Đặt vấn đề Hen suyễn là một bệnh phổ biến và ngày càng có xu hướng gia tăng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước ta, một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cộng thêm với sự ô nhi
Trang 1Mục lục
1 Đặt vấn đề
1.1 Bệnh hen Suyễn và nguyên nhân gây bệnh
1.1.1 Theo y học hiện đại
2 Mục tiêu của đề tài
3 đối tuợng & phơng pháp nghiên cứu
3.1 Đối tuợng nghiên cứu
3.2 Phuơng pháp nghiên cứu
3.2.1 Phuơng pháp xây dựng phơng thuốc NTTGG
3.2.2 Phuơng pháp nghiên cứu thành phần hoá học
3.2.3 Phuơng pháp nghiên cứu tác dụng duợc lý
3.2.4 Bào chế siro NTTGG LH , xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho siro 3.2.5 Xử lý số liệu
-4
Trang 2-4 KÕt qu¶ nghiªn cøu
4 1 Phu¬ng ph¸p x©y dùng c¸c phu¬ng thuèc NTTGG 4.1.1 NhÞ trÇn thang kinh ®iÓn
4.1.2 TiÕn hµnh x©y dùng phu¬ng thuèc NTTGG
4 2 Nghiªn cøu thµnh phÇn ho¸ häc cña l¸ hen vµ cña c¸c phu¬ng thuèc NTTGG
4.2.1 Nghiªn cøu thµnh phÇn ho¸ häc cña vÞ thuèc l¸ hen
4.2.2 Nghiªn cøu thµnh phÇn ho¸ häc cña hai phu¬ng thuèc nhÞ
trÇn thang gia gi¶m
4.3 nghiªn cøu mét sè t¸c dông sinh häc cña mét sè
vÞ thuèc vµ phu¬ng thuèc NTTGG
4.3.1.T¸c dông gi·n khÝ qu¶n
Trang 34.5 Dù th¶o tiªu chuÈn c¬ së siro TYPHOCYHEN
4.5.1 Yªu cÇu kü thuËt
Trang 4Hình 4.6: Sơ đồ chiết xuất glycosid của lá hen (49)
Hình 4.7: Sắc ký đồ glycosid tim của lá hen, cóc mẳn (50)
Hình 4.8: Sơ đồ chiết xuất glycosid tim (52)
Hình 4.9: Sắc ký đồ alcaloid trong lá cà độc duợc, bán hạ, bột NTTGGCA, nuớc sắc NTTGGCA(56)
Hình 4.10: Sắc ký đồ alcaloid trong lá hen, bán hạ, bột NTTGGLH, nuớc sắc NTTGGLH(57)
Hình 4.11: SKĐ Flavonoid trong NTTGLH (61)
Hình 4.12: Sơ đồ chiết xúât flavonoid bằng cồn 700 (62)
Hình 4.13: Sơ đồ chiết xuất bằng nuớc (63)
Hình 4.14: Sơ đồ chiết xuất saponin toàn phần (66)
Hình 4.15: Sắc ký đồ saponin trong NTTGGLH (68)
Hình 4.16: Sơ đồ chiết xuất saponin trong NTTGG (70)
Hình 4.17: Mô hình nghiên cứu tác dụng giãn khí quản (71)
Hình 4.18: Mô hình gây ho cho chuột nhắt trắng (78)
Hình 4.19: ảnh huởng của phuơng NTTGGLH trên ruột cô lập (85)
Hình 4.20:
Hình 4.21: ảnh huởng của phuơng NTTGGLH đến tế bào gan (90)
Hình 4.22: Các vị thuốc trong phuơng NTTGGLH (93)
Hình 4.23: Chế phẩm siro Cyphotyhen (94)
Bảng 4.1: Kết quả định tính các nhóm hoạt chất trong lá hen (44)
Bảng 4.2: Hệ số Rf và màu sắc các vết trên SKLM alcaloid toàn phần lá hen (47)
Bảng 4.3: Hệ số Rf và mău sắc các vết glycosid tim (50)
Bảng 4.4: Kết quả định tính glycosid (53)
Bảng 4.5: Kết quả định tính glycosid tim bằng SKLM (54)
Bảng 4.6: Hàm luợng glycosid tim trung bình của các phuơng thuốc.(54) Bảng 4.7: Kết quả định tính alcaloid trong ống nghiệm (55)
-7
Trang 5-Bảng 4.8: Giá trị Rf và màu sắc các vết alcaloid trong lá cà độc duợc, bán hạ, bột NTTGGCA, nuớc sắc NTTGGCA(56)
Bảng 4.9: Giá trị Rf và màu sắc các vết alcaloid trong lá hen, bán hạ, bột NTTGGLH, nuớc sắc NTTGGLH.(57)
Bảng 4.10: Hàm luợng alcaloid toàn phần trong 2 phuơng thuốc NTTGG (58)
Bảng 4.11: Hàm luợng alcaloid toàn phần trong nuớc sắc 2 phuơng thuốc NTTGG (59)
Bảng 4.12: Kết quả định tính flavonoid trong ống nghiệm (60)
Bảng 4.13: Rf và màu sắc các vết flavonoid (61)
Bảng 4.14: Hàm luợng flavonoid toàn phần trong các mẫu thử (63)
Bảng 4.15: Hàm lợng flavonoid toàn phần trong các mẫu thử (64)
Bảng 4.16: Rf và màu sắc các vết tinh dầu (65)
Bảng 4.17: Hàm luợng tinh dầu của các phuơng thuốc NTTGG (65)
Bảng 4.18: Kết quả định tính saponin trong các vị thuốc và phuơng thuốc (67)
acetylcholin (74)
Bảng 4.24: ảnh huởng của các vị thuốc trên khí quản bị giãn bởi adrenalin (74)
Bảng 4.25: ảnh huởng của các phơng thuôc NTTGG trên khí quản cô lập ở
điều kiện bình thuờng (75)
Bảng 4.26: ảnh huởng của các phuơng thuốc NTTGG trên khí quản cô lập
Bảng 4.30: Tác dụng giảm ho của các phuơng thuốc NTT (79)
Bảng 4.31: Tác dụng giảm ho của các thành phần chiết từ phuơng
NTTGGLH (80)
Bảng 4.32: Tác dụng long đờm của các phuơng thuốc NTT (81)
Bảng 4.33: Tác dụng long đờm của một số thành phần trong phuơng
NTTGGLH (82)
-8
Trang 6-Bảng 4.34: ảnh huởng của dịch sắc phuơng NTTGGLH tới sự thoát mạch của xanh evan (84)
Bảng 4.35: Kết quả nghiên cứu độc tính cấp (87)
Bảng 4.36: ảnh hởng của NTTGGLH đến một số chỉ số sinh hoá (88) Bảng 4.37: ảnh huởng của thuốc đến các chỉ số huyết học (89)
Bảng 4.38: Trọng luợng chuột truớc và sau uống thuốc (91)
Bảng 4.39: Rf và màu sắc các vết flavonoid của siro Typhocihen (95) Bảng 4.40: Rf và màu sắc các vết saponin của siro Typhocihen (95) Bảng 4.41: ảnh huởng của siro Typhocihen lên khí quản co thắt bởi acetylcholin (96)
Bảng 4.42: Tác dụng giảm ho của siro Typhocihen (97)
Bảng 4.43: Tác dụng long đờm của siro Typhocihen (98)
-9
Trang 7-1 Đặt vấn đề
Hen suyễn là một bệnh phổ biến và ngày càng có xu hướng gia tăng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước ta, một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cộng thêm với sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng là những nguyên nhân gây ra các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp và dẫn đến bệnh hen suyễn Bệnh hen suyễn có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song nhiều nhất vẫn
là ở trẻ em (15%) [58] và người cao tuổi (5%) [23,58] Các mùa trong năm
đều có thể mắc bệnh hen suyễn Song nhiều nhất và dễ tái phát là vào cuối
đông đầu xuân, khi mà khí hậu giữa lạnh của mùa đông và ấm ẩm của mùa xuân giao nhau, khi mà cây cối đâm chồi, nẩy lộc, mùa của nhiều hoa nở; trong bầu không khí nhiều bụi phấn hoa, lông của đài hoa, vỏ quả , là những tác nhân gây kích thích niêm mạc đường hô hấp, gây co thắt khí quản dẫn đến hen và tái phát hen, làm cho bệnh phát triển nặng thêm Tuy nhiên bệnh cũng có thể xảy ra trong mùa hè nóng ẩm, sau khi bị nhiễm lạnh
đột ngột do mưa gió lạnh Bệnh hen suyễn sẽ làm suy giảm khả năng lao
động của mỗi người làm chất lượng cuộc sống kém đi, và cũng là loại bệnh, gây ra sự tốn kém khá nhiều tiền của của các quốc gia,đồng thời cũng dẫn
đến tỉ lệ tử vong đáng báo động ở các nước
-10
Trang 8-1.1 Bệnh hen suyễn và nguyên nhân gây bệnh
1.1.1 Theo y học hiện đại
Dựa vào các triệu chứng của bệnh hen suyễn của YHCT, có thể thấy rằng bệnh này chủ yếu thuộc phạm vi bệnh viêm phế quản mạn tính và một phần của hen phế quản (viêm nhiễm đường hô hấp có khó thở từng cơn, liên quan đến yếu tố mùa và thay đổi thời tiết) của YHHĐ [19,57]; đồng nghĩa với tình trạng bệnh lý của đường hô hấp, trong đó cũng thường thấy tăng tỷ
lệ bạch cầu ái toan trong máu [31]; hoặc có đờm đặc dính quánh khó khạc, trong đờm có nốt giống như hạt trai [58]; do tác nhân nào đó (bụi, lông súc vật, hơi hoá chất ) kích thích vào niêm mạc đường hô hấp, gây co thắt khí quản, dẫn đến khó thở tức ngực, kèm theo những tiếng rên rít Bệnh có khả năng do những điều kiện thay đổi của khí hậu và ngày càng trầm trọng, làm suy giảm khả năng lao động, nặng có thể suy hô hấp và dẫn đến tử vong [17,58 ] Đương nhiên trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến triệu chứng khó thở của đường hô hấp
Theo YHHĐ, hen suyễn do một số nguyên nhân sau đây [17,31,58]
ư Do bụi: Bụi là nguyên nhân khá phức tạp và đa dạng, và chính nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ho hen Trong số đó phải kể đến các loại bụi vô cơ : bụi xi măng, vôi, cát bụi hữu cơ, bụi lông súc vật: chó mèo , bụi lông sợi Khi bụi bám vào niêm mạc mũi, nếu với số lượng ít và tính chất của bụi không nghiêm trọng sẽ được vận chuyển theo cơ chế màng nhầy để
đưa bụi ra ngoài Song nếu bụi có tính chất kích thích mạnh: bột xà phòng, bột hoá chất hoặc có sự trở ngại về vận chuyển, do đờm đặc dính quánh dẫn đến kích thích khí quản gây ho và co thắt phế quản gây khó thở
ư Do phấn hoa: phấn hoa là một trong những nguyên nhân quan trọng gây dị ứng, gây co thắt khí quản dẫn đến hen suyễn, khó thở, đặc biệt vào mùa xuân khi tiết trời nóng ẩm, có nhiều loài hoa nở, tung bụi phấn hoa vào không khí là điều kiện thuận lợi cho việc phát sinh và tái phát hen suyễn Trên thực tế, về mùa xuân tỉ lệ mắc bệnh ho hen có tăng lên
-11
Trang 9-ư Do n-ước tiểu, lông da súc vật: chó, mèo, chuột, gà cũng là những tác nhân gây dị ứng và dẫn đến ho hen, đặc biệt ở những cơ địa dễ bị mẫn cảm và đã có tiền sử về hen suyễn
ư Do hoá chất, hơi, khí: nhiều hoá chất như sơn (sơn ta, sơn hoá học ); đặc biệt là hơi sơn ta từ nhựa cây sơn , hơi các dung môi: benzen, ete, formaldehid, etyl acetat, butanol rất dễ kích thích phế quản gây khó thở; SO2 cũng là một nguyên nhân gây co thắt khí quản rất lớn ở những nơi chế biến dược liệu dùng phương pháp xông lưu huỳnh, tỷ lệ người viêm phế quản tăng đáng kể Người ta đã thống kê có tới 250 loại các chất hoá học là nguyên nhân gây co thắt khí quản [17] Do đó ở các nước công nghiệp phát triển, ở những nhà máy sản xuất hoá chất, sản xuất nhựa, phân đạm ngay cả khu vực dân cư lân cận cũng có tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn cao
ư Do thuốc tân dược: aspirin và các chế phẩm có aspirin, các thuốc chống viêm phi steroid như advil, anaprox, một số thuốc chữa cao huyết áp cũng là những nguyên nhân gây ra những phản ứng quá mẫn mà dẫn đến hen suyễn [28]
ư Do thức ăn: thức ăn, đặc biệt là các thức ăn hải sản (cua, tôm, cá biển ) có chứa các protein lạ, cũng là những nguyên nhân dẫn đến hen suyễn ở một số cơ địa, nhất là ở những cơ địa có tiền sử dị ứng
ư Do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: nhiều người do viêm nhiễm
đường hô hấp cũng là nguyên nhân gây co thắt khí quản do đờm nhiều, đặc biệt là đờm đặc quánh, dính khó long, là nguyên nhân kích thích khí quản dẫn đến hen
ư Hen nội tại (intriseque): Đối với thể này, trong các xét nghiệm sinh học người ta không phát hiện được vai trò của dị ứng Do tăng hoạt tính của phế quản không đặc hiệu, ví dụ ở những người ≥ 50 tuổi bị viêm phế quản
do hít phải khói thuốc lá, bụi khói, ô nhiễm không khí (SO2, NO2), khói bếp
-12
Trang 10-lò, khí công nghiệp, đôi khi bị kích thích bởi thức ăn: rượu vang, các chất bảo quản thực phẩm Do chất SO2 của các chất nói trên phóng thích ra được thải qua phổi gây co thắt phế quản (viêm phế quản co thắt) [58]
ư Lao động thể lực quá sức, kèm theo là các yếu tố tâm lý (stress) dẫn đến sự tái phát các cơn hen suyễn Người ta nhận thấy rằng trong Olimpic 1984 có tới 11% số vận động viên bị lên cơn hen [28]
ư Do ô nhiễm môi trường: môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân tổng hợp, rất phức tạp dẫn đến viêm phế quản mạn tính khó thở Trong đó gần
đây người ta quan tâm nhiều đến vấn đề khói thuốc lá Vì khói thuốc lá làm tăng giải phóng elastase từ bạch cầu đa nhân (neutrophil elastase); đó là protease quan trọng nhất ở phổi, có tác dụng hoá giải các chất elastin và collagen của tổ chức, làm xơ hoá phổi, đồng thời khói thuốc cũng làm tăng
số lượng bạch cầu đa nhân ở tuần hoàn phổi và phổi và làm giảm tốc độ di chuyển của chúng qua tuần hoàn phổi, gây ứ đọng các bạch cầu từ mạch máu và tổ chức kẽ ở Anh những người hút nhiều thuốc lá, tỷ lệ viêm phế quản 17,6%, những người hút ít chiếm tỷ lệ 13,9%, những người đã bỏ thuốc lá tỷ lệ này chỉ còn 4,5 % [58]; do đó làm suy yếu khả năng hô hấp của phế nang [23, 50] Cũng cần nói thêm rằng sự ô nhiễm môi trường là nguyên nhân của các khí độc hại từ rác thải, đặc biệt là rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt, các xác súc vật Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc hô hấp của phổi và cũng là những yếu tố vô cùng nguy hại đối với bệnh hen suyễn
Tóm lại theo y học hiện đại, nguyên nhân dẫn đến hen suyễn thì có nhiều, song về mặt cơ chế để tạo thành cơn hen đã được giải thích một cách
cụ thể, đó là do các tác nhân gây kích thích làm cơ thể phóng thích các phân tử protein đặc hiệu (kháng thể), kháng thể này làm cho một số tế bào bạch cầu phóng thích Histamin, leukostriens (khoảng 12 chất khác nhau), gây ra co thắt phế quản dẫn đến hen suyễn [28] Mặt khác người ta cho rằng
-13
Trang 11-tế bào limpho T có vai trò rất quan trọng đến bệnh sinh của hen, vì tham gia
điều hoà, tổng hợp IgE (là các cảm thụ ở bề mặt tế bào Mast) làm tăng phản ứng viêm trong hen suyễn, đặc biệt là thể hen dị ứng [23] Ngoài ra limpho
T còn tham gia điều hoà mối tương tác giữa các tế bào trong phản ứng viêm
và do đó số lượng các limpho T, lưu hành được hoạt hoá tăng lên ở bệnh nhân hen suyễn, đồng thời giảm đi khi điều trị bằng corticoid Sự thay đổi limpho T đánh giá kết quả điều trị của bệnh và như vậy bệnh hen phế quản hình thành là do viêm mạn tính niêm mạc phế quản do tăng tiết, tăng phản ứng dần dần dẫn đến tắc nghẽn phế quản, gây ra rỗi loạn hô hấp nặng Theo WHO cho rằng các tiêu chí của hen phế quản: trong 1 năm người bệnh có
ho và khạc đờm là 3 tháng và ít nhất là 2 năm, có khó thở khi gắng sức, có thể sốt hoặc không sốt [17,58]
1.1.2 Theo YHCT [11, 12, 25, 54, 87]
YHCT quan niệm hen suyễn gắn liền với các triệu chứng:
ư Hàn ẩm phục phế (hàn nhập phế): nguyên nhân này gây ra do chứng cảm mạo phong hàn, lúc đầu người bệnh có sốt cao, rét run, đau đầu, đau họng, ho, đờm nhiều Nếu hàn nhập lý( nhập phế), gây sốt cao ly bì và
đờm nhiều vít tắc phế quản dẫn đến ho nhiều khó thở tức ngực do khí quản
bị co thắt Trong trường hợp này YHCT thường dùng pháp sơ phong tán hàn hoá đờm chỉ ho bình suyễn [12]
ư Đờm nhiệt ngưng phế: người sốt cao, biểu hiện hơi thở thô mạnh,
đờm vàng, mùi hôi, khó long, khó khạc, ho nhiều, đau họng, khó thở, lồng ngực bứt rứt, mặt hồng, miệng khát khô YHCT thường dùng phương pháp thanh phế hoá đờm, chỉ ho bình suyễn [11,12] Thể loại này tương tự như thể hen phế quản của YHHĐ [17,58]
ư Khí phế và khí tỳ: người bệnh thường có ho, khó thở, hơi thở gấp,
đờm trắng, đại tiện thường lỏng, chân tay co rút, kém ăn, mệt mỏi, sức đề
-14
Trang 12-kháng giảm Thường gắn liền với phương pháp bổ phế ích tỳ
ư Tỳ thận dương hư:
Người bệnh thường biểu hiện thở gấp gáp, khó thở, chân tay lạnh, nhiều mồ hôi, nhất là sau cơn ho, tiêu hoá kém, đại tiện lỏng, thường gắn liền với phương pháp ôn bổ tỳ thận
3 nguyên nhân chính là cảm nhiễm phải ngoại tà, ăn uống thất thường, làm việc quá sức là những nguyên nhân chính gây bệnh hen suyễn Như vậy
kể cả quan niệm của YHHĐ và YHCT đều cho rằng bệnh hen suyễn thể hiện rõ nhất ở 3 triệu chứng: khó thở, ho nhiều, đờm nhiều, và 3 triệu chứng này luôn có quan hệ mật thiết với nhau [25,49] Đờm là môi trường tốt cho
sự phát triển của các vi khuẩn viêm đường hô hấp, người ta đã phát hiện trên 15 loại vi khuẩn khác nhau có trong đờm của những người viêm phế quản mãn tính như song cầu, phế cầu, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn viêm phổi, Hemophylus influenza, vi khuẩn đường ruột [58] Đồng thời đờm cũng là nguyên nhân gây ho và gây co thắt khí quản, dẫn đến khó thở, tức ngực, nhiều trường hợp đờm thường dính quánh, bám chắc vào thành phế quản, khó long Do vậy, trừ đờm là phương pháp quan trọng để trị hen suyễn Mặt khác khi khí quản co thắt , làm lòng khí quản hẹp lại, khiến
đờm càng khó long ra và bệnh nhân lại càng khó thở [17,23] Do đó để chữa bệnh hen suyễn vấn đề đặt ra là phải dùng thuốc kết hợp, giải quyết song song 3 triệu chứng chính: trừ đờm, giảm ho và giãn phế quản
-15
Trang 13-1.2 Tình hình nghiên cứu và diễn biến bệnh hen
suyễn
1.2.1 ở nước ngoài
Như ta đã biết, bệnh hen suyễn nguyên nhân rất phức tạp và có rất nhiều nguyên nhân gây ra Theo Giáo sư Nguyễn Năng An, hiện nay toàn thế giới có khoảng 300 triệu người mắc bệnh hen Trong đó 6-8% là người lớn, 10-12% là trẻ em ≤ 15 tuổi, với 20 vạn trường hợp tử vong do hen/ năm
và diễn biến của bệnh hen vẫn gia tăng Trên toàn thế giới cứ 10 năm, số người mắc hen tăng 50%, có nơi tăng 100%, thậm chí 200% hoặc cao hơn nữa Do hen mà hàng năm có khoảng 26,5% người mắc bệnh hen ở châu á, 25% ở Mỹ mất việc làm Số người phải nghỉ học là 49% ở châu Mỹ, 36,5%
ở châu á, 42% ở châu Âu Tỷ lệ nhập viện là 15,3% ở khu vực Đông Nam
á, 9% ở châu Mỹ, đã làm cho gia đình và xã hội thiệt hại 484 USD/năm/người [23]
ư Theo con số thống kê ở Mỹ năm 1993, có tới 14 triệu người mắc bệnh hen suyễn, trong số đó có tới 200.000 người phải nằm bệnh viện và có
342 người bị tử vong Đáng lưu ý là trong số này có tới 5 triệu người dưới
18 tuổi, là lứa tuổi đang có đóng góp lớn cho nền kinh tế Năm 1998 con số
tử vong của bệnh này lên tới 4500 người Theo hội đồng ngực Mỹ cho rằng
đối với người hút thuốc lá tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn khá cao 23 - 41% và tỷ
lệ giữa bệnh nhân nam và nữ là 10/1 Do đó hàng năm chính phủ Mỹ phải tiêu tốn tới 6,2 tỷ đô la cho bệnh này [28,58]
ư ở Pháp (1977) có khoảng 2,5 triệu người mắc bệnh hen, chiếm tới 5% dân số [58]; tỷ lệ tử vong là 6 người trên 100.000 dân Một thống kê khác (1998) cho thấy tỷ lệ bệnh này ở Pháp có xu hướng tăng lên 5 - 39%
và tỷ lệ tử vong cũng tăng cao 15 - 38 người/ 100.000 dân [23]
-16
Trang 14-ư ở Anh (1962) có tới 30.000 ng-ười tử vong do hen suyễn Ng-ười ta tính ra có tới 71 người bị tử vong trên 100.000 dân [23]
ư ở Hunggari năm 1975 có tới 9811 người bị hen suyễn thì năm 1993
là 35.494 người, trong số đó có tới 8624 người bị tử vong
ư ở Australia hàng năm có tới 5000 người chết về bệnh hen [23] Xếp theo thứ tự thì bệnh hen có tỷ lệ tử vong đứng vào hàng thứ tư (1995) và hàng thứ năm (1996) dao động 10 - 500 người tử vong trên 100.000 dân [23]
ư ở Uzơbekistan tỷ lệ mắc bệnh là 1,4%, cao nhất 28% [23]
tỷ lệ này ở các nước không giống nhau [23]: Trung Quốc - 6% Indonesia - 8,2% Thái lan - 9,23% Malaixia - 9,7% Philippin - 11,8% Singapo - 14,33% Australia - 21,04% Newzeland - 21,34% Việt nam 5 - 6% Năm
1997 một con số điều tra khác cho thấy rằng có 11 nước có tỷ lệ hen suyễn
1 - 3%, 13 nước có tỷ lệ hen suyễn 4 - 7%, 22 nước có tỷ lệ 8 - 11%, 9 nước
có tỷ lệ 12 - 15%, 5 nước 16 - 19%, 5 nước có tỷ lệ trên 20% Theo nghiên
-17
Trang 15-cứu mới nhất của tổ chức phòng chống hen toàn cầu (GINA), việc kiểm soát hen triệt để là hoàn toàn có thể [23]
1.2.2 ở trong nước
ở nước ta bệnh hen suyễn cũng đã được chú ý nghiên cứu từ những năm 1960, đã tiến hành các đợt điều tra dịch tễ học ở các địa phương, các ngành nghề, các khu công nghiệp và dân cư [58] Tuy nhiên về mặt nghiên cứu một cách hệ thống bệnh này còn hạn chế Mặc dù về mặt YHCT, nước
ta có nhiều vị thuốc và phương thuốc dùng điều trị tốt cho bệnh hen suyễn
Từ (1962 - 1970), Viện chống lao và bệnh phổi đã tổ chức nhiều đợt điều tra cho trên 100.000 người, tại nhiều địa phương trong nước, nhiều ngành nghề khác nhau Kết quả cho thấy có tới 3 - 5% số người được khám ở nông thôn, 8 - 10% số người được khám ở khu công nghiệp và 17% ở một số nhà máy bị mắc bệnh hen suyễn [58] Theo GS Phạm Khuê và Hoàng Cao Phong (1980), tỷ lệ bệnh hen là 4,7% Theo Chu Văn ý (1984), tỷ lệ bệnh hen là 12,1% trong tổng số bệnh phổi phải điều trị ở bệnh viện Bạch mai Theo Vũ Văn Đính (1998), ở khoa A9 bệnh viện Bạch mai có 14/60 bệnh nhân hen suyễn bị tử vong chiếm 37% [23] Vào những năm 1980, Viện YHCT Việt nam đã nghiên cứu về bệnh hen suyễn với bài thuốc Ma hạnh thang để trị bệnh hen suyễn Cũng từ 1978 đến nay, Phạm Xuân Sinh và các cộng sự ở Trường đại học Dược Hà nội đã tiến hành nghiên cứu nhiều vị thuốc và phương thuốc cổ truyền dùng cho bệnh hen suyễn, song vẫn ở bước đi thực nghiệm trên động vật Đã tiến hành nghiên cứu trên một số vị thuốc và phương thuốc cổ truyền Việt nam có tác dụng giảm ho trừ đờm tốt trên thực nghiệm: Bán hạ nam (Rhizoma Typhonii trilobati ) [3,49]
ư Cóc mẳn (Herba Centipedae minimae) [39,40,42,43,44], lá mướp (Folium Luffae indicae) [30], trần bì (Pericarpium Citri retculatae perren) [38}, hạnh nhân(Semen Armeniacae) [5,30,49], tang bạch bì (Radix Mori
-18
Trang 16-radicis) [5,26,30}, lá hen (Folium Calotropis gigentae) [61,4], đào nhân (Semen pruni persicae) [30] Một số phương thuốc cổ truyền: tam tử thang [30,49],
ư Nhị trần thang, Nhị trần thang gia giảm (Nhị trần thang + xương bồ) [45,49]
Như vậy qua một số nghiên cứu trên, thấy rằng ở nước ta bệnh hen suyễn cũng đang có xu hướng gia tăng, tỷ lệ mắc bệnh trung bình khoảng 5% dân số (4 triệu người) bị hen [58] Trong đó, trẻ em ở lứa tuổi đi học chiếm hơn 11% với số ngày nghỉ học 25-40 ngày/ năm Thiệt hại do bệnh hen gây ra cho gia đình và xã hội khoảng 301 USD/năm, chiếm 6-15% thu nhập của gia đình bệnh nhân hen [23] Vài năm gần đây Bộ Y tế nước ta đã
có những quan tâm thích đáng về bệnh hen Ngày 4/5/2004 Bộ Y tế đã có hội thảo về bệnh hen suyễn ở nước ta Đã có những trường học phổ thông cơ sở ở Hà nội lập câu lạc bộ về Hen; và hy vọng trong các năm tới việc nghiên cứu điều trị bệnh hen suyễn, trong đó có việc sử dụng thuốc cổ truyền để phòng trị hen suyễn sẽ được quan tâm đúng mức Tuy hiện nay trên thị trường đã có một số chế phẩm chủ yếu trị ho, đờm, song hầu như thiếu các chế phẩm cổ truyền trị hen suyễn
-19
Trang 17-1.3 phương thuốc Nhị trần thang và Các vị thuốc Được nghiên cứu trong đề tài
1.3.1 Nhị trần thang [16,51]
Trong phương NTT có 4 vị thuốc (bán hạ, trần bì, bạch linh, cam thảo) trong đó có 2 vị được bảo quản lâu ngày mới dùng đó là bán hạ, trần bì Trong phương này vị bán hạ với tính chất vị cay, tính ấm với công năng ôn hoá hàn đàm, được đóng vai trò chính của phương (vị quân) với chức năng trừ đờm, hạ khí (phế khí, và vị khí) thượng nghịch, chỉ ho, chỉ nôn Trần bì
đóng vai trò là vị thần, hỗ trợ cho vị bán hạ về mặt trừ đờm, hành khí, hạ khí, chỉ ho, chỉ nôn Bạch linh đóng vai trò "Tá" cho phương thuốc với chức năng lợi niệu, trừ thấp và kiện tỳ Cam thảo đóng vai trò là vị sứ cho phương vừa có tác dụng dẫn thuốc vào kinh phế vừa có tác dụng chống ho trừ đờm
ư Công năng của NTT là trừ đờm, chống ho, chống nôn
ư Chủ trị: dùng trong các trường hợp bị ho, đờm nhiều, dẫn đến nôn lợm, nhất là sau cảm mạo phong hàn dẫn đến ho đờm; hoặc bụng đau đầy chướng tức
1.3.2 NTTGG
Từ Nhị trần thang, người ta đã gia giảm thành nhiều phương khác nhau, có tới ≥ 10 phương, mỗi phương có ý nghĩa riêng để chữa một bệnh nào đó Song vẫn lấy trừ đờm thấp làm chính [ 45,51]
-20
Trang 18-+ Nhị trần thang gia vị II (Nhị trần thang gia khương hoàng, phòng phong, tang chi, sài hồ, thiên môn đông) có tác dụng trừ đờm, khứ phong, thông kinh hoạt lạc trị đau cánh tay [45,51] Ngoài ra còn có Nhị trần thang gia vị III [45,51], Nhị trần thang gia vị IV [45,51], Nhị trần thang gia sơn tra, hậu phác [45]
Trong những năm gần đây, một số tác giả đã gia thêm một số vị thuốc khác để tăng thêm tác dụng của NTT Phạm Xuân Sinh và Nguyễn Thái An gia Huyền sâm vào NTT thấy có tác dụng chống ho, trừ đờm tốt hơn Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Mạnh Tuyển gia thêm Xương bồ, Hạnh nhân, Cóc mẳn vào NTT thấy có tác dụng chống ho tốt, trừ đờm tốt hơn NTT [45,46] Đã tiến hành bào chế một số dạng thuốc mới của NTTGG nói trên dưới dạng viên nén, viên nang cứng [44,48] Tuy nhiên kể cả các phương thuốc của các tác giả trước đây cũng như gần đây gia thêm vào NTT cũng mới chỉ tạo
ra tác dụng chống ho, trừ đờm tốt hơn phương NTT, chưa có phương thuốc nào cho tác dụng bình suyễn (giãn khí quản) , ngay cả trên thực nghiệm
1.3.3 Những vị thuốc liên quan đến các phương thuốc nttgg trong
Là thân rễ của cây bán hạ nam, cây này mọc hoang ở những nơi ẩm ướt,
có ở hầu hết các tỉnh của Việt Nam [10, 18, 59, 61]
Thành phần hoá học:
Từ thân rễ Bán hạ nam thấy có alcaloid toàn phần 0,35%, sterol
0,01%, coumarin toàn phần 0,1% [1,3], ngoài ra còn có chất béo,
-21
Trang 19-phytosterol, saponosid toàn phần 0,18%, acid hữu cơ, acid amin, chất nhầy
Tác dụng chống nôn của cao lỏng bán hạ chế tốt hơn nhiều so với dạng sống, trong đó alcaloid toàn phần có tác dụng chống nôn rõ rệt [3]
Chế biến:
Do vị thuốc có vị ngứa, có tính kích thích cổ họng, vì vậy trước khi dùng để uống, YHCT thường tiến hành chế biến bán hạ Có nhiều cách chế biến bán hạ khác nhau:
Bán hạ chế với gừng (khương bán hạ) [3,14,47], bán hạ chế phèn chua, hoặc cùng với gừng tươi, cam thảo [3,14,47], với cam thảo, vôi sống [6,14], với nước vo gạo, phèn chua, gừng [14,47] Với trúc lịch [47], với bồ kết [3,14,47]
-22
Trang 201.3.3.2 Trần bì: Pericarpium Citri reticulatae perenne
và các tecpen, caren, linalol, pinen, camphen, myrcen, α-terpinen, terpinen Ngoài ra còn có flavonoid, hesperidin khoảng 2,75%, neohesperidin, các vitamin A, B, C [30, 61, 63]
β-Tác dụng sinh học:
Nước sắc và tinh dầu trần bì có tác dụng chống ho, trừ đờm tốt trên chuột nhắt thực nghiệm [38,49] Dịch nước sắc có tác dụng chống ho, trừ
đờm tốt hơn dịch chiết cồn [38] Hesperidin trong trần bì, có tác dụng trừ
đờm, giảm tính giòn thành mạch [5, 61], giãn mạch tai thỏ, ức chế co thắt của khí quản chuột lang, ức chế loét dạ dầy, lợi mật rõ rệt [61], tăng cường tác dụng của tim ếch cô lập,
-23
Trang 21-Chế biến:
Trần bì được rửa sạch nhanh cho hết bụi, cát để khỏi bị vữa nát, sau khi để ráo nước, tãi phơi khô, sấy khô ở nhiệt độ dưới 60oC Bóc bỏ các màng trắng, xơ, thái chỉ Vi sao (nhiệt độ ≤ 60 độ), có thể sao vàng
Tính vị - Quy kinh:
Trần bì có vị cay, đắng, chua, tính ôn [5, 30, 61].Quy kinh: phế, tỳ [5,12]
Công năng - chủ trị:
Trần bì có công năng hoá đàm, chỉ ho, chỉ nôn, nhuận phế, hoà vị, kiện
tỳ, ráo thấp [5,12,55] Được sử dụng trong các trường hợp ho nhiều đờm, ho lâu ngày [25,49], còn dùng khi bụng bị trướng đầy, đau bụng do lạnh, kém
ăn, nôn mửa, tiêu chảy [5,12]
1.3.3.3 Bạch linh: Poria cocos
-24
Trang 22Chế biến:
Rửa sạch thể quả, gọt bỏ lớp vỏ xám bên ngoài, lấy lớp giữa có màu trắng, bổ nhỏ thành từng miếng có kích thước 3ì3cm Phơi khô Khi dùng sao khô
Tính vị - quy kinh:
Vị ngọt, tính bình.Quy kinh: tâm, phế, vị
Công năng chủ trị:
ư Lợi thuỷ, thẩm thấp, dùng trong trường hợp, tiểu buốt, nước tiểu đỏ
đục, lượng nước tiểu ít, bị phù nề, tiểu đường Thường phối hợp với các thuốc thẩm thấp lợi niệu khác như trạch tả, sa tiền [5,12,30], kiện tỳ, an thần [5,30,32]
-25
Trang 23-1.3.3.4 Cam thảo: Radix Glycyrrhizae
Dược liệu:
Dược liệu là rễ phơi khô hay sấy khô của ba loài cam thảo Glycyrrhiza uralensis Fish, G inflata Bat., G glabra L., họ Đậu Fabaceae [16, 61] Chi Glycyrrhiza L trên thế giới có khoảng 12 loài phân bố ở vùng
ôn đới hoặc á nhiệt đới [30, 61] Hiện nay cam thảo chủ yếu nhập từ Trung quốc với số lượng không hạn chế trên thị trường
Tác dụng sinh học:
ư Tác dụng ức chế thần kinh trung ương, giảm vận động tự nhiên, hạ thân nhiệt, giảm hô hấp,giảm ho giải độc, đối kháng acetyl cholin, histamin) [5, 61]
-26
Trang 24-− Glycyrrhizin có tác dụng giải độc mạnh với độc tố của bạch hầu, nọc
độc rắn, độc tố uốn ván [61], giải co thắt cơ trơn, ức chế tăng tiết dịch vị [61], bảo vệ gan, tăng bài tiết mật, chống viêm, chống dị ứng [5, 61]
Chế biến:
Rễ cam thảo đ−ợc rửa sạch, phơi khô hoặc sấy khô cho sạch nấm mốc, thái phiến chéo 5-7 cm, sao khô hoặc tẩm mật ong sao vàng [47,61] Nhiều khi còn đ−ợc sử dụng nh− một phụ liệu để chế biến các vị thuốc nh− phụ tử, bán hạ(3,5)
Thành phần hoá học
Lá chứa alcaloid scopolamin C17H28NO4, ngoài ra còn có Hyoxyamin
và Atropin, tỷ lệ alcaloid thay đổi tuỳ theo bộ phận dùng và thời kỳ thu hái Trong lá chứa 0,10−0,50%, có khi tới 0,6−0,7%, hoa chứa 0,30% alcaloid
-27
Trang 25-toàn phần Dược điển Việt Nam quy định trong lá phải chứa ít nhất 0,12% alcaloid toàn phần Ngoài ra còn có saponin, coumarin, flavonoid, tanin, chất béo [30, 61]
Tác dụng sinh học:
ư Tác dụng của cà độc dược là tác dụng của Hyoscin và atropin Các alcaloid trong cà độc dược đều là những chất gây liệt thần kinh đối giao cảm parasympatholytic, atropin là hợp chất của l và dưhyoscyamin, song chỉ có đồng phân l là có tác dụng sinh học Với tác dụng ngoại vi, các alcaloid trên đều có tác dụng chống co thắt cơ trơn đường tiêu hoá, chống
co thắt cơ trơn hô hấp, tiết niệu [61]; ức chế phân tiết tuyến nước bọt, tuyến
mồ hôi, dịch vị, ruột, giãn đồng tử, tăng nhãn áp [30, 61]
Chế biến:
Lá cà độc dược của loài D metel L Lá được thu hái vào tháng 6-7, lúc cây bắt đầu ra hoa Rửa sạch, phơi khô, ngắt bỏ cuống, vi sao để diệt mốc trước khi phối hợp vào thang
-28
Trang 26-1.3.3.6 L¸ hen (bång bång):Folium Calotropis giganteae
− Calotropis gigantea R.Br Hä thiªn lý Asclepiadacea, th−êng ph©n
bè ë c¸c tØnh phÝa b¾c, ë ngo¹i thµnh Hµ Néi [18,61,74]
− Loµi Calotropis procera Brown, th−êng cã kÝch th−íc nhá, kÓ c¶ hoa Loµi C.procera th−êng ph©n bè ë c¸c tØnh tõ NghÖ An trë vµo [18,61]
Thµnh phÇn ho¸ häc:
Tõ l¸ hen C gigantea cã alcaloid 0,06%, glycosid tim (calotropin), tanin, β − amyrin, gigenteol, sterol vµ terpennoid Toµn c©y cã nhùa mñ, trong nhùa mñ cã α−calotroperol (mp 204,5oC), β−calotropeol (mp 216−17oC), β−amyrin [61,72,74], ngoµi ra ë mét sè bé phËn kh¸c cña c©y
cã chøa mét sè chÊt nh− trong vá c©y cã α, β − calotropeol, trong hoa cã ester cña α − calotropeol vµ β − amyrin Trong rÔ cã β − amyrin
-29
Trang 27-Tác dụng sinh học:
Lá hen có tác dụng chống ho, trừ đờm tốt trên thỏ thực nghiệm [24] Lá hen có tác dụng kích thích tim ở mức độ thấp với liều được trình bày bằng 1 đơn vị mèo, tức tương đương với 0,113g của lá khô cho 1Kg thể trọng, bằng 73% so với lá Digitalis [61] Có tác dụng trợ tim giống digoxin, ouabain trên thỏ với liều 0,3 g/kg tiêm tĩnh mạch và 1 g/kg (uống)
Chế biến:
Lá hen được thu hái vào các tháng hè (6, 7, 8) cho tác dụng tốt, thu hái vào các ngày khô ráo, lau sạch lớp lông trắng mặt sau, phơi khô, thái chỉ, sao qua [24]
Tính vị - Quy kinh [30]:
Tính vị: vị đắng, hơi chát, tính mát- Quy kinh: phế, vị.[30]
Công năng - chủ trị:
Lá hen có công năng tiêu đờm, giáng nghịch trừ ho, tiêu độc [24,30],
được dùng để chữa hen suyễn, ngày uống 10 lá, sắc với 1 bát rưỡi nước còn
1 bát, uống 3-4 lần Chữa mụn nhọt, rắn cắn, dùng lá đắp Lá hen còn có tác dụng chống ung thư dạng biểu bì, mũi, hầu của người trong môi trường nuôi cấy mô Ngoài lá, vỏ, rễ cây lá hen còn được dùng để chữa hủi, giang mai, phù voi [30,71]
1.3.3.7 Cóc mẳn: Herba Centipedae minimae
Dược liệu:
ư Vị thuốc là toàn cây cóc mẳn (nga bất thực thảo) Centipeda minima (L.) A.Br et Aschers, họ cúc Asteraceae [30,70,82]
-30
Trang 28-ư Phân bố ở hầu hết các địa ph-ương Có nhiều ở một số tỉnh vùng
đồng bằng bắc bộ: Thái bình, Nam định, Hải dương, ngoại thành Hà nội
Hình 1.3: Cóc mẳn
Thành phần hoá học:
HO
H H
Arnidiol
Trong cây có tinh dầu [39], có chất màu vàng nhạt, có vị đắng, tan nhiều trong nước nóng, trong cồn, chất này
được gọi là acid myriogynic,có taraxasterol, taraxasteril acetat, taraxasteryl palmitat và arnindiol, stigmastarol, lupeol [1, 30]
có saponin triterpenic, acid amine, acid hữu cơ, 0,34% coumarin [39], flavonoid, quercetin ư3,3' ư dimethylether, quercetin ư 3 ư methylethere apigenin Các thành phần khác: các ester của acid isobutiric, isovaleric, acid angelic, aurantiamid acetat [61]
Tác dụng sinh học:
Dịch sắc 1: 1 cóc mẳn có tác dụng giảm ho, trừ đờm rõ rệt trên động vật thí nghiệm là chuột nhắt trắng, ở dạng nước ép cây tươi và dịch saponin toàn phần liều 0,25 và 0,05 g/kg chuột có tác dụng giảm ho tốt hơn liều 0,2mg/kg thể trọng chuột [39, 78] Dịch sắc cũng thể hiện hoạt tính chống
-31
Trang 29-dị ứng, ức chế mạnh sự giải phóng histamin từ dưỡng bào phúc mạc chuột cống trắng gây bởi concanavalin A, C Các arnicolid C các flavon trong cóc mẳn đều có tác dụng ức chế sự giải phóng histamin từ dưỡng bào phúc mạc [61]
Thanh phế chỉ khái, thanh can sáng mắt, giải độc: Dùng trong ho khan,
ho có đờm, đặc biệt ho ở trẻ em, ho gà [5,64], chữa cao huyết áp, mắt đau
đỏ do viêm giác mạc, lở, hắc lào, dị ứng, còn dùng trị rắn cắn [5], chữa ung thư [5]
ư Liều dùng: 12ư20g khô, 20ư40g cây tươi
1.3.3.8 Tang bạch bì: Cortex Mori albae radicis
Dược liệu:
Vị thuốc là vỏ rễ của cây dâu tằm Morus alba L họ dâu tằm Moraceae [61,75] Cây dâu được trồng phổ biến ở các địa phương trong cả nước ta Ngoài cây dâu nói trên ở Việt Nam còn có cây dâu morus acidosa Griff, còn gọi là dâu Tàu cũng được trồng ở nhiều địa phương, đặc biệt ở các tỉnh phía Nam [61,75]
-32
Trang 30-Thành phần hoá học:
Trong vỏ rễ dâu có các hợp chất flavonoid: mulberin, cyclomulberin, mulberochromen, cyclomulberomen, mulberanol, oxydihydromomusin [61,85,88] Ngoài ra còn có các hợp chất mulberofuran M, P, Q Các hợp chất kuwanon A, B, D, E, F, G, H, I, J, K, V, Y, Z, βưtocopherol, umbeliferon, scopoletin, mulberofuran M, P, Q, albanol, albafuran, albafuran B, C, các hợp chất prenin flavon, sistosterol, resinotanol, moran A [61,30,75]
Tác dụng sinh học:
ư Nước sắc tang bạch bì 1:1 có tác dụng chống ho, trừ đờm tốt,
flavonoid toàn phần cũng có tác dụng chống ho, trừ đờm, tác dụng lợi tiểu [26], tác dụng hạ huyết áp yếu, ức chế tim ếch cô lập, giãn mạch ngoại biên tai thỏ cô lập, co mạch nội tạng trên hệ mạch chi sau của ếch Các hoạt chất moracenin A, B, D phân lập từ vỏ rễ dâu thể hiện tác dụng chống tăng huyết
áp trên thỏ [61], có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt [1] Tác dụng
ức chế với một số vi khuẩn Klebsiella, Pneumonia, Staphylococcus aureus
và nấm Candida abicans, Mycobacterium Phlei [61]
Chế biến:
Vào các tháng mùa đông, người ta tiến hành đốn dâu, hoặc đào lấy rễ, lột lấy vỏ rễ phơi khô, sấy khô hoặc sau khi lấy rễ nhân lúc còn tươi, cạo bỏ lớp bần thô màu nâu bên ngoài Nếu là rễ chưa cạo vỏ, trước khi sử dụng, tiến hành cạo bỏ lớp bần như trên, cũng có thể rửa sạch, sau vỏ mềm rồi mới cạo bỏ vỏ bần Sau khi cạo bỏ vỏ bần, cắt đoạn 5-7 cm, trích với mật ong hoặc đường đỏ, sao vàng [5,26,30]
-33
Trang 31-34
Trang 32-2 Mục tiêu của đề tài
Với mong muốn có một bài thuốc có tác dụng điều trị hen suyễn bằng các cây thuốc vị thuốc có sẵn ở Việt nam đã được nhân dân sử dụng
để chữa bệnh này, đề tài đã tiến hành xây dựng một số phương thuốc trị hen suyễn trên cơ sở gia giảm phương thuốc NTTKĐ Đề tài tiến hành với một
số mục tiêu sau:
2.1 Xây dựng được một số phương thuốc trị hen suyễn trên cơ sở gia giảm phương NTTKĐ
2.2 Điều chế được dạng siro thuốc trên cơ sở một phương thuốc nhị trần thang gia giảm có tác dụng tốt nhất
2.3 Kiểm định được một số thành phần hoá học chính trong các vị thuốc, phương thuốc và siro thuốc.Trong đó ưu tiên nghiên cứu thành phần hoá học của vị thuốc Lá hen, vì Lá hen chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam
2.4 Nghiên cứu một số tác dụng sinh học của vị thuốc, phương thuốc
và chế phẩm siro NTTGG
2.5 Tiến hành xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho chế phẩm siro, dựa trên kết quả của nghiên cứu hoá học và sinh học
-35
Trang 33-3 đối tượng & phương pháp nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu
ư Lá bánh tẻ của cây Lá hen mọc hoang ở vùng bắc sông Đuống thu hái vào tháng 6 - 7 trong năm
ư Lá cà độc dược thu hái tại Hải Dương vào tháng 5-6 trước khi cây ra hoa;
ư Cóc mẳn thu hái tại Thái Bình vào tháng 12-2 hàng năm;
ư Các phương thuốc:
+ NTTKĐ gồm: bán hạ, trần bì, bạch linh, cam thảo
+ NTTGGCA gồm: bán hạ, trần bì, cam thảo, cóc mẳn, tang bạch bì,
+ Dịch chiết alcaloid toàn phần, flavonoid toàn phần, saponin toàn phần, glycosid toàn phần từ các phương thuốc NTTGG
Trang 34+ Súc vật được nuôi ổn định trong phòng thí nghiệm trước khi tiến hành thực nghiệm
+ Thỏ 1,5 - 2kg do Viện Quân Y 103 cung cấp
ư Thiết bị, máy móc nghiên cứu:
ư Bể nuôi, các bộ phận cô lập của hãng Ugo Basile
ư Máy đo quang Shimazu của Nhật
ư Máy ghi 1 kênh của Ugo Basile
ư Dụng cụ thử tác dụng chống ho, giãn cơ trơn khí quản, ruột
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu thành phần hoá học
Nghiên cứu định tính và định lượng các thành phần hoá học: glycosid tim, alcaloid, flavonoid, tinh dầu, saponin có trong 2 phương NTTGG, tiến hành theo các tài liệu [7,22] Trong phần này đi sâu nghiên cứu thành phần hoá học của Lá hen vì vị thuốc này chưa nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Còn
đối với 2 phương thuốc NTTGG, chủ yếu tiến hành định tính, định lượng các thành phần hoá học nói trên, đồng thời tiến hành SKLM so sánh các thành phần đó của hai phương thuốc với các vị thuốc có trong phương Trên cơ sở này giúp cho việc kiểm định bán thành phẩm và thành phẩm (siro thuốc) Mặt khác để có nguyên liệu cho việc nghiên cứu dược lý đối với 3 tác dụng chính: chống ho, trừ đờm, giãn khí quản, còn tiến hành chiết xuất
-37
Trang 35-một số thành phần hoá học: alcaloid, flavonoid, saponin có trong phương thuốc NTTGGLH, phương thuốc được coi như có nhiều ưu điểm và triển vọng áp dụng thực tế
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu tác dụng dược lý
3.2.3.1 Tác dụng gi∙n khí quản
Cô lập khí quản chuột lang, nuôi trong dd Tyrod sau đó nghiên cứu
ảnh hưởng của chế phẩm từ phương thuốc NTTGG trên hoạt động của khí quản chuột lang cô lập ở điều kiện bình thường và điều kiện khí quản bị co thắt bởi acetylcholin.[76,83,89]
3.2.3.2 Tác dụng giảm ho
Gây ho bằng xông hơi amoniac trong 45 giây, đếm số tiếng ho trong 5 phút đầu tiên So sánh giữa lô chuột uống và chuột không uống chế phẩm từ phương thuốc NTTGG [36,67,68,83,89]
3.2.3.3 Tác dụng long đờm
Tiêm phenol đỏ (Phenolsunphophtalein) vào phúc mạc cho thỏ, sau
đó định lượng phenol đỏ bài tiết ra qua dịch khí phế quản So sánh lượng phenol đỏ được bài tiết giữa nhóm uống và nhóm không uống chế phẩm từ phương thuốc NTTGG để xác định khả năng long đờm của chế phẩm [36,83,89]
3.2.3.4 Tác dụng chống dị ứng [8,9,60]
Tiến hành gây cảm ứng trên chuột bằng cách tiêm vào màng bụng 0,2ml dung dịch lòng trắng trứng gà tươi (1:2) ba lần Sau ba tuần gây cảm ứng, cho chuột uống thuốc 3 ngày liền, sau đó gây phản ứng quá mẫn bằng dung dịch lòng trắng trứng Dựa vào sự thoát mạch của dd xanh evan để
đánh giá khả năng chống dị ứng của thuốc Lượng xanh evan tỷ lệ nghịch với khả năng chống dị ứng của chế phẩm
-38
Trang 36-3.2.3.5 Tác dụng trên cơ trơn ruột cô lập [36,83,89]
Cô lập ruột thỏ, nuôi trong dung dịch tyrod rồi nghiên cứu ảnh hưởng của các dịch chiết từ phương thuốc NTTGGLH trên hoạt động của ruột cô lập ở điều kiện bình thường và khi cơ trơn bị co thắt bởi acetylcholin [8,9]
3.2.3.6 Tác dụng trên tim ếch cô lập
Ghi lại hoạt động (tần số và biên độ) của tim ếch ở điều kiện bình thường khi có tác dụng của dung dịch thuốc thử với nồng độ pha loãng khác nhau
3 2.3.7 Độc tính cấp
Chia chuột thành các lô, cho chuột uống thuốc liều tăng dần giữa các lô, theo dõi tình trạng của chuột và đếm số chuột chết trong vòng 72 giờ Tính liều LD50 theo phương pháp Behrens – Karber [15,29,34]
3.2.3.8 Độc tính bán trường diễn
Cho chuột uống thuốc liều nghiên cứu 1lần vào buổi sáng trước khi ăn, uống liên tục trong vòng 1 tháng Sau đó kiểm tra các chỉ số cân nặng, sinh hoá các chỉ số huyết học và làm các tiêu bản giải phẫu bệnh gan, thận [15,29,33,34]
3.2.3.9 Độc tính bất thường
Cho chuột uống thuốc 1 liều nghiên cứu vào buổi sáng trước khi ăn, rồi quan sát trong vòng 48 giờ [15,16,21,26,29]
3.2.4 Bào chế siro NTTGG LH , xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho siro
ư Tiến hành bào chế dạng siro từ phương NTTGGLH theo phương pháp ghi trong các tài liệu [4,6,16]
ư Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho siro NTTGG [16]
-39
Trang 37-3.2.5 Xử lý số liệu
Các kết quả nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê dùng trong y - sinh học Sử dụng Student Test để so sánh các số liệu nghiên cứu với sự trợ giúp của chương trình Excel trên Windows 98 [20,27,56]
-40
Trang 38-4 Kết quả nghiên cứu
4 1 Phương pháp xây dựng các phương thuốc NTTGG 4.1.1 Nhị trần thang kinh điển
Theo một số tài liệu, Nhị trần thang kinh điển có xuất xứ từ "Cục phương", trong thành phần: bán hạ chế 8g, trần bì 6g, bạch linh 4g, cam thảo 4g, gừng khoảng 2g (5 miếng) Hoặc cũng xuất phát từ "Cục phương", Nhị trần hoàn có 4 vị: Bán hạ 80g, Phục linh 40g, Cam thảo 20g, Quảng bì 40g Tán bột làm hoàn với nước cốt gừng, ngày 8-12g Trị các chứng đờm
ẩm, ho, đầy trướng, nôn mửa [51]
Theo Dược điển Việt Nam III, trong Nhị trần hoàn gồm có các vị: Bán hạ chế 250g, trần bì 250g, bạch linh 250g, cam thảo 75g
Bốn vị tán bột mịn, trộn dịch Sinh khương làm hoàn uống ngày 2 lần, mỗi lần 9-15g để trị ho nhiều đờm, thượng vị trướng tức, buồn nôn, nôn mửa (16)
4.1.2 Tiến hành xây dựng phương thuốc NTTGG
Như đã giới thiệu ở trên, từ phương NTTKĐ, người ta đã gia giảm tạo
ra rất nhiều phương thuốc để điều trị các bệnh khác nhau Từ phương NTTKĐ, chúng tôi đã có dịp nghiên cứu thực nghiệm trên động vật thấy rằng phương thuốc này có tác dụng trừ đờm, chống ho tốt, không có tác dụng bình suyễn [43] Do đó trong đề tài này, với mục đích xây dựng một
số phương thuốc vừa có tác dụng chống ho, trừ đờm lại có tác dụng giãn khí quản (bình suyễn), chúng tôi đã tiến hành gia giảm thêm một số vị thuốc (sau khi đã tiến hành sàng lọc bằng thực nghiệm giãn khí quản chuột lang (mục 4.3.1) vào phương thuốc NTTKĐ để có 2 phương thuốc mới: NTTGGCA và NTTGGLH Cũng cần nói thêm rằng, những vị thuốc được gia
-41
Trang 39-thêm, đều là những vị thuốc đã được nhân dân ta thường dùng để trị hen suyễn
Phương thuốc 1: NTTGG CA
Bán hạ nam (Rhizoma Typholii trilobati) 8 g
Trần bì (Pericarpium Citri reticulatae) 6 g
Cam thảo (Radix Glycyrrhyzae) 4 g
Tang bạch bì (Cortex Mori radicis) 6 g
Cóc mẳn (Herba Centipedae minimae) 8 g
Cà độc dược (lá) Folium Daturae) 0,3 g
Phương thuốc 2 : NTTGG LH
Bán hạ nam (Rhizoma Typholii trilobati) 8 g
Trần bì (Pericarpium Citri reticulatae) 6 g
Cam thảo (Radix Glycyrrhyzae) 4 g
Tang bạch bì (Cortex Mori radicis) 6 g
Cóc mẳn (Herba Centipedae minimae) 8 g
Lá hen (Folium Calotropis geganteae) 12 g
4.1.3 Giải thích về sự gia giảm các phương thuốc
ư Vị thuốc bán hạ trong Nhị trần thang kinh điển là bán hạ bắc (Rhizoma Pinelliae) là vị thuốc lấy từ cây bán hạ Trung Quốc ư Pinellia ternata, họ Ráy Araceae Vị thuốc bán hạ bắc có tác dụng chống ho, trừ
đờm, chống nôn [82,87] ở Việt nam, Phùng Hoà Bình đã chứng minh vị thuốc bán hạ nam lấy từ thân rễ cây củ chóc "Typhonium trilobatum" có mọc ở Việt nam cũng có tác dụng chống ho, trừ đờm tốt và có tác dụng chống nôn [3] Tác dụng này cũng được ghi trong chuyên luận bán hạ nam (củ chóc) tại Dược điển Việt nam II [14] Do đó, trong các phương thuốc trên, chúng tôi đã thay vị thuốc bán hạ bắc bằng bán hạ nam, một vị thuốc
-42
Trang 40-có sẵn ở Việt Nam, vẫn được sử dụng như bán hạ bắc Mặt khác, đã từ lâu bán hạ bắc không có trên thị trường Việt nam
ư Về tang bạch bì, Nguyễn Thị Vinh Huê đã chứng minh, có tác dụng chống ho, trừ đờm và lợi tiểu tốt [26] Do vậy, tang bạch bì được sử dụng trong các phương thuốc trên để tăng tác dụng chống ho, trừ đờm và tăng cường lợi tiểu (theo quan điểm của YHCT, phế là nguồn nước trên, thận là nguồn nước dưới Thận thông giúp khai thông phế khí Mặt khác phế cũng
có 1 chức năng liên quan đến lợi tiểu "thông điều thuỷ đạo" trong cơ thể
Do vậy, lợi tiểu cũng là một cách làm cho ho hen giảm nhẹ [5,84]
ư Cóc mẳn là vị thuốc có tác dụng chống ho, trừ đờm tốt, đã được ghi trong Dược điển Trung Quốc (2000), về mặt thực nghiệm thấy rằng cóc mẳn có tác dụng chống ho, trừ đờm [39] Trong nghiên cứu này thấy rằng cóc mẳn có tác dụng giãn khí quản chuột lang cô lập (mục 3.1) Do đó, cóc mẳn được dùng với tác dụng bình suyễn và chống ho, trừ đờm
ư Cà độc dược là vị thuốc được nhân dân dùng chữa hen Dược điển Việt Nam có ghi dùng lá, hoa chữa hen [14] Trong nghiên cứu này, thấy rằng lá cà độc dược có tác dụng giãn khí quản chuột lang cô lập (mục 4.3.1) Do đó, lá cà độc dược được sử dụng với vai trò bình suyễn
Như vậy, trong 2 phương thuốc được cấu tạo trên, đã gia thêm tang bạch bì để tăng tác dụng chống ho, trừ đờm và lợi tiểu Gia thêm cóc mẳn,
cà độc dược, lá hen để tăng thêm tác dụng giãn khí quản, tức là tác dụng bình suyễn cho phương thuốc Đồng thời với sự gia tăng, có sự giảm bớt 2
vị thuốc: bạch linh và sinh khương Vị bạch linh có trong phương kinh điển với công năng thẩm thấp lợi tiểu và kiện tỳ (không có tác dụng trừ đờm, chống ho, bình suyễn) Tuy nhiên, với hai tác dụng này đã được vị tang bạch bì hỗ trợ: lợi tiểu của tang bạch bì và tang bạch bì trích mật ong - mật ong cũng là phụ liệu giúp cho kiện tỳ tốt Trong các phương NTTKĐ, sinh
-43