Về khẩu vị: ngoài các loại rau quen thuộc thì cây rau Sắng ở nước ta là loại rau rất ngon được dân ta quen gọi là rau “mì chính”, nhiều loại rau còn có tác dụng chữa bệnh như rau Bò Khai
Trang 1BÙI VĂN TÂN
NGHIÊN CƢ́U ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI SINH VẬT HỌC MỘT SỐ LOÀI RAU RƢ̀NG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SƢ̉ DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI VĂN TÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI SINH VẬT HỌC MỘT SỐ LOÀI RAU RỪNG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG
Chuyên ngành: Lâm nghiệp
Mã số: 60.62.6 0
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Kim Vui
Thái Nguyên, 2010
Trang 3Trước tiên tôi xin trân thành cảm ơn Phó Giáo sư Tiến sĩ Đặng Kim Vui đã hướng dẫn trực tiếp, chỉ đạo tận tình, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân thành cảm ơn Thạc sĩ La Quang Độ đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu trên thực địa
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo khoa Sau đại học Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiền Thần Sa, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi để đến nghiên cứu trong quá trình làm luận văn
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân thành cảm ơn./
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2010
Tác giả
Bùi Văn Tân
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của các thầy giáo hướng dẫn và những người tôi đã cảm ơn Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
Trang 5CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
NN: Nông nghiệp
PTNT: Phát triển nông thôn
PTNNNT: Phát triển nông nghiệp nông thôn
VQG:Vườn quốc gia
OTC: Ô tiêu chuẩn
NXB: Nhà xuất bản
USD: Đô la Mỹ
Stt ÔDB: Số thứ tự ô dạng bản
TB Trung bình
VH: Văn hóa
Trang 6Danh mục Trang
Bảng 4.1: Phân bố rau Sắng với các các loài rau tại khu vực nghiên
Biểu đồ nhiệt độ không khí , ẩm độ, nhiệt đất trong ngày tại điểm đo 1
Biểu đồ nhiệt độ không khí , ẩm độ, nhiệt đất trong ngày tại điểm đo 2
Ảnh: Rau Sắng tại khu bảo tồn Thần Sa, Võ Nhai, Thái Nguyên và
Ảnh: Cây rau Bò Khai ở vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn và ở khu bảo
Ảnh: Cây rau Dớn ở vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn và ở khu bảo tồn
Trang 7Đá lộ đầu (%)
Tỉ lệ
rễ cây
Ghi chú
Trang 9(*) Đất bãi ven sông
Trang 10(%)
Tỉ lệ rễ cây Ghi chú
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ lâu, con người đã biết thu hái, sử dụng cây rau mọc hoang dại để phục
vụ nhu cầu trong cuộc sống Đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ và thiếu thốn, cây rau mọc hoang dại đã góp phần quan trọng trong bữa ăn của bộ đội và nhân dân Rau rừng đã bổ sung một lượng dinh dưỡng cần thiết cho sức khoẻ của mọi người để hoàn thành tốt nhiệm
vụ chiến đấu và công tác
Ngày nay, tuy là thời bình, cây rau mọc hoang dại vẫn đóng vai trò quan trọng về dinh dưỡng cũng như làm thuốc phòng chữa bệnh đối với mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là ở những nơi vùng núi rừng, vùng cao, vùng sâu, vùng xa có khí hậu khắc nghiệt
Cây rau xanh là thành phần quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta Những câu nói “Cơm không rau như đau không thuốc” hoặc “Đói ăn rau, đau uống thuốc” đã được khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của rau trong bữa ăn và trong đời sống con người [5]
Nhân dân ta có rất nhiều loại rau, phổ biến nhất trong bữa ăn hàng ngày là các loại rau cải, rau muống, rau ngót… đặc biệt người dân sống ở miền núi
thường sử dụng các loài rau rừng như rau Dớn (Diplazium esculentum), rau Sắng (Meliantha suavis Pierre) Trong bữa ăn của người dân ta chỉ có hai loại
thực phẩm (tính bằng gam) thường xuyên chiếm 3 con số là gạo và rau Cơm rau cũng là thành ngữ quen thuộc và phổ biển ở Việt Nam
Khoa học dinh dưỡng đã phân tích và xác định trong rau quả hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người Không những rau quả đã góp phần quan trọng và kịp thời chống đói ở những vùng đói thường xuyên hoặc bị thiên tai mà quan trọng hơn cả là vì rau là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin, chất
Trang 13khoáng, chất xơ và một phần quan trọng chất đạm là những chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với hoạt động sinh lý của cơ thể [5]
Rau là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động bình thường của các chức phận sinh lý và sự chuyển hoá của các chất trong cơ thể Lịch sử còn ghi lại 100 người trong số 160 thủy thủ của đoàn thám hiểm Vasco
de Gama đi tìm đường sang phương Đông đã bị chết về bệnh scorbut, do chế độ
ăn dài ngày trên biển thiếu Vitamin C Lịch sử cũng ghi lại nhiều cuộc chiến tranh đã phải nhanh chóng kết thúc vì hàng vạn quân số của 2 bên đều bị bệnh thiếu vitamin, không còn sức chiến đấu [5]
Giá trị dinh dưỡng của rau cũng rất cao, nếu ăn mỗi ngày khoảng 300g rau rừng sẽ cung cấp cho cơ thể khoảng 70 - 80 calo và trên 10g protein đồng thời
có thêm lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể [5]
Ngày nay tuy là thời bình, thực phẩm đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều người thiếu kiến thức về ăn uống hợp lý dẫn đến xảy ra một số bệnh như khô mắt do thiếu Vitamin A, tê phù do thiếu Vitamin B1 Thiếu Vitamin sẽ gây rất nhiều bệnh tật, ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, thường xuyên gây cho người ta cảm giác mệt mỏi, thiếu sức bền bỉ, năng suất lao động và công tác sút kém.[5]
Về khẩu vị: ngoài các loại rau quen thuộc thì cây rau Sắng ở nước ta là loại rau rất ngon được dân ta quen gọi là rau “mì chính”, nhiều loại rau còn có tác
dụng chữa bệnh như rau Bò Khai (Erythropalum scandens Blume) có tác dụng
lợi tiểu, chữa các bệnh viêm gan do virut…
Để duy trì được lâu dài nguồn rau rừng tự nhiên, trong khai thác thu hái sử dụng cần phải được đảm bảo về điều kiện sinh tồn và phát triển của chúng, nếu không chỉ sau một thời gian ngắn nữa nguồn rau rừng của chúng ta không còn
có khả năng phục hồi Vì vậy khi khai thác thu hái rau rừng cần chú ý thực hiện nguyên tắc “Ăn cây nào lấy cây đó, sử dụng bộ phận nào lấy bộ phận đó” không
Trang 14được chặt tận gốc, nhổ cả cây Chống quan niệm chỉ thu hoạch mà không chăm sóc bảo vệ điều kiện và khả năng sinh tồn lâu dài của chúng
Hiện nay do tầm quan trọng của cây rau trong đời sống đặc biệt là là một số loài rau rừng được người dân ở những nơi vùng núi gây trồng và sử dụng khá phổ biển theo nhiều hình thức và phương thức khác nhau Tuy vậy những hình thức và phương pháp đó chưa góp phần nhiều trong công việc bảo tồn và phát
triển bền vững các loài rau rừng vì vậy việc “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học một số loài rau rừng và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng” là
công việc rất cần thiết và cấp bách
Trang 15Chương I TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Các nghiên cứu về bảo tồn tài nguyên rừng gắn với hoạt động sinh
kế của cộng đồng địa phương
Trên thế giới cộng đồng quốc tế có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu năm 1980 Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các hoạt động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết cho sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Một dự án thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Phu kheio Wildife Santuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc Thái Lan Kết quả chỉ ra rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động thu nhập của họ”
2.1.2 Các nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài rau
Theo Farmsworth et al., 1985 thì vào năm 1985 có khoảng 119 hợp chất hóa học chiết xuất từ thực vật bậc cao được sử dụng vào sản xuất thuốc trên toàn thế giới Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính là có 80% người dân ở các nước đang phát triển của thế giới hiện đang phụ thuộc vào các loại thuốc truyền thống để chữa bệnh và trong khoảng 85% các loại thuốc truyền thống đó có sử dụng các chiết xuất từ thực vật
Rất nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu tìm các hợp chất mới từ thực vật như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Đức, Ấn Độ Trong thực tế các nghiên cứu như vậy chỉ được bắt đầu từ thế kỷ 19 và công nghệ cũng phát triển rất mạnh mẽ từ đó Tại trung tâm Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đã kiểm tra rất
Trang 16nhiều loài thực vật để tìm kiếm chất ung thư, rất nhiều loài đã chứng tỏ có hoạt chất chống ung thư, một số hoạt chất đã được chiết xuất và nghiên cứu về cấu trúc để thử nghiệm chữa trị cho con người
Tại Hồng Kông vào năm 1981 với dân số gần 5,7 triệu người, Hồng Kông
có ít nhất 346 người bán cây cỏ làm thuốc và 1477 cửa hàng bán thuốc từ các loại cây cỏ, trong khi đó có 3362 thầy thuốc có đăng ký và 375 hiệu thuốc Hiệp hội các nhà thuốc Bắc ở đây có khoảng 5.000 hội viên Có thể nói Hồng Kông là một thị trường đông dược lớn nhất thế giới, nhập khẩu vượt con số 190 triệu đô
la Mỹ mỗi năm Chỉ có khoảng 70% các loại sản phẩm thảo dược đó là được sử dụng tại chỗ, còn 30% lại được tái xuất Theo tính toán thì mỗi năm người dân nơi đây tiêu thụ khoảng 25 đô la Mỹ cho thuốc Bắc Đây mới chỉ là số liệu tính riêng cho Hồng Kông mà chưa hề đưa ra các số liệu cho cả Trung Quốc, một đất nước mà từ hàng nghìn năm qua người dân đã quen sử dụng thuốc dân tộc sản xuất từ thực vật để chữa bệnh
Tại Nhật Bản hệ thống y học cổ truyền được gọi là Kampo là một dạng ứng dụng y học Trung Quốc Thuốc dân tộc bao gồm các sản phẩm từ tự nhên, mà chủ yếu là các chiết xuất từ thực vật Tổng chi phí cho các sản phẩm thuốc tại Nhật Bản là khoảng 8,3 tỉ đô la Mỹ trong năm 196, song các loại thuốc dân tộc chỉ chiếm 12,5 triệu đô la Mỹ Vào năm 1984, tổng chi phí cho các loại thuốc đã lên tới 14,6 tỉ đô la Mỹ và chi phí cho thuốc dân tộc cũng tăng lên 150 triệu đô
la Mỹ (Terasawa, 1986)
Tonga Noweg và cộng sự (2003) nghiên cứu những loài cây làm rau lấy từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phương
Trang 17Wang Guang-Yin và cộng sự (2002) nghiên cứu về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, chỉ ra có tới 91họ, 226 chi
và 415 loài Phân bố địa lý, sự khai thác và cách thức sử dụng được chỉ rõ và đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể ăn được, thời gian thu hái
và sinh cảnh của chúng cũng đề cập tới
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được thuộc trong 26 họ Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài)
Ở Thái Lan đã và đang phát triển các mô hình trồng cây rau Sắng (Melientha suavis) dưới tán các vườn cây ăn quả hay trong các mô hình nông lâm kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp
2.1.3 Thị trường rau xanh một số nước trên thế giới
Trong những năm gần đây, thị trường rau tươi ở châu Âu giảm về khối lượng nhưng tăng về giá trị Ở nhiều nước phía Đông châu Âu, mức tiêu dùng sản phẩm rau tươi vẫn tiếp tục tăng và người tiêu dùng đang chuyển dần từ tiêu dùng một số loại rau cơ bản sang những sản phẩm đa dạng hơn bao gồm cả các loại nhập khẩu Bên cạnh đó, sự tồn tại sẵn có của nhiều đồ ăn khác như thức ăn nhẹ, đồ ăn nhanh đã trở thành sản phẩm cạnh tranh gay gắt đối với sản phẩm rau tươi Các nước như Đức, Tây Ban Nha, Ý, Pháp là những thị trường lớn nhưng
đã gần như bão hòa Chỉ có một số thị trường ngách và một số nhóm sản phẩm nhất định còn có cơ hội tăng trưởng Đây cũng là cơ hội cho các nước đang phát triển đẩy mạnh việc xuất khẩu rau xanh và thị trường châu Âu [40]
Tại các cửa hàng bán đồ châu Á và các khu chợ buôn bán ở một số thành phố lớn như Moscow, Berlin, Praha, Warsaw, London, Paris… những mớ rau
Trang 18muống, mùng tơi, cải xanh, rau bí, mướp, bầu, cùng rau thơm đủ loại: rau mùi, húng láng, húng chó, tía tô, kinh giới … được bầy bán khắp nơi, nhìn qua tưởng
“thuần Việt”, nhưng thật ra được trồng tại chính các nước sở tại Nhu cầu sử dụng rau xanh của các nước trên thế giới ngày một tăng cao Bảng theo dõi chi phí sinh hoạt các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày của mirror.co.uk cũng cho thấy người tiêu dùng tại Anh hiện đang phải chi thêm trung bình hơn 3% so với năm
2009 để mua rau xanh [41]
Nếu ở Việt Nam, các loại rau xanh bị coi là thực phẩm “bình dân”, nhà nào cũng có trong bữa cơm gia đình thì khi đã “định cư” ở trời Tây, lại được xem là món “sơn hào hải vị” Điển hình nhất là rau muống, từ lúc nào đã trở thành mặt hàng rất hút khách ở các nước châu Âu và chỉ dành cho những gia đình khá giả Không chỉ người châu Á thích ăn rau muống, mà cả dân Tây cũng ưa chuộng Tùy theo mùa, rau muống ở Nga có giá dao động từ 4,5 - 10 USD 1kg; ở Đức là 7USD, Praha 5USD… Theo ủy ban Phát triển Thị trường Trái cây và Rau quả tại Kalimati tại Ấn Độ, tổng lượng rau các loại đưa ra thị trường đã lên đến 360 tấn/ngày bắt đầu từ 17/01/2010 Trước khi lễ hội, cung lượng trung bình hàng ngày của các mặt hàng nông sản trên thị trường vào khoảng 600-650 tấn/ngày Với sự cải thiện nguồn cung cấp, giá các loại rau quan trọng đã liên tục giảm trên thị trường "Hầu hết các mặt hàng rau quả hiện đang được bán với giá thấp hơn so với giá đã ghi nhận một vài tuần trước đây", ông Ramesh Dangol, một quan chức của ủy ban cho biết Theo tin từ ủy ban, giá cả của cà chua lớn, khoai tây đỏ và khoai tây trắng giảm xuống lần lượt là 24 Rupi, 20 Rupi và 14 Rupi/kg
từ các mức giá 26 Rupi, 22 Rupi và 16 Rupi/kg ghi nhận được trước đây hai tuần Tương tự như vậy đối với một số loại rau khác như hành, súp lơ thường và súp lơ Tarai cũng được bán với giá lần lượt là 33 Rupi, 18 Rupi và 10 Rupi/kg, giảm từ 36 Rupi, 22 Rupi và 18 Rupi/kg tương ứng Giá của tỏi Trung Quốc
Trang 19cũng giảm xuống còn 120 Rupi/kg từ 124 Rupi/kg trong khoảng thời gian này Tuy nhiên, giá của dưa chuột lại tăng từ 20 Rupi/kg lên 24 Rupi/kg [41]
2.2 Ở trong nước
2.2.1 Cơ sở của việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài rau rừng
Trước đây khi nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là cây rau còn phong phú, người ta ít chú ý đến việc bảo tồn nguồn gen của chúng Đến cuối thế kỷ XX khi nhận ra rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ đã trở lên khan hiếm, một số loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nên chúng ta mới bắt đầu chú ý bảo tồn nguồn gen Ở Việt Nam hiện nay quan điểm bảo tồn nguồn gen thường kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học vì bếu bảo vệ được hệ sinh thái, bảo vệ được các loài động thực vật thì cũng bảo vệ được nguồn gen của chúng Hiện nay có 2 hình thức để bảo tồn nguồn gen lâm sản ngoài gỗ là: Bảo tồn nội vi (In situ) và bảo tồn ngoại vi (Ex situ) [2]
- Bảo tồn nội vi (Bảo tồn In situ): Là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng Trong trường hợp các loài được thuần hoá và canh tác, công việc này được tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình [theo CBD] Là hình thức bảo tồn đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên [theo GBA]
Hiện nay, đối với một bộ phận lớn của đa dạng sinh học trên trái đất, công tác bảo tồn chỉ khả thi khi các loài đó được duy trì trong phạm vi phân bố cũng như ở trạng tự nhiên của chúng Điều này còn có nhiều ý nghĩa khác như cho phép loài tiếp tục quá trình thích nghi trong tiến hoá và về nguyên tắc đảm bảo cho việc tiếp tục sử dụng các loài (mặc dù điều này đòi hỏi phải có sự quản lý)
- Bảo tồn ngoại vi (Bảo tồn Ex situ): Là hình thức bảo tồn các thành phần của đa dạng sinh học bên ngoài những nơi cư trú tự nhiên của chúng [theo
Trang 20CBD] Là hình thức duy trì các thành phần của đa dạng sinh học tồn tại bên ngoài nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên của chúng [theo GBA] Các quần thể đang tồn tại của nhiều sinh vật có thể được duy trì trong canh tác hoặc nuôi giữ Thực vật có thể được bảo tồn trong ngân hàng hạt giống và các bộ sưu tập mô; các kỹ thuật tương tự cũng được phát triển cho động vật (lưu giữ phôi, trứng, tinh trùng), nhưng khó giải quyết hơn nhiều
Nước ta nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa; nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa các địa phương; lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều theo vùng lãnh thổ và trong năm
Nhờ có yếu tố về địa hình và khí hậu đa dạng, do vậy nước ta có thảm thực vật phong phú và nguồn cây làm thuốc dồi dào Bảo tồn và phát triển nguồn gien, giống cây làm thuốc là một việc làm cần thiết góp phần tăng nguồn lực chăm sóc sức khỏe nhân dân
Các nhà khoa học đã phát hiện ở nước ta có 3.948 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc, thuộc 307 họ của chín ngành và nhóm thực vật khác nhau Trong đó có 52 loài tảo biển, 22 loài nấm, bốn loài rêu và 3.870 loài thực vật bậc cao Mỗi loài lại có bộ gien đa dạng riêng của mình Ðiều này làm cho kho tàng nguồn gien cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và phân tử
Phần lớn số loài cây thuốc ở nước ta được ghi nhận dựa trên tri thức và kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng dân tộc ở khắp các địa phương trên toàn quốc Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở nước ta tồn tại ở nền y học chính là y học cổ truyền chính thống, với các hệ thống lý luận và thực hành được tư liệu hóa trong sách vở như các học thuyết Âm - Dương, Ngũ hành, v.v Các nền y học nhân dân hay y học cổ truyền dân tộc, thường được gọi là thuốc Nam Ðiều này đã tạo nên một kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc ở nước
ta rất phong phú
Trang 21Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc, nước ta đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như Công ước Ða dạng sinh học (1992), Kế hoạch và Hành động đa dạng sinh học (1994)
và ban hành nhiều luật và chính sách gắn liền việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển ngành dược và bảo tồn cây thuốc Một trong số đó là việc triển khai nhiệm vụ Bảo tồn nguồn gien và giống cây thuốc của Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường từ năm 1988, trước khi có hướng dẫn bảo tồn cây thuốc của
Tổ chức Y tế thế giới và chuyển thành Ðề án bảo tồn nguồn gien và giống cây thuốc vào năm 1997
Công tác bảo tồn và phát triển giống cây thuốc trong 20 năm qua đã thu được kết quả đáng khích lệ Các địa phương đã hình thành hệ thống bảo tồn cây thuốc rộng khắp, từ vườn thực vật, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đến các vườn thuốc Nam thiết yếu và vườn hộ tại các cộng đồng Các nguồn gien và giống cây thuốc cũng như tri thức sử dụng chúng đang được lưu giữ trong các
hệ thống bảo tồn trong cả nước có giá trị tiềm năng to lớn Có hàng triệu hộ gia đình ở nước ta thuộc vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đang hằng ngày sử dụng cây thuốc được trồng trọt và lưu giữ tại các vườn hộ, tại các vườn thuốc Nam thiết yếu cũng như ở thiên nhiên chung quanh nơi sinh sống Các hoạt động bảo tồn như chọn tạo, phục tráng, đột biến gien, nghiên cứu quy trình trồng trọt, v.v đã tạo ra những giống cây thuốc có năng suất và hàm lượng hoạt chất cao, ổn định Ðiều này tạo nền tảng quan trọng trong việc thực hiện Thực hành trồng trọt tốt các cây thuốc (GAP), một điều kiện tiên quyết để thực hiện Thực hành sản xuất thuốc tốt (GMP) trong công nghiệp dược, tạo ra các sản phẩm hàng hóa có chất lượng ngày càng cao, bảo đảm hiệu lực điều trị cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thuốc và sản phẩm thiên nhiên của nước
ta Mặc dù đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong công tác
Trang 22bảo tồn nguồn gien phát triển giống cây thuốc, ngành dược đang gặp nhiều khó khăn, cần tháo gỡ
Nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý tham gia Hội nghị tổng kết 20 năm thực hiện nhiệm vụ bảo tồn nguồn gien và phát triển giống cây thuốc, cho rằng: Khung pháp lý cho công tác bảo tồn chưa được kiện toàn một cách đồng bộ Nhiều điều luật, chủ trương, chính sách chưa được cụ thể hóa dẫn đến sự lúng túng trong triển khai công tác bảo tồn cây thuốc, có khi chồng chéo nhau nhưng lại có những lĩnh vực không biết của ngành nào Ðiều này dẫn đến hậu quả là chúng ta chưa thật sự huy động được các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực đầy
đủ cho công tác bảo tồn, cũng như chưa khai thác được các giá trị to lớn của hoạt động bảo tồn mang lại
Nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn và phát triển còn rất hạn chế so với tiềm năng và tầm quan trọng của cây thuốc Lý do chính là chúng ta còn nặng tư tưởng bao cấp, phụ thuộc vào nguồn ngân sách Nhà nước, hoặc nếu muốn cũng chưa biết cách làm; chưa huy động được sự tham gia của khối doanh nghiệp; chưa tạo ra hành lang pháp lý trong việc tạo ra các nguồn ngân sách từ chính các hoạt động bảo tồn và khai thác cây thuốc để phục vụ cho công tác bảo tồn Chúng ta chưa chú ý phát triển và thương mại hóa các loài bảo tồn mà mới chú trọng bảo tồn gien Ðội ngũ làm công tác bảo tồn nhìn chung vẫn còn mỏng
và yếu, chưa đáp ứng nhu cầu công tác bảo tồn ngày càng nặng nề trong bối cảnh mới, chưa huy động được sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn, mà dường như mới là hoạt động của các nhà chuyên môn
Theo các nhà khoa học, quản lý trong ngành dược nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong thời gian tới cần tiến hành điều tra cơ bản một cách có hệ thống và chắc chắn, hệ thống cây làm thuốc ở nước ta Tiếp tục tổng kết lý luận và thực tiễn bảo tồn nguồn gien trong thời gian qua để phát triển các lý thuyết và phương pháp luận bảo tồn cây thuốc trong giai đoạn tới Mở rộng mạng lưới ra
Trang 23các vùng sinh thái chưa có cơ sở địa diện, ngược lại cắt giảm các đơn vị trùng lắp về vùng sinh thái (thí dụ: Hà Nội chỉ cần một vườn bảo tồn - đại diện cho đồng bằng Bắc Bộ) Xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhóm, đối tượng, nhiệm vụ bảo tồn cây thuốc trong các cơ quan thành viên Tập trung nguồn lực bảo tồn những cây có nguy cơ bị tuyệt chủng, hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng, các cây quý hiếm mà không bảo tồn tràn lan, các cây thuốc di thực đã bị thoái hóa về nguồn gien Xây dựng một đến ba vườn quốc gia cây thuốc quốc gia tại các vùng sinh thái để bảo tồn từ 60 đến 80% số cây thuốc của cả nước Các vườn cây này phải có diện tích đủ lớn (150 - 300 ha) để bảo đảm điều kiện sinh thái và lưu giữ an toàn cây thuốc Vườn cây thuốc quốc gia nên gắn với hoạt động du lịch nhằm có nguồn thu để có thể tồn tại và phát triển lâu dài Tăng cường nghiên cứu cơ bản các nền y học cổ truyền dân tộc Trước mắt tập trung vào các dân tộc có lịch sử lâu đời ở Việt Nam như Thái, Chăm, Khmer, Tày, Nùng, Xây dựng một số thương hiệu sản phẩm từ dược liệu, chỉ dẫn địa lý thông qua sự hợp tác với doanh nghiệp và địa phương
Viện Dược liệu đã nghiên cứu xác định được 134 loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng và nhân trồng được 65 loài ở các vườn dược liệu trên toàn quốc Viện còn bảo tồn giống một số loài thuốc quý trong ngân hàng hạt, góp phần cứu vãn những quần thể cây thuốc quý còn sót lại trong tự nhiên và mở ra triển vọng tạo thêm nguồn dược liệu
Các nhà khoa học Nguyễn Tập, Phạm Thanh Huyền, Lê Thanh Sơn, Ngô Đức Phương và Ngô Văn Trại ở Viện Dược liệu đã tiến hành khảo sát, thu thập các loài cần được ưu tiên bảo tồn, dựa trên các tiêu chí: loài có ranh giới, phạm
vi phân bố hẹp và số lượng cá thể ít hoặc loài tiêu biểu cho một dòng tiến hóa,
có mức độ khác biệt cao về di truyền
Trong số 134 loài được coi là có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta, nhóm nghiên cứu đã phân cấp mức độ ưu tiên theo ba nhóm
Trang 24Nhóm cực kỳ nguy cấp (CR) có 18 loài như ba gạc hoa đỏ, sâm vũ điệp, bình vôi, hoàng liên
Nhóm nguy cấp (EN) có 42 loài Đa số các loài như sâm Ngọc Linh, mã đâu linh, hoàng tinh vòng vốn không thật hiếm song đã bị khai thác kiệt quệ, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời chúng sẽ chuyển sang nhóm cực kỳ nguy cấp 74 loài còn lại được xếp ở dạng sẽ bị nguy cấp (VU) Đó là các loài vốn phân bố phổ biến nhưng bị khai thác tàn phá đến mức nghiêm trọng như hà thủ ô đỏ, đẳng sâm
Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc, đem
về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng
và chế biến thuốc Hà Nội (Thanh Trì), Vườn trung tâm nghiên cứu dược liệu bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang)
Các vườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lý lịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại để đánh giá khả năng bảo tồn
Ghi nhận của các nhà khoa học là 90% số loài thích nghi, sinh trưởng tốt Mùa hoa quả của chúng trùng với cây mọc ngoài tự nhiên Nhiều cây đã cho hạt giống và tạo ra các thế hệ tiếp theo Hạt giống của nhiều loài như ba gạc, hoàng liên gai, hoàng liên ô rô được bảo quản trong ngân hàng hạt
Song song với việc bảo tồn nguồn gen quý, các nhà khoa học ở Viện Dược liệu chủ trương mở rộng phát triển và khai thác sử dụng, đưa vào nhân giống một số loài tại nơi chúng phân bố Tam thất hoang, sì tô được trồng ở Sa Pa (Lào Cai), ngũ gia bì hương trồng ở Hà Giang, Lào Cai Sâm Ngọc Linh phân
Trang 25bố ở một điểm duy nhất là núi Ngọc Linh (Quảng Nam và Kon Tum) đã bị khai thác hết trong tự nhiên
Viện Dược liệu đã mang hạt được bảo quản về trồng chính tại núi Ngọc Linh Bước đầu các loài này đều sinh trưởng tốt và Viện đang có kế hoạch đưa về trồng đại trà, sản xuất lớn trong cộng đồng dân cư [42]
Ở Việt Nam, khoảng 30% người được chữa khỏi bệnh nhờ cây thuốc Tuy nhiên, theo cảnh báo của các nhà khoa học, trữ lượng cây thuốc quý đang ngày càng giảm sút Nếu nước ta không có chiến lược bảo tồn, trong thời gian không
xa, rất nhiều cây thuốc quý sẽ biến mất
Có thể khẳng định, giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn ở Mỹ mỗi năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD ở Trung Quốc, chỉ riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng đem lại doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm Còn ở Việt Nam, hiện vẫn chưa có số liệu thống kê nào về lĩnh vực này Nhưng với 30% người bệnh được khám chữa nhờ Đông y và chủ yếu bằng cây thuốc cũng đủ thấy giá trị to lớn của nó
Thống kê chưa đầy đủ của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) cho thấy, hiện nước ta
có khoảng 3.800 loài thực vật có thể làm thuốc Trong đó có những loại quý mà nền y học thế giới rất cần như: hoàng liên, hoàng tinh, bách hợp, tiền hồ, đặc biệt là giống sâm thuộc loại chi Pinax Ngoài lợi ích về kinh tế, xã hội, cây thuốc còn mang lại giá trị không thể tính được về sinh thái và môi trường Tuy nhiên, do bị khai thác tràn lan với số lượng lớn, mỗi loại hàng chục nghìn tấn/năm, nên số lượng và trữ lượng cây thuốc ngày càng giảm sút Theo điều tra của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, riêng những người hành nghề y dược
tư nhân đã sử dụng trên 20.000 tấn dược liệu/năm Ngành công nghiệp dược, mỹ phẩm, hương liệu mỗi năm cũng cần nguồn nguyên liệu tương đương Ngoài ra, hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu đã góp phần làm giảm 10.000 tấn cây thuốc/năm Chính vì vậy, một loạt cây thuốc có giá trị như bình vôi, tiết nhân
Trang 26sâm, cỏ nhung, thạch hộc đã và đang cạn kiệt Báo động đỏ về số lượng và nguồn gen cây thuốc cũng được nhiều thành viên Hội Đông y Việt Nam lên tiếng Hiện tại, số lượng các loại cây thuốc quý chỉ còn ở con số hàng chục, điều này thể hiện ngay trong các vườn cây thuốc Nam ở các trạm y tế xã, nơi được coi là đầu mối lưu giữ nguồn cây quý [42]
Theo giới khoa học, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên vẫn là sự kém hiểu biết và tình trạng khai thác tràn lan, bất hợp lý Chúng ta chưa có kế hoạch hợp lý để vừa phát triển sản xuất mà vẫn sử dụng lâu bền nguồn tài nguyên đó Mặt khác, công tác nghiên cứu gen, nhất là nguồn gen cây thuốc ở nước ta còn yếu Ngay như Viện Dược liệu, do nhiều nguyên nhân nên đến nay, mới chỉ thu thập được khoảng 100 loại gen cây thuốc
Phải làm gì để bảo tồn nguồn gen cây thuốc? Không có cách nào khác là những bài học xưa cũ: vận động, tuyên truyền người dân có ý thức bảo vệ cây thuốc Đặc biệt là cần sớm lập ngân hàng gen và một khung pháp lý cụ thể cho nguồn gen thực vật nói chung và nguồn gen cây thuốc nói riêng [42]
* Tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học:
Các lý do của việc bảo tồn đa dạng sinh học được đặt ra từ nhiều góc độ khác nhau và tuỳ thuộc vào các yếu tố văn hoá và kinh tế Các mục tiêu bảo tồn khác nhau có các đối tượng và quy mô được bảo tồn khác nhau Trong số những mục tiêu đó có thể kể đến:
- Phục vụ cho mục đích sử dụng trong hiện tại và tương lai các nhân tố của
đa dạng sinh học như các nguồn tài nguyên sinh học
- Phục vụ cho việc duy trì sinh quyển trong trạng thái có thể hỗ trợ cho cuộc sống con người
- Phục vụ bảo tồn bản thân đa dạng sinh học mà không vì một mục đích nào khác, đặc biệt tất cả các loài đang sống hiện nay
* Đa dạng sinh học là một nguồn tài nguyên:
Trang 27Đa dạng sinh học (Biodiversity) bao gồm cả sự đa dạng của các dạng sống, vai trò sinh thái mà chúng thể hiện và đa dạng di truyền (Genetic Diversity) mà chúng có Nói đến đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, không thể không kể đến các hệ sinh thái rừng, bởi vì chúng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học phải được coi như là nguồn tài nguyên toàn cầu và bảo tồn đa dạng sinh học phait là nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu, toàn nhân loại
Có 3 lý do chính để cho công tác này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết là: Con người đang phá hoại môi trường sống với một sống độ báo động, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới
Khoa học đang phát hiện ta những tiềm năng sử dụng mới của đa dạng sinh học mà để khai thác tiềm năng đó, đôi khi nó lại gây hại cho môi trường
Một phần khá lớn của sự đa dạng bị mất đi bằng con đường tuyệt chủng mà hcungs không thể nào có thể tái tạo lại được do bởi môi trường sống đang hủy hoại nghiêm trọng
Cần phải có một chính sách bảo tồn và phát triển phủ hợp để đa dạng sinh học nguồn tài nguyên quý giá đó của nhân loại còn có thể tiếp tục tồn tại cho hôm nay và cho các thế hệ tương lai
Rõ ràng là đa dạng sinh học ở một mức độ nào đó có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở vật chất cho cuộc sống con người: ở mức độ này, nó duy trì sinh quyển như một hệ thống chức năng, ở một mức độ khác, nó cung cấp các vật liệu cơ bản cho nông nghiệp và và nhu cầu thiết thực khác
Thức ăn: Giá trị sử dụng trực tiếp và quan trọng nhất của các loài là dùng
làm thức ăn Mặc dù một số lượng tương đối lớn các loài thực vật, khoảng vài nghìn có thể được dùng làm thực phẩm, và một số lượng lớn hơn có thể ăn được, tuy vậy chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong số đó là có vai trò quan trọng về dinh
Trang 28dưỡng ở cấp độ toàn cầu, và chỉ có rất ít được sử dụng phổ biến trong thương mại
Rau quả là một trong 4 nhóm thực phẩm cần thiết để có một bữa ăn hợp lý Giá trị của rau quả là cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là các vitamin (vitamin A, vitamin C) chất khoáng, vi khoáng Ngoài ra là các chất axit hữu cơ, xenluloza Ở các nước đang phát triển, hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có được cung cấp từ rau quả tươi dưới dạng caroten
và gần 100% vitamin C cũng được cung cấp từ rau Trong các kết quả dưới đây cho thấy: Trong các loại rau thì rau ngót, rau đay, rau dền là những loại rau quý,
có giá trị dinh dưỡng cao, đồng đều về vitamin A, caroten (tương đương 1.760 mcg retinol), vitamin C (179-64-52 mg) và hàm lượng sắt (2,8-2,5-2,1 mg %) giàu các chất muối khoáng, vi khoáng, protein gấp 3-5 lần các loại rau khác (3-6g%) Rau muống có giá trị dinh dưỡng trung bình (380 mcg % retinol; 2,8mg% vitamin C; 1,2 g sắt) có kém rau ngót, rau đay nhưng được nhiều người ưa thích,
sử dụng thường xuyên, quanh năm với số lượng lớn (gấp vài chục lần các loại rau khác) nên giá trị của nó không nhỏ Các loại rau gia vị (mùi, tía tô, húng, thì là ) có hàm lượng vitamin A, caroten cao và đồng đều hơn so với rau ăn và quả ngọt (bình quân 400-900 mcg% retinol) cao nhất là tía tô, húng quế, ớt vàng (hơn 9.000 mcg%) giàu sắt (1-3mg%) Rau gia vị lại được sử dụng tươi sống, không bị tổn thất qua nấu nướng, nên giá trị sử dụng các vitamin cao Ngoài ra, các rau gia vị còn cung cấp nguồn kháng sinh thực vật rất có giá trị Tác dụng của rau ngoài cung cấp vitamin, khoáng chất, phòng ngừa ung thư rất tốt, còn có khả năng chữa trị được nhiều loại chứng bệnh Ví dụ như: hành ta, hành tây, tỏi, củ sả, cà rốt, cà chua, bí ngô, ớt là những loại rau có nhiều beta-caroten, vitamin C và chất xơ, các chất này trong rau có hàm lượng cao hơn so với trái cây Các chất xơ trong rau có tác dụng phòng bệnh rất tốt, mà chất xơ chủ yếu có trong rau, nên nó thúc đẩy sự hấp thụ của cơ thể đối với 3 nhóm thức
Trang 29ăn cơ bản (nhóm đạm, đường, béo) Nếu chỉ ăn đơn thuần các protein động vật, thì hiệu suất hấp thụ protein trong ống tiêu hóa chỉ là 70%, còn nếu ăn thêm rau thì hiệu suất hấp thụ protein sẽ đạt tới 90% Như vậy có thể thấy, rau có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và tuổi thọ Đồng thời không thể dùng trái cây thay thế rau xanh trong mỗi bữa ăn gia đình [36]
Dược phẩm: Các loại dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu Ước tính 80% dân
số của các nước kém phát triển trông cậy vào các dược phẩm truyền thống trong việc chăm sóc sức khoẻ; và sự phụ thuộc này không hề giảm đi kể cả khi có mặt các loại tây dược Khoảng 120 hoá chất được chiết xuất thành dạng tinh khiết từ
90 loài sinh vật đang được dùng trong y học trên toàn thế giới Khá nhiều trong
số đó không thể sản xuất nhân tạo được: digitoxin khích thích hoạt động tim, một thuốc trợ tim phổ biến nhất của đông y, được chiết xuất trực tiếp từ cây Mao địa hoàng (Digitalis); vincristine nhân tạo, được dùng để điều trị bệnh bạch cầu ở trẻ em chỉ đạt 20% hiệu quả của sản phẩm tự nhiên có nguồn gốc từ cây Catharanthus roseus (Rosy Periwinkle)
Cùng với nông nghiệp, và việc từ bỏ y học truyền thống, hiện tại chỉ còn một tỷ lệ rất nhỏ đa dạng sinh học trên thế giới có đóng góp cho chăm sóc sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu Nhiều dẫn chứng về những tiến bộ về công nghệ trong công nghiệp dược phẩm, và cụ thể có liên quan đến việc chế tạo và sản xuất dược phẩm nhân tạo, sẽ có nghĩa là đóng góp này sẽ giảm nhiều hơn là tăng Tuy nhiên, tính đa dạng tự nhiên có thể ngày càng có giá trị đối với việc chế tạo ra những dược phẩm nhân tạo mới
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hằng ngày Nhiều loại rau xanh sẵn có và rẻ tiền còn là những vị thuốc rất có giá trị, một số loại rau nếu biết cách kết hợp chế biến lại trở thành những "bài thuốc" chữa bệnh, làm đẹp có hiệu quả Ưu điểm nổi bật khi sử dụng rau xanh thay cho
Trang 30thuốc chữa bệnh là vừa cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, vừa chữa được bệnh, lại không có ảnh hưởng phụ như khi dùng thuốc Ngày nay, rau xanh được chế biến đến không chỉ đơn thuần là nguồn thực phẩm nuôi sống con người, mà còn được coi là nguồn dược liệu an toàn, rẻ, thông dụng và không có tác dụng phụ Trong rau xanh chứa rất ít chất béo và calo, nhưng lại cung cấp nguồn năng lượng đáng kể Rau xanh cũng chứa ít Natri, làm giảm lượng nước hấp thụ vào cơ thể Ăn rau xanh thường xuyên mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe Cùng với những ích lợi giảm thiểu bệnh tật, rau xanh còn là thực phẩm giúp giảm cân hiệu quả Trong rau xanh chứa rất ít chất béo và calo, nhưng lại cung cấp nguồn năng lượng đáng kể nên thường được áp dụng trong các chế độ
ăn kiêng Tất cả những đặc tính này mang lại hiệu quả cho việc giảm cân Chất
xơ trong rau xanh cũng giúp cảm thấy no nhanh hơn và do đó hạn chế được lượng thức ăn tiêu thụ Ngoài ra, rau xanh cũng bổ sung nhưng dưỡng chất cần thiết cho cơ thể để đẩy mạnh quá trình sản sinh năng lượng tại các tế bào cơ Nhờ vậy, bạn sẽ luôn cảm thấy đầy sức sống để có một ngày năng động, giúp tiêu hao nhiều năng lượng hơn nữa [37]
Theo một nghiên cứu mới, vitamin B9 được tìm thấy đặc biệt trong các loại rau với lá xanh có tính năng giúp những người cao tuổi phòng ngừa chứng sa sút trí tuệ Vitamin B9, còn gọi là acid folic, đã được cô lập và tổng hợp từ năm
1945 Cơ thể không thể tự sản xuất chất này mà cần được bổ sung nhờ thực phẩm Acid folic có mặt chủ yếu trong các lá cải, rau xanh, hạt như bắp, đậu Vitamin B9 giúp não hoạt động tốt, tham gia trong việc tổng hợp nhiều chất dẫn truyền thần kinh, chất hóa học cho phép các tế bào thần kinh truyền tin Trí nhớ
và các chức năng nhận thức khác sẽ có chất lượng tốt hơn nếu được cung cấp đầy đủ vitamin B9 Ở người cao tuổi, lượng acid folic bổ sung thường rất thấp
Bà Katherine Tucker và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng con người ở trường đại học Tufts (Mỹ) đã nghiên cứu trong suốt ba năm việc bổ
Trang 31sung vitamin B và khả năng trí tuệ của 321 người tuổi từ 50 đến 85 Những người tham gia đã trải qua một loạt thử nghiệm khi nghiên cứu mới bắt đầu và lặp lại các thử nghiệm này 3 năm sau Các nhà nghiên cứu đã so sánh hai kết quả, phân tích đáp án của những người tham gia nghiên cứu trong bảng câu hỏi
về chế độ ăn và cho họ xét nghiệm máu để đánh giá hàm lượng vitamin trong máu Các bài trắc nghiệm về nhận thức nhắm vào trí nhớ, khả năng ăn nói lưu loát và định vị trong không gian Kết quả là những người đã dùng nhiều acid folic nhất ít bị sa sút trí tuệ nhất và đặc biệt là có khả năng diễn đạt lưu loát Theo bà Tucker, nghiên cứu này tiết lộ tác động của vitamin B9 đối với chứng
sa suát trí tuệ do tuổi già [38]
2.1.2 Tổng quan về sản xuất rau xanh ở Việt Nam
Rau là nguồn cung cấp các Vitamin, muối khoáng, chất xơ và năng lượng cho con người trên khắp hành tinh Chính vì vậy, rau là loại thực phẩm không thể thay thế trong khẩu phần hàng ngày của chúng ta đồng thời nó cũng là cây trồng có vai trò to lớn trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu kinh tế Nhờ
có rau mà hệ số sử dụng đất từ 2 lên 3 - 4 - 5 vụ/năm Thu nhập thực tế 1 ha rau nhiều nơi đã đạt 40 - 50 triệu/ha/vụ và 60 - 80 triệu đồng/năm
Nghề trồng rau ở nước ta ra đời rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước; nước ta cũng là trung tâm khởi nguyên của nhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành trồng rau còn một khoảng cách rất xa so với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác Ngay cả những năm gần đây mức độ phát triển vẫn chưa theo kịp các ngành khác trong sản xuất nông nghiệp
Trong "Đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010" Của
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 3/9/1999 có xác định mục tiêu cho ngành sản xuất rau là: "Đáp ứng nhu
Trang 32cầu rau có chất lượng cao cho tiêu dùng trong nước, nhất là các vùng dân cư tập trung (đô thị, khu công nghiệp ) và xuất khẩu Phấn đấu đến cuối năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người 85 kg rau/ năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 690 triệu USD" [29]
Theo số liệu thống kê, diện tích trồng rau cả nước đến năm 2000 là 445 nghìn ha, tăng 70% so với năm 1990 (261.090 ha) Bình quân mỗi năm tăng 18,4 nghìn ha (mức tăng 7% năm) Trong đó các tỉnh phía Bắc có 249.200 ha, chiếm 44% diện tích canh tác [28]
Đến nay cả nước sẽ phát triển diện tích cây rau 700.000 ha, sản lượng 14 triệu tấn Tổng giá trị xuất khẩu rau, hoa quả các loại của cả nước đến nay đạt
760 triệu USD/năm và dự kiến đến năm 2020 đạt 1,2 tỷ USD/năm Trong đó, giá trị xuất khẩu rau xanh 295 triệu USD Trước mắt tập trung lực lượng đấu tư triển khai các dự án đầu tư sản xuất và chế biến tiêu thụ sản phẩm rau sạch, cùng với việc ban hành các chính sách hỗ trợ chế biến xuất khẩu rau xanh đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đưa ngành sản xuất rau, quả của cả nước phát triển bền vững theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Tại một số địa phương như thị trấn Như Quỳnh, Hưng Yên thị trường rau xanh diễn ra rất sôi nổi, ngoài chợ đầu mối Như Quỳnh là nơi tập kết mua bán thì các thương lái cả trong và ngoài huyện, nhất là các thương lái từ Hà Nội, Bắc
Ninh… về thị trấn từ sáng sớm để mua rau quả ngay tại ruộng Hiện người dân
đang chú trọng phát triển các loại rau màu ngắn ngày nhất là các loại rau an toàn đang được người tiêu dùng ưa chuộng, hướng tới những thị trường tiềm năng như thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh Ngoài việc tìm những loại rau màu được thị trường ưa chuộng, đem lại hiệu quả kinh tế cao thì một số địa phương cũng đang tìm những hướng đi nhằm nâng cao giá trị sử dụng đất Ở thôn Như Quỳnh, nhiều hộ dân đã chuyển hẳn từ trồng lúa sang chuyên trồng và cung cấp các loại cây rau giống cho bà con nông dân trong và ngoài tỉnh mỗi năm có thể thu lãi
Trang 33hơn 100 triệu đồng/ha, một số hộ dân ở thôn Ngô Xuyên phát triển mô hình trồng cây dược liệu Giá các loại rau củ quả đều đạt mức giá bán buôn từ 4- 6 nghìn đồng/kg, các chi phí mỗi sào cho lãi từ 4- 5 đến triệu đồng, cá biệt có những hộ thu từ 6- 7 triệu đồng
Tại Mộc Châu, Sơn La có vùng nguyên liệu su su lớn nhất miền Bắc với diện tích 304 ha, sản lượng đạt 140.000 tấn quả mỗi năm Sản phẩm su su của Mộc Châu chiếm trên 90% tổng sản lượng rau quả sạch được xuất đi các tỉnh thành miền xuôi đưa về doanh thu gần 30 tỷ đồng/năm
Trong những năm gần đây, sản xuất rau của Hải Phòng nói riêng và của cả nước nói chung có những bước thay đổi rõ rệt cả về diện tích, năng suất, sản lượng, và chủng loại Tuy nhiên, nhìn trên khía cạnh chất lượng, vấn đề sản xuất rau theo hướng công nghệ cao, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và sự bền vững của môi trường trong sạch đã và đang là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải có một hệ thống giải pháp có tính chiến lược, đồng bộ với sự tham gia của các cơ quan tổ chức, cá nhân trên nhiều lĩnh vực Là thành phố công nghiệp, du lịch, dịch vụ, có 1.75 triệu dân, tiêu thụ 200.000 - 220.000 tấn rau sạch/năm Năng suất rau bình quân năm 2005 đạt xấp xỉ 20 tấn/ ha, cao hơn mức bình quân chung của cả nước (cả nước đạt năng suất bình quân 13.5 tấn/ha)
2.2.3 Cơ sở về loài cây nghiên cứu
2.2.3.1 Giá trị và tiềm năng của loài cây nghiên cứu
Rau Bò Khai: Theo Tạ Minh Hoà - Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản Việt Nam: Rau Bò Khai là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, gồm các thành phần chủ yếu sau: nước 78,8g; Protein 06g; Gluxit 6,1g; Xơ 7,5g; tro 1,6g; can xi 138mg; phốt pho 40,7 mg; ca-rô-ten 2,6mg; vitamin C 60mg Ngoài giá trị làm thực phẩm, loại cây này còn là một vị thuốc quý dùng để chữa các bệnh về gan, thận và nước tiểu vàng Đi xa về mệt mỏi, nước tiểu vàng đục chỉ càn ăn rau Bò Khai một hai lần là nước tiểu trở lại trong veo Ở Trung Quốc cây
Trang 34Bò Khai cũng được sử dụng để chữa nhiều bệnh như viêm thận, gan, viêm đường tiết niệu, tiểu tiện không thông Ở Việt Nam theo kinh nghiệm dân gian
ở Thái Nguyên, Bắc Kạn, cây Bò Khai toàn thân sắc lấy nước uống chữa bệnh viêm gan siêu vi trùng đạt kết quả tốt Thân, cành tươi bỏ lá, thái mỏng phơi khô, ngâm rượu uống có thể chữa sốt, tê thấp [12]
Đây là loại rau cổ truyền của đồng bào miền núi Mỗi năm một gia đình ở đây bình quân thu hái từ 5 - 10 kg ngọn cây để làm thức ăn Gần đây loại rau này được bán phổ biến ở các chợ trung tâm các tỉnh miền núi như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn trở thành món ăn đặc sản được nhiều người ưa thích Tại một số thành phố lớn như Quảng Ninh, Hải Phòng, một số siêu thị cũng đã có và đang bán với giá khá cao: từ 25.000đ - 30.000đ/ kg Tại Hà Nội
Cây rau Sắng: Là cây rau rừng rất thông dụng, trong rau Sắng có 82,2% nước; 5,5 - 6,5% protit; 5,3 - 5,5 glucid; 2,2% cellulose có đủ các axit cần thiết cho cơ thể như lysin, methiomin, tryptophan, phelylanin,threonin, leucin và isoleucin [7]
Công dụng: Hái lá non hoặc lá bánh tẻ thái nhỏ nấu canh, vị ngọt, ngon, có thể nấu canh với thịt cũng có thể nấu canh suông, bát canh vẫn ngọt và đậm đà
Lá già có thể nấu kỹ lấy nước ngọt dùng làm canh, vì có vị ngọt nên còn được gọi là cây “mì chính” Hạt rang lên ăn như lạc rang rất béo ngọt
Theo Lê Kim Biên - Tập san sinh vật địa học số 11 - 1973 Rễ cây rau Sắng thường được người dân sử dụng chữa bệnh sán [13]
Rau Dớn: Là loại rau quen thuộc với đồng bào miền núi từ Bắc vào Trung - Trung bộ và Tây Nguyên Bộ phận dùng toàn cây Thành phần hóa học: Rau Dớn chứa 86% nước, 4% protide, 8% hgdratcarbon, chủ yếu celulose (The wealth of india vol III 1952,88) các hợp chất axit phenolic, axit protocatechic
và axit phenolic và axit syringic (AII9 1993, 1133 41.1)
Trang 35Rau Dớn còn dùng làm thuốc: lá non 50g rửa sạch giã nhỏ đắp lên vết thương cầm máu, hàn vết thương Thân, rễ (bỏ rễ con) 20g rửa sạch, thái nhỏ sắc 200ml nước còn 50ml uống 2 lần (25ml cho một lần) uống sáng, chiều điều trị sốt rét, đợt điều trị 7 - 10 ngày Ngoài ra, theo các thầy thuốc, rau dớn có tính mát, lợi tiểu, chống táo bón, làm ngưng các cơn đau âm ỉ do viêm đại tràng, và giúp dễ ngủ, ngủ sâu; giúp cơ thể khoẻ mạnh
Lá non rau Dớn thường được dùng luộc, xào hoặc ăn sống Khi có cá niên vừa bắt lên đem nướng thật vàng, dòn bằng lửa than xong, vứt bỏ đầu cá, rút hết xương, bóc thịt cá trộn với rau Dớn (trụng qua nước sôi lấy ra ngay) - Hai thứ rau Dớn cá niên trộn đều, có thêm các gia vị như: ớt, tỏi, hành củ, bột ngọt và muối sống vừa ăn (không cho nước mắm)
Hiện nay trong nước thị trường tiêu thụ rau Dớn là rất lớn, các nhà hàng đặc sản ở các khu đô thị không có đủ nguồn cung ứng rau Dớn cho các khách hàng mỗi ngày Người dân đi thu hái rau Dớn tại Quảng Nam, Đà Nẵng trung bình mỗi ngày họ thu nhập mỗi người trên 100 ngàn đồng Trước đây, rau dớn là loại rau dành cho người nghèo ăn Hiện nay, theo xu thế ăn rau “siêu sạch”, rau dớn được chế biến, nấu với các món hải sản trở thành những món đặc sản của các nhà hàng phục vụ cho khách du lịch, khách VIP… Ở vùng trung du Quảng Nam như Quế Sơn, Hiệp Đức… có món rau dớn trộn với “sắn võng” là loại thức
ăn ngon truyền thống của cư dân nơi đây khi gặp những năm thiên tai hạn hán, mùa màng thất bát Đây cũng là loại rau chính ăn trong mùa xuân của đồng bào
Cơ Tu Vào những ngày cuối năm, dù bận rộn đến mấy, người Cơ Tu cũng tranh thủ vào rừng hái rau Dớn về để dành ăn trong dịp tết Có vùng đồng bào lấy rau dớn trụng qua nước muối và làm nhân bánh tét để khi “tét” bánh ra có màu xanh non điểm xuyết trong lát bánh tét nấu bằng nếp hương trắng ngần, trông rất đẹp mắt [39]
Trang 36Các nước Đài Loan, rau Dớn làm thuốc điều trị hạ nhiệt, Philippin nước sắc thân, rễ rau Dớn non chữa ho, ho ra máu Malaysia, nước sắc rau Dớn cho phụ
nữ uống sau sinh nở
Từ các cơ sở trên có thể thấy rằng việc phát triển mở rộng sản xuất các loại rau này sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giải quyết thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân
2.2.3.2 Vùng phân bố của các loài nghiên cứu
- Trên thế giới: Chúng phổ biến phân bố ở khu vực phía nam của Trung Quốc, Lào, Campuchia và một số nước ở vùng nhiệt đới Châu Á
- Ở Việt Nam: Phân bố ở các tỉnh miền núi phía bắc Ta cũng có thể gặp chúng ở các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Duyên Hải Miền Trung Bộ Chúng tập trung nhiều ở khu Đông Bắc và Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế [5]
Sự có mặt của cây Bò Khai, rau Dớn, rau Sắng tự nhiên tại một số tỉnh vùng Đông Bắc trong thực tế cho thấy điều kiện sinh thái ở đây phù hợp với đặc điểm sinh trưởng, phát triển của loại cây này Đây là cơ sở quan trọng cho việc triển khai các nội dung nghiên cứu của đề tài tại các địa phương này
Trang 37Chương II ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Điều kiện tự nhiên vườn Quốc gia Ba Bể , tỉnh Bắc Kạn
- Vị trí địa lý :Huyện Ba Bể nằm ở phía tây bắc tỉnh Bắc Kạn, phía bắc và
đông bắc giáp huyện Bảo Lạc và huyện Nguyên Bình của tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang , phía tây nam là huyện Chợ Đồn, phía nam giáp huyện Bạch Thông, phía đông giáp huyện Ngân Sơn
Vườn Quốc gia Ba Bể có tọa độ là 105°36′55″ kinh Đông, 22°24′19″ vĩ Bắc Nó nằm trên địa bàn 5 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thương, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Vườn quốc gia này cách thị xã Bắc Kạn 50 km và Hà Nội 250 km về phía Bắc Vườn có diện tích 7.610 ha (30 km²), trong đó: Khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 3.266,2 ha, khu phục hồi tái sinh rộng 4.083,4 ha, khu dịch vụ hành chính 301,4 ha
- Địa hình : Địa hình khá phức tạp , bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao Vườn có độ cao so với mực nước biển là từ 150 m đến 1.098 m Ở phía tây nam của vườn có dãy núi Phia Boóc, có các điểm cao từ 1.505 m đến 1.527 m
- Khí hậu thuỷ văn: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận nhiệt
đới, chịu ảnh hưởng đặc trưng của khí hậu miền núi, hàng năm có bốn mùa nhưng ở đây duy nhất là hai mùa (mùa mưa và mùa khô) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ bình quân năm là 22 - 240
C Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, độ ẩm thấp, rét, khô hạn, đây là thời kỳ dễ xảy ra cháy rừng
- Thổ nhưỡng: Chủ yếu là nhóm đất đất feralit màu vàng nhạt phát triển trên
đá phiến thạch, sa thạch Loại đất này thường nằm kẹp giữa những dãy núi đá vôi, trên đất thường xuyên xuất hiện nhiều đá lộ đầu, nhưng đất có độ phì cao và
Trang 38nhóm đất dốc tụ, rửa trôi lắng đọng loại đất này có thành phần cơ giới biến động khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng.
Trong khu vực điều tra ở những nơi rừng già có lượng hàm lượng mùn nhiều hơn, tầng A1 phát triển hơn và mầu sẫm hơn, tầng B có hàm lượng mùn khá lớn, có nơi có cả tầng AB Độ dày tầng đất thuộc loại trung bình, nhiều nơi
có đá lẫn với hàm lượng khá lớn
- Thảm thực vật rừng: Với trung tâm là hồ Ba Bể (hơn 300 ha diện tích mặt
hồ), khu vườn quốc gia này là khu vực giàu có về đa dạng sinh học, có nhiều nét đặc trưng của hệ sinh thái điển hình rừng thường xanh trên núi đá vôi và hồ trên núi, rừng thường xanh đất thấp Trung tâm của vườn là hồ Ba Bể với chiều dài tới 8 km và chiều rộng 800 m Nằm trên độ cao 178 m, hồ Ba Bể là "hồ tự nhiên trên núi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam " Nằm trên vùng núi đá vôi, vốn có rất nhiều hang động caxtơ… mà hồ vẫn tồn tại với cảnh đẹp mê người là điều diệu kì, hấp dẫn mà thiên nhiên ban tặng VQG Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi, trong đó có nhiều loài thực vật quí hiếm có giá trị được ghi vào Sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới Các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây…trong đó, Trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba Bể thường mọc tại các vách núi, thân của chúng thả mành mành xuống
hồ tạo nên những bức mành xung quanh hồ Đây là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á Với
182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này Khu hệ động vật rất phong phú với 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17 loài lưỡng
cư, 322 loài chim, 106 loài cá, 553 loài côn trùng và nhện Trong đó có nhiều loài có giá trị, quý hiếm đã được Việt Nam và Quốc tế ghi vào Sách Đỏ Về khu
hệ cá, hồ Ba Bể và các sông suối phụ cận có đến 106 loài cá được xác định phong phú nhất ở Việt Nam , bởi các hồ khác như hồ Lắc cũng chỉ có 35 loài, hồ
Trang 39Tây - 36 loài, hồ Châu Trúc - 47 loài VQG Ba Bể còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự có mặt của một số loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như Voọc đen
má trắng (Trachypithecus francoisi) và Cầy vằn bắc (Hemigalus owstoni), mặc
dù vậy số lượng Voọc đen má trắng hiện còn tồn tại trong khu vực rất ít
2.1.2 Điều kiện tự nhiên khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa, Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Vị trí địa lý : Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa huyện Võ Nhai, cách
thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía Bắc, có toạ độ địa lý là:105051’05’’ đến 106008’38’’ kinh độ Đông; 21045’12’’ đến 21056’30’’ vĩ độ Bắc Phía Bắc giáp huyện Na Rì, huyện Chợ Mới Tỉnh Bắc Kạn Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, Tỉnh Lạng Sơn Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên Phía Nam giáp với các huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Với tổng diện tích đất quy hoạch vùng lõi khu rừng đặc dụng là 18.858,9ha
- Địa hình: Bị c hia cắt khá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn
hình thành Chúng có đặc điểm chung là: núi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu Có 3 kiểu địa hình chính như sau:
+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm điện tích khá lớn, có
độ cao dưới 800 m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp vùng đệm của Khu bảo tồn
+ Núi kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hầu hết diện tích của Khu bảo tồn, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 800 m
+ Nhóm kiểu địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất: Nhóm này có địa hình thấp, bằng phằng, ở giữa những dãy núi thường xuất hiện những con sông, suối và những cánh đồng lúa hoặc hoa màu của dân chúng thuộc vùng đệm Khu bảo tồn
- Khí hậu thủy văn : Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, khá lạnh về mùa đông,
mặt khác do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt
Trang 40nguồn từ Bắc Sơn dến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và thường có sương muối vào mùa đông
Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,30C; nhiệt độ không khí tối thấp trung bình năm 19,3 0C, nhiệt độ không khí tối cao trung bình năm 26,90
C Lượng mưa trung bình năm từ 1400mm đến 1600 mm Đặc điểm nổi bật của hệ thống thuỷ văn trong Khu bảo tồn thiên nhiên là: Mật độ dòng chảy bề mặt thấp do điều kiện địa hình núi đá vôi, nhiều hang động Các-xtơ và suối ngầm
- Thổ nhưỡng: Qua điều tra, đất đai tại khu bảo tồn gồm 2 loại chính:
- Nhóm đất màu nâu đỏ (feranit) trên núi đá vôi và những nơi dốc tụ chân núi đá: Loại đất này thường nằm kẹp giữa những dãy núi đá vôi, trên đất thường xuyên xuất hiện nhiều đá lộ đầu, nhưng đất có độ phì cao nên thường bị đồng bào phát nương làm rẫy Đất có thành phần cơ giới nặng, hơi chua (Ph=5,5-6,5), tầng B phát triển mạnh và có mầu đỏ tươi rất dễ nhận biết
- Loại đất đỏ vàng hoặc vàng xám trên phiến thạch sét và đá biến chất: Đây là loại đất chiếm diện tích khá lớn Tầng đất của nó từ mỏng đến trung bình
và dày Phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi đất có độ cao dưới 300-600 m, loại đất này có thành phần cơ giới biến động khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng nói chung, trên các loại đá biến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn
so với trên đá phiến thạch sét đất thuộc loại chua, kết cấu kém hơn loại đất trên
Trong khu vực điều tra có độ cao trên 600-700 m vùng núi đất cũng xuất hiện loại đất này, nhưng loại đất này ở vùng cao, còn rừng già nên có lượng mùn nhiều hơn, tầng A1 phát triển hơn và mầu sẫm hơn, tầng B có hàm lượng mùn