LỜI CẢM ƠN Sau thời gian học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp, đến nay khóa học 20072011 đã bước vào giai đoạn cuối. Để củng cố kiến thức đồng thời rèn luyện khả năng nghiên cứu khoa học, được sự cho phép của khoa Lâm học – Trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS. Phạm Thị Huyền và cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng, em thực hiện khóa luận: “ Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng loài Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội ” Đến nay khóa luận đã hoàn thành, nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô Phạm Thị Huyền và Nguyễn Thị Thu Hằng đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm và kiến thức trong suốt quá trình làm khóa luận. Đồng thời, em xin cảm ơn cán bộ tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em điều tra, thu thập số liệu. Trong quá trình làm khóa luận do thời gian có hạn, trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu còn non yếu nên bản khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô và các bạn để bản khóa luận thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA LÂM HỌC
-
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
LOÀI KEO LAI (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) TẠI TRẠM
THỰC NGHIỆM GIỐNG CÂY RỪNG BA VÌ – HÀ NỘI
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 301
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phạm Thị Huyền
Th.S Nguyễn Thị Thu Hằng Sinh viên thực hiện: Chu Văn Tiệp – 52C Lâm Học Khóa học: 2007 – 2011
Hà Nội, 2011
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Sau thời gian học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp, đến nay khóa học2007-2011 đã bước vào giai đoạn cuối Để củng cố kiến thức đồng thời rèn luyện khả năng nghiên cứu khoa học, được sự cho phép của khoa Lâm học – Trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS Phạm Thị Huyền và cô giáo ThS Nguyễn Thị Thu Hằng, em thực hiện khóa luận:
“ Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng loài Keo lai
(Acacia mangium x Acacia auriculiformis) tại Trạm thực nghiệm giống
cây rừng Ba Vì – Hà Nội ”
Đến nay khóa luận đã hoàn thành, nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết
ơn đến cô Phạm Thị Huyền và Nguyễn Thị Thu Hằng đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm và kiến thức trong suốt quá trình làm khóa luận Đồng thời, em xin cảm ơn cán bộ tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng
Ba Vì – Hà Nội đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em điều tra, thu thập số liệu
Trong quá trình làm khóa luận do thời gian có hạn, trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu còn non yếu nên bản khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô
và các bạn để bản khóa luận thêm hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
CHU VĂN TIỆP
KIỆU MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3- Cách viết các dòng Keo lai
BV10 và BV16 : Là các dòng Keo lai tự nhiên được phát hiện tại Ba Vì – Hà
Nội, là giống quốc gia
BV32 : Dòng Keo lai tự nhiên được phát hiện tại Ba Vì – Hà Nội, là giống tiến bộ kĩ thuật
- Cách viết các công thức thí nghiệm bón thúc
- Ct1 : 100g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%)
- Ct2 : 200g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%)
- Ct3 : 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%)
- Ct4 : 400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%)
- Ct5 : 500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%)
- Ct6 : Công thức đối chứng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 4Phân bón cung cấp nhiều nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho thực vật
và bón phân hợp lý có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao sức chốngchịu, tăng khả năng sinh trưởng đối với rừng trồng Khi phối hợp bón các loạiphân bón hợp lý sẽ xúc tiến sự trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng sinhtrưởng phát triển của cây rừng Trong trồng rừng điều mong muốn là tăng khảnăng sinh trưởng, chất lượng cây rừng trong những năm đầu để thúc đẩy sinhtrưởng trong những năm tiếp theo Vì vậy, biện pháp kĩ thuật bón phân là yếu
tố quan trọng trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng rừng để đạt được thànhcông của công tác trồng rừng
Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), đây là loài có đặc tính sinh vật học và
sinh thái học ưu việt hơn một số loài cây trồng rừng khác: sinh trưởng nhanh,biên độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với nhiều loại đất, điều kiện lậpđịa khác nhau, có khả năng cải tạo đất, cải tạo môi sinh, có khả năng đảm bảothành công trong rừng trồng và tạo ra vùng trồng nguyên liệu lớn, tập trungtrong công nghiệp
Trong vài thập kỉ gần đây, nước ta phát triển rừng trồng keo lai ồ ạt,chưa đầu tư kinh phí thích đáng cho việc chăm sóc với đúng quy trình thâmcanh nên ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng rừng trồng keo lai Biệnpháp kĩ thuật bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật mũi nhọn nhằmthúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng của rừng Tuy nhiên để đảm bảo bón phân cóhiệu quả cần chú ý đến đặc điểm sinh học của loài bởi vì mỗi loài thực vậtkhác nhau có nhu cầu về hàm lượng dinh dưỡng khác nhau Do vậy, cần xemxét về nhân tố đất nơi trồng các loài để lựa chọn loại phân bón và liều lượngbón phù hợp cho cây Nếu không hiểu được nhu cầu dinh dưỡng của từng loàicây thì mặc dù đã cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây nhưng cây vẫn không sửdụng được Như vậy, vừa gây lãng phí công sức và tiền vốn mà cây lại thiếudinh dưỡng, sinh trưởng kém Mặt khác, hiện nay trên thị trường có rất nhiều
Trang 5loại phân bón khác nhau nhưng cũng không phải loại phân bón nào cũng tốtcho cây rừng.
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới sinh trưởng của câykeo lai với mong muốn làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp kĩ thuật bónphân phù hợp cho loài Keo lai nhằm làm cơ sở khoa học xác định loại phânbón, liều lượng bón, kĩ thuật bón phân phù hợp để Keo lai sinh trưởng và pháttriển tốt đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng Với ý nghĩa như vậy
tôi thực hiện đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng
loài Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) tại Trạm thực
nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội ”
Trang 6Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng phân bón đến cây trồng
1.1.1 Trên thế giới
- 1974: Polster, Fidler, Lir đã có kết luận sinh trưởng của cây thân gỗ phụthuộc vào sự hút các nguyên tố khoáng từ đất Trong suốt quá trình sinh trưởng,
sự hút đó phụ thuộc vào độ dự trữ và mức độ dễ tan của chúng trong đất
- Prianitnikov, 1964 đã nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến thựcvật và nêu rõ phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng vàphát triển tốt, đối với từng loài cây cần có những nghiên cứu cụ thể tránh sựlãng phí phân bón không cần thiết,
- Turbitxki, 1963 đã khẳng định các biện pháp bón phân sẽ được hoànthiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu của cây, đặc điểmcủa đất và loại phân bón
- Kali là một nguyên tố khoáng đa lượng rất cần cho cây con gieo ươm
để giúp cây sinh trưởng tốt và tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợicủa môi trường Trong giai đoạn cây mới gieo ươm sự sinh trưởng của các cơquan bắt đầu, các tế bào trẻ mới hình thành dễ bị tổn thương bởi các điều kiệnbất lợi từ môi trường Mặt khác kali tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triểncủa bộ rễ, làm cho cây cứng cáp tăng sức đề kháng của cây, giảm quá trìnhthoát hơi nước và điều hòa quá trình sống làm cho cây khỏe mạnh (AndreGrro, 1967)
Theo giáo sư Pratuer: để nhận được sản lượng theo dự kiến trong việc
sử dụng có định hướng và tiếp kiệm hơn nguồn phân bón, một cách làm thỏamãn nhu cầu thay đổi của cây về dinh dưỡng trong các giai đoạn sinh trưởngkhác nhau của chúng, mặt khác phải sử dụng hợp lý độ phì tự nhiên của đất
Trang 7D N Prianhishnhkov cho rằng trong việc nâng cao thu hoạch cây trồng50% phụ thuộc phân bón, 25% do chọn giống và 25% do kĩ thuật.
1.1.2 Tại Việt Nam
Nước ta có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến sinhtrưởng của cây rừng như:
- Từ năm 1985-1988 trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Ngọc Lạc – ThanhHóa thực hiện đề tài: “Thâm canh rừng Luồng lấy măng xuất khẩu” do kĩ sưTrịnh Đức Trình thực hiện
- Năm 1986 – 1988, trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Thanh Hóa nghiêncứu đề tài “Biện pháp chăm sóc và khai thác rừng luồng” do kỹ sư NguyễnThị The làm chủ nhiệm
- Tỉnh Bắc Giang, tỉnh Phú Thọ cũng đã đầu tư rất lớn về phân bónNPK, phân chuồng cho trồng thâm canh loài tre ngọt
- Nguyễn Minh Đường, 1986 khi nghiên cứu chế độ phân bón cho một
số loài đã kết luận: Cây sử dụng chất dinh dưỡng, nước trong đất thông qua hệ
rễ, mức độ yêu cầu về số lượng, chủng loại không giống nhau mà phụ thuộcvào loài cây và thời kì sinh trưởng
- Trương Thị Thảo từ năm 1989 trong luận án Tiến sĩ “Ảnh hưởng củadinh dưỡng N.P.K đến chất lượng cây ươm Thông nhựa” đã tìm ra công thứcphân bón ảnh hưởng tốt nhất đến chất lượng cây con Thông nhựa giai đoạnvườn ươm
- Nguyễn Thị Mừng, năm 1997 trong luận án Thạc sĩ nghiên cứu ảnhhưởng của tỷ lệ che bóng, hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây Cẩm lai tronggiai đoạn vườn ươm ở Kontum đã tìm công thức bón phân tốt nhất cho sinhtrưởng cây con Cẩm lai giai đoạn vườn ươm là công thức: 79% đất vườn ươm+ 18% phân chuồng + 0.5% N + 2% P + 0.5% K và 80% đất vườn ươm +15% phân chuồng + 1% N + 3% P + 1% K
Trang 8- Phạm Thị Quyên, 2003 đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số côngthức phân bón đến sinh trưởng rừng Luồng, đưa ra biện pháp có ảnh hưởnglớn đến sinh trưởng phát triển của rừng Luồng
- Theo Lê Văn Khoa và cộng sự (1996), cây trồng hút dinh dưỡng trongphân chuồng hữu cơ chậm hơn phân khoáng, nhưng nếu chỉ nhìn trước mắtthì thấy phân khoáng tham gia vào năng suất cây trồng nhiều hơn, còn phânchuồng thì cung cấp dần chất dinh dưỡng cho cây và cung cấp trong một thờigian dài, tổng số chất dinh dưỡng mà phân chuồng cung cấp cho cây trồng làrất lớn
- Công trình nghiên cứu Hoàng Văn Dũng (1996) thử nghiệm về bónlót các loại phân bón hữu cơ và vô cơ với các tỉ lệ khác nhau cho cây Bầnchua ở giai đoạn vườn ươm
Riêng với loài Keo lai được trồng thử nghiệm ở nhiều nơi nhưng chưa cónhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ phân bón đến sinhtrưởng của cây Keo lai trong những năm đầu trồng rừng Vì vậy khóa luận thựchiện với mong muốn góp phần đề xuất chế độ phân bón phù hợp với loài Keolai để thúc đẩy sinh trưởng rừng trồng trong những năm đầu nhằm nâng caonăng suất chất lượng rừng trồng
1.2 Lược sử nghiên cứu về cây Keo lai
1.2.1 Trên thế giới
Keo (Acacia sp) là một chi thực vật thuộc họ phụ trinh nữ
(Mimosoideae) trong họ đậu (Leguminosae) với khoảng 1200 – 1300 loài,phân bố rộng rãi ở các nước châu Á, châu Đại Dương và cả một số nước châuphi và châu Mỹ (Turnbull, 1987) Riêng ở Australia đã có tới hơn 900 loài(Maslin và McDonad, 1996) Các loài keo Australia có thể tồn tại cả trênvùng bán nhiệt đới ẩm, bán ẩm lẫn các vùng cao nhiệt đới Chính vì thế chúngđược trồng trên 70 nước trên thế giới và che phủ trên diện tích khoảng 2 triệu
ha (Turnbull, J.W và cộng sự, 1998)
Trang 9Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng
(Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Giống lai tự nhiên
này được Messrs Herburn và Shim phát hiện vào đầu năm 1972 trong số cáccây keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabad củaMalysia Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai Đến tháng 7 năm
1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở QueensLand (Australia) được gửi đến từ tháng 1 năm 1977 Ped gley đã xác nhận đó
là giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm
Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tondacủa Papua New Guinea (Turnbull, 1986; Gun et al, 1987; Griffin, 1988), ởmột số nơi khác tại Sabah đã tìm thấy Keo lai ở 12 nơi (Relds và Lapongan,1986) Keo lai cũng được phát hiện ở Thái lan (Kijkar, 1992) Ngoài ra, từnăm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có những nghiên cứu trồng Keo lai từ nuôicấy mô phân sinh, cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm (Umboh et al,1993).Keo lai tự nhiên còn được tìm thấy trong vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống
tù Malaysia) của Trạm nghiên cứu Jon-pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệpĐài Loan (Kiang Teo et al, 1988) và ở khu trồng Keo tai tượng tại QuảngChâu (Trung Quốc)
Theo các nghiên cứu của Rufelds (1986) tại khu Ulukukut thì tỉ lệ câylai là 3-4 cây/ha, còn theo Wong thì 1 cây lai/500 cây keo tai tượng tại nơinghiên cứu này
Trong giai đoạn vườn ươm cây con Keo lai hình thành lá giả sớm hơnKeo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm (Rufeds, 1988) Lá giả đầu tiên củaKeo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 – 5 của cây con, Keo tai tượngthường xuất hiện ở lá thứ 8 – 9 đến 10 – 11 thì lá giả đầu tiên ở Keo laithường xuất hiện ở lá thứ 5 – 6 đến lá 8 – 9 (Gan và Sim Boon Liang, 1991).Ngoài ra, tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Keo laiđược phát hiện ở các tính trạng khác như hoa tự, hoa và hạt (Bowen, 1981) vàthể hiện rõ nhất khi phân tích Peroxydase isozyme, trong khi phổ isozym của
Trang 10Keo tai tượng có 2 vạch ở vị trí 1, 2; Keo lá tràm có 2 vạch ở vị trí 1, 3 thìKeo lai có có 3 vạch ở vị trí 1, 2, 3 (Zakaria, 1993).
Theo thông báo của Tham (1976) thì cây lai thường cao hơn cả hai loài
bố mẹ, song vẫn giữ hình dáng kém của Keo lá tràm Còn theo thông báo củaWong (dẫn từ Pinso và Nasi, 1991 thì trong nhiều trường hợp ở Sabad cây laivẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng), Ông cũng thấy ưu thế lai củaKeo lai thể hiện rất rõ rệt so với các loài keo bố mẹ Đánh giá Keo lai tạiSabad một cách tổng hợp Pinso và Nasi (1991) đã thấy rằng cây lai có thể có
ưu thế lai và có thể bị ảnh hưởng của cả hai yếu tố di truyền lẫn điều kiện lậpđịa Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn xuất xứSabad của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Orimo River(Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queensland, Australia), còn sinhtrưởng của những cây từ đời F2 trở đi thì rất không đều với trị số trung bìnhcòn kém hơn cả Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cànhnhỏ hơn và khả năng tỉa cành khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân cây,hình dạng tán lá và góc phân cành lại kém hơn Keo tai tượng Còn Pinso vàNasi (1991) lại thấy rằng độ thẳng thân cây, đoạn thân dưới cành, độ tròn đềucủa thân… ở cây Keo lai đều tốt hơn các loài keo bố mẹ và cho rằng Keo lairất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại Cây Keo lai còn ưuđiểm là có đỉnh ngọn phát triển tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tốt(Pinyopusarerk, 1990)
Cũng chính vì vậy, Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom(Griffin, 1988), hoặc nuôi cấy mô phân sinh bằng môi trường cơ bản(Murashige và Skooge) và cho ra rễ trong phòng và ở nền cát sông 100% vớikhả năng ra rễ đến hơn 70% (Darus, 1991)
Như vậy, Keo lai đã được phát hiện khá sớm ở Malaysia và Papua NewGuinea và đã có những nghiên cứu một số tính chất cơ bản về hình thái và sinhtrưởng của chúng, cũng như về khả năng nhân giống hom và nuôi cấy mô
Trang 11Tuy vậy, đến trước năm 1996 vẫn chưa có những nghiên cứu tính chấtvật lý và cơ học cũng như về tính chất bột giấy của Keo lai Lại càng chưa cónghiên cứu về phương thức chăm sóc, biện pháp kĩ thuật bón phân cho cácdòng tốt nhất để phát triển vào sản xuất Chính vì vậy, Keo lai được phát hiệnkhá sớm và mặc dầu đã có những ý kiến về phát triển các giống lai này vàosản xuất Song đến trước năm 1996, đến khi có công bố các nghiên cứu củaViêt Nam, vẫn chưa có các nghiên cứu ứng dụng để phát triển các dòng Keolai tốt nhất vào sản xuất.
Lai nhân tạo giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm đã được các nhà khoahọc của Trường Đại học Adelaire, Australia đưa ra và áp dụng ở Malaysia(Sedgley, Harbard, Smith và Wickneswri, 1991; Sedley, Harbard và Smith,1992) Năm 1991 đã có một hội thảo do ACIAR tài trợ về: “Lai giống vàNhân giống keo nhiệt đới Australia” được tổ chức tại Sabad, Malaysia và tạiđây các nhà khoa học đã hướng dẫn cụ thể về phương pháp luận cũng như kỹthuật lai cho hai loài keo trên
1.2.2 Tại Việt Nam
Ở nước ta, Keo lai được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) phát hiện tại Ba Vì – Hà Nội, Tân Tạo – Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác
Các cây lai này đã xuất hiện trong các rừng trồng Keo tai tượng, đượclấy giống từ các khu khảo nghiệm Keo tai tượng trồng cạnh Keo lá tràm tạiĐông Nam Bộ và Ba Vì Vì thế có thể biết mẹ chúng là Keo tai tượng
(Acacia mangium) và bố chúng là Keo lá tràm (Acacia auriculyformis).
Giống lai vùng Ba Vì được lấy từ khu khảo nghiệm giống Keo trồngnăm 1982 tại Lâm trường Ba Vì Cây mẹ là Keo tai tượng, xuất xứ Daintree(thuộc bang Queensland của Australia) ở vĩ độ 16017’N, kinh độ 145031’Đ,với lượng mưa hàng năm khoảng 800 – 1200mm/năm Cây bố là Keo lá tràm,
và xuất xứ Darwin (thuộc bang Northern territory của Australia) có vĩ độ
Trang 1212026’N, kinh độ 132016’Đ, với lượng mưa hàng năm khoảng 1500-1900mm/năm.
Giống lai vùng Đông Nam Bộ được lấy từ khu khảo nghiệm giống keotrồng năm 1984 Cây mẹ là Keo tai tượng xuất xứ Mossman (thuộc bang
mưa hàng năm khoảng 800 – 1200mm Cây bố là Keo lá tràm được đưa vàogây trồng trước đây không rõ xuất xứ hoặc thuộc xuất xứ Oenpelli (thuộcbang Northern Territory của Australia) ở vĩ độ 12020’N, kinh độ 133004’Đ vớilượng mưa hàng năm khoảng 1300 – 1700mm
Như vậy các giống lai ở nước ta dù được phát hiện hoặc lấy giống ởmiền Bắc hay miền Nam về cơ bản đều có cây mẹ thuộc cùng vùng sinh tháigiống nhau, do đó có khả năng phát triển như nhau trên các vùng sinh tháichính ở nước ta Tuy nhiên do đặc điểm sinh trưởng và phát triển riêng biệtcủa chúng nên các giống này có thể có ưu thế lai khác nhau rõ rệt
Ngay sau khi các cây lai được phát hiện đã có những nghiên cứu về cáctính chất của gỗ, các đặc điểm sinh trưởng, sinh thái… của loài cây đầy tiềmnăng này Các nghiên cứu có thể kể đến như: những nghiên cứu đầu tiênnhằm xác định xuất xứ loài cây bố mẹ Tiếp đó là các nghiên cứu về hình tháithân cây con, hình thái lá, quả và một số đặc trưng quan trọng khác như khảnăng cố định đạm cải tạo đất, tiềm năng bột giấy, nhân giống bằng hom vàkhả năng nuôi cấy bằng mô phân sinh, những nghiên cứu về chọn cây trội,khảo nghiệm dòng vô tính Ngoài những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học,sinh thái học cây Keo lai còn được nghiên cứu trên các phương diện khác nhưhiệu quả kinh tế khi gây trồng, đến các biện pháp lâm sinh để giảm thiểu táchại của các loại sâu bệnh hại đến năng suất và chất lượng rừng trồng CâyKeo lai không chỉ được nghiên cứu với tư cách là loài cây trồng rừng theophương thức quảng canh mà còn được nghiên cứu theo hướng thâm canh tăngnăng suất như ảnh hưởng của bón lót đến sinh trưởng của cây, phản ứng củacây giai đoạn mới trồng với các loại phân bón, tiếp theo là các biểu sản phẩm,
Trang 13tuổi thành thục công nghệ đến các biện pháp chuyển đổi mục đích sử dụngđối với các loại rừng trồng thuần loài loại cây này Với sự những nghiên cứukhá đầy đủ nên diện tích trồng Keo lai liên tục được tăng lên trong nhữngnăm gần đây (năm 1995 cả nước mới trồng được 160ha Keo lai thì đến hếtnăm 2004 diện tích trồng Keo lai trong cả nước đã hơn 100.000 ha, riêng năm
2003 đã trồng 46.100 ha), đây cũng là một trong những giống cây trồng chủyếu ở miền Trung và miền Nam nước ta, đặc biệt là ở vùng Đông Nam Bộ
Như vậy, Keo lai sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với các loài cây bố
mẹ, song đây là giống lai tự nhiên nên muốn trồng rừng có năng suất cao phảidùng giống đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận(BV10, BV16, BV32, TB3, TB5, TB6, TB12, KL2) Mặt khác đây là giống
hom hoặc cây mô của những giống đã qua khảo nghiệm Bên cạnh đó việcphương thức trồng và bón phân phù hợp cũng giúp cây Keo lai phát triển tốt,
để đáp ứng việc trồng rừng sản xuất quy mô
Trang 14Phần 2 MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của loài Keo lai làm
cơ sở khoa học xác định loại phân bón, liều lượng bón phù hợp cho Keo laitrồng tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội nhằm thúc đẩysinh trưởng rừng Keo lai và nâng cao năng suất chất lượng rừng
2.2 Giới hạn nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian cũng như điều kiện nghiên cứu nên tôi chỉ nghiêncứu ảnh hưởng của các công thức bón thúc bón lót đến sinh trưởng, chất lượngloài Keo lai và một số tính chất của đất trong những năm đầu trồng rừng
2.3 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu và giới hạn khóa luận xác định một số nội dungchính sau:
2.3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của Keo lai.
2.3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến tỷ lệ sống, chết của keo lai.
2.3.3 Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng cây Keo lai.
2.3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến một số tính chất của đất.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Ngoại nghiệp
2.3.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu
+ Kế thừa các các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu bao gồmcác tài liệu về đặc diểm tự nhiên và các yếu tố tự nhiên khác Tài liệu thu thậptại Trạm và kết hợp với đi khảo sát ngoài thực địa
+ Tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu: Đề tài tham khảo và
kế thừa một số tài liệu từ các khóa luận, luận văn, sách tại Thư viện TrườngĐại học Lâm nghiệp và một số tài liệu tại Trạm giống
+ Lịch sử rừng trồng
2.3.1.2 Điều tra thực địa
* Phương pháp điều tra sinh trưởng của Keo lai trong các công thức thínghiệm
Trang 15- Công thức bố trí thí nghiệm bón phân của Trạm thực nghiệm giống cây rừng
Ba Vì - Hà Nội như sau:
+ Địa điểm: Cẩm Quỳ - Ba Vì – Hà Nội
+ Thời gian trồng: Tháng 7/2009
+ Loài cây thí nghiệm: 3 dòng Keo lai: BV10, BV16, BV32
+ Thiết kế thí nghiệm: Bố trí 6 công thức thí nghiệm với 3 lần lặp Mỗithí nghiệm gồm 64 cây/công thức, trồng 8 cây/1 hàng
+ Mật độ trồng 1100 cây/ha, cự li khoảng cách 3x3m
+ Bón lót: mỗi hố đều bón 400g supelân Văn điển (P2O5 = 16%) + 100gNPK(16:16:8) Việt Nhật mỗi loại phân được trộn đều từng bên Tuy nhiêncác công thức bón thúc bố trí giống nhau về lượng phân bón supelân (đều bón400g/gốc) song khác nhau về lượng NPK Số lượng công thức nghiên cứubón phân cho Keo lai được tổng hợp trên biểu sau:
Biểu 2.1: Các công thức thí nghiệm bón phân cho Keo lai
Trang 16- Do thí nghiệm trồng ở các vị trí khác nhau, nên tôi tách riêng theo vịtrí chân, đỉnh.
đường kính theo hai chiều ĐT – NB sau đó lấy giá trị trung bình
- Chiều cao vút ngọn (Hvn): Dùng sào đo cao, đo từ mặt đất đến sinhtrưởng ở ngọn với độ chính xác đến cm
- Chiều cao dưới cành (Hdc): Dùng sào đo cao từ mặt đất đến cành đầutiên tham gia vào tầng tán chính của cây với độ chính xác đến cm
- Đường kính tán (Dt): Dùng thước đo dây đo hình chiều tán cây theohai chiều Đông Tây – Nam Bắc Sau đó lấy trị số trung bình với độ chính xácđến cm
* Điều tra chất lượng của Keo lai trong các công thức thí nghiệm
Cùng với việc đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng trên các ô tiêu chuẩn, đềtài kết hợp đánh giá chất lượng Keo lai trong lâm phần để xác định tỷ lệ tốt,trung bình, xấu
Việc đánh giá cây tốt, trung bình, xấu dựa vào hình thái cây, thân cây,tán lá, về trạng thái sinh trưởng của cây
Cây tốt là những cây thẳng, đẹp, tròn đều, tán rộng, không cong queo,không sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển tốt
Cây trung bình là những cây có thân hình cân đối, tán lá rộng, khôngcong queo, không sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển bìnhthường
Cây xấu là những cây cong queo, sâu bệnh cụt ngọn, sinh trưởng vàphát triển kém Kết quả đo ghi vào mẫu biểu 01:
Trang 17Mẫu biểu 01: Biểu điều tra sinh trưởng và đánh giá chất lượng
Trang 19Để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của chế độ phân bón đến sinh trưởng Keo lai, tôi sử dụng phương pháp phân tích phương sai 2 nhân tố Các bước như sau:
A là nhân tố lặp, được chia làm 3 lặp (tương ứng 3 khối)
B là nhân tố phân bón, chia làm 6 cấp (tương ứng với 6 công thức bón phân)
a, b là các cấp tương ứng với nhân tố A, B
Si (A) là tổng trị số quan sát cấp i của nhân tố A
Sj (B) là tổng trị số quan sát cấp j của nhân tố B
Xi (A) là trị số trung bình cấp i của nhân tố A
Trang 20Xj (B) là trị số trung bình cấp j của nhân tố B
S là tổng trị số quan sát ngoài thí nghiệm
là trị số trung bình toàn thí nghiệm
- Phân tích phương sai và kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả thínghiệm
Trang 21- Sử dụng tiêu chuẩn Fisher (với độ tin cậy 95% áp dụng trong lâm nghiệp) đểkiểm tra giả thuyết.
So sánh với F05 tra bảng, bậc tự do K1 = a – 1, K2 = (a – 1)(b – 1)
+ Nếu FA <= F05 thì việc phân khối không ảnh hưởng tới sinh trưởng Keo lai + Nếu FA > F05 thì việc phân khối có ảnh hưởng tới sinh trưởng Keo lai + Nếu FB <= F05 thì chế độ phân bón khác nhau ảnh hưởng chưa rõ rệt tớisinh trưởng Keo lai
+ Nếu FB > F05 thì chế độ phân bón khác nhau ảnh hưởng rõ rệt tới sinhtrưởng Keo lai
- Trường hợp FB > F05, tiến hành tìm công thức phân bón hiệu quả cho sinhtrưởng Keo lai thông qua công thức sau:
Với n1, n2 lần lượt là dung lượng mẫu ứng với công thức thí nghiệm cótrị số trung bình lớn thứ nhất và thứ hai
là cặp trị số trung bình lớn thứ nhất và thứ hai trongcông thức thí nghiệm
+ Nếu ttính <= t05 tra bảng, bậc tự do K = a.b, kết luận chưa có sai dị rõrệt, do vậy có thể chọn một trong hai công thức phân bón hiệu quả cho sinhtrưởng Keo lai
Trang 22+ Nếu ttính > t0, kết luận có sai dị rõ rệt, chọn công thức có trị số trungbình lớn nhất là công thức phân bón hiệu quả cho sinh trưởng Keo lai.
Trang 23Phần 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ LỊCH SỬ
RỪNG TRỒNG 3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực Cẩm Quỳ thuộc xã Cẩm Lĩnh – Ba Vì – Hà Nội, có tọa độ địa lý từ
2100'0'' đến 2100'7'' độ Vĩ Bắc, 10500'0'' đến 10500'25'' độ Kinh Đông
+ Phía Bắc giáp thôn Bằng Tạ, xã Cẩm Lĩnh
+ Phía Nam giáp thôn 2 và thôn 5 xã Ba Trại
+ Phía Tây giáp thôn Bằng Y, xã Sơn Đà
+ Phía Đông giáp thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh
Khu vực nghiên cứu cách hồ Suối Hai 3km, với diện tích của hồ là
1000 ha Trong khu vực nghiên cứu có hồ Cẩm Quỳ rộng 80 ha Ngoài rakhu vực nằm gần hạ lưu sông Đà
3.1.2 Địa hình
Cẩm Quỳ là vùng bán sơn địa có những đồi bát úp liên tục không bịchia cắt, khá đồng nhất Độ cao bình quân khoảng 40m, đồi cao nhất có độcao là 62m, đồi thấp nhất có độ cao 20m Độ dốc bình quân 8 – 100, một sốnơi có độ dốc 15 – 200
Trang 24Sản Thành phần chính của nhóm này gồm Diệp thạch kết thinh, đá Gnai vàDiệp thạch xenrixit lẫn các lớp quăc zit
Đá vôi được phân bố ở khu vực Chẹ, xóm Mít, xóm Quýt
Đá trầm tích phân bố ở xã Ba Trại từ Suối Đò, Cầu Gỗ đến Mỹ Khê Tại thôn Phú Phong – xã Cẩm Lĩnh (có tên thường gọi là Cẩm Quỳ)loại đất chủ yếu là đất Feralit màu nâu đỏ hoặc nâu vàng phát triển trên phiếnthạch sét Tầng đất mỏng từ 0 – 15 cm là chủ yếu, một vài khu vực như đồiNăm Voi, trại Quân Pháp có tầng đất từ 50 – 100 cm, nguyên nhân là do khuvực này ít bị xói mòn, thực bì đại đa số là lớp tế guột đan xen vào nhau, phíatrên là rừng keo có độ tàn che cao, mặt khác khu vực này là khu quân sựđược bảo vệ nghiêm ngặt nên ít chịu tác động của con người Đất của khunghiên cứu thí nghiệm thuộc Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì rấtxấu Nguyên nhân do từ những năm 60 của thế kỷ trước rừng tự nhiên bị dânđịnh cư đến tàn phá Thay thế vào đó là rừng trồng thuần loài Bạch đàn liễukéo dài 30 năm khiến đất đai trở nên cằn xấu Từ những năm 1990 trở lại đâyrừng Bạch đàn đã được thay thế bằng rừng keo, đất đai đã phần nào được cảitạo nhưng chưa đáng kể
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
Kết quả theo dõi khí hậu của trạm khí tượng thủy văn Trạm thực
nghiệm Ba Vì năm 2009 được trình bày trên bảng 3.1 (Trang sau):
Trang 25Bảng 3.1: Tổng hợp các nhân tố khí hậu năm 2009 của trạm Ba Vì
Tháng
Nhiệt độ ( o C) Độ ẩm (%) Lượng mưa (mm)
(Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Trạm thực nghiệm Ba Vì năm 2009.)
Dẫn liệu từ bảng 3.1 cho thấy:
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùakhá rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, có nhiệt độ trung bình trong năm là23,20c Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô kéo dài từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 (với nhiệt độ
Trang 26bình quân trong tháng là 28,40c), nhiệt độ tối cao có thể lên đến 400c vào
quân năm 1680mm, mưa thường tập trung vào tháng 7 và tháng 8, tháng cólượng mưa ít nhất là tháng 11 và 12 Độ ẩm bình quân năm là 84%, tháng có
độ ẩm cao là tháng 2,3 độ ẩm lên tới 88% Tháng có độ ẩm thấp là tháng11,12 bình quân là 74% Đây cũng là vùng có lượng bốc hơi lớn, chứng tỏ độche phủ bề mặt là rất kém, điều này cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới khảnăng sinh trưởng phát triển của các loại của cây rừng, đòi hỏi phải có cácbiện pháp chăm sóc hợp lý từ khâu gieo ươm cho đến khi gây trồng nhữngnăm đầu Mặt khác vùng này có biên độ nhiệt lớn, nhiệt tối thấp tuyệt đối là5,6 0C trong khi đó nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 37,70C điều này yêu cầuchọn loài cây gây trồng phải có biên độ sinh thái rộng, để phù hợp với điềukiện khắc nghiệt của thời tiết
Như vậy, từ điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu nhận thấy một sốđặc điểm sau: địa hình khu vực chủ yếu là đồi gò với độ dốc trung bình Đấtđai trong khu vực là đất đồi mỏng lớp, phát triển trên đá phiến thạch sét, kháchua, nghèo dinh dưỡng và thiếu nước trong mùa thu đông Mặc dù độ ẩm củakhu vực khá cao song lượng mưa lại phân bố không đồng đều trong năm
Khu vực nghiên cứu mang đặc thù của tiểu vùng khí hậu nóng ẩm,lượng mưa hàng năm lớn, một năm có hai mùa rõ rệt một mùa mưa và mộtmùa khô, là vùng có biên độ nhiệt lớn nên vấn đề quan tâm chính là loài câytrồng và phương chăm sóc bón phân hợp lý để đảm bảo việc trồng rừng tậptrung, quy mô lớn và thống nhất
3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện kinh tế, xã hội
Cẩm Lĩnh thuộc vùng đồi gò, có diện tích tự nhiên 267780 m2 Với dân
số trên 10.000 người, chủ yếu là dân định cư từ vùng ven sông Hồng củahuyện Ba Vì và các huyện vùng xuôi của tỉnh Hà Tây cũ, đại đa số là dân tộc
Trang 27Kinh Cuộc sống chủ yếu của người dân dựa vào nông nghiệp kết hợp vớichăn nuôi Những năm gần đây do nền kinh tế mở cửa, dịch vụ phát triển, từ
đó kinh tế các hộ gia đình ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được nângcao, dân trí phát triển
3.2.2 Giao thông
Khu vực Cẩm Quỳ có đường quốc lộ 88 chạy qua, đường mới đượcnâng cấp từ cấp phối lên đường nhựa và có hệ thống đường liên thông, liên
xã phục vụ phát triển dân sinh kinh tế rất thuận tiện
Nhìn chung điều kiện kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu khá tốt,trình độ dân trí khá cao Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao ý thức bảo vệrừng của người dân Giao thông đi lại thuận tiện giúp rút ngắn khoảng cáchvới vùng trung tâm, việc vận chuyển giống, chuyển giao công nghệ thuận lợi
3.3 Lịch sử rừng trồng
+ Trạng thái hoàn cảnh trước khi trồng mô hình thí nghiệm: Trước đây
từ những năm 1986 đến năm 2003 trồng keo Lá tràm sau đó khai thác Năm
2004, trồng khảo nghiệm vô tính các dòng keo Lá tràm ( BVLT81, BVLT82,BVLT83, BVLT84, BVLT85 ) Do năm 2006-2007 có đợt rét đậm rét hại nêncác dòng Keo lá tràm chết chỉ còn lại dòng BVLT84 Đến giữa năm 2009 thìchặt bỏ và được trồng khảo nghiệm công thức bón phân
+ Mô hình nghiên cứu bón phân cho rừng trồng Keo lai được trồngtháng 07/2009 với mục đích lấy gỗ xẻ
Trang 28+Bón lót kết hợp khi lấp hố trước khi trồng 2 tuần, mỗi hố bón 400g lânVăn điển (P2O5 = 16%) + 100g NPK(16:16:8) Việt Nhật (Mỗi loại phân đượctrộn đều từng bên: bên trái bón lân, bên phải bón NPK)
+ Trồng dặm cây chết sau khi trồng 8 – 10 ngày
+ Chọn ngày mưa nhỏ, râm mát hoặc nắng nhẹ, đất trong hố đủ ẩm đểtrồng
- Thời vụ trồng: Tháng 07/2009
+ Mật độ trồng 1100 cây/ha, cự li khoảng cách 3x3m
+ Chăm sóc cây: Sau khi trồng 1-2 tháng, cắt dây leo, phát dọn thực bìtrên toàn diện tích, rẫy cỏ và vun xới quanh gốc rộng 80cm Lần 2 vào tháng10-11, phát thực bì và vun xới quanh gốc rộng 80cm
+ Sau 1 năm trồng tiếp tục bón thúc với các hàm lượng phân lân VănĐiển giống nhau (400g/gốc) nhưng lượng NPK khác nhau (từ 100-500g/gốc).Tháng thứ 17 phát toàn diện và vun xới quanh gốc rộng 1m, tỉa cành cao, tạodáng thân (chỉ để một đỉnh sinh trưởng)
Trang 29Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Ảnh hưởng của phân bón tới Keo lai trong các công thức thí nghiệm bón phân khác nhau
Bón phân cho cây trồng nói chung và cho trồng rừng nói riêng là mộttrong những biện pháp kỹ thuật thâm canh cơ bản nhằm nâng cao năng suất
và chất lượng rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp Bónphân làm tăng khả năng chống chịu của cây đồng thời giúp cây sinh trưởngtốt hơn Đặc biệt ở giai đoạn còn non việc bón phân có ý nghĩa rất lớn, nócung cấp và bổ sung những chất dinh dưỡng cần thiết cho cây kích thích câysinh trưởng nhanh hơn cả về đường kính và chiều cao từ đó nó ảnh hưởng đếnnăng suất năng và chất lượng sản phẩm gỗ sau này Vì vậy, việc bón phânthực sự là cần thiết và không thể thiếu trong kinh doanh rừng rừng trồng.Trong những năm gần đây việc bón phân đã được áp dụng khá phố biến, tuynhiên việc bón phân đòi hỏi có những kỹ thuật nhất định, bón loại phân gì,bón như thế nào và liều lượng bao nhiêu đang là những câu hỏi đặt ra cần giảiquyết Chính vì vậy, Trạm thực nghiệm giống cây rừng Cẩm Quỳ - Ba Vì –
Hà Nội đã triển khai mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinhtrưởng, chất lượng của 3 dòng Keo lai: BV10, BV16 và BV32 Kết quả tìmhiểu ảnh hưởng của loại phân, liều lượng phân bón đến sinh trưởng 3 dòngKeo lai giai đoạn cây 20 tháng tuổi được trình bày dưới các mục sau
4.1.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến đường kính 1.3m của các dòng Keo lai
Dựa vào kết quả đo đếm và sau khi tính toán trung bình mẫu về D1.3 củaKeo lai trong từng ô thí nghiệm Kết quả điều tra đường kính 1.3m của các dòng Keo lai giai đoạn 20 tháng tuổi cùng chế độ bón lót (100g NPK + 400g supelân/hố) nhưng các chế độ bón thúc khác nhau được thể hiện ở bảng 4.1 (trang sau):
Trang 30Bảng 4.1: Đường kính trung bình Keo lai trong các công thức thí nghiệm bón phân
Trang 31Dẫn liệu từ bảng 4.1 cho thấy:
Trong cùng một dòng, ở những công thức bón phân khác nhau đều có
một dòng giữa các lặp có sự chênh lệch
Để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng đường kính D1.3 của từng dòng Keo lai, tôi tiến hành phân tích phương sai 2 nhân tố, FA nhân tố công thức thí nghiệm, FB nhân tố lặp được kết quả như sau:
Dòng BV10:
FA = 94,72 > F05 = 3,32 (k = 5, k = 13)
FB = 3,53 < F05 = 4,1 (k = 2, k = 13)Kết quả kiểm tra sai dị bằng tiêu chuẩn Fisher cho thấy FB= 3,35 < F05 = 4,1(k = 2, k = 13) điều này chứng tỏ việc phân khối (lặp) không ảnh hưởng đếnsinh trưởng D1.3 của Keo lai dòng BV10 Còn FA = 94,72 > F05 = 3,32 (k = 5, k
= 13) nên điều này chứng tỏ các công thức bón phân khác nhau ảnh hưởng rõrệt đến sinh trưởng đường kính của Keo lai 20 tháng tuổi
Để lựa chọn công thức bón phân phù hợp cho sinh trưởng D1.3 của dòngBV10, tôi tiến hành kiểm tra sai dị giữa cặp trị số lớn thứ nhất và lớn thứ hai(công thức bón phân 400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển
(P2O5= 16%), kết quả như sau:
ttính = 7,040 > t05 = 1,75 (k = 12)Vậy, có sai dị rõ rệt giữa cặp trị số lớn thứ nhất (công thức bón phân400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)) và lớnthứ hai (công thức bón phân 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelânVăn Điển (P2O5= 16%)) Nên tôi chọn công thức bón phân 400g NPK
Trang 32(16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%) là công thức phânbón phù hợp với sinh trưởng và tạo điều kiện cho phát triển tốt đường kínhthân cây của Keo lai của dòng BV10.
Mức độ chênh lệch về đường kính của Keo lai giữa các công thức thínghiệm của dòng BV10 giai đoạn cây 20 tháng tuổi được mô phỏng qua biểu
Biểu đồ 4.1: So sánh sinh trưởng đường kính của Keo lai (dòng BV10)
trong các công thức thí nghiệm bón phân
Từ biều đồ ta thấy tại công thức thí nghiệm 4 (bón 400g NPK (16:16:8)Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) cây có sinh trưởng đường kính là lớn nhất, đường kính trung bình là 6,19 (cm), thứ hai là công thức thí nghiệm 3 (bón 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) đường kính trung bình là 6 (cm) Thứ ba công thức thínghiệm bón 500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây, đường kính trung bình nhỏ hơn hai công thức thí nghiệm trên Công thức đối chứng (công thức thí nghiệm 6) có đường kính D1.3 trung bình
là nhỏ nhất Như vậy, với các công thức bón phân khác nhau đều cho sinh trưởng đường kính D1.3 tốt hơn so với không bón phân Tuy nhiên, có hiệu
Trang 33quả tốt nhất ở công thức bón lót, bón thúc là 400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây Khi bón với hàm lượng lớn hơn hàm lượng trên thì tốc độ sinh trưởng đường kính cũng không tăng nhanh hơn so với công thức này Mức độ chênh lệch về D1.3 giữa công thức 4 (công thức hiệu quả nhất) so với công thức đối chứng là 0,59cm Mức độ chưa phải là cao song đây sẽ là tiền đề tốt cho giai đoạn sinh trưởng và phát triển của rừng sau này
Ảnh 4.1 Keo lai dòng BV10 20 tháng tuổi
Hệ số biến động là chỉ tiêu đánh giá mức độ biến động trung bình củađại lượng quan sát Nhìn chung các công thức thí nghiệm có S% từ nhỏ đếntrung bình Do Keo lai trồng bằng cây hom nên sinh trưởng khá đồng đều.Tuy nhiên trong 6 công thức thí nghiệm, công thức 5 khi bón thúc 500g NPK+ 400g supelân thì hệ số biến động cao hơn so với các công thức còn lại,chứng tỏ cây sinh trưởng chưa đồng đều
của Keo lai dòng BV16 trồng 20 tháng tuổi
Để lựa chọn công thức bón phân phù hợp và các dòng phù hợp với sinhtrưởng đường kính D1.3 của Keo lai, tôi tiến hành kiểm tra sai dị giữa cặp trị
số lớn thứ nhất và lớn thứ hai (công thức 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật +
Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)), kết quả như sau:
ttính = 8,768 > t05 = 1,75 (k = 12)Vậy, có sai dị rõ rệt giữa cặp trị số lớn thứ nhất (công thức bón 300g
Trang 34thứ hai (công thức bón 400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân VănĐiển (P2O5=16%)/cây) Nên tôi chọn công thức bón 300g NPK (16:16:8) Việt
hợp với sinh trưởng và tạo điều kiện cho phát triển tốt đường kính thân câycủa Keo lai của dòng BV16
Mức độ chênh lệch về đường kính của Keo lai giữa các công thức thínghiệm của dòng BV16 giai đoạn cây 20 tháng tuổi được mô phỏng qua biểu
Biểu đồ 4.2: So sánh đường kính D 1.3 của Keo lai (dòng BV16) trong các
công thức thí nghiệm bón phân
Từ biều đồ ta thấy tại công thức thí nghiệm 3 (bón 300g NPK (16:16:8)Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) sinh trưởng đường kính của Keo lai là lớn nhất có đường kính trung bình là 6,02 (cm), công thức thí nghiệm 2 (200g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển
(P2O5=16%)/cây) và 4 (400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400 supelân Văn Điển (P2O5=16%)/cây) có đường kính trung bình tương đối bằng nhau là 5,79
và 5,80(cm) Ở công thức thí nghiệm 5 (500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) đường kính trung bình 5,72(cm) nhỏ hơn ba công thức thí nghiệm trên, công thức đối chứng (công thức thí nghiệm 6) có đường kính trung bình là nhỏ nhất Như vậy, với các công thức bón phân khác nhau đều cho sinh trưởng đường kính tốt hơn khi
không bón phân và dòng BV16 sinh trưởng tốt nhất ở công thức 3 (bón
Trang 35thúc là 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây), khi bón lượng phân cao hơn thì sinh trưởng đường kính Keo lai dòng BV16 cũng không tăng lên mà còn giảm đi Vậy với công thức 4 (bónthúc 400g NPK Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển) là công thức có hiệu quả nhất với sinh trưởng D1.3 của dòng BV10 nhưng không phải là công thức có hiệu quả nhất với dòng BV16 Điều này chứng tỏ ảnh hưởng của phân bón đến từng dòng Keo lai có sự khác nhau.
Ảnh 4.2 Keo lai dòng BV16 20 tháng tuổi
Hệ số biến động về sinh trưởng đường kính của dòng Keo lai BV16 ởcác công thức bón phân đều nhỏ hơn công thức không bón phân chứng tỏsinh trưởng đường kính ở các công thức bón phân đồng đều hơn các côngthức không bón phân
Keo lai 20 tháng tuổi
Để lựa chọn công thức bón phân phù hợp và các dòng phù hợp với sinhtrưởng đường kính D1.3 của Keo lai, tôi tiến hành kiểm tra sai dị giữa cặp trị
số lớn thứ nhất và lớn thứ hai, kết quả như sau:
ttính = 724,766 > t05 = 1,75 (k = 12)Vậy, có sai dị rõ rệt giữa cặp trị số lớn thứ nhất (công thức bón 400g
thứ hai (công thức bón 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân VănĐiển (P2O5=16%)/cây) Nên tôi chọn công thức bón 400g NPK (16:16:8) Việt
hợp với sinh trưởng và tạo điều kiện cho phát triển tốt đường kính thân câycủa Keo lai của dòng BV32
Mức độ chênh lệch về đường kính D1.3 của Keo lai giữa các công thứcthí nghiệm của dòng BV32 giai đoạn cây 20 tháng tuổi được mô phỏng quabiểu đồ hình cột 4.3 (trang sau):
Trang 36Biểu đồ 4.3: So sánh đường kính D 1.3 của Keo lai (dòng BV32) trong các
công thức thí nghiệm bón phân
Từ biều đồ ta thấy tại công thức thí nghiệm bón 4 (400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) sinh trưởng đường kính D1,3
là lớn nhất có đường kính trung bình là 6,20 (cm), thứ hai là công thức thí nghiệm 3 (bón 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) có đường kính D1.3 trung bình là 5,95 (cm) Ở công thức thínghiệm 5 (bón 500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây) đường kính D1.3 trung bình 5,91(cm) nhỏ hơn hai công thứcthí nghiệm trên, công thức đối chứng (công thức thí nghiệm 6) có đường kính
D1.3 trung bình là nhỏ nhất Như vậy, với các công thức bón phân khác nhau đều cho sinh trưởng đường kính D1.3 của Keo lai tốt hơn khi không bón phân
và dòng BV32 sinh trưởng tốt nhất ở công thức bón thúc là 400g NPK
(16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P2O5= 16%), công thức này cũng
có hiệu quả tốt nhất với sinh trưởng của dòng BV10
Đối với dòng keo lai BV32 hệ số biến động về sinh trưởng D1.3 ở cáccông thức bón phân lớn hơn so với công thức không bón phân Điều đó chothấy ở các công thức bón phân khác nhau đều cho sinh trưởng đường kính D1.3
của Keo lai tốt hơn khi không bón phân Nhìn chung các công thức thínghiệm có S% từ nhỏ tới trung bình Tuy nhiên trong 6 công thức thí nghiệm,công thức 4 khi bón thúc 400g NPK + 400g supelân có hệ số biến động nhỏ
Trang 37nhất so với các công thức còn lại chứng tỏ ở công thức 4 cây sinh trưởngđồng đều nhất.
Ảnh 4.3 Keo lai dòng BV32 20 tháng tuổi
Từ kết quả bảng 4.1 trên cho thấy:
Các dòng Keo lai khác nhau khi bón cùng loại phân, liều lượng nhưnhau nhưng sinh trưởng đường kính Keo lai 20 tháng tuổi khác nhau Trong
ba dòng Keo lai được trồng trong mô hình thí nghiệm cho thấy: Công thức 1
16%)/cây, bón thúc: 100g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển
như nhau, dòng BV16 sinh trưởng đường kính thân cây kém hơn hai dòngtrên Công thức 2 (Bón lót: 100g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelânVăn Điển (P2O5= 16%)/cây, bón thúc: 200g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g
D1.3 là tốt nhất Công thức 3 (Bón lót: 100g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400gsupelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây, bón thúc: 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật
có sinh trưởng gần như nhau Công thức 4 (Bón lót: 100g NPK(16:16:8) ViệtNhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây, bón thúc: 400g NPK
và dòng BV32 có sinh trưởng đường kính gần như nhau, dòng BV16 sinhtrưởng đường kính thân cây kém hơn hai dòng trên Công thức 5 (Bón lót:
bón thúc: 500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển
Vậy trong 5 công thức bón phân dòng BV10 và dòng BV32 đều sinhtrưởng đường kính thân cây tốt hơn dòng BV16 Dòng BV10 và dòng BV32đều phù hợp nhất với công thức thí nghiệm bón lót: 100g NPK(16:16:8) ViệtNhật + 400g supelân Văn Điển (P2O5= 16%)/cây, bón thúc: 400g NPK
sinh trưởng đường kính thân cây tốt nhất với công thức thí nghiệm bón lót:
bón thúc: 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân Văn Điển
Trang 38(P2O5=16%)/cây Khi tăng quá lượng phân thì cây cũng không phát triểnđường kính tốt nhất được thể hiện là ở công thức bón lót: 100g NPK(16:16:8)
BV10, BV16, BV32 đều sinh trưởng đường kính thấp hơn đường kính củacông thức bón phân phù hợp
4.1.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng chiều cao của các dòng Keo lai khác nhau
Kết quả điều tra chiều cao của loài Keo lai giai đoạn 20 tháng tuổi ởcác chế độ phân bón cho các dòng khác nhau được thể hiện ở bảng 4.2 (trangsau) :
Trang 39Bảng 4.2: Chiều cao trung bình Keo lai trong các công thức thí nghiệm bón phân
Dòng
Chỉ tiêu Lặp
Các công thức bón thúc cho Keo lai
Trang 40Số liệu từ bảng 4.2 cho thấy:
Việc phân lặp các các dòng không ảnh hưởng đến sinh trưởng chiềucao Keo lai Tuy nhiên các công thức bón phân khác nhau có ảnh hưởng đếnsinh trưởng chiều cao của các dòng Keo lai Sinh trưởng đường kính chiềucao ở tất cả các công thức bón phân ở cả 3 dòng đều cao hơn ở các công thứcđối chứng không bón phân
Giữa các dòng ở từng công thức đều có sự chênh lệch về sinh trưởngchiều cao khác nhau Dòng BV10 và dòng BV32 có sinh trưởng chiều cao gầnnhư nhau ở từng công thức, dòng BV16 có sinh trưởng đường kính kém hơnhai dòng trên
Hệ số biến động về sinh trưởng Hvn của dòng Keo lai BV10 ở hầu hếtcác công thức bón phân đều nhỏ hơn các công thức không bón phân, côngthức bón phân số 4 có sinh trưởng Hvn tốt nhất và có hệ số biến động về sinhtrưởng Hvn cũng nhỏ nhất chứng tỏ ở công thức 4 có sinh trưởng Hvn tốt vàđồng đều nhất Như vậy ta có thể thấy với dòng Keo lai BV10 ở các côngthức bón phân khác nhau đều cho sinh trưởng chiều cao lớn hơn và đồng đềuhơn so với không bón phân
Hệ số biến động về sinh trưởng Hvn của dòng BV16, BV32 ở hầu hếtcác công thức bón phân cũng đều có hệ số biến động về sinh trưởng Hvn lớnhơn ở công thức không bón phân Cho thấy sinh trưởng Hvn ở các công thứcbón phân kém đồng đều so với công thức không bón phân Điều đó có thể doảnh hưởng của kỹ thật bón, liều lượng bón, thời gian bón phân… Tuy nhiên,nhìn chung ở các công thúc bón phân khác nhau đều cho sinh trưởng chiềucao của Keo lai tốt hơn khi không bón phân
Để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinhtrưởng chiều cao của cây Keo lai ở từng dòng tôi tiến hành phương sai 2 nhân
tố, kết quả như sau: