Hvn = 6,5 m, Dt = 3,0 m Tỷ lệ sống sau 6 năm của Re gừng trong các mô hình thí nghiệm trồng rừng hỗn loài có cây phù trợ đều đạt trên 90% Trong các mô hình trồng rừng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa ở Ngọc Lặc
và Cầu Hai, tăng trưởng hàng năm về đường kính và chiều cao của các loài đều ở mức tương đối cao Trong đó, Re gừng là loài có khả năng sinh trưởng tốt nhất Các mô hình trồng Re gừng tuổi 6 với mật độ 850 cây/ha cho năng xuất gỗ là 12,6258 m3/ha
Trang 25Ngoài ra, Re gừng còn được một số chủ rừng gây trồng để lấy gỗ trong các vườn rừng với quy mô nhỏ ở Phú Thọ, Hà Giang, Hoà Bình, Tuyên Quang
Nguyễn Anh Dũng (2001) [15] khi xác định cơ cấu cây trồng để xây dựng
mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn tại Hoà Bình và Hà Giang đã đề xuất 3 loài cây trồng tầng cao cho rừng phòng hộ nhiều tầng tại Hoà Bình là Re gừng, Lát hoa và Dẻ đỏ với mật độ trồng là 1.000 cây/ha, còn tại Hà Giang gồm 4 loài cây trồng tầng cao cho rừng phòng hộ nhiều tầng là Re gừng, Đinh, Lát hoa và Dẻ đỏ với mật độ trồng 1.250 cây/ha
Nguyễn Bá Chất (2002) [8] cũng đã đưa ra một số kỹ thuật gây trồng Re gừng như sau: Re gừng có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất rừng nghèo, rừng thứ sinh, khu vực trảng cỏ cây bụi, đất sau nương rẫy, đất vườn rừng
có tầng đất dày 30cm trở lên Phương thức trồng theo rạch, rạch mở rộng 2,5m, rạch cách rạch 6m, cây cách cây 3m Xử lý thực bì luôn đảm bảo cho cây con trong giai đoạn đầu không bị phơi trống độ tàn che vào khoảng 25% Kích thước hố là 30 x30 x30 cm Re gừng có thể sử dụng để trồng thuần loài, trồng
làm giàu rừng theo đám, theo rạch, trồng tại các khoảng trống trong rừng sẽ rất
có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lượng rừng Tùy theo điều kiện thực tế và mục đích trồng rừng có thể lựa chọn các cấp mật độ: 250 cây/ha, 500 cây/ha, 1.100 cây/ha Thời vụ trồng: vụ Xuân trồng tháng 2 - 4, vụ Thu trồng tháng 7 - 9 Tiến hành chăm sóc trong 3 năm liền và 2 lần/năm (lần đầu vào tháng 3 - 4, lần 2 vào tháng 10 - 11) Nội dung chăm sóc chủ yếu là phát dọn dây leo, bụi rậm, không để dây leo, cây bụi chèn lấn Re gừng, xới xáo vun gốc lần 2 trước và sau mùa mưa Cây 20 - 25 tuổi đường kính ngang ngực đạt 30 - 35cm, chiều cao 20 - 25m có thể khai thác, sử dụng
Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW (2001) [1] khi mô tả những đặc trưng nhận biết và giá trị sử dụng của 15 loài cây rừng phân bố trong vùng
Trang 26Dự án ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh Lạng Sơn đã đưa ra khuyến cáo sử dụng Re gừng làm cây trồng rừng bằng phương thức trồng bổ xung, làm giàu rừng theo rạch hoặc theo từng đám trong điều kiện ở những khu vực còn tính chất đất rừng Về thời vụ trồng tốt nhất và vụ Xuân nhưng cũng có thể trồng vào
vụ Thu
1.2.5.3 Sâu bệnh hại Re gừng
Theo Phạm Quang Thu (2003) [24], Re gừng là loài cây ít bị sâu bệnh ở giai đoạn vườn ươm, nhưng cây con có thể bị bệnh thối cổ rễ Khi điều tra bệnh hại của cây Re gừng trên các mô hình rừng trồng và ở vườn ươm, tác giả đã phát hiện được bệnh khô đầu lá do nấm gây hại Tỷ lệ bị bệnh ở rừng trồng tương đối cao, hầu như tất cả các cây đều có lá bị bệnh nhưng xét về mức độ bị bệnh thì còn rất nhẹ, lá bị nhiễm bệnh chủ yếu là các lá ở tầng dưới của tán cây Qua nghiên cứu triệu chứng và đặc điểm của quá trình phát sinh phát triển của bệnh, bệnh khô đầu lá cây Re gừng được xác định do một loài nấm thuộc chi nấm
Colletotrichum gây nên Chi nấm này theo Brian C Sutton (1980) có 22 loài gây
hại cho nhiều loài thực vật và mỗi một loài có phạm vi cây chủ rất rộng Việc phòng trừ bệnh cho rừng trồng ở thời điểm mức độ bị bệnh còn rất nhẹ thì hiệu quả kinh tế mang lại chưa rõ rệt Vì vậy, cần áp dụng biện pháp lâm sinh như chăm sóc, bón phân, tỉa cành ở tầng dưới của tán lá khi quá rậm cần được tiến hành thường xuyên, đảm bảo cho cây sinh trưởng tốt, hạn chế được sự xâm nhiễm của nấm bệnh Trong quá trình sản xuất cây con ở vườn ươm, để phòng trừ bệnh có hiệu quả cần chọn vươn ươm đúng tiêu chuẩn, thực hiện việc vệ sinh, phòng dịch bệnh thường xuyên Không xếp cây quá dày, tạo điều kiện thông thoáng cho luống cây Khi bệnh xuất hiện cần thiết phải tiến hành các biện
hiệu quả đối với bệnh khô đầu lá là chlorothalonil
Trang 271.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy,
Re gừng có tên khoa học là Cinnamomum obtusifolium A.Chev hoặc
Cinnamomum bejolghota (Buch - Hamex Ness) Sweet, thuộc chi Cinnamomum,
họ Long não - Lauraceae, bộ Long não - Laurales, lớp Ngọc lan -
Magnoliopsida (lớp hai lá mầm - Dicotyledoneae), ngành Ngọc lan -
Magnoliophyta Đây là loài gỗ lớn có giá trị kinh tế cao, gỗ mềm, màu từ sáng
hồng nhạt đến xám sẫm, tỷ trọng 0,42-0,47, ít bị cong vênh, nứt nẻ, mối mọt, gỗ dùng để đóng đồ gia dụng, làm nhà, làm nông cụ và rất được nhân dân ưa chuộng Rễ, vỏ thân, lá có nhiều tinh dầu có thể chưng cất để sử dụng để làm dược liệu Cây có tán lá xanh quanh năm, hệ rễ cọc và rễ bên phát triển mạnh, có thể dùng để làm giàu rừng theo đám, theo rạch, trồng dặm trong rừng khoanh nuôi phục hồi, trồng rừng phòng hộ
Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng của Re gừng tương đối đồng nhất Có thể nói đây là những cơ sở khoa học quan trọng để nhận biết, phân biệt
Re gừng với những loài khác, đồng thời cũng là cơ sở khoa học ban đầu để tìm hiểu nhân giống gây trồng loài cây này Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu
về Re gừng còn rất ít, mới chỉ mô tả khái quát về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng, nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu
về kỹ thuật gây trồng Đối với một số đặc điểm của Re gừng như về độ cao phân
bố, đặc điểm vật hậu còn có nhiều quan điểm khác nhau là do các nghiên cứu được tiến hành ở các vùng sinh thái và tại các thời điểm khác nhau Ở nước ta, cây Re gừng được nghiên cứu thí nghiệm trồng thử nghiệm ở một số nơi, một số
mô hình trồng thử nghiệm được đánh giá là có triển vọng thì chưa được nhân rộng, hiện nay vẫn chưa có quy trình kỹ thuật gây trồng rừng Re gừng, vì vậy chưa có cơ sở khoa học cho việc gây trồng và phát triển loài cây này
Trang 28Để có cơ sở khoa học cho việc gây trồng và phát triển loài cây này thì cần phải tiếp tục nghiên cứu các vấn đề như: chọn giống theo hình dạng, tỷ lệ, chất lượng như thế nào là tốt nhất, kỹ thuật tạo giống bằng phương pháp vô tính để xây dựng rừng giống vườn giống nhằm nâng cao chất lượng giống, các nghiên cứu bổ sung thêm về đặc điểm sinh vật học của loài Re gừng kể cả đặc điểm sinh
lý, sinh thái, vật hậu, nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, chăm sóc bảo vệ rừng
Từ đó, hoàn thiện quy trình kỹ thuật gây trồng rừng Re gừng Tuy nhiên, những vấn đề trên là rất rộng lớn Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài chỉ tham vọng giải quyết một số vấn đề nhỏ nhằm góp phần hoàn thiện các nội dung sau:
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái tự nhiên của cây Re gừng (đặc điểm một số quần thể tự nhiên, đặc điểm khí hậu, đất đai dưới những quần thể Re gừng tự nhiên và rừng trồng, tổ thành loài tầng cây cao, tổ thành loài tầng cây tái sinh, ảnh hưởng của độ tàn che tầng cây cao tới khả năng tái sinh tự nhiên của
Re gừng ở Lạng Sơn và Phú Thọ)
Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hữu tính Re gừng (đặc điểm vật hậu chủ yếu thời kỳ ra hoa, kết quả, kỹ thuật tạo cây con từ hạt, nghiên cứu những ảnh hưởng của độ che sáng, chăm sóc bón phân đến sinh trưởng cây con trong vườn ươm)
Thử nghiệm nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép nêm nối đỉnh Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng Re gừng ở Lạng Sơn và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng Re gừng
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mục tiêu chung
Xác định được một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống, gây
hồi rừng thứ sinh nghèo kiệt và trồng rừng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái và vật hậu của loài Re gừng
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Re gừng
2.2 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
- Loài cây: loài Re gừng (Cinnamomum obtusifolium A.Chev)
- Địa điểm thực hiện: Huyện Tân Sơn - Phú Thọ và Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn Ngoài ra, đề tài còn tiến hành điều tra bổ sung 1 số ô tiêu chuẩn ở Cầu Hai - Phú Thọ và Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên (Hữu Lũng - Lạng Sơn) để
so sánh
- Đối tượng: Rừng tự nhiên và rừng trồng Re gừng
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 10/6/2009 đến 30/10/2010
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, các nội dung cần nghiên cứu của đề tài gồm:
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh thái cây Re gừng
2.3.1.1 Một số đặc điểm hình thái cây Re gừng
2.3.1.2 Một số đặc điểm sinh thái cây Re gừng
Trang 30- Đặc điểm khí hậu nơi Re gừng phân bố
- Đặc điểm đất đai dưới những quần thể Re gừng tự nhiên
2.3.1.3 Nghiên cứu đặc điểm lâm học một số quần thể tự nhiên của loài
Re gừng
- Tổ thành loài tầng cây cao
- Tổ thành loài tầng cây tái sinh
- Ảnh hưởng của độ tàn che tầng cây cao tới khả năng tái sinh tự nhiên của
Re gừng
2.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hữu tính
2.3.2.1 Đặc điểm vật hậu (chủ yếu thời kỳ ra hoa, kết quả)
2.3.2.2 Kỹ thuật tạo cây con từ hạt
- Phương pháp xử lý hạt giống
- Phương pháp tạo bầu (loại bầu, kích thước bầu, hỗn hợp ruột bầu)
- Phương pháp cấy cây
- Phương pháp chăm sóc cây con trong vườn ươm
- Tiêu chuẩn cây con xuất vườn
2.3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây con trong giai đoạn vườn ươm
2.3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm
2.3.3 Thử nghiệm nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép
2.3.4 Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng
Trang 31- Kỹ thuật nhân giống hữu tính
- Kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép
- Kỹ thuật gây trồng và chăm sóc
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát kết hợp phương pháp phỏng vấn
để thu thập thông tin cần thiết về các khu rừng tự nhiên và khu rừng trồng Re gừng Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp kế thừa số liệu, lấy không gian thay thế thời gian để xác định các chỉ tiêu cần thiết Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên lặp lại từ 3 đến 4 lần với dung lượng mẫu đủ lớn (n ≥ 30) Thu thập số liệu sinh trưởng theo phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn, diện tích ô tiêu chuẩn (đối với điều tra rừng trồng thuần loài Re gừng ≈ 1000 m2, điều tra rừng trồng hỗn giao Re gừng với cây bản địa và điều tra ở rừng tự nhiên ≈
2000 m2) tiến hành đo đếm toàn bộ số cây trong ô tiêu chuẩn Các chỉ tiêu đo đếm gồm: Doo hoặc D1,3, Hvn
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng đã lập trình sẵn trên máy vi tính như: SPSS 16.0 và Excel 7.0
Trang 32Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu
Kỹ thuật nhân giống
vô tính
Khả năng sinh trưởng của một số
mô hình rừng trồng
Re gừng
Thu thập thông tin
Điều tra, khảo sát thực
địa, kế thừa các tài liệu,
số liệu đã có
Bố trí các thí nghiệm
Trang 332.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để giải quyết các nội dung đã đặt ra ở trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Kế thừa mô hình rừng trồng của Ban quản lý dự án Việt - Đức KFW huyện Chi Lăng - Lạng Sơn
2.4.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm lâm học quần thể Re gừng được thực hiện trong rừng tự nhiên tại Vườn quốc gia Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ
Để xác định tổ thành loài của tầng cây cao, tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn
(kích thước là 50 x 40 m) Trên mỗi ô, tiến hành thu thập số liệu về thành phần loài, số lượng mỗi loài, các chỉ tiêu sinh trưởng gồm Hvn, D1,3 của những cây có D1,3 ≥ 6cm
Điều tra ô dạng bản xác định tổ thành tầng cây tái sinh: trong 3 ô tiêu chuẩn trên lập 15 ô dạng bản (mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản), diện tích mỗi ô
với kích thước là 5 x 5 m (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa tâm ô tiêu chuẩn), trong mỗi ô dạng bản xác định các chỉ tiêu: tên loài, chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính gốc (Doo), tình hình sinh trưởng (chất lượng cây con, nguồn gốc tái sinh, số lượng cây, tỷ lệ cây có triển vọng , ) của những cây có D1.3 < 6
cm Từ số liệu điều tra ở mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành nghiên cứu các đặc điểm kết cấu của lâm phần có Re gừng trong tự nhiên
Trang 34* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của độ tàn che tầng cây cao tới tái sinh tự nhiên của Re gừng Lựa chọn các vị trí lập 3 ô tiêu chuẩn có độ tàn che của tầng cây cao khác nhau tại Vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ, mỗi ô tiêu chuẩn có diện tích 2.000 m2 Tại mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản có diện tích 100 m2 (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa tâm ô tiêu chuẩn) để điều tra cây tái sinh Cây tái sinh là những cây có Doo< 6cm, cây tái sinh triển vọng là cây sinh trưởng, phát triển tốt, có chiều cao 1 m trở lên Trong mỗi ô dạng bản tiến hành thu thập chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính gốc (Doo), tình hình sinh trưởng, phẩm chất cây con, nguồn gốc tái sinh (chồi, hạt), số lượng cây, số cây/ha theo các cấp chiều cao, tỷ lệ cây có triển vọng , của những cây có Doo<6cm
Xác định độ tàn che khu rừng bằng phương pháp cho điểm, trong ô tiêu chuẩn đánh dấu các điểm điều tra theo hệ thống lưới ô vuông, mỗi điểm cách nhau 2m, tại các điểm này nhìn lên trên nếu gặp tán cây thì giá trị tàn che được ghi là 1, nếu không gặp tán cây thì giá trị tàn che được ghi là 0 Độ tàn che của ô tiêu chuẩn được tính bằng tổng giá trị tàn che đo được chia cho tổng số điểm được đo Từ đó lựa chọn ra các ô tiêu chuẩn theo các công thức về độ tàn che của rừng trồng khác nhau
* Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng của cây con trong vườn ươm Thí nghiệm được bố trí gồm 05 công thức theo phương pháp Tuosky với 03 lần lặp về chế độ che sáng khác nhau, (mỗi công thức thí nghiệm
có 36 cây) Sau khi hạt nảy mầm 2 tháng, theo dõi 9 tháng, định kỳ thu thập số liệu là 2 tháng 1 lần Các chỉ tiêu đo đếm gồm tỷ lệ sống (%), đường kính gốc
Trang 359 tháng, định kỳ 2 tháng thu thập số liệu 1 lần Các chỉ tiêu đo đếm gồm tỷ lệ sống (%), đường kính gốc Doo (cm), chiều cao vút ngọn Hvn(cm)
+ Công thức 1: Tưới nước, không bón phân (đối chứng)
+ Công thức 2: Tưới nước và phân chuồng loãng
+ Công thức 3: Tưới nước và NPK
* Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến khả năng bật chồi của cành ghép Thí nghiệm được bố trí gồm 03 công thức lặp lại 03 lần, mỗi lần lặp có 36 cây, theo dõi trong vườn ươm 6 tháng sau khi ghép, định kỳ đo
bật chồi của cành ghép (%), chiều cao chồi mới Hchồi(cm)
(25x40m), các chỉ tiêu đo đếm gồm: tỷ lệ sống (%), đường kính gốc Doo (cm), chiều cao vút ngọn Hvn (m)
* Thí nghiệm 7: So sánh khả năng sinh trưởng của Re gừng trong các mô hình trồng thuần loài và hỗn giao với một số loài cây bản địa lá rộng khác (Lát hoa, Trám trắng, Giổi xanh)
Trang 36+ Công thức 1: Re gừng trồng thuần loài (đối chứng) + Công thức 2: Re gừng + Lát hoa
+ Công thức 3: Re gừng + Trám trắng + Công thức 4: Re gừng + Giổi xanh Mỗi công thức tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn theo 3 vị trí chân, sườn, đỉnh
(50x40m), trên mỗi
(cm), chiều cao vút ngọn Hvn (m)
2.4.2.3 Phương pháp thu thấp số liệu
Thu thập số liệu được tiến hành theo phương pháp ô tiêu chuẩn, phương pháp đo đếm các chỉ tiêu như sau:
- Xác định tỷ lệ sống theo phương pháp thống kê: Đếm số cây sống, số cây chết ghi vào mẫu biểu để tính tỷ lệ %
- Đo đường kính cổ rễ (Doo) bằng thước Palme có độ chính xác đến 1/10mm
chia đến mm và có chuyển đổi từ chu vi ra đường kính ngay trên thước
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây con trong vườn ươm bằng thước
rừng bằng sào và thước dài có độ chia đến cm
2.4.2.4 Phương pháp xử lý, tính toán số liệu cụ thể
* Tổ thành loài cây được xác định theo phần trăm (%) giá trị quan trọng
IV (Importance Value) của một loài cây nào đó trong tổ thành của rừng, những loài có giá trị IV ≥ 5% là loài cây ưu thế trong tổ thành của lâm phần
Trang 37Trong đó: F(%) x100
loµi c¸c c¶
tÊt cña xuÊt hiÖn
« c¸c sè Tæng
xuÊt hiÖn
a loµi cã
« Sè
100 â
a loµi cña é MËt
100 /ha) (m phÇn m l trong loµi c¸c cña G
/ha) (m
a loµi cña g
2
x G
tÊt cña xuÊt hiÖn
« c¸c sè Tæng
xuÊt hiÖn loµi
cã
« Sè
100 phÇn m l cña é MËt
loµi cña é MËt
D
â đ
/
n ha
cây N
i
Trong đó: ni: là số cây trong 5 ô dạng bản
125 là tổng diện tích 5 ô dạng bản trong 1 ô tiêu chuẩn
* Tính các đặc trƣng mẫu thống kê:
Trang 381
X X n
a
V
Bảng phân tích phương sai (ANOVA)
Nguồn biến
Bậc tự do (d.f)
Phương sai (MS)
F (tính)
) (
Trang 39* Sử dụng tiêu chuẩn t của Student để tìm công thức có ảnh hưởng trội nhất (tốt nhất)
j
n S
x x
t
1 1
"
2
1 max max
V
ni và nj là dung lượng mẫu ứng với công thức thí nghiệm
có số trung bình lớn thứ nhất và thứ hai
Nếu / t / < t05 tra bảng với K=n-a bậc tự do thì sai dị giữa 2 số trung bình lớn thứ nhất và thứ 2 là không rõ, vì thế có thể chọn công thức thí nghiệm ứng với số trung bình lớn thứ nhất hoặc thứ 2 là công thức tốt nhất
Ngược lại, nếu / t / > t05 tra bảng với K=n-a bậc tự do thì sai dị giữa 2
số trung bình lớn thứ nhất và thứ 2 là rõ rệt, trong trường hợp này chọn công thức thí nghiệm ứng với số trung bình lớn nhất làm công thức có ảnh hưởng trội nhất (tốt nhất)
Các số liệu thu thập được tính toán và xử lý thống kê trên máy tính bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS (Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình, 2005) [27]; (Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi, 2006) [28]
Trang 40Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu thuộc hai khu vực là Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn và Vườn quốc gia Xuân Sơn tại huyện Tân Sơn - Phú Thọ Đặc điểm về điều kiện
tự nhiên - kinh tế xã hội của hai địa điểm trên như sau:
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý
* Huyện Chi Lăng: nằm ở phía Nam của tỉnh Lạng Sơn, có tọa độ địa lý từ
21o30’ - 21o50’ vĩ độ Bắc và từ 106o25’ - 106o50’ kinh độ Đông, cách thành phố Lạng Sơn hơn 30km về phía Nam Phía Bắc giáp với huyện Văn Quan và Cao Lộc, phía Tây giáp huyện Hữu Lũng, phía Đông giáp với huyện Lộc Bình, phía Nam giáp với huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang
Huyện Chi Lăng có tổng diện tích tự nhiên là 70.310,00 ha, chiếm 8,46% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Diện tích rừng và đất rừng là 43.153,00 ha (chiếm 62,0% tổng diện tích tự nhiên) Trong đó, diện tích đất có rừng là 23.117,80 ha (rừng tự nhiên: 10.688,00 ha, rừng trồng: 12.429,80 ha)
* Huyện Tân Sơn: Là một huyện mới thành lập của tỉnh Phú Thọ (tách ra
từ huyện Thanh Sơn theo Nghị định số 61/2007/ NĐ-CP, ngày 09/4/2007 của
Chính Phủ) Huyện Tân Sơn nằm ở phía Tây Nam của Phú Thọ, có tọa độ địa lý
từ 20o30’ - 21o24’ vĩ độ Bắc và từ 104o45’ - 105o10’ kinh độ Đông, cách thành phố Việt Trì 75km về phía Tây Phía Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông giáp huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Đà Bắc - tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La
Huyện Tân Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 68.858,00 ha, chiếm 19,5% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Diện tích rừng và đất rừng là 61.089,00 ha