ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình sử dụng Tài nguyên thiên nhiên (TNTN), con người thường chú trọng đến khai thác lợi dụng, nhằm thoả mãn tối đa cho nhu cầu trước mắt của mình mà không quan tâm đúng mức đến vấn đề khôi phục, phát triển bền vững TNTN và tương lai của các thế hệ mai sau. Vì vậy, hầu hết các nguồn tài nguyên quý giá đều dần bị cạn kiệt, không đảm bảo khả năng cung ứng lâu dài, ổn định cho cuộc sống con người cũng như duy trì sự phát triển bền vững của xã hội. Tài nguyên rừng tự nhiên có khả năng tái tạo nhưng cũng không tránh khỏi xu thế ấy. Rừng tự nhiên ở Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng, nhất là từ năm 1980 đến nay. Trong vòng 50 năm qua (1943 1993), chúng ta đã mất đi 5 triệu ha rừng (năm 1943 là 14,3 triệu ha và năm 1993 chỉ còn 9,3 triệu ha) bình quân mỗi năm mất đi 100 ha. Trong những năm gần đây, diện tích rừng có xu hướng tăng nhưng chất lượng rừng có xu hướng giảm. Đối với rừng tự nhiên, diện tích rừng giàu và trung bình hiện nay chỉ còn khoảng 1,4 triệu ha (chiếm 13% so với tổng diện tích có rừng). Rừng gỗ giàu chỉ còn lại chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, nơi có độ dốc lớn nên khả năng khai thác, cung cấp lâm sản bị hạn chế. Đối với rừng trồng, phần lớn là rừng sản xuất, trồng một số loài mọc nhanh, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nên tác dụng với môi trường rất hạn chế. Điều này đã làm cho chức năng bảo vệ môi trường sinh thái của rừng bị ảnh hưởng theo chiều hướng xấu gây ra thoái hoá đất, rửa trôi, xói mòn ngày càng nghiêm trọng, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn ảnh hưởng đến đời sống của con người. Xuất phát từ thực trạng trên, sự cần thiết phải phục hồi là một nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, để các biện pháp bảo vệ, phục hồi lại rừng đạt hiệu quả thì phải có một sự hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng mà trước hết là quá trình tái sinh. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được quy luật tái sinh, chúng ta sẽ điểu khiển quy luật đó phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và quản lý rừng. Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh và quản lý tài nguyên rừng. Vườn Quốc gia Xuân Sơn là một quần thể sinh thái bao gồm hệ động vật, thực vật và nguồn gen quý của Việt Nam, nằm trên ranh giới của 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái và Sơn La, là nơi bảo tồn tính đa dạng sinh học của vùng chuyển tiếp giữa dải núi đá vôi phía Đông Bắc với vùng Trung du Bắc Bộ và vùng phòng hộ đầu nguồn quan trọng của 2 con sông Giày và sông Bứa huyện Tân Sơn và Thanh sơn. Tại đây, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về hệ động, thực vật của các tác giả đi trước. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về tái sinh tự nhiên, vì vậy tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của các trạng thái rừng IIA, IIB và IIIA1 tại vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, để từ đó làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nuôi dưỡng, phục hồi và phát triển rừng bền vững tại Vườn quốc gia Xuân Sơn.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình sử dụng Tài nguyên thiên nhiên (TNTN), con ngườithường chú trọng đến khai thác lợi dụng, nhằm thoả mãn tối đa cho nhu cầutrước mắt của mình mà không quan tâm đúng mức đến vấn đề khôi phục, pháttriển bền vững TNTN và tương lai của các thế hệ mai sau Vì vậy, hầu hết cácnguồn tài nguyên quý giá đều dần bị cạn kiệt, không đảm bảo khả năng cungứng lâu dài, ổn định cho cuộc sống con người cũng như duy trì sự phát triểnbền vững của xã hội Tài nguyên rừng tự nhiên có khả năng tái tạo nhưngcũng không tránh khỏi xu thế ấy
Rừng tự nhiên ở Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về
số lượng và chất lượng, nhất là từ năm 1980 đến nay Trong vòng 50 năm qua(1943 - 1993), chúng ta đã mất đi 5 triệu ha rừng (năm 1943 là 14,3 triệu ha
và năm 1993 chỉ còn 9,3 triệu ha) bình quân mỗi năm mất đi 100 ha Trongnhững năm gần đây, diện tích rừng có xu hướng tăng nhưng chất lượng rừng
có xu hướng giảm Đối với rừng tự nhiên, diện tích rừng giàu và trung bìnhhiện nay chỉ còn khoảng 1,4 triệu ha (chiếm 13% so với tổng diện tích córừng) Rừng gỗ giàu chỉ còn lại chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao,nơi có độ dốc lớn nên khả năng khai thác, cung cấp lâm sản bị hạn chế Đốivới rừng trồng, phần lớn là rừng sản xuất, trồng một số loài mọc nhanh, cungcấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nên tác dụng với môi trường rất hạnchế Điều này đã làm cho chức năng bảo vệ môi trường sinh thái của rừng bịảnh hưởng theo chiều hướng xấu gây ra thoái hoá đất, rửa trôi, xói mòn ngàycàng nghiêm trọng, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn ảnh hưởng đến đời sốngcủa con người
Xuất phát từ thực trạng trên, sự cần thiết phải phục hồi là một nhiệm vụcấp bách Tuy nhiên, để các biện pháp bảo vệ, phục hồi lại rừng đạt hiệu quảthì phải có một sự hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng màtrước hết là quá trình tái sinh Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mangtính đặc thù của hệ sinh thái rừng Nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên rừng có
Trang 2khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được quy luật tái sinh,chúng ta sẽ điểu khiển quy luật đó phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh vàquản lý rừng Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xácđịnh các phương thức kinh doanh và quản lý tài nguyên rừng.
Vườn Quốc gia Xuân Sơn là một quần thể sinh thái bao gồm hệ độngvật, thực vật và nguồn gen quý của Việt Nam, nằm trên ranh giới của 3 tỉnh:Phú Thọ, Yên Bái và Sơn La, là nơi bảo tồn tính đa dạng sinh học của vùngchuyển tiếp giữa dải núi đá vôi phía Đông Bắc với vùng Trung du Bắc Bộ vàvùng phòng hộ đầu nguồn quan trọng của 2 con sông Giày và sông Bứa huyệnTân Sơn và Thanh sơn Tại đây, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về
hệ động, thực vật của các tác giả đi trước Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào về tái sinh tự nhiên, vì vậy tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của các trạng thái rừng IIA, IIB và IIIA1 tại vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, để từ đó làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm
nuôi dưỡng, phục hồi và phát triển rừng bền vững tại Vườn quốc gia XuânSơn
Trang 3Chương 1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Trên thế giới
Vai trò của tái sinh rừng hết sức quan trọng, nó quyết định sự tồn tạicủa thảm thực vật, tái sinh rừng là tiền đề cho quá trình diễn thế rừng, đảmbảo cho rừng luôn trong trạng thái vận động Do vậy có thể nói những nghiêncứu về tái sinh đã góp phần làm sáng tỏ các quy luật tồn tại và phát triển củarừng cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Về phương pháp điều tra tái sinh, đa số các tác giả sử dụng mẫu ôvuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), diện tích ô đo đếm thường từ 1-4m2; nhưng phổ biến nhất là phương pháp bố trí ô đo đếm theo hệ thống trongcác diện tích nghiên cứu từ 0,25 - 1,0 ha
Davis và Richards (1933 - 1934), trong khi nghiên cứu rừng mưa ở khuvực sông Moraballi, Gauna, đã thống kê số cây thứ tự từ thấp đến cao, đầutiên là số mầm non dưới 2m, kế đến là số cây non có đường kính dưới 10cm
và chiều cao trên 4,6m, sau đó mới đến số cây gỗ có đường kính trên 10cm,với cỡ đường kính 4 tấc Anh (10cm); cây tái sinh đã được thống kê từ dưới2m cho đến chiều cao 4,6m với đường kính dưới 10cm Aubre’ ville (1933)trong biểu thành phần của ô tiêu chuẩn (OTC) trong rừng nguyên thuỷ tại
“khu rừng bảo vệ Massa Me”, thuộc bờ biển Nga cũng đã thống kê lớp câynon gồm những cây thuộc cấp đường kính <10cm, [17] Cho thấy cây tái sinh
đã được tính từ cây mầm cho đến cận dưới của lớp cây gỗ
Về đặc điểm tái sinh tự nhiên (TSTN), Aubre’ vill (1950 - 1951) đã đưa
ra lý thuyết tái sinh tuần hoàn bức khảm theo đó, xem một diện tích rừng hỗnhợp rộng lớn như một mặt khảm mà mỗi đơn vị của bản ghép hình là một tổhợp hình thành bởi các loài cây tái sinh không mang tính kế thừa, nhưng xéttrên một phạm vi rộng lớn thì các tổ hợp loài cây sẽ kế thừa nhau ít nhiều theophương thức tuần hoàn Van Steniss (1956) đã nêu 2 đặc điểm tái sinh phổ
Trang 4biến của rừng nhiệt đới là kiểu tái sinh phân tán và liên tục của các loài cây ưasáng.
Ánh sáng là nhân tố sinh thái ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng của câytái sinh, đó là quan điểm được nhiều nhà khoa học thống nhất Mlanfora(1929) nhận thấy các loài cây ưu thế của rừng thường xanh tại Mã Lai tái sinhtốt nhất ở những nơi có lỗ trống với bề ngang không rộng quá 6m; ở nhữngnơi có lỗ trống lớn hơn, không thấy có tái sinh tại phần chính giữa Kramer(1933), qua các quan sát trong rừng mưa miền cao ở núi Gedeh tại Java cũngthấy rằng trong những khoảng trống diện tích không quá 1000m2, cây tái sinhsẵn có của loài ưu thế ở rừng nguyên sinh sống sót và sinh trưởng tốt Nhưngnếu khoảng trống rộng đến 2000- 3000m2, thì sự tái sinh tự nhiên sẽ bị cácloài cây của rừng thứ sinh mọc rất mạnh, đào thải hoàn toàn (dẫn theoRichards P.W (1952), [17] Trong rừng mưa nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sángảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển của cây non,, còn đối với sự nảy mầm vàphát triển của mầm non thì ảnh hưởng này thường không rõ (Richards P.W(1952) [17], Baur G.N (1962), [18]
Riêng về đặc điểm tái sinh của các cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), theoCatinot.R (1978) [19] trong các khu rừng vùng Đông Nam Châu Á, cây họDầu tái sinh thành từng vệt sau khai thác Tuomela K và các cộng sự (1995),[20] qua nghiên cứu tái sinh ổ các ô trống có diện tích từ 406m2 trở lên đến1242m2 trong rừng sau khai thác ở miền nam Kalimantan - Indonesia, nhậnthấy phân bố tần suất đường kính cây con ở các ô trống khác hẳn so với diệntích rừng chung quanh, chứng tỏ cây họ Dầu ban đầu sinh trưởng mạnh saukhi mở trống; tốc độ sinh trưởng tỷ lệ nghịch với diện tích ô trống và kíchthước ô trống thích hợp khoảng 500m2, qua đó cho thấy tái sinh tự nhiên cây
họ Dầu chịu ảnh hưởng lớn của nhân tố ánh sáng Các kết luận tương tự cũng
đã được Nguyen - The và các cộng sự (1998) đưa ra trong khi nghiên cứurừng hỗn loài cây họ Dầu ở Đông Kalimantan - Inđonesia
Trang 5Về khả năng ra hoa quả, Appanah S.(1998) cho biết trong rừng tự nhiên
ở Indonesia, vào những năm sai quả trên mỗi cây họ Dầu trưởng thành có thểcho 4triệu hoa và tạo thành khoảng 100000 quả, nhưng phần lớn bị côn trùng,chim và các loại thú rừng phá hoại
Các nghiên cứu về TSTN của CIFOR (2000) tại Bunlugan - Indonesiachỉ rõ việc chặt bỏ dây leo cây bụi dưới tán nhằm xúc tiến TSTN đã làm chomột số lâm sản ngoài gỗ như song mây trở lên cực kỳ khan hiếm
Để đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng thứ sinh, ở Philipines đã áp dụng cóhiệu quả kỹ thuật ARN (Assisted Natural Regeneration), tăng cường tiến trìnhTSTN thông qua hạn chế lửa rừng và chăn thả súc vật, kết hợp trồng cây nơiđất trống (theo Lasco R.D, Visco R.G.& Pulhin J.M (2001)
1.2 Ở Việt Nam
TSTN rừng tự nhiên Việt Nam cũng đã được nhiều tác giả quan tâm.Thái Văn Trừng (1963, 1978), [4 ] đã nêu 2 cách TSTN của các xã hợp thựcvật rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thứ sinh là tái sinh liên tục dưới tán kínrậm của những loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn gắn các lỗ trống đầutiên với các loài tiên phong Qua đó tác giả cũng khẳng định ánh sáng là nhân
tố đã khống chế và điều khiển quá trình TSTN
Năm 1964, các chuyên gia Trung Quốc đã xây dựng tiêu chuẩn đánhgiá TSTN theo năm cấp cho vùng Quỳ Châu, Nghệ An dựa theo mật độ câytái sinh, gồm: rất tốt: > 12000 cây/ha, tốt: 8000 - 12000 cây/ha, trung bình:
4000 - 8000 cây/ha, xấu: 2000 - 4000 cây/ ha và rất xấu: < 2000 cây/ha, dễ ápdụng trong thực tế
Nhận xét chung về tái sinh rừng tự nhiên hỗn loài, Nguyễn Ngọc Lung(1983) cho biết đầy đủ số lượng và chất lượng cây tái sinh, bình quân 10 - 13nghìn cây/ha từ cây mạ cho đến cây có D < 10cm; và trong quá trình pháttriển cây tái sinh bị phân hoá rất mạnh, dưới tán rừng già ở Kon Hà Nừng khótìm thấy cây con của một số loài ưu thế tầng trên Sự phong phú về về sốlượng cây và loài tái sinh cũng đã được Phùng Ngọc Lan (1984), [10] qua
Trang 6nghiên cứu rừng tự nhiên ở Tam Tấu, lâm trường Bắc Sơn - Lạng Sơn ghinhận có gần 30 loài tái sinh với số lượng từ 14000 - 16000 cây/ha.
Về ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng đến quá trình tái sinh tự nhiên, theoHồng Quan (1984), [12] do những cây có đường kính 12 - 30cm với chiều caokhoảng 11 - 20m, tạo nên tầng tán chính của rừng, tầng này không bị tác độngqua khai thác, gây nên sự ứ đọng tán, không cho ánh sáng lọt xuống gây ảnhhưởng đến tái sinh của loài cây ưa sáng
Nguyễn Văn Trương (1986) cho rằng cây tái sinh là cây mọc tự nhiên,
có kích thước tiếp cận với chuỗi thống kê hiện hành Nếu chuỗi thống kê bắtđầu từ 10cm trở lên thì số cây TSTN đạt kích thước 5cm đường kính mới gọi
là cây tái sinh Quan điểm này hoàn toàn mang tính toán học Nhất trí vớiquan điểm của Thái Văn Trừng (1999), [5]: “trong động thái của một hệ sinhthái, cần nghiên cứu quá trình TSTN, từ lúc ra hoa, kết quả đến nảy mầm hạtgiống và sự phát triển từ giai đoạn cây mạ đến các giai đoạn cây non, cây nhỡ,cây trưởng thành ” Do vậy, nếu chỉ tập trung thống kê cây tái sinh từ cỡđường kính 5cm trở lên, không quan tâm đến lớp cây nhỏ hơn sẽ không đánhgiá được chính xác đặc điểm của quá trình TSTN
Theo Vũ Tiến Hinh (1991), [8] trong rừng tự nhiên thứ sinh hỗn loàikhác tuổi ở lâm trường Hoành Bồ - Quảng Ninh, cây rừng tái sinh liên tục vàcàng ở tuổi nhỏ số cây càng nhiều; hệ số tổ thành của tầng cây tái sinh và tầngcây cao có mối liên hệ chặt chặt chẽ Vũ Văn Nhâm (1992) qua nghiên cứu táisinh rừng tự nhiên ở vùng Đông Bắc thấy rằng trên các lâm phần có diễn thếrừng ổn định, hệ số tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh thống nhất, còn
ở những lâm phần có diễn thế không ổn định thì có sự sai khác rõ rệt
Trần Xuân Thiệp (1996) dựa vào cây tái sinh triển vọng (H > 1,5m)phân cấp đánh giá tái sinh cho rừng tự nhiên ở vùng Hương sơn - Hà Tĩnh, ởtrạng thái IIIB: cấp tái sinh xấu: < 1000 cây/ha, trung bình: 100 - 3000 cây/ha,tốt: > 3000 cây/ha; ở trạng thái IV: xấu: < 500 cây/ha, trung bình: 500 - 1500cây/ha và tốt: > 1500 cây/ha
Trang 7Bên cạnh các kết quả nghiên cứu TSTN mang tính riêng lẻ, có nhữngcông trình chuyên khảo về TSTN của một loài cây hay kiểu rừng: NguyễnVăn Thêm (1992) [13,14] nghiên cứu tái sinh tự nhiên Dầu Song Nàng trongrừng kín ẩm thường xanh và nửa rụng lá nhiệt đới mưa mùa ở Đồng Nai.Đinh Quang Diệp (1992), [7] nghiên cứu TSTN trên đối tượng rừng khộp ởĐăk lăk Qua đó các tác giả đã đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác, bảo vệ vànuôi dưỡng rừng cụ thể cho từng đối tượng nghiên cứu.
Trần Đình Lý và các cộng sự (1995), [11] trong khi nghiên cứu TSTNthảm thực vật rừng vùng núi cao Sapa, cho rằng không cần phải nghiên cứu
đo đếm tất cả các cây TSTN mà chỉ cần quan tâm đến những cây có chiều cao
từ 2m trở lên cũng đủ để đánh giá đúng tiềm năng của TSTN thảm thực vật.Theo quan điểm lâm học và căn cứ vào ý kiến của Thái Văn Trừng đã nêuphần trên thì nhận định này thật ra chưa hoàn toàn chính xác
Theo Lê Sáu - Đinh Hữu Khánh - Ngô Văn Trai (1995) cho biết trêncác đối tượng rừng IIIA1 - IIIA3 sau khai thác ở Kon Hà Nừng, số lượng câytái sinh đạt từ 22000 - 34000 cây/ha (nhiều hơn lúc chưa khai thác), cây táisinh triển vọng đều đạt trên 1000 cây/ha (cao nhất ở trạng thái IIIA1 với 1996cây/ha và thấp nhất ở trạng thái IIIA3 với 1079 cây/ha) Nhưng qua nghiêncứu TSTN rừng lá rộng thường xanh hỗn loài tại Quỳ Châu - Nghệ An,Nguyễn Duy Chuyên (1996), [6] cho biết ở rừng loại IV và IIIB có số cây táisinh lớn nhất: 3200 - 4000 cây/ha Qua đó cho thấy có sự biến động lớn vềmật độ cây tái sinh giữa các loại rừng ở các vùng khác nhau
Gần đây phương pháp định lượng cũng đã được nhiều tác giả áp dụngtrong khi nghiên cứu TSTN Nguyễn Văn Thêm (1992), [13] dùng phân bốThomas và Neyman đã mô phỏng phân bố số cây tái sinh theo diện tích trongnghiên cứu tái sinh Dầu Song Nàng ở rừng kín ẩm thường xanh và nửa rụng
lá tại Đồng Nai Đinh Quang Diệp (1993) sử dụng phân bố khoảng cách vàhình học để mô phỏng phân bố N/H của cây tái sinh rừng Khộp Đăk lăk NgôKim Khôi (1999), [9] dùng tiêu chuẩn U của Clark và Evans để nghiên cứu
Trang 8hình thái phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng; chọn hàm Meyer để môhình hoá quy luật cấu trúc tần số phân bố số cây, số loài tái sinh theo cấpchiều cao cho rừng vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát - Nghệ An.
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước của các tác giả về táisinh rừng nói trên là tiền đề cho các nội dung nghiên cứu của đề tài Tại khuvực nghiên cứu, tôi cũng đã áp dụng một số phương pháp của các tác giảnhằm giải quyết vấn đề đặt ra là nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng phục vụcho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, góp phần cho những nghiêncứu tiếp theo về vấn đề này
Trang 9Chương 2MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của các trạng tháirừng IIA, IIB, IIIA1 (tổ thành loài, mật độ, phân bố số cây, tỷ lệ cây tái sinhtriển vọng)
- Nghiên cứu được một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao và tình hìnhsinh trưởng của cây bụi, thảm tươi để từ đó đánh giá ảnh hưởng của chúngđến lớp cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nuôi dưỡng, phục hồi và quản lýbền vững tại khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên phạm vi 3 trạng thái rừng tự nhiên IIA, IIB vàIIIA1 của Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn Mỗi trạng thái điều tra đo đếm 3OTC điển hình ở rừng tự nhiên phục hồi
2.3 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, đề tài thực hiện những
nội dung chính sau:
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm tầng cây cao
- Cấu trúc tổ thành
- Mật độ và đặc điểm sinh trưởng
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm lớp cây tái sinh
- Tổ thành loài cây tái sinh
- Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao
- Phân bố loài tái sinh theo cỡ chiều cao
- Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
Trang 10- Nguồn gốc, chất lượng cây tái sinh
2.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của tầng cây cao và cây bụi, thảm tươi đến lớp cây tái sinh.
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tầng cây cao và cây bụi thảm tươi tađánh giá ảnh hưởng của chúng đến lớp cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu
- Ảnh hưởng của tổ thành tầng cây cao đến tổ thành cây tái sinh
- Ảnh hưởng của cây bụi thảm tươi đến cây tái sinh
2.3.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả tái sinh phục hồi rừng cho đối tượng nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa những thông tin cơ bản về khu vực nghiên cứu:
- Bản đồ khu vực nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân sinh tại khu vực nghiêncứu
- Các tài liệu tham khảo về vấn đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước
2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp
Để thu thập số liệu ngoại nghiệp, đề tài tiến hành lập OTC điển hìnhcho từng trạng thái rừng nghiên cứu
Trên mỗi trạng thái rừng IIA, IIB, IIIA1 lập 3 OTC Mỗi OTC có diệntích 1000m2 (40x25m)
Trong mỗi OTC lập 5 ô dạng bản (ODB), với diện tích mỗi ô là 25m2
(5x5m) được bố trí 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa OTC
Tiến hành điều tra OTC và ODB:
a) Điều tra tầng cây cao
Trong mỗi OTC tiến hành đánh số thứ tự tất cả các cây gỗ có D1.3 ≥6cm và đo đếm các chỉ tiêu cần thiết sau:
- Xác định tên phổ thông của từng cá thể trong lâm phần
Trang 11- Số cây của từng loài.
- Đo đường kính ở vị trí 1,3m cho tất cả các cây gỗ trong OTC (D1.3 ≥6cm) bằng thước kẹp kính Đo theo 2 chiều Đông Tây - Nam Bắc sau đó lấygiá trị trung bình
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) các cây đã
đo đường kính bằng thước Blumleiss
- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo 2 chiều vuông góc sau
đó lấy trung bình
Kết quả điều tra tầng cây cao được ghi vào biểu đo đếm tầng cây caosau
Biểu 2.1 Điều tra tầng cây cao
ĐT NB TB ĐT NB TB
1
2
b) Điều tra lớp cây tái sinh
- Xác định tên phổ thông của các loài cây tái sinh.
- Xác định số cây tái sinh trong từng ODB
- Xác định chiều cao cho từng cây tái sinh theo cấp chiều cao có sẵntrong biểu điều tra cây tái sinh bằng thước mét
- Phân cấp chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: Tốt, trung bình, xấu.Cây tốt: Là cây có tán lá phát triển đều, tròn, có trục chính rõ ràng,không bị sâu bệnh, lá màu xanh, không bị khuyết tật
Cây trung bình: Là những cây có tán lá thưa, số lá ít, ít khuyết tật
Trang 12Cây xấu: Là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởngkém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh.
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Tái sinh hạt hay tái sinh chồi
Các chỉ tiêu đo đếm được ghi vào biểu điểu tra cây tái sinh
Biểu 2.2 Điều tra cây tái sinh
c) Điều tra cây bụi thảm tươi
Tiến hành điểu tra các chỉ tiêu của tầng cây bụi, thảm tươi trong ODB:
- Xác định tên cây bụi, thảm tươi theo tên phổ thông
- Đo chiều cao bình quân của cây bụi, thảm tươi bằng thước mét
- Xác định độ che phủ của cây bụi, thảm tươi
- Trong mỗi ODB điều tra tình hình sinh trưởng của cây bụi, thảm tươitheo hai cấp chất lượng: Tốt và xấu
Kết quả ghi được vào biểu tình hình cây bụi, thảm tươi
Biểu 2.3 Điều tra tình hình cây bụi , thảm tươi
chủ yếu
Chiều cao bình quân(m)
Độ che phủ(%)
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp kết hợp với
sự trợ giúp của bảng tính Excel để xử lý số liệu
Trang 13a) Đối với tầng cây cao
Dựa vào phương pháp tính tổ thành của Danil Marmailod:
Ni% là phần trăm theo số cây của loài i trong trạng thái rừng
Gi% là phần trăn theo tổng tiết diện ngang của loài i trong trạng tháirừng
Những loài có IV% ≥ 5% mới có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần
và đưa vào công thức tổ thành
Cách viết công thức tổ thành:
Viết từ loài có hệ số tổ thành cao đến loài có hệ số tổ thành thấp.Phần số biểu thị hệ số tổ thành, phần chữ là viết tắt của tên loài
b) Đối với tầng cây tái sinh
- Xác định số loài được đưa vào công thức tổ thành cây tái sinh:
n=
m
N m
Ni n
∑
= 1
Trong đó: m là tổng số loài ở mỗi trạng thái
Ni là tổng số cây của mỗi loài ở mỗi trạng thái
N là tổng số cây ở các loài ở mỗi trạng thái
Nếu ni ≥ n thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành
- Xác định hệ số tổ thành cho mỗi loài:
K= × 10
N Ni
Trong đó: K là hệ số tổ thành của mỗi loài
Ni là số lượng các cá thể loài
N là tổng số lượng cá thể các loài
Trang 14- Xác định mật độ cây tái sinh:
Mật độ tái sinh được tính bằng tổng của mật độ các loài tái sinh cótrong lâm phần điều tra, mật độ loài được tính theo công thức:
N/ha = (n/S) x 10000Trong đó: N/ha là mật độ tái sinh của 1 loài trên 1 ha
n là tổng số cây tái sinh trong các ODB của 1OTC
S là tổng diện tích của các ODB trong 1 OTC
- Phân bố cây tái sinh theo chiều cao
Căn cứ vào phân bố thực nghiệm số cây tái sinh theo chiều cao chọnphân bố lý thuyết để mô hình hóa quy luật phân bố
- Phân bố số cây tái sinh trên mặt đất:
Phân bố cây tái sinh trên mặt đất được xác định trên cơ sở phân bốPoisson, các bước tiến hành như sau:
+ Tổng hợp số liệu cây tái sinh trong ODB
+ Xác định số cá thể bình quân trên 1ODB theo công thức:
Xtb= N/nTrong đó: Xtb là số lượng cá thể trung bình của 1ODB
Trong đó: xi là số lượng cá thể của ODB thứ i
Sx2 là phương sai số cây giữa các ODB
Xi là tổng số cây của loài thứ i
Trang 15K = 1: Phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố ngẫu nhiên.
K ≥ 1: Phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố cụm
- Phân bố cây tái sinh theo chất lượng:
Để có khu rừng tốt thì phải có các cây tái sinh phẩm chất tốt Vì vậy,phẩm chất cây tái sinh là một yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu về táisinh Đánh giá chất lượng cây tái sinh, đề tài đánh giá ở 3 mức phẩm chất: tốt,trung bình, xấu Tỷ số cây tái sinh theo từng cấp chất lượng được tính theocông thức sau:
N% = × 100
N Ni
Trong đó: N% là tỷ lệ phần trăm số cây của một cấp chất lượng trong mộtOTC
Ni là số lượng cây tái sinh của một cấp chất lượng trong 1OTC
N là tổng số cây của 1OTC
- Phân bố cây tái sinh theo nguồn gốc: Xác định nguồn gốc tái sinh là
từ chồi hay hạt
Xác định cây tái sinh có triển vọng:
Cây tái sinh có triển vọng là cây có chiều cao lớn hơn hoặc bằng chiềucao trung bình của cây bụi, thảm tươi và phẩm chất trung bình trở lên Tỷ lệcây tái sinh có triển vọng được xác định theo công thức:
Ntv% = × 100
N Ntv
Trong đó: Ntv% là tỷ lệ phần trăm tái sinh có triển vọng trong 1OTC
Ntv là số cây tái sinh triển vọng trong 1OTC
N là tổng số cây tái sinh trong 1OTC
2.4.4 Đánh giá ảnh hưởng của tầng cây cao và cây bụi thảm tươi đến lớp cây tái sinh.
Ảnh hưởng của tổ thành tầng cây cao đến tổ thành tầng cây tái sinh
Trang 16Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến lớp cây tái sinh.
2.4.5 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả tái sinh phục hồi các trạng thái rừng đã nghiên cứu.
Chương 3ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Trang 173.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
VQG Xuân Sơn nằm ở huyện Tân Sơn, Tỉnh Phú Thọ, cách thành
phố Việt Trì 80 km, có phạm vi ranh giới như sau:
- Phía Đông giáp xã Long Cốc, Vĩnh Tiến - huyện Tân Sơn
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc - tỉnhHòa Bình
- Phía Bắc giáp xã Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Phú và Tân Sơn - huyệnTân Sơn
- Phía Nam giáp xã Kim Thượng - huyện Tân Sơn và một phần huyện
có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình kiếntạo nên đa dạng cảnh quan
Vùng đệm VQG Xuân Sơn bao gồm các xã: Kiệt Sơn, Lai Đồng,Minh Đài, và một phần các xã: Đồng Sơn, Tân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài,đều cùng huyện
3.1.2 Địa hình
Địa hình chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá vôi cao độ dốc trung bình
30 - 350, điểm cao nhất là đỉnh núi Voi 1386 m so với mực nước biển, nhiều
Trang 18sông suối nhỏ xen kẽ, có nhiều hang, động núi đá vôi đẹp và nguyên sơ rấtphù hợp để phát triển du lịch.
Giữa các núi đá vôi cao là dãy đồi, núi thấp, đất đai màu mỡ Có thểphát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, phía dưới là các thung lũng hìnhthành nên các thửa ruộng bậc thang màu mỡ Tuy nhiên, địa hình Karster củavùng núi đá vôi đã gây nên những khó khăn cho trồng trọt cây nông nghiệpngắn ngày, đặc biệt vào mùa khô
Vùng đồi núi thấp tỏa rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạnsông Đà bao gồm hai huyện Thanh Sơn và Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Sông Bứa
và các chỉ lưu tỏa nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh các dãyđồi núi chỉ cao chừng 600 – 700 m, hình dáng khá mềm mại vì chúng đượccấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Cao nhất là đỉnh núi Voi
1368 m, tiếp đến là núi Ten 1244 m, núi Cẩn 1144 m
Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chiacắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi khá dốc, bình quân 200
Nhìn chung địa hình trong khu vực có những kiểu chính sau:
* Kiểu núi trung bình (N2): Hình thành trên đá phiến biến chất có độ
dốc cao từ 700 – 1368 m Kiểu này phân bố chủ yếu ở Tây và Tây Nam VQGbao gồm phần lớn hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ Tác dụngxâm thực mạnh, độ dốc lớn trung bình 300, mức độ chia cắt phức tạp và là đầunguồn của hệ sông suối của sông Bứa Kiểu địa hình này chiếm tỷ lệ 10,4%diện tích
* Kiểu địa hình núi thấp (N3): Được hình thành trên các đá trầm tích
lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, thuộc địa hình này là cácnúi có độ cao từ 300 – 700 m phân bố chủ yếu từ Nam, Tây Nam đến phíaBắc khu vực Núi ở đây có hình dạng mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốctrung bình chỉ 200, có những thung lũng mở rộng hơn ở vùng núi phía TâyBắc
Trang 19* Kiểu đồi (Đ): Có độ cao < 300 m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu
vực Có hình dạng đồi lượn sóng mềm mại được cấu tạo từ các loại đá trầmtích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng xen Chè Shan, chè Xanh
* Thung lũng và bồn địa (T): Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi
phân bố chủ yếu ở các xã vùng đệm, trong đó có Xuân Đài Đây là các thunglũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng, độ dốc rất thoải, trong đó cótrầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp
- Mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, nên thời tiết luônnóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất vào tháng 6 vàtháng 7 (280C) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,70C vào tháng 6
3.1.3.2 Chế độ mưa ẩm:
- Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1660 mm ở Thanh Sơn đến 1826
mm ở Minh Đài Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và tháng 9 hàng năm
- Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ cònchiếm dưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn ít xảy ra vì có mưaphùn (mỗi năm có trên 20 ngày) làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô
- Tháng 12 và tháng 1 là những tháng hanh khô nhất và lượng bốc hơicũng thường lớn hơn lượng nước rơi
- Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86%, những tháng có mưaphùn thường độ ẩm không khí đạt chỉ số cao nhất
Trang 20- Lượng bốc hơi không cao (653 mm/năm), điều đó đánh giá khả năngche phủ đất của lớp thảm thực bì còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi,làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực.
3.1.3.3 Một số hiện tượng thời tiết đáng chú ý
- Gió tây khô nóng: Vùng này chỉ chịu gió Tây (khô và nóng) vào cáctháng 4 - 7 Trong các tháng này nhiệt độ không khí có ngày lên tới 39 - 400C,bốc hơi cũng cao nhất > 70 - 80 mm, độ ẩm không khí hạ xuống thấp tuyệtđối
- Mưa bão: Vùng này tuy ở sâu trong lục địa, nhưng cũng chịu ảnhhưởng nhiều của mưa bão Hai tháng nhiều mưa bão nhất là tháng 8 và tháng
9 Bão thường kèm theo mưa lớn, gây lũ và lụt lội làm thiệt hại khá nghiêmtrọng cho nền kinh tế của địa phương và nhân dân sinh sống trong vùng
- Sương muối: Thường xuất hiện vào mùa Đông, những ngày nhiệt độxuống thấp dưới 50C, sương muối thường xuất hiện trong các thung lũng núi
đá vôi, mỗi đợt kéo dài vài ba ngày, ảnh hưởng rất lớn đến cây con, cây ănquả và cây lấy giống ra hoa kết quả vào thời gian này
3.1.4 Thủy văn
Hệ thống sông Bứa với các chỉ lưu của nó tỏa rộng ra khắp các vùng.Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1500 - 2000 mm, lượng mưacực đại có thể tới 2453 mm, nhưng có năm ít mưa chỉ đo được 1414 mm, tạo
ra tiềm năng to lớn cho nghề nuôi, trồng thủy sản và chăn nuôi thủy cầm (Vịtsuối)
Trong vùng này khá giàu nước, môđun dòng chảy gần 401l/s/km2.Dòng chảy cực tiểu khoảng 6 - 7l/s/cm2 Lưu vực Sông Bứa khá rộng Địahình lưu vực lại thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thủy lợi để phục vụ sảnxuất nông nghiệp Sông Bứa có hai chỉ lưu lớn là Sông Vèo bắt nguồn từ cácvùng núi cao phía Đông huyện Phù Yên tỉnh Sơn La và Sông Giày bắt nguồn
từ các dãy núi cao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hòa Bình Hai sôngnày hợp nhau tại làng Kệ Sơn, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong vực Tổng
Trang 21chiều dài của sông là 120 km, chiều rộng trung bình 200 m có khả năng vậnchuyển lâm sản từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi.
3.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng
3.1.5.1 Địa chất
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho biết: khu vực VườnQuốc gia có các quá trình phát triển địa chất rất phức tạp, các nhà địa chất gọiđây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi.Nhan thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các giảinhỏ và hẹp
Phía Tây và Tây Nam có các dãy núi thấp và trung bình được cấu tạobằng các loại đá Trầm Tích và biến chất màu đỏ có kết cấu hạt mịn, tuổi Jura-creta
Từ trung tâm xã Xuân Sơn (theo hướng Tây Bắc) có dãy núi đá vôikhá cao, cao nhất có đỉnh 1200 m Đá vôi có màu trắng xám, cấu tạo khối.Trong dãy núi đá vôi này thường gặp các thung tròn có nước chảy trên mặtnhư thung làng Lạng, làng Dù, làng Lấp,… Các thung được lấp đầy các tàntích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm Những thung biến thành cácđồng dạng này khá rộng và trở thành các cánh đồng phù sa màu mỡ
3.1.5.2 Thổ nhưỡng
Được hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địahình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hóa khí hậu,thủy văn đa dạng và phong phú,… nên có nhiều loại đất được tạo thành trongkhu vực này:
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FH): Được hình thành trong
điều kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầngmùn dày, tỷ lệ mùn cao 8 - 10% Phân bố từ 700 – 1386 m, tập trung phía Tâycủa khu vực, giáp huyện Đà Bắc (Hòa Bình) và Phú Yên (Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi núi thấp (F): Là loại đất
có quá trình Feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá
Trang 22mẹ và độ ẩm của đất Phân bố dưới 700 m thành phần cơ giới nặng, tầng đấtdầy, ít đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loài cây rừng phát triển.
- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) - R: Đá vôi
là loại đá cứng, khó phong hóa, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hóa đếnđâu lại bị rửa trôi đến đó, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núiđá
- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa thung lũng (DL):
Là loại đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon(L) Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.1 Đặc điểm dân cư
Trong VQG Xuân Sơn có 10 xóm gồm: Cỏi, Lấp, Dù, Lạng, Lùng,Mằng (thuộc xã Xuân Sơn); Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng (thuộc xã KimThượng)
Các xóm này phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất,
ở độ cao từ 200 – 400 m so với mực nước biển, tập trung phần lớn ở phíaĐông, 1 phần ở phía Bắc và phía Nam của VQG
3.2.2 Đặc điểm dân tộc
Dân cư của các xóm này chủ yếu là 2 dân tộc: Dao (Mán) chiếm65,42% dân số và Mường chiếm 34,43% dân số, chỉ có 4 khẩu người Kinhsinh sống tại khu vực này
3.2.3 Đời sống sinh hoạt
Theo các chỉ tiêu phân loại hộ gia đình quốc gia, toàn bộ các hộ giađình trong VQG được xếp vào loại nghèo đói Thu nhập bình quân các hộ giađình chưa đạt 700000 đ/năm
Điều kiện sinh hoạt trong các hộ gia đình hết sức đơn giản, hiện nay chỉ
có khoảng 30% hộ có thủy điện nhỏ thắp sáng, 5% hộ có tivi Tuy sống gầnrừng có nhiều loại gỗ quý nhưng người dân chưa biết tận dụng nên cuộc sống
Trang 23vẫn rất khó khăn, tạm bợ Hầu hết các hộ gia đình thiều lương thực từ 1 thángtrở lên.
3.3 Đặc điểm tài nguyên rừng và sản xuất lâm nghiệp
3.3.1 Đặc điểm tài nguyên rừng
VQG Xuân Sơn có nhiều sinh cảnh độc đáo, bao gồm: Rừng nhiệt đớithường xanh còn mang tính nguyên sinh ít bị tác động, phân bố trên núi đất vànúi đá vôi vùng thấp, rừng á nhiệt đới ít bị tác động trên núi đất và núi đá vôi,rừng thứ sinh nhiệt đới và á nhiệt đới, trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ, hệ sinh tháinương rẫy, hệ sinh thái đồng ruộng và dân cư Đặc biệt là trong khu vực còntồn tại 2432 ha rừng trên núi đá vôi, trong đó có 883 ha phân bố ở độ cao trên
Thành phần thực vật ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn cho thấy có đủ cácyếu tố thực vật có liên quan đến khu hệ thực vật Việt Nam - Nam Trung Hoagồm các đại diện tiêu biều là các cây trong họ Dẻ, họ Re, họ Xoan, họ NgọcLan,… Đây là yếu tố chiếm ưu thế trong hệ thực vật ở VQG Xuân Sơn Ngoài
ra còn có các luồng thực vật di cư khác
Luồng di cư thứ nhất, từ phía Nam đi lên là luồng các yếu tố Malaixia-Indonesia trong đó họ Dầu là họ tiêu biểu với 6 loài: Chò nâu, Chò chỉ, Saotrung hoa, Táu nước, Táu lá duối, Táu muối đều là những loài họ Dầu di cưlên phía Bắc
Luồng thứ 2, từ phía Tây Bắc đi xuống bao gồm các yếu tố vùng ôn đớitheo vĩ độ Vân Nam - Quý Châu và chân dãy núi Himalaya Trong đó, có các
Trang 24loài cây ngành Thông, họ Đỗ Xuyên và các loài cây lá rộng rụng lá họ Dẻ, họThích.
Luồng thứ 3, từ phía Tây và Tây Nam lại, là luồng các yếu tố Indonesia
- Malaysia của vùng khô hạn Ấn độ - Miến điện, tiêu biểu là một số loài rụng
cũ, thì đợt khảo sát năm 2003 đã bổ sung 70 loài chim, 8 loài thú và một sốloài lưỡng cư, bò sát cho thành phần động vật của VQG Xuân Sơn
- Sơ bộ đánh giá tình trạng nguồn lợi:
Nhìn chung, tình trạng nguồn lợi động vật rừng tương đối nghèo Cótới 7 loài gần như đã rơi vào tình trạng bị tiêu diệt ở Xuân Sơn, đó là: Vượnđen tuyền, Hồng hoàng, Voọc má bạc, Nai, Cheo cheo, Hổ, Báo hoa mai.Những loài có giá trị kinh tế khác đều ở cấp mức độ thấp: Rùa, Kỳ đà, Trăn
và các loài rắn có giá trị thương mại hoặc dược liệu, đều đã trở lên hiếm Cókhoảng 50 loài ở cấp mật độ cao, phần lớn là những loài chim nhỏ thuộc họChim chích, chim sâu, các loài chim sẻ, một số thuộc những loài bò sát, lưỡngcư
3.3.2 Tình hình sản xuất Lâm nghiệp
Trong khu vực không có Lâm trường và không phải là vùng rừng sảnxuất, bởi vậy sản xuất lâm nghiệp ở đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tựphát của người dân
Trước đây, lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng là gỗ, các loàiđộng vật, phục vụ làm nhà và làm thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hóa Từkhi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên, hiện tượng khai thác gỗ đã giảm dần.Các sản phẩm lâm nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật Ong, Song mây,
Trang 25Sa nhân, lá Cọ, các loài cây thuốc,… Tuy nhiên, trong quá trình thu hái không
có định mức nên các nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm
Trong năm 2001, một số hộ gia đình đã được nhận đất rừng nhưng đãnhượng lại cho Lâm trường trồng rừng Keo lai làm gỗ nguyên liệu Diện tíchrừng này tuy không lớn nhưng ban quản lý VQG Xuân Sơn cần có giải phápthu hồi và đền bù cho Lâm trường để tiếp tục tiến hành trồng rừng cây bảnđịa
Ngoài ra, người dân xã Xuân Sơn còn tham gia trồng rừng, bảo vệ rừngbằng cây bản địa do Ban quản lý VQG triển khai Hiện nay, mỗi xã kể cảvùng lõi và vùng đệm đều có một cán bộ lâm nghiệp xã hoạt động với Banquản lý thực thi công tác theo dõi, quản lý, bảo vệ rừng
3.4 Các chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay trong khu vực đã có một số dự án phát triển kinh tế, xã hội.Các dự án này tập trung vào y tế, giáo dục, giao thông làm hệ thống nướcsạch
Biểu 3.1:Các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở VQG Xuân Sơn
Tên dự án Nơi thực hiện Nội dung Thời gian
Dự án 135 Huyện Thanh Sơn
Xây trường trung tâm xã
Nước sạch cho các xómCỏi, Lấp, Dù, lớp họccho xóm Lấp
2000-2002
Các dự án này đã đem lại hiệu quả khá rõ nét về phát triển kinh tế - xãhội Một số dự án gắn phát triển kinh tế với bảo tồn như dự án 661, dự án làm
Trang 26đường Trong quá trình xây dựng và thực hiện dự án, các đơn vị đã kết hợpvới công tác tuyên truyền bảo tồn tài nguyên của VQG Xuân Sơn tới đồngbào dân tộc Tuy nhiên các dự án này được đầu tư nhỏ lẻ, chưa đồng bộ, chưa
thực sự gắn liền với công tác bảo tồn tài nguyên của VQG Xuân Sơn
Chương 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 274.1 Một số đặc điểm tầng cây cao
Qua khảo sát thực địa tại vùng đệm VQG Xuân Sơn kết hợp với việcdựa vào hệ thống phân loại của Loetschau (1960) tôi đã xác định được 3 trạngthái cần nghiên cứu: IIA, IIB, IIIA1 Kết quả điều tra tính toán chỉ dừng lại ởviệc phân tích cấu trúc tổ thành và tính toán một số chỉ tiêu sinh trưởng tầngcây cao, cụ thể như sau
4.1.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Tổ thành rừng là nhân tố rất quan trọng trong cấu trúc lâm phần, tổthành phản ánh thành phần các loài cây tham gia vào kết cấu của tầng rừng vàđược thể hiện qua công thức tổ thành Tổ thành rừng biểu thị tỷ trọng của mộtloài hay một nhóm loài cây nào đó chiếm trong lâm phần Tổ thành rừng làchỉ tiêu dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bềnvững của hệ sinh thái Cấu trúc tổ thành là cơ sở để định hướng cho các biệnpháp kinh doanh lợi dụng rừng Vì vậy, việc nghiên cứu cấu trúc tổ thànhrừng được xem như một công việc quan trọng hàng đầu trong quá trìnhnghiên cứu cấu trúc rừng nói chung và là cơ sở để đề xuất các giải pháp kỹthuật lâm sinh trong công tác phục hồi rừng
Khi nghiên cứu cấu trúc tổ thành, chỉ tiêu biểu thị mức độ tham gia củatừng loài cây trong lâm phần gọi là hệ số tổ thành loài Tập hợp hệ số tổ thànhcủa các loài cây trong lâm phần tạo thành công thức tổ thành của lâm phần
đó Về bản chất, công thức tổ thành có ý nghĩa sinh học sâu sắc, phản ánh mốiquan hệ qua lại giữa các loài cây trong một quần xã thực vật và mối quan hệgiữa quần xã thực vật với điều kiện lập địa
Đề tài sử dụng chỉ số IV% (Important value) của Daniel Marmilod đểbiểu thị hệ số tổ thành Kết quả được thể hiện trong biểu 4.1
Biểu 4.1: Tổ thành tầng cây cao theo chỉ số IV của khu vực nghiên cứu
Trạng OTC Số cây Số loài Công thức tổ thành tầng cây cao
Trang 2816,12GT + 13,74VR + 10,09VS + 9,44Ch + 8,4TrĐG + 7,53QR + 5,69ChV – 28,99LK
18,96CT + 13,11ThM + 8,16MĐ + 8,4GN + 6,07DC + 5,45BQ + 5,17S – 34,68LK
Mò lá dài, LV: Lộc vừng, XGlt: Xương gà lá to, SN: Sảng nhung, GT: Gộitrắng, VR: Vải rừng, VS: Vỏ sạn, Ch: Chò chỉ, TrĐG: Trọng đũa gỗ, QR: Quếrừng, ChV: Chìa vôi, CT: Côm tầng, ThM: Thừng mực, MĐ: Mán đỉa, GN:Gội nếp, BQ: Bồ quân, S: Sưa, VA: Vàng anh, S: Sâng, NTr: Nang trứng,
Trang 29QT: Quyếch tía, ChX: Chắp xanh, KhN: Kháo nước, CL: Cà lồ, D: Dẻ, TrĐ:Trám đen, GiB: Giổi bà, LM: Lòng mang, MX: Mỡ xanh, S: Sấu, LK: Loàikhác.
Qua biểu 4.1 cho thấy:
Ở trạng thái IIA: Mật độ tầng cây cao biến động từ 450 đến 520 cây/ha,với số lượng loài tương đối đa dạng dao động từ 18 đến 22 loài Trong đó, có
6 loài tham gia công thức tổ thành, tỷ lệ tổ thành của các loài tham gia vàocông thức tổ thành biến động từ 60,1 đến 66,7%, bao gồm những loài câythích nghi tốt với điều kiện khí hậu và đất đai của nơi đây
Trong nhóm loài cây tham gia vào công thức tổ thành của trạng tháiIIA, chỉ có một số loài chiếm tỷ lệ cao như: Dẻ cau, Vừ vàng, Sồi phảng,Trám trắng, Thị rừng, Giổi xanh Bên cạnh đó còn những loài tham gia côngthức tổ thành nhưng với hệ số tổ thành không cao như: Săng mây, Ngát, Máuchó lá nhỏ, Xoan đào, Re gừng, Re xanh, Cà phê rừng, Vừ xơ, Dẻ cau, Táumật Đây là những loài cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, báo hiệu khả năngphục hồi của rừng, lấp kín những khoảng trống và là thành phần không thểthiếu trong hệ sinh thái rừng phục hồi Trong công thức tổ thành, ta thấy cómột số loài cây có giá trị như: Dẻ, Trám, Máu chó, Táu, Re, với tỷ lệ tổ thànhtương đối cao Bên cạnh đó là các loài cây kém giá trị như: Ngát, Vừ, Xoan,Thị, Vì vậy, một yêu cầu quan trọng đặt ra là trong quá trình nuôi dưỡng,làm giàu rừng cần có biện pháp điều tiết lại mật độ, bài chặt bớt những loàicây kém giá trị, tạo điều kiện cho những loài cây có giá trị sinh trưởng, pháttriển tốt
Trạng thái IIB: Mật độ tầng cây cao ở trạng thái này cao hơn ở trạngthái IIA do đã trải qua giai đoạn phục hồi IIA, mật độ dao động từ 550 đến
630 cây/ha Số lượng loài cũng đa dạng biến động từ 19 đến 26 loài, số lượngloài giữa các OTC có sự biến động lớn với khoảng 6 đến 7 loài tham gia vàocông thức tổ thành Tỷ lệ tổ thành của nhóm loài tham gia công thức tổ thànhđạt từ 65,32 đến 71,01% Trong công thức tổ thành những loài chiếm tỷ lệ cao
Trang 30gồm: Trường mật, Lộc vừng, Xương gà lá to, Gội trắng, Vải rừng, Vỏ sạn,Côm tầng, Thừng mực Nhóm loài có giá trị như: Chò chỉ, Máu chó, Sưa, Dẻcau có tỷ lệ tổ thành từ 5,17 đến 9,44% Trong công thức tổ thành còn nhiềuloài nữa như: Mò lá dài, Trọng đũa gỗ, Quýt rừng, Chìa vôi, Bồ quân, Mánđỉa…đây là những loài ít có giá trị nhưng góp phần tạo nên sự đa dạng củakhu rừng phục hồi Sự cần thiết là phải điều chỉnh tổ thành cây cao sao cho tỷ
lệ cây có giá trị tăng lên, giảm mật độ cây kém giá trị tạo không gian dinhdưỡng và ánh sáng cho các loài cây có giá trị sinh trưởng và phát triển thuậnlợi đáp ứng mục tiêu phòng hộ lâu dài
Trạng thái IIIA1: Mật độ tầng cây cao ở trạng thái này cao hơn và biếnđộng qua các OTC lớn hơn ở hai trạng thái IIA và IIB, mật độ từ 520 đến 710cây/ha Số lượng loài cây trong các OTC có từ 24 đến 26 loài, điều này chothấy mức độ đa dạng loài của trạng thái này là tương đối cao Số loài tham giatrong công thức tổ thành là 6 loài Tỷ lệ tổ thành của nhóm loài tham gia côngthức tổ thành là từ 65,36 đến 79,96% Do rừng đã qua khai thác chọn kiệt nên
đa số gồm những loài kém giá trị như: Vàng anh, Nang trứng, Vải rừng, Càlồ…chiếm tỷ lệ rất cao Còn lại là một số những loài có giá trị như: Re gừng,
Mỡ xanh, Máu chó với phẩm chất xấu Vì vậy, cũng giống như ở hai trạngthái trước các biện pháp tác động cần thiết với trạng thái này là điều chỉnh lại
tổ thành và mật độ, đồng thời loại bỏ bớt những cây xấu
Nói chung, qua biểu 4.2 cho thấy sự đa dạng về số loài cây ở cả 3 trạngthái IIA, IIB và IIIA1, tuy nhiên số loài tham gia vào công thức tổ thành lạikhông nhiều, chỉ dao động từ 6 đến 7 loài, với tỷ lệ tổ thành dao động trongkhoảng từ 46,35 đến 75,15% Trong các OTC ở các trạng thái ít có sự trùnglặp về loài, chứng minh sự đa dạng về loài của các trạng thái Trong các trạngthái nhóm loài cây có hệ số tổ thành cao gồm: Dẻ, Máu chó, Sồi phảng, Trám,
Vừ, Vàng anh, Cà lồ, Ngát, Sảng nhung, Nang trứng, Thị rừng, Trường mật,Giổi, Mỡ, Lòng mang, Thừng mực, Gội, Vải rừng, Chò, Côm,… Trong đó cócác loài có giá trị như: Dẻ, Máu chó, Re, Chò, Thừng mực, Giổi, Mỡ, Trám
Trang 31chiếm tỷ lệ tổ thành tương đối cao, còn lại là nhóm loài cây kém giá trị cũng
có mặt rất đông Qua đó, biện pháp tác động chủ yếu ở cả ba trạng thái là chặt
bớt những loài cây ít giá trị và cây phẩm chất xấu, trồng thêm những loài cây
có giá trị, tạo điều kiện về ánh sáng, dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, phát
triển tốt, đáp ứng mục tiêu phòng hộ và phát triển bền vững Điều này cũng có
tác dụng cho tầng cây tái sinh sinh trưởng, giúp cây mẹ gieo giống tốt, làm
tăng lượng cây tái sinh tại chỗ
4.1.2.Đặc điểm sinh trưởng tầng cây cao
Đề tài kết hợp một số chỉ tiêu định lượng về đường kính, tổng tiết diện
ngang và trữ lượng với việc mô tả trực tiếp kiểu trạng thái trong quá trình
điều tra ngoài thực địa để nhận biết các kiểu trạng thái nghiên cứu Qua
nghiên cứu cho thấy tầng cây cao của 3 trạng thái rừng IIA, IIB, IIIA1 tại
vùng đệm VQG Xuân Sơn có những đặc điểm cơ bản sau:
Biểu 4.2: Một số chỉ tiêu sinh trưởng tầng cây cao của 3 trạng thái
Trang 32m3/ha Mật độ trung bình cây tầng cao tại trạng thái này là khoảng 486 cây/ha,
ít nhất trong 3 trạng thái nghiên cứu
Trạng thái IIB: Đã qua giai đoạn phục hồi IIA, gồm những cây tiênphong, ưa sáng, mọc nhanh, rừng đã có trữ lượng Đường kính bình quân vàokhoảng 12,31 – 13 cm Tổng tiết diện ngang từ 7,3 – 8,28 m2/ha Trữ lượng từ40,56 – 51,04 m3/ha Mật độ trung bình vào khoảng 616 cây/ha
Trạng thái IIIA1: Rừng qua khai thác chọn kiệt, tán rừng bị phá vỡ,hoàn cảnh rừng cũng như cấu trúc trước đây của rừng đã bị thay đổi, rừng códây leo bụi rậm và tre nứa xâm lấn Đường kính bình quân từ 15,38 – 17,67
cm Tổng tiết diện ngang từ 11,88 – 15,34 m2/ha Trữ lượng từ 79,05 – 96,08
m3/ha Mật độ trung bình cây tầng cao của trạng thái IIIA1 là 623 cây/ha Nhưvậy trạng thái này có mật độ tầng cây cao cao nhất trong 3 trạng thái nghiêncứu
4.2 Một số đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên phục hồi
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinhthái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện của một thế hệ
Trang 33cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng Tái sinh thúcđẩy cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục, đảm bảocho phát triển rừng bền vững Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm tái sinh là cầnthiết, nó vừa có ý nghĩa lý luận, vừa là cơ sở khoa học cho việc đề xuất cácgiải pháp kỹ thuật nhằm xúc tiến tái sinh rừng theo hướng sử dụng rừng bềnvững.
4.2.1 Tổ thành loài cây tái sinh
Tổ thành cây tái sinh sẽ là tổ thành rừng trong tương lai nếu như điềukiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của các cây thân gỗ tái sinh Từnhững kết quả nghiên cứu về tổ thành cây tái sinh, có thể dự đoán và đánh giáđược tình hình rừng kế cận, do tính kế thừa giữa các thế hệ của các loài câyrừng Vì vậy, biết được tổ thành cây tái sinh có thể đề xuất các giải pháp kỹthuật tác động nhằm điều chỉnh tổ thành một cách hợp lý theo hướng có lợinhất cho mục đích kinh doanh rừng
Kết quả nghiên cứu tổ thành cây tái sinh từ 45 ODB (25m2/ô) phân bốđều trên 9 OTC điển hình cho 3 trạng thái rừng IIA, IIB và IIIA1 tại vùngđệm VQG Xuân Sơn được thể hiện trong biểu 4.3
Biểu 4.3: Tổ thành cây tái sinh
Số loài Công thức tổ thành
0,78ChT + 0,69ChR + 0,69TM +
Trang 340,69ThR + 0,69VV + 0,6XĐ – 2,32LK
1,62RG + 1,08SP + 0,85TrT + 0,69XĐ+ 0,69TM + 0,46MS + 0,46VV – 4,15LK
1,04ThR + 0,96RX + 0,72Ng + 0,72CPhR + 0,64VX + 0,48X + 0,48SM + 0,4RR + 0,4VLL + 0,32ChN+ 0,32LXe + 0,32QĐ + 0,32ChT + 0,32TM – 2,56LK
IIB
0,99TrM + 0,86MLD + 0,73LV + 0,6SN + 0,53XGLT + 0,53TrĐG + 0,46GĐ + 0,4SP – 4,9LK
1,35Ch + 1,03VR + 0,79GT + 0,79VS + 0,56TrT + 0,56ChV + 0,56SN + 0,47SP + 0,4DC + 0,4MLN – 3,56LK
1,17CL + 0,94MC + 0,67S + 0,56KhN + 0,5Tr + 0,39GiB + 0,39D +
0,33ChM + 0,33ChĐ + 0,33TrĐ + 0,28TrQT + 0,28B – 3,83LK
1,26M + 0,75LM + 0,57S + 0,4RG + 0,34GiB + 0,34ThR + 0,34VĐ + 0,34R+ 0,34KhN + 0,34SM – 4,98LK
Ghi chú: DC: Dẻ cau, RRX: Ràng ràng xanh, SM: Săng mây, ChT: Chẹo tía,ChR: Chè rừng, TM: Táu mật, ThR: Thị rừng, VV: Vừ vàng, XĐ: Xoan đào,RG: Re gừng, SP: Sồi phảng, TrT: Trám trắng, MS: Mạ Sưa, RX: Re xanh,Ng: Ngát, CPh: Cà phê rừng, VX: Vừ Xơ, X: Xoay, RR: Roi rừng, VLL: Vừ
lá lông, ChN: Chò nâu, LXe: Lim xẹt, QĐ: Quế đất, TrM: Trường mật, MLD:
Mò lá dài, LV: Lộc vừng, SN: Sảng nhung, XGlt: Xương gà lá to, TrĐG:
Trang 35Trọng đũa gỗ, GĐ: Gội đen, Ch: Chò chỉ, VR: Vải rừng, GT: Gội trắng, VS:
Vỏ sạn, ChV: Chìa vôi, MLN: Mò lá nhỏ, CT: Côm tầng, ThM: Thừng mực,B: Bứa, DB: Da bò, MĐ: Mán đỉa, VA: Vàng anh, NTr: Nang trứng, S: Sâng,Nh: Nhọc, QT: Quyếch tía, ChX: Chắp xanh, Tr: Trường, TN: Táu nước, VĐ:Vải đốm, MX: Mật xạ, NhV: Nhò vàng, CL: Cà lồ, MC: Máu chó, S: Sâng,KhN: Kháo nước, GiB: Giổi bà, D: Dẻ, ChM: Chòi mòi, ChĐ: Chè đắng,TrĐ: Trám đen, TrQT: Trắc quả tròn, M: Mỡ, LM: Lòng mang, S: Sấu, R:Ruối, LK: Loài khác
Qua kết quả biểu 4.3 cho thấy:
Mật độ tái sinh của 3 trạng thái dao động từ 9280 – 15120 cây/ha Vìvậy, mật độ tái sinh là tương đối cao Mật độ tái sinh thấp nhất ở OTC1 củatrạng thái IIA (9280 cây/ha) tăng dần lên ở trạng thái IIB và cao nhất ở OTC1của trạng thái IIIA1 (15120 cây/ha)
Trạng thái IIA: Số loài cây tái sinh trong các OTC dao động từ 18 đến
31 loài, với số lượng loài khá lớn và phạm vi biến động của nó giữa các OTCcũng lớn cho thấy thành phần loài cây tái sinh ở trạng thái này khá đa dạng.Trong công thức tổ thành có từ 7 đến 14 loài tham gia vào công thức tổ thành,chiếm tỷ lệ tổ thành từ 5,85 đến 7,68 Tuy nhiên, hệ số tổ thành của từng loàilại thấp do có nhiều loài tham gia vào công thức tổ thành (ô3 có đến 14 loàitham gia vào công thức tổ thành) Trong công thức tổ thành không có loài nàovượt trội, cao nhất mới chỉ đạt hệ số tổ thành là 1,62 Trong trạng thái IIA cóbao gồm những loài có giá trị như: Dẻ cau, Chẹo, Re gừng, Trám trắng chiếm
tỷ lệ tổ thành tương đối cao trong công thức tổ thành, còn lại phần lớn lànhững loài cây kém giá trị như: Ngát, Chè rừng, Thị rừng, Cà fê rừng, Vừ,Xoan đào, Mạ xưa, Roi rừng…Trong 3 OTC của trạng thái IIA ít có sự lặp lạicủa các loài cây, chỉ có một số loài xuất hiện ở 2 OTC như Xoan đào, Chẹotía, Săng mây Sự sai khác về thành phần loài giữa các OTC của cùng mộttrạng thái như vậy cho thấy sự đa dạng về thành phần loài trong lâm phầnrừng nghiên cứu Biện pháp tác động cần thiết cho tầng cây tái sinh trạng thái