1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang

97 508 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 530,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ DỊU ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT TỈNH BẮC GIANG CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC MÃ SỐ: 60.14.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC N

Trang 1

NGUYỄN THỊ DỊU

ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT

TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2011

Trang 2

NGUYỄN THỊ DỊU

ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT

TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC

MÃ SỐ: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ

THÁI NGUYÊN, NĂM 2011

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban lãnh đạo cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Tâm Lý- Giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn Luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ- thầy giáo đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em học sinh các trường THPT Bố Hạ (Yên Thế), THPT Tân Yên số 2 (Tân Yên), THPT Nguyên Hồng (TP Bắc Giang) đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình hoàn thành luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp và chỉ dẫn của các thầy

cô giáo

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Tác giả

Trang 5

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Những đóng góp của đề tài 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT TỈNH BẮC GIANG 7

1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 10

1.2 Một số khái niệm công cụ 13

1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường và cơ chế thị trường 13

1.2.2 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đời sống xã hội 14

1.2.3 Thị trường và thị trường lao động1.2.3.1 Thị trường 18

1.2.3.2 Thị trường lao động 19

1.2.4 Nghề nghiệp 21

1.2.4.1 Nghề nghiệp và việc làm 21

Trang 6

1.2.4.4 Năng lực nghề 251.2.4.5 Định hướng nghề nghiệp 261.2.4.6 Lựa chọn nghề 271.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT 291.2.5.1 Yếu tố gia đình 291.2.5.2 Yếu tố giáo dục hướng nghiệp của nhà trường 301.2.5.3 Yếu tố bạn bè 311.2.5.4 Ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội 321.2.6 Ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh 33

Chương 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT TỈNH BẮC GIANG 36

2.1.Vài nét về khách thể điều tra 362.2 Thực trạng ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT Tỉnh Bắc Giang 372.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh THPT về tầm quan trọng của việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh 372.2.2 Nhận thức của giáo viên và học sinh THPT về mục đích của định hướng nghề nghiệp cho học sinh 392.2.3.Thực trạng tham gia các hoạt động giáo dục hướng nghiệp của học sinh THPT 412.2.3.1 Thực trạng hành vi của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường 412.2.3.2 Thực trạng thái độ của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường 43

Trang 7

2.2.5 Thực trạng những nhóm ngành nghề mà học sinh THPT ưu tiên

lựa chọn 46

2.2.6 Những tiêu chí học sinh THPT quan tâm khi lựa chọn nghề 51

2.2.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT 53 2.2.8 Thực trạng những khó khăn học sinh gặp phải khi lựa chọn nghề 56

2.2.8 Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT 58

2.2.8.1 Thực trạng hiệu quả của việc tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông hiện nay 59

2.2.8.2 Thực trạng nguyên nhân dẫn đến những sai lầm khi chọn nghề của học sinh 60

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 64

3.1 Những cơ sở có tính nguyên tắc để xây dựng biện pháp 64

3.1.1 Đảm bảo tính mục đích của giáo dục hướng nghiệp 64

3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống của giáo dục hướng nghiệp 64

3.1.3 Đảm bảo sự phù hợp với những đặc điểm tâm lí và nhân cách của học sinh 65

3.1.4 Đảm bảo xây dựng biện pháp theo quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách 65

3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 66

3.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT 66 3.2.1 Xây dựng bài học có nội dung giới thiệu về những lĩnh vực cụ thể 66

Trang 8

3.2.4 Tổ chức hội nghị trao đổi với cha mẹ học sinh về nghề nghiệp

tương lai của con em họ 69

3.2.5 Lập hồ sơ hướng nghiệp cho học sinh 71

3.3 Khảo nghiệm các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia 72

3.3.1 Mục đích của khảo nghiệm 72

3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 72

3.3.3 Quá trình tiến hành khảo nghiệm 72

3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 72

3.3.4.1 Đánh giá của chuyên gia về tầm quan trọng của việc xây dựng các biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT 72

3.3.4.2 Đánh giá của chuyên gia về mức độ phù hợp của cơ sở có tính nguyên tắc trong việc xây dựng các biện pháp 73

3.3.4.3 Đánh gía về mức độ phù hợp của các biện pháp 74

3.3.4.4 Đánh giá về mức độ phù hợp của các bước tiến hành biện pháp 74

3.3.4.5 Đánh giá về mức độ khả thi của phương pháp 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 49

Trang 9

Bảng 2.1: Nhận thức của giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của định

hướng nghề nghiệp cho học sinh 38Bảng 2.2.Nhận thức của giáo viên và học sinh về mục đích của hoạt động

giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông 39Bảng 2.3: Hành vi của học sinh khi tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp 41Bảng 2.4: Thực trạng thái độ của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo

dục hướng nghiệp của nhà trường 43Bảng 2.5: Thực trạng dự định nghề nghiệp của học sinh sau khi tốt nghiệp

THPT Tỉnh Bắc Giang 44Bảng 2.6: Mức độ ưu tiên lựa chọn các ngành nghề của học sinh THPT 47Bảng 2.7: Nhận xét của giáo viên về nhóm ngành, nghề được học sinh ưu

tiên lựa chọn 50Bảng2.8: Những tiêu chí học sinh quan tâm khi lựa chọn nghề 51Bảng 2.9: Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT 53Bảng 2.10: Nhận xét của giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa

chọn nghề của học sinh THPT 55Bảng 2.11: Những khó khăn khi lựa chọn nghề của học sinh THP 56Bảng 2.12: Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

học sinh THPT 58Bảng 2.13: thực trạng hiệu quả tổ chức hoạt động GDHN ở trường THPT 59Bảng 3.1: Đánh giá của chuyên gia về mức độ phù hợp của cơ sở có tính

nguyên tắc trong việc xây dựng các biện pháp 73Bảng 3.2: Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của các biện pháp 74Bảng 3.3: Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi của các phương pháp 75

Trang 10

sự đa dạng và phong phú của hệ thống nghề nghiệp, tạo cho con người có nhiều cơ hội nhưng cũng gặp nhiều khó khăn thử thách Trước tình hình đó vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HDH đất nước

đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết được Đảng, Nhà nước, xã hội quan tâm hàng đầu Nghị quyết Hội nghị lần II, BCHTW Đảng khóa VIII nhấn mạnh: “ Muốn tiến hành CNH- HĐH thắng lợi phải biết phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững ”.[7] Con người là trọng tâm của sự phát triển, là yếu tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước Vì thế việc đào tạo chuẩn bị cho thế hệ trẻ có được phẩm chất, năng lực nghề nghiệp phù hợp với các hoạt động kinh tế xã hội, khoa học công nghệ (hay nói một cách khác là những năng lực nghề nghiệp đó đáp ứng được yêu cầu của xã hội) là nhiệm

vụ đặc biệt quan trọng mang tính chiến lược

Việc đào tạo con người cho xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, trước tiên, đồng thời giúp cho con người phát triển toàn diện nhân cách Với ý nghĩa đó, hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông giúp cho học sinh có được những hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng thú và năng lực nghề Từ đó lựa chọn cho mình một nghề cụ thể phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí cá nhân (hứng thú, năng lực, sở trường, sức

Trang 11

khỏe) của bản thân Sự lựa chọn nghề một cách có ý thức, có cơ sở khoa học

sẽ giúp học sinh phát huy tối đa những tố chất của mình, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng được “đơn đặt hàng của xã hội”

Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đang chuyển dần từ nền kinh

tế hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Nhiều thị trường trong nước đã từng bước hình thành và phát triển Song sự phát triển còn thấp hoặc thiếu đồng bộ Một trong những thị trường đó là thị trường sức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động) Kinh tế thị trường làm cho định hướng giá trị nói chung và định hướng giá trị nghề nghiệp nói riêng của thế hệ trẻ có nhiều thay đổi so với trước đây Xã hội ngày càng xuất hiện nhiều ngành nhiều nghề làm cho thế giới nghề nghiệp ngày càng phong phú Cùng với sự phát triển ấy thì yêu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp ngày càng cao Để đáp ứng được yêu cầu đó, người lao động phải lựa chọn đúng hướng đi, phải được đào tạo một cách khoa học để luôn thích ứng và phát triển không ngừng

Thực tế cho rằng một vài năm gần đây, học sinh THPT phần lớn không tự đánh giá đúng bản thân nên đã lúng túng hoặc không biết lựa chọn nghề nào

Số đó nộp hồ sơ thi vào đại học, cao đẳng thì quá sức hoặc khi thi vào trường rồi mới nhận ra trường đó không phù hợp với mình dẫn đến tình trạng chán nản, bỏ bê học tập, kết quả học không cao Một số dự thi Đại học nhiều lần để mong không phải làm ruộng hay làm công nhân, công việc chân tay…hoặc khi đang theo học thấy không phù hợp thì chuyển sang trường khác Điều này gây ra nhiều vấn đề cho gia đình và xã hội như lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực thấp, vấn đề thất nghiệp, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội Một thực tế đáng quan tâm hiện nay là tình trạng nước ta đang thiếu những lao động lành nghề trong các nhà máy, công xưởng Trong khi đó đội ngũ sinh viên ra trường chưa có việc làm tương đối cao Mặt khác nhiều sinh viên sau khi ra trường không muốn về quê mà muốn ở lại

Trang 12

thành phố nên sự mất cân bằng lao động giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi còn cao Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác định hướng nghề nghiệp của các cơ quan giáo dục còn mang tính hình thức và thiếu hiệu quả Phải thay đổi hoàn toàn công tác định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, đưa công tác Giáo dục hướng nghiệp đến với mọi đối tượng: thanh niên ngoài nhà trường, học sinh THPT, học sinh trường nghề, sinh viên các trường ĐH-CĐ và cả những người đã ra trường… Thị trường lao động là một thành phần đang đòi hỏi ngày càng cao

ở người lao động điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự lựa chọn nghề của học sinh

Xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu đặt ra ngày càng cao Vì thế trong nhà trường phổ thông việc tổ chức giáo dục hướng nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng giúp cho xã hội có được thị trường lao động ổn định, chất lượng cao, cân bằng được lực lượng lao động trong các ngành nghề và khu vực… Tuy nhiên ở các trường phổ thông hiện nay, so với các mặt giáo dục khác thì giáo dục hướng nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Việc thực hiện, kiểm tra, đánh giá còn mang tính hình thức, đối phó Điều này đã khiến

cả giáo viên, học sinh đều coi giáo dục hướng nghiệp không thực sự là hoạt động chính yếu trong chương trình dạy học và giáo dục Chưa nhận thức được vai trò của giáo dục hướng nghiệp dẫn đến một loạt những sai lầm trong sự lựa chọn nghề của học sinh THPT Mặt khác chúng ta có thể nhận thấy nhà trường có thể tạo ra định hướng đúng nhưng chưa được thử nghiệm trong cuộc sống Khi ra hành nghề người lao động cần tiếp tục được định hướng để thích ứng và thăng tiến Người lao động phải thích ứng vì họ bị tác động bởi nhiều yếu tố mà quan trọng là sự thay đổi của công nghệ (nếu không thích ứng sẽ bị sa thải) Người lao động cũng cần phải phát triển, thăng tiến nên cần định hướng để họ đi theo đúng hướng, có sự phù hợp giữa bản thân và người

Trang 13

sử dụng lao động Mà ở nước ta, số lượng lao động tay trái còn nhiều nên khả năng thích ứng với những biến đổi của xã hội còn thấp Làm sao để nâng cao chất lượng nguồn lao động đáp ứng yêu cầu của xã hội là câu hỏi đặt ra cho toàn xã hội

Vì tất cả những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực trạng về sự lựa chọn nghề của học sinh THPT dưới ảnh hưởng của thị trường lao động Trên cơ sở đó xây dựng biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp phù hợp cho học sinh Giúp các

em có được lựa chọn đúng đắn và phù hợp với năng lực, sở trường của mình và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, góp phần nâng cao chất lượng

và hiệu quả lao động sản xuất và chất lượng giáo dục trong nhà trường

3.Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Mối quan hệ giữa thị trường lao động của xã hội với sự lựa chọn nghề của học sinh THPT

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tìm hiểu được thực trạng ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thì có thể đưa ra biện pháp giáo dục hướng nghiệp khoa học, giúp các em lựa chọn nghề một cách phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động rộng lớn

Trang 14

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về ảnh hưởng của thị trường lao động đến

sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

5.2 Thực trạng ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

5.3 Đề xuất các biện pháp

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Bao gồm: phân tích, tổng hợp lí thuyết, phân loại hệ thống hóa, khái quát hóa lí thuyết trên cơ sở nghiên cứu tài liệu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Bao gồm: phương pháp điều tra bằng Anket, trao đổi, trò chuyện, lấy ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp toán học

7 Phạm vi nghiên cứu

Mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế xã hội với sự lựa chọn nghề của học sinh THPT là vấn đề quan trọng và rộng lớn Căn cứ vào điều kiện và khả năng thực hiện của đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang Khảo sát trên 3 trường thuộc huyện Yên Thế (huyện Miền núi), huyện Tân Yên (huyện vùng trung du) và Thành phố Bắc Giang

8 Những đóng góp của đề tài

8.1 Về mặt lí luận

- Đề tài góp phần hệ thống hóa được mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung và thị trường lao động nói riêng đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT

Trang 15

- Đưa ra cơ sở khoa học và hệ thống hóa được đến các yếu tố ảnh

hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT

9 Cấu trúc của luận văn

Nội dung cơ bản của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp, kiến nghị

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH

THPT TỈNH BẮC GIANG

1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Từ thời cổ đại, tư tưởng về hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp

đã được hình thành ở dạng sơ khai Tư tưởng ấy được hình thành và biểu hiện thông qua việc phân chia giai cấp, tùy thuộc vào địa vị và tầng lớp xuất thân của con người trong xã hội Sự áp đặt của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị thể hiện sự bất bình đẳng trong sự phân công lao động xã hội

Khi xã hội thay đổi, yêu cầu đối với một nghề nào đó cũng như với người lao động cũng thay đổi theo nhiều hướng khác nhau Vì thế yêu cầu đặt

ra là phải đào tạo học vấn và tay nghề cho người lao động Điều này cho thấy người lao động phải có đủ năng lực, phẩm chất, trí tuệ, đáp ứng được yêu cầu của nghề thì mới có khả năng đảm bảo sản xuất lao động và thúc đẩy xã hội phát triển

Năm 1849, cuốn sách “hướng dẫn lựa chọn nghề” được xuất bản lần đầu ở Pháp là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp Cuốn sách cho rằng giáo dục hướng nghiệp góp phần thúc đẩy xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ

Năm 1883, nhà Tâm lí học người Mĩ Ph.Ganton đã trình bày công trình thí nghiệm với mục đích lựa chọn nghề Năm 1890, James Mc Keen Cattell- giáo sư Tâm lí học trường đại học Penylvania (Mĩ) đã xây dựng các Test đầu tiên để đo lường và đánh giá thành công học đường của sinh viên

Trang 17

Năm 1908, Frank.Parson đã xuất bản cuốn “Lựa chọn nghề nghiệp” (choosing vacation) Sau này cuốn sách được coi là nền tảng của ngành Tư vấn hướng nghiệp Cuốn sách trình bày cơ sở của việc hướng nghiệp và lựa chọn nghề Đồng thời nêu lên tiêu chí về sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân Từ đó có sự lựa chọn nghề phù hợp

Ở Nga cuốn sách về hướng nghiệp “Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình Đại học tổng hợp” có nêu lên ý nghĩa về lựa chọn nghề khi thi vào trường đại học được xuất bản lần đầu tiên năm 1897 (tác giả giáo sư trường Đại học Tổng hợp Petecbua.B.F.Kapeev) Tất cả việc lựa chọn nghề

ở nhiều nước trên thế giới vẫn còn giới hạn trong sự bất bình đẳng xã hội Các tác phẩm nghiên cứu về hướng nghiệp trên thế giới chỉ nhằm mục đích tăng cường lợi nhuận thông qua việc bóc lột tối đa sức lao động của con người lao động

Sau cách mạng Tháng 10 Nga, vấn đề lựa chọn nghề đã có dấu hiệu mới Nó đã gắn liền với vai trò tích cực chủ động của con người Không chỉ gắn liền với lợi ích kinh tế mà còn tạo điều kiện phát triển nhân cách cho mỗi

cá nhân Từ những năm 20, 30 của thế kỉ XX, công tác hướng nghiệp được triển khai trên đất nước Xôviết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CHNH- HĐH Việc đào tạo nhân lực và đội ngũ cán bộ đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề cho mỗi công nhân của đất nước được đặc biệt quan tâm Năm 1927, ở Lêningrat đã tổ chức hướng nghiệp để tuổi trẻ và cha mẹ học sinh làm quen

và có sự hiểu biết nhất định về nghề nghiệp Năm 1930 ở Matxcơva thành lập phòng tư vấn và lựa chọn nghề trực thuộc TW Đoàn Thanh niên cộng sản Lênin Phòng đã nghiên cứu, phổ biến những kinh nghiệm tiêu biểu của cơ quan tư vấn nghề, đặc biệt là sự lựa chọn nghề của tuổi trẻ trong các trường phổ thông Mĩ thuật Hoạt động giúp cho thế hệ trẻ hiểu được rằng, xã hội muốn phát triển cần sự góp sức, khả năng, trí tuệ của bản thân họ Đồng thời

Trang 18

giúp họ chọn cho mình một vị trí trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của mỗi cá nhân Trên cơ sở ấy, Lênin cũng yêu cầu học sinh phải làm quen với khoa học, kĩ thuật, với cơ sở của nền sản xuất hiện đại Nhà giáo dục lỗi lạc N.K Crupxkaia đã từng nêu luận điểm “tự do chọn nghề” cho mỗi thế hệ trẻ Họ phải nhận thức được yêu cầu ngày càng lớn của

xã hội đối với sản xuất và người lao động Vì thế giáo dục hướng nghiệp phải giúp các em phát huy hững thú, năng lực nghề nghiệp, đồng thời có thái độ lao động đúng đắn và động cơ chọn nghề trong sáng

Trên cơ sở luận điểm của Các Mác- Lênin, các nhà giáo dục Liên Xô như: B.E.Kapeev, X.IA Batusev, X.A.Saporunxki, V.A.Poliacov trong quá trình nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội, những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho học sinh THPT tại cơ sở học tập Nếu thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho thế hệ trẻ kịp thời sẽ giúp cho họ có được sự phù hợp giữa bản thân và nhu cầu xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, thế giới đang bước vào thời kì công nghiệp

và phát triển hậu công nghiệp Xã hội có thêm rất nhiều ngành nghề trong hệ thống nghề nghiệp ở tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…Vì vậy ở tất cả các quốc gia trên thế giới phải xác định vai trò cần thiết của công tác giáo dục hướng nghiệp Đã xuất hiện trung tâm nghiên cứu khoa học hướng nghiệp, trung tâm hướng nghiệp, đào tạo giáo viên, chuyên gia tư vấn trong và ngoài trường Đại học Ví dụ: INETOP (Viện nghiên cứu quốc gia về lao động và hướng nghiệp); CNAM (học viện quốc gia về nghệ thuật

và nghề nghiệp ở Pháp) Kết quả của công tác giáo dục hướng nghiệp không thể nhìn thấy trong thời gian ngắn mà nó thể hiện trong sự phân công lao động xã hội, kết quả sản xuất xã hội trong thời gian dài Kết quả đó còn là sự phù hợp giữa nhu cầu của xã hội và sự đáp ứng được nhu cầu xã hội của người lao động

Trang 19

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, giáo dục hướng nghiệp còn là nội dung mới mẻ cả về mặt

lý luận và thực tiễn Nên việc thiếu về lực lượng tổ chức hoạt động là điều không thể tránh khỏi Giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT vẫn còn tính hình thức, đối phó với yêu cầu đặt ra của Bộ giáo dục – Đào tạo Vấn đề

hướng nghiệp chỉ thực sự được quan tâm khi nước ta bước vào thời kỳ CNH- HDH với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự đa dạng của các ngành nghề trong xã hội và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực Đến trước những năm 1970 thì những tư tưởng về hướng nghiệp chỉ dừng lại ở các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết mang tính lãnh đạo của Đảng, Nhà Nước và Bác Hồ chứ chưa phải là luận điểm mang tính khoa học hay những công trình nghiên cứu khoa học thực sự

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói trong bài “Học sinh và lao động”:

“Thi đỗ tiểu học rồi thì muốn vào Trung học, đỗ Trung học rồi thì muốn vào Đại học Riêng về mỗi cá nhân thì ý muốn ấy không có gì là lạ Nhưng chung đối với xã hội thì ý muốn ấy trở thành vô lí Vì ở bất xứ nước nào số trường Trung học ít hơn số trường tiểu học, số trường đại học ít hơn số trường Trung học Thế thì những học trò tiểu học và trung học không được chuyển cấp sẽ làm gì?”[4] Câu hỏi Bác đặt ra trở thành vấn đề thời sự không chỉ đương thời

mà còn thời sự cho đến tận ngày nay Bác đã khẳng định chắc chắn rằng “họ

sẽ lao động” Chỉ có lao động là con đường duy nhất và đúng đắn nhất để các

em tiếp tục phấn đấu Câu nói của Bác cũng cho thấy một điều không nhất thiết phải vào đại học con người ta mới thành công được Trong bài “học cày, cày giỏi” Người cũng đề cập đến một yếu tố kĩ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Đồng thời người cũng chỉ ra rằng những ngành sản xuất chủ yếu trong xã hội Điều đó chứng tỏ rằng Bác Hồ là người đầu tiên quan tâm đến công tác hướng nghiệp cho học sinh

Trang 20

Theo tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới công tác hướng nghiệp Điều này được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện và các nguyên lí giáo dục Văn kiện Đại hội Đảng lần IX ghi rõ: Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trong cả nước và địa phương Luật giáo dục 2005 đã khẳng định: giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, Trung học, học nghề và đi vào cuộc sống lao động Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 xác định: thực hiện chương trình phân ban hợp

lí nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có được những hiểu biết kĩ thuật, chú trọng hướng nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho phân luồng học sinh sau phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp.[8]

Theo con đường nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở nước ta, ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những phát triển mạnh mẽ vào những năm

1970, 1980 Đi đầu phải kể đến GS Phạm Tất Dong; GS Phạm Huy Thụ;

GS Nguyễn Văn Hộ; PGS Đặng Danh Ánh

GS Phạm Tất Dong là người có đóng góp to lớn cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam Ông đã nghiên cứu các vấn đề về lí luận và thực tiễn của giáo dục hướng nghiệp Xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp, nhu cầu, động cơ nghề nghiệp, hệ thống các quan điểm nguyên tắc, nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp…Các công trình nghiên cứu của ông thể hiện qua những bài báo cáo, bài báo, sách, giáo trình như bài: “Hướng nghiệp cho Thanh niên” đăng trên tạp chí Thanh niên 8-1982; Báo cáo “một con đường hình thành lí tưởng nghề nghiệp cho học sinh

Trang 21

lớn”; tác phẩm “ nghề nghiệp tương lai giúp bạn chọn nghề”; cuốn “ tư vấn hướng nghiệp- sự lựa chọn cho tương lai”…Trong công trình nghiên cứu gần đây, ông chỉ ra rằng công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi kinh tế Theo ông đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH- HDH, xu hướng chọn nghề của thanh niên sẽ phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

GS TSKH Nguyễn Văn Hộ là một trong những người có đóng góp rất lớn trong việc chuyên sâu nghiên cứu về hướng nghiệp Các công trình nghiên cứu của thầy đã xây dựng một hệ thống quan điểm rất có ý nghĩa về giáo dục hướng nghiệp của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trong thời gian gần đây nhằm thực hiện hóa những phương hướng mà Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đề ra về giáo dục hướng nghiệp với nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể kể đến tác giả Trần Quốc Thành có bài “ Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT một số tỉnh miền núi phía Bắc” đăng trên tạp chí Tâm lí học 2002 Tác giả Phạm Thị Đức với “ Những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở học sinh THPT” trên tạp chí Giáo dục học 2002; Bài “ Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông với việc phát triển nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê đăng trên tạp chí phát triển giáo dục 2004; tác giả Hà Thế Truyền, Nguyễn Văn Lê với bài “Để nâng cao chất lượng giáo dục trong tình hình mới” trên tạp chí Giáo dục 2004… Các tác giả

đã nêu lên xu hướng, động cơ chọn nghề của lớp trẻ, nguyên nhân dẫn đến động cơ chọn nghề, đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp và vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nước trong điều kiện CNH- HĐH Bên cạnh đó còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thanh Huyền…đã làm rõ thực trạng Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học

Trang 22

sinh THPT, đề ra và làm rõ các vấn đề tổ chức hoạt động lao động, tư vấn nghề cho học sinh PT…

Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nói lên một cách hệ thống cơ sở lí luận về hướng nghiệp cho học sinh nói riêng và cho thế hệ trẻ nói chung Từ xu hướng, động cơ, nguyên nhân, cách thức tổ chức tổ chức hoạt động, định hướng nghề, lựa chọn nghề, thích ứng nghề… nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy nhanh sự phát triển của đất nước

Thực tế cho thấy rằng, xã hội muốn phát triển cần có sự hài hòa giữa phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu của xã hội Nếu nguồn nhân lực đáp ứng

đủ yêu cầu của xã hội thì sản xuất phát triển, kéo theo sự phát triển của xã hội Ngược lại, xã hội có chính sách phát triển đúng đắn để tận dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả sẽ là động lực để xã hội và người lao động phát triển Chính vì vậy, chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu về ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh là rất mới mẻ và cần thiết

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường và cơ chế thị trường

Theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ biên) kinh tế thị trường được định nghĩa là “Giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa được quyết định bởi thị trường, là sự hoạt động và mở rộng khách quan của quan hệ hàng – tiền và những quy luật giá trị là đặc trưng nhất”.[6]

Theo từ điển điện tử bách khoa toàn thư: Kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo những quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân người tiêu dung và các công ty Việc định giá hàng hóa và phân bổ nguồn lực nền kinh tế cơ bản được tiến hành theo quy luật cung- cầu Trái với kinh tế thị trường là kinh tế hóa tập trung

Trang 23

Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin có định nghĩa: “KTTT là mô hình kinh tế mà ở đó các mối quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường thông qua quá trình trao đổi- mua bán Quan hệ hàng hóa tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất định sẽ đạt đến kinh tế thị trường KTTT là giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất”.[1]

Theo tôi kinh tế thị trường là một mô hình mà ở đó có các mối quan hệ trao đổi- mua bán, quan hệ hàng – tiền, người cung cấp- người sử dụng…

Khi nói đến các quy luật sản xuất hàng hóa của KTTT, chúng ta phải nói đến cơ chế thị trường Theo các nhà Kinh tế học thì cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố quan hệ, môi trường, động lực và quy luật chi phối sự vận động của thị trường Nói đến cơ chế thị trường là nói đến cơ chế tự vận động của thị trường theo quy luật nội tại vốn có của nó mà Nhà Kinh tế học người Anh thế kỉ XVIII A.Smith đã hình dung nó như “bàn tay vô hình”, trong đó có một loạt các quy luật kinh tế cùng vận động và quan hệ hữu cơ với nhau Đó là các quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật lưu thông tiền tề, quy luật lợi nhuận, cạnh tranh Sự vận động của các quy luật này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội

1.2.2 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đời sống xã hội

KTTT xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội là một tất yếu khách quan KTTT không có nghĩa là đồng nhất với Chủ nghĩa Tư bản vì nó là sản phẩm chung của toàn nhân loại trong quá trình sản xuất hàng hóa và phát triển của xã hội Hiện nay nền kinh tế của các nước trên thế giới đều đã, đang phát triển theo hướng KTTT (tuy rằng mỗi nước có một mô hình kinh tế riêng phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế - xã hội…) Ở nước ta KTTT được đánh dấu từ Đại hội lần VI của Đảng (12-1986) thực sự chuyển từ nền kinh tế hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường

Trang 24

Sau gần 30 năm thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bộ mặt đất nước

ta đang có sự thay đổi từng ngày và nhanh chóng Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, cơ sở hạ tầng lạc hậu, nền kinh tế nghèo nàn và đời sống nhân dân vô cùng khó khăn đến nay, nhờ phát triển KTTT theo định hướng Xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lí của Nhà nước, nước ta đã và đang khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Nước ta là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như ASEAN, WTO, Liên hợp quốc và mới đây trở thành ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc Việt Nam đang là nước đững thứ 2 thế giới về xuất khẩu gao, cà phê và hạt điều, đứng thứ 4 về xuất khẩu cao su, đứng thứ 1 về xuất khẩu hạt tiêu và

là một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu thủy sản và hàng may mặc Nước ta đang được đánh giá là một trong những nước có tốc độ phát triển Internet và viễn thông nhanh nhất thế giới Trước những năm đổi mới, cơ sở vật chất, giao thông thủy lợi nước ta xếp hàng lạc hậu Song cho đến nay, hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt… được nâng cấp và xây dựng mới với chất lượng tốt, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp được xây dựng ngày càng nhiều trên khắp mọi miền của tổ quốc, đời sống nhân dân được cải thiện hơn KTTT tạo sự năng động cho tất cả các thành phần kinh tế, từ vùng núi, nông thôn tới thành thị Ở đó mỗi cá nhân có thể phát huy hết khả năng của mình, đáp ứng yêu cầu và khẳng định được mình trong xã hội

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực mà nền KTTT đem lại, chúng

ta cũng thấy được mặt trái của nó (đặc biệt là trong thời kì quá độ lên nền KTTT hoàn chỉnh như ở nước ta hiện nay) gây ảnh hưởng không nhỏ đến tất

cả các mặt của đời sống

KTTT phát triển làm gia tăng khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội

Nó làm cho sự phân biệt giàu nghèo ngày càng trở nên nghiêm trọng Trong bước chuyển đổi đi vào kinh tế thị trường, điều kiện của các chủ thể sản xuất

Trang 25

luôn biến đổi, họ có cơ hội phát triển, có điều kiện và có cả những sa sút thất bại… Do nhiều nguyên nhân, một bộ phận dân số không có khả năng để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, nhu cầu tối thiểu của con người Cuộc sống của

họ gắn liền với đói nghèo và lạc hậu, đặc biệt là ở các vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu – vùng xa, vùng thuần nông nghiệp Bộ phận này không chỉ nghèo trong việc hưởng thụ các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa mà còn nghèo khổ cả về lương thực, thực phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày Bên cạnh đó, một bộ phận dân cư (đặc biệt ở thành thị, trung tâm dịch vụ thương mại) giàu lên nhanh chóng Họ đã giàu lại càng giàu hơn Sự gia tăng và phân hóa giàu nghèo đã kéo theo hàng loạt những tệ nạn và bất bình đẳng trong xã hội Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp làm sao cho mọi người dân đều được hưởng những phúc lợi của xã hội, giảm thiểu sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, làm cho xã hội ngày càng phát triển theo tinh thần

Xã hội chủ nghĩa

KTTT còn làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như lạm phát, đầu cơ tích trữ (xăng dầu, lương thực…) gây ra biến động giá cả, các tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, cờ bạc, hàng giả, hàng kém chất lượng, tệ nạn buôn bán phụ nữ

và trẻ em, tuyên truyền văn hóa phẩm đồ trụy…), ô nhiễm môi trường Tất cả đang trở thành vấn đề toàn cầu đòi hỏi cả thế giới phải quan tâm

Một trong những vấn đề phải kể đến đó là sự ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến sự định hướng giá trị của thế hệ trẻ Giá trị đạo đức truyền thống

là kết quả của sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, phát triển những giá trị dân tộc trong suốt 4000 năm lịch sử Nó thể hiện trong lối sống, quan điểm, quan hệ gia đình, dòng tộc… Từ khi KTTT phát triển, đất nước

mở cửa giao lưu văn hóa, giao thương kinh tế hòa nhập với thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, giáo dục thì xã hội có rất nhiều thay đổi Thay đổi từ lối sống, chuẩn mực giao tiếp, quan hệ giữa người với người…

Trang 26

Hiện nay một bộ phận có lối sống hưởng thụ, thực dụng, buông thả, dễ dàng

sa ngã vào các tệ nạn ma túy, mại dâm Số đó đang quay lưng lại với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Đồng tiền đã và đang trở thành thước đo giá trị trong nhiều mối quan hệ xã hội Chính vì vậy xuất hiện lan tràn những

bộ phận tham nhũng, bòn rút tài chính của quốc gia Đồng tiền đã len lỏi vào từng ngõ ngách của cuộc sống kể cả trong môi trường được coi là lành mạnh nhất- môi trường giáo dục Nó đã làm hoen ố mối quan hệ mà từ trước tới nay

cả xã hội tôn thờ, quan hệ thầy trò Bên cạnh bộ phận thanh niên cầu tiến thì còn một bộ phận không nhỏ có cuộc sống không lành mạnh, họ đang dần làm mất đi bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc 4000 năm văn hiến Cùng với lối sống hưởng thụ là tâm lí tiêu dùng, các giá trị vật chất đang lấn

át các chuẩn mực đạo đức và phẩm chất nhân cách con người Nhiều phong tục, nếp sống của các gia đình đang dần trở nên mai một dần Thay vì việc các thành viên trong gia đình sống gắn bó, khăng khít với nhau thì nay, mỗi người lại đang hướng đến cuộc sống cá nhân(mỗi người có phòng riêng, đồ dùng riêng…) Việc tiêu dùng hoang phí “sống ngày nay không cần biết đến ngày mai” được coi là giá trị của một người Vì đồng tiền cha mẹ sao nhãng việc chăm lo cho con cái, mọi nhu cầu của con đều được giải quyết bằng tiền… Nhiều đứa trẻ mang trọng tội vì thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình người thân Ngày càng có nhiều đứa trẻ bị bỏ roi khiến chúng ta nhìn mà đau xót Tình trạng li hôn trong các gia đình trẻ ngày một gia tăng do lối sống ích

kỉ, vô trách nhiệm của các thành viên Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều đó là do sự chiều chuộng quá mức, đáp ứng mọi nhu cầu một cách dễ dàng của bố mẹ chúng nên hình thành ở chúng lối sống ích kỉ, hưởng thụ và tâm lí có tiền là có tất cả Gia đình truyền thống xưa của chúng ta sống hài hòa giữa các thế hệ nhưng ngày nay, xu hướng thích ra ở riêng, độc lập rất phổ biến mỗi thành viên nhỏ trong gia đình luôn muốn tìm không gian riêng

Trang 27

cho mình Điều đó làm cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trở nên nhạt hơn Đây là một vấn đề đòi hỏi xã hội nói chung, gia đình nói riêng phải có cái nhìn đúng đắn để cùng nhau đưa ra biện pháp giải quyết tạo sự gắn

bó giữa người với người trong gia đình và toàn xã hội

Như vậy chúng ta thấy KTTT làm cho bộ mặt của nước ta thay đổi một cách đáng kể theo hướng tích cực Bên cạnh đó cũng phải nhìn nhận một cách khách quan những tiêu cực mà nó gây ra Tất cả những điều đó đều xuất phát

từ nguyên nhân cơ bản là sự tiếp nhận, vận dụng và lợi dụng các tác động từ các quy luật của nền kinh tế thị trường một cách tiêu cực trên cơ sở nhận thức sai lầm Để giải quyết tốt vấn đề trên là cả một quá trình lâu dài, là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó có giáo dục và định hướng nghề nghiệp

Thị trường xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Thị trường ở dạng giản đơn, sơ khai là nơi diễn ra việc trao đổi, mua bán hàng hóa gắn với không gian, thời gian nhất định như các chợ, tụ điểm mua bán, cửa hàng… Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển thì thị trường lao động càng mở rộng, đa dạng và phong phú hơn Trong nền KTTT hiện đại, việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ diễn ra một cách

Trang 28

linh hoạt thông qua hoạt động môi giới, trung gian, quảng cáo, tiếp thị… để khai thông quan hệ mua bán, kí kết các hợp đồng kinh tế

Thị trường có các nhân tố cơ bản đó là hàng hóa- tiền tệ; người mua- người bán Từ đó hình thành mối quan hệ hàng hóa- tiền tệ, mua – bán cung cầu, giá cả hàng hóa

Thị trường là nơi kiểm tra cuối cùng về chủng loại, hình thức, mẫu mã, chất lượng hàng hóa… Khi người sản xuất mang hàng hóa ra thị trường, những hàng hóa nào thích hợp với nhu cầu ,thị hiếu của xuất thì bán được Tức là chi phí lao động để sản xuất ra hàng hóa ấy được xã hội chấp nhận; giá trị của nó được thực hiện

Thị trường cung cấp cho các chủ thể tham gia thị trường những thông tin về quy mô cung- cầu, giá cả chất lượng, cơ cấu chủng loại, điều kiện mua – bán các hàng hóa dịch vụ Những thông tin đó giúp người bán đưa ra những quyết định kịp thời nhằm thu nhiều lợi nhuận, người mua sẽ điều chỉnh việc mua sao cho có lợi

Sự biến động của cung – cầu, giá cả thị trường đã điều tiết các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, luân chuyển hàng hóa từ nơi này sang nơi khác Khi giá cả một hàng hóa nào đó tăng lên sẽ kích thích xã hội sản xuất ra hàng hóa nhiều hơn nhưng lại làm cho nhu cầu của người tiêu dùng hàng hóa đó bị hạn chế Ngược lại khi giá cả hàng hóa đó giảm xuống, kích thích tiêu dùng và hạn chế việc sản xuất hàng hóa

Như vậy hiểu rõ và vận dụng được các chức năng của thị trường sẽ giúp người sản xuất và tiêu dùng giành được lợi ích kinh tế lớn nhất Nhà nước cần ban hành những chính sách kinh tế phù hợp nhằm hướng vào mục tiêu xác định

1.2.3.2 Thị trường lao động

Trang 29

Thị trường lao động là phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, vận động theo kinh tế thị trường Nó biểu hiện quan hệ lao động diễn ra giữa một bên là người lao động, một bên là người sử dụng lao động dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, thông qua các hợp đồng lao động

Thị trường lao động phát triển và hoạt động trong mối quan hệ hữu cơ với thị trường khác (thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ…) trong một thị trường xã hội thống nhất

Người lao động được đào tạo hoặc không được đào tạo đều tham gia vào thị trường lao động và bị chi phối bởi quy luật cạnh tranh thuê mướn, lợi nhuận và hiệu quả Do đó người lao động phải quan tâm đầy đủ tới chất lượng lao động ( tri thức, kĩ năng, kĩ xảo); giá thành sức lao động; thời điểm khi họ tham gia vào thị trường lao động Thị trường lao động đòi hỏi khắt khe sự tích lũy kinh nghiệm và học tập suốt đời của người lao động nếu như họ muốn có được việc làm và thu nhập cao, được xã hội chấp nhận

Khi nói đến thị trường lao động việc chú ý đến cung lao động và cầu lao động là rất quan trọng

Cung lao động là tổng nguồn sức lao động(lao động sống) do người lao động tự nguyện tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội Cung lao động trên thị trường lao động có hai loại: cung thực tế về lao động (người 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp); cung tiềm năng về lao động (lực lượng lao động và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học, làm công việc nội trợ trong gia đình hoặc không

có nhu cầu làm việc)

Cầu lao động là khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động trên thị trường lao động Cầu thực tế cần sử dụng lao động tại một thời điểm nhất định Cầu tiềm năng về lao động (số lao động tương ứng với tổng số chỗ

Trang 30

dựa việc làm có được sau khi tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, công nghệ…).[12]

1.2.4 Nghề nghiệp

1.2.4.1 Nghề nghiệp và việc làm

Theo chữ Latinh, nghề nghiệp (professio) nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại

Theo E.A Climop: nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội, tạo cho con người có khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy phương tiện tồn tại và phát triển

Theo Từ điển Tiếng Việt: nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội

Như vậy chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công lao động xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu của bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi

để thỏa mãn nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân

Bất cứ một nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị, tri thức lí thuyết, kĩ năng, kĩ xảo, truyền thống, đạo đức, phẩm chất nghề, hiệu quả do nghề mang lại Những giá trị này có thể hình thành theo con đường tự phát hoặc tự giác Trong hoạt đông bất kì, mỗi cá nhân phải tiêu tốn một số lượng vật chất và tinh thần nhất định Cá nhân sống bằng nghề nào thì

số lượng tiêu hao về vật chất và trí lực vào nghề đó là lớn nhất

Nghề luôn là cơ sở để con người có “nghiệp” (có việc làm) và từ đó tạo

ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu xã hội Bất cứ việc

Trang 31

làm nào cũng gắn với một nghề cụ thể (chuyên môn cụ thể), song không thể coi việc làm và nghề đồng nhất với nhau

“Việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm”.[Điều 13, Chương II Bộ Luật lao động] Theo quan điểm này, một hoạt đông được coi là việc làm, đồng thời phải thỏa mãn hai điều kiện: (1) hoạt động lao động tạo ra thu nhập và (2) hoạt động lao động được pháp luật cho phép Nếu một hoạt động chỉ thỏa mãn một trong hai điều kiện trên thì không được coi là việc làm Ví dụ như buôn ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em… Việc làm là một dạng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động phục vụ lợi ích của bản thân và xã hội Như vậy, việc làm có thể xuất phát từ nghề được đào tạo hoặc những công việc nhất thời đáp ứng mục đích lao động kiếm sống của chủ thể

Nếu việc làm diễn ra trong một thời gian dài, có cơ sở từ nghề được đào tạo, có thu nhập ổn định, trong quá trình lao động, cá nhân thường xuyên

sử dụng hệ thống lí thuyết, kĩ thuật, công nghệ và các kĩ năng được huấn luyện tỉ mỉ, có hệ thống, khi đó cá nhân ấy vừa có nghề và vừa có nghiệp

Nếu người có nghề mà không có nghiệp thì được coi là thất nghiệp Theo ILO, thất nghiệp là tình trạng một bộ phận của lực lượng lao động có nhu cầu làm việc nhưng chưa có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm (sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm) Hiện nay tình trạng này đang diễn ra khá phổ biến Sinh viên ra trường một mặt là do số lượng quá đông trong khi việc làm trong xã hội có hạn Mặt khác là do trình độ, chất lượng thực của sinh viên không đáp ứng được yêu cầu của công việc Đảng, Nhà nước ta đang rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của thời kì CNH – HĐH đất nước Đồng thời đưa ra nhiều chính sách để nâng cao khả năng thích ứng của sinh viên trước những thay

Trang 32

đổi của thị trường lao động Xây dựng và phát triển con người toàn diện phải được coi là mục tiêu phát triển của giáo dục nước ta trong những năm tới

1.2.4.2 Giáo dục hướng nghiệp

Lịch sử loài người đã chứng minh rằng nguồn lực lượng lao động có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội Ngày nay khoa học công nghệ phát triển cao, hiện đại xét cho cùng cũng không thể thay thế được nguồn lực lao động Chính vì vậy việc giúp cho mỗi người lựa chọn đúng được nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường có vai trò đặc biệt quan trọng

“Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, y học và nhiều khoa học khác để giúp học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực sở trường và tâm sinh lí cá nhân, nhằm phân bố hợp lí và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ, có sẵn của đất nước”.[5]

Trên cơ sở đó chúng ta có thể hiểu khái niệm giáo dục hướng nghiệp như sau: Giáo dục hướng nghiệp là những tác động của lực lượng gia đình, nhà trường, xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn chuẩn bị cho học sinh tâm lí sẵn sàng đi vào lao động trong các ngành nghề phù hợp với hứng thú, năng lực sở trường Đáp ứng yêu cầu về phát triển nghề nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của học sinh theo xu thế phân công lao động xã hội Trên cơ sở ấy nhà nước sử dụng hợp lí tiềm năng lao động của thế hệ trẻ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của xã hội người lao động được định hướng sẽ có tâm lí sẵn sàng đi vào lao động, điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo cân bằng trong phân bố lực lượng dân cư

Trang 33

Trong quá trình giáo dục hướng nghiệp giúp cho học sinh làm quen với nghề và các loại hình thông tin(thông tin về thế giới nghề nghiệp, về một nghề

cụ thể, về hệ thống trường đào tạo, thông tin về thị trường lao động…) Tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm hình thành hứng thú nghề, khuynh hướng nghề ở người học Giáo dục hướng nghiệp giúp cho học sinh có thái độ đúng đắn đối với tất cả các ngành nghề trong xã hội

1.2.4.3 Sự phù hợp nghề

Một người được coi là phù hợp với một nghề nào đó khi họ có đầy đủ phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa, năng lực chung, năng lực riêng, tri thức,

kĩ năng và tình trạng sức khỏe đáp ứng những đòi hỏi do nghề nghiệp đặt ra

Hiệu quả của hoạt động nghề nghiệp chịu sự chi phối của mức độ phù hợp nghề Sự phù hợp nghề thường thể hiện ở 3 dấu hiệu:

* Người lao động phải đảm bảo tốc độ và cường độ làm việc: Đảm bảo được yêu cầu về số lượng công việc theo định mức lao động Người ta

có thể đo, đếm các động tác để kết luận sự phù hợp

* Người lao động phải đảm bảo độ chính xác của công việc để đạt các tiêu chí về chất lượng của sản phẩm Sản phẩm làm ra phải đúng, đạt tiêu chuẩn, không có phế phẩm vượt quá cho phép

* Người lao động không bị những tác động độc hại của lao động nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm sinh lí bản thân

Thực tế ít ai sinh ra mà đã phù hợp với nghề này hay nghề khác Thường bản thể tự nhiên chỉ tạo cho họ những cơ sở ban đầu có khả năng hay không có khả năng phù hợp với nghề nghiệp Bởi vậy khó có thể có sự phù hợp nghề một cách tuyệt đối (hoàn toàn), để đạt tới mức độ này người lao động phải có sự rèn luyện để hình thành cho mình những gì mà nghề nghiệp đòi hỏi Mỗi cá nhân đều tiềm ẩn những năng lực, những sở trường đặc biệt

Trang 34

cùng với đó là sự học hỏi ở những người có kinh nghiệm thì sự phù hợp nghề

sẽ nhanh đến với bản thân hơn Tuy nhiên hoạt động nghề có những đặc điểm riêng, ở người này có thể tạo ra sự phù hợp, ở người khác dù rèn luyện chăm chỉ cũng không đáp ứng được yêu cầu Điều này ảnh hưởng tới chất lượng chọn nghề của học sinh Một nghề khi chưa hiểu nghề, chưa biết đúng bản thân mình (chưa hiểu mình) có thể làm đến đâu thì với họ nghề nào cũng có thể làm được nhưng thực tế không phải nghề nào cũng hợp với họ

Sự phù hợp nghề trước hết phù thuộc vào quá trình nhận thức sâu sắc nghề mà mình lựa chọn để biết mình, hiểu nghề từ đó tự rèn luyện để tạo ra sự phù hợp trong khuôn khổ nghề đặt ra Muốn có sự phù hợp nghề, sự bền vững

về chất lượng cần phải học hỏi, rèn luyện, hoàn thiện những gì mình có để những yêu cầu của nghề nghiệp chính là nhu cầu của bản thân

1.2.4.4 Năng lực nghề

Theo quan điểm của các nhà Tâm lí học: Năng lực của một cá nhân là thuộc tính độc đáo của cá nhân đó phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt

Vận dụng quan điểm đó, năng lực nghề có thể hiểu là tập hợp những thuộc tính nhân cách tương đối bền vững được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động có liên quan tới nghề nghiệp

Theo K.K Platonop: Năng lực đối với một ngành nghề nhất định nào

đó được xác định bởi những yêu cầu mà ngành nghề đó đặt ra cho cá nhân nào tiếp thu nó

Theo Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Tất Dong: Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm lí, sinh lí cá nhân với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Không có sự tương ứng này thì con người không theo đuổi nghề được

Trang 35

Năng lực nghề không có sẵn, nó hình thành và phát triển thông qua quá trình hoạt động và học tập Khi làm việc năng lực ấy hoàn thiện và phát triển Mỗi người trong quá trình học tập và làm việc không những sử dụng những tri thức lí thuyết, kĩ năng, kĩ xảo, mà còn tích lũy được kinh nghiệm thực tế từ

đó nâng cao trình độ hiểu biết của mình về lĩnh vực mình đảm nhiệm Chính

vì vậy trong suốt quá trình ấy, năng lực nghề nghiệp hình thành và phát triển

1.2.4.5 Định hướng nghề nghiệp

Định hướng nghề nghiệp được hiểu là quá trình hoạt động được chủ thể

tổ chức chặt chẽ theo một logic hợp lí về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt

ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn cho một nghề nào đó

Trong nhà trường chủ thể trực tiếp định hướng tới nghề nghiệp là học sinh, song do tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm vốn sống và trình độ nhận thức xã hội còn hạn hẹp nên cần có sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục Ở đây các lực lượng sư phạm Nhà trường trở thành chủ thể của một hoạt động đặc thù – hoạt động hướng nghiệp- một trong những nhiệm vụ giáo dục toàn diện đối với học sinh

Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, các lực lượng sư phạm trong nhà trường cần hiểu rõ đặc điểm định hướng nghề của học sinh với những yếu

tố cấu thành: nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề và quyết định nghề

Trước hết định hướng cho học sinh nhận thức về nghề nghiệp Nhận thức về nghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp, những biểu hiện đánh giá của xã hội trong điều kiện phát triển KT-

XH cụ thể với giá trị của nghề nghiệp và những đặc điểm tâm lí, sinh lí của những người làm việc trong nghề nghiệp đó Xuất phát từ nhận thức nghề với

hệ thống tri thức về nghề, về những đòi hỏi khách quan của nghề với người

Trang 36

lao động để đối chiếu phẩm chất, năng lực cá nhân, tìm ra sự phù hợp nghề đối với bản thân Nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nghề nghiệp sẽ thúc đầy hành động chọn nghề của học sinh phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình, giúp cá nhân có điều kiện để sáng tạo, trong nghề nghiệp Nhận thức nghề nghiệp bao gồm những thành tố sau:

* Nhận thức về những đòi hỏi của xã hội với nghề nghiệp

* Nhận thức về thế giới nghề nghiệp những yêu cầu đặc trưng của nghề định lựa chọn

* Nhận thức về đặc điểm cá nhân

Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp

Hành vi lựa chọn nghề của thanh niên có liên quan nhiều tới thái độ của

họ Đó là sự đánh giá chung mang tính lâu dài của cá nhân về giá trị nghề nghiệp Có thể là thái độ phản ánh tính tích cực hoặc tiêu cực của con người đối với nghề nghiệp Khi lựa chọn nghề, cá nhân chịu ảnh hưởng của xã hội

và con người (tác động từ phía gia đình, bạn bè, nhà trường…); chịu ảnh hưởng của tình huống (tình huống cụ thể liên quan tới nghề như nguồn tài chính gia đình, tuổi tác, thời điểm vế sự xuất hiện của một nghề mới…) Với

tư cách là chủ thể của hoạt động định hướng nghề nghiệp, các lực lượng giáo dục trong nhà trường cần định hướng cho học sinh nhận thức rõ ràng về nghề nghiệp cũng như thái độ với nghề nghiệp Từ đó người học có được sự lựa chọn đúng, phù hợp với hứng thú, năng lực của mỗi người

Trong phạm vi đề tài tôi đi sâu nghiên cứu quá trình lựa chọn nghề của học sinh

1.2.4.6 Lựa chọn nghề

Lựa chọn nghề là một quá trình lâu dài và phức tạp, nó biểu hiện ở những mức độ khác nhau ngay trong những lớp đầu ở trường phổ thông cơ sở, được tiếp tục phát triển và hoàn thiện ở những lớp sau và nhất là ở lớp cuối

Trang 37

phổ thông Trung học, trong các trường lớp dạy nghề, được coi là kết thúc khi con người có khả năng lao động đặc biệt

Quá trình lựa chọn nghề của học sinh được diễn ra với sự chi phối của nhiều mối quan hệ xã hội (học sinh- gia đình, học sinh- tập thể lớp, đoàn, đội, với các dạng thông tin…) Những mối quan hệ này tác động tới nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú, sở thích nghề nghiệp của học sinh Tuy nhiên khi lựa chọn đi đến quyết định nghề thì chủ thể học sinh là người lựa chọn số ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan Sự tiếp nhận và mức độ ảnh hưởng của tác động bên ngoài chủ yếu là do mức độ và chất lượng trình độ nhận thức của chủ thể Nếu chủ thể nhận thức tốt thì những tác động khách quan chỉ là tham khảo, còn ngược lại nếu nhận thức không tốt sẽ phụ thuộc vào những tác động ấy

Quá trình lựa chọn nghề là nói tới sự kết hợp giữa nhu cầu, nguyện vọng cá nhân với yêu cầu do nghề nghiệp và xã hội đòi hỏi không phải nguyện vọng nào của chủ thể cũng được xã hội chấp nhận Muốn được xã hội chấp nhận thì mỗi cá nhân không ngừng học hỏi, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng được mọi đòi hỏi của xã hội về nghề nghiệp

Mỗi cá nhân cần xây dựng cho mình kế hoạch cho tương lai, kế hoạch cho cuộc sống Vì đó là sự khẳng định mục tiêu cần vươn tới Lựa chọn nghề

là một hoạt động có đối tượng (nghề mà học sinh lưạ chọn) Nghề được lựa chọn trở thành mục đích hoạt động lựa chọn của học sinh Để đạt mục đích, học sinh phải hiểu nghề Sự hiểu biết này càng sâu sắc bao nhiêu thì sự chiếm lĩnh nghề càng nhanh trở thành hiện thực bấy nhiêu Việc xác định mục đích cho sự lựa chọn nghề của học sinh rất đa dạng và phức tạp Muốn xác định được nghề phù hợp với mình, học sinh phải biết mình và hiểu nghề Bởi nghề nghiệp trong xã hội luôn biến động theo sự biến đổi của cách mạng khoa học

Trang 38

kĩ thuật và nhu cầu của con người Vì thế học sinh phải trang bị cho mình vốn hiểu biết nhất định để sự lựa chọn của mình không trở thành phi thực tế

Quá trình lựa chọn nghề không phải chốc lát, một lần mà nảy sinh trong mối quan hệ phức tạp Lựa chọn nghề được đặt trong một hệ thống mối quan

hệ giữa chủ thể (người lựa chọn) và điều kiện khách quan có mối quan hệ trực tiếp với nghề nghiệp Vì thế lựa chọn nghề phải được xem xét trong mối quan

hệ đặc trưng của cuộc sống con người

1.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh THPT

Lâu nay chúng ta vẫn tưởng rằng, hướng nghiệp chỉ là sự lựa chọn một nghề mà mình yêu thích, một trường đại học vừa sức với mình Tuy nhiên đây chỉ là phần ngọn của một quá trình Trong đó lựa chọn nghề nghiệp là giai đoạn đầu trong tiến trình hướng nghiệp của mỗi người Hướng nghiệp là một quá trình liên tục tác động từ khi người học còn ngồi học ở bậc phổ thông, qua quá trình trau dồi chuyên môn nghề nghiệp và tìm nơi lao động phù hợp Trong quá trình đó, lựa chọn nghề của một người nói riêng, của học sinh THPT nói chung chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

1.2.5.1 Yếu tố gia đình

Gia đình là cái nôi đầu tiên cho sự hình thành và phát triển nhân cách,

là môi trường quyết định thành công hay thất bại của trẻ Trong đó môi trường gia đình ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn nghề của các em Những người trong gia đình, trước hết là cha mẹ- người luôn gần gũi, hiểu rõ nét tính cách của các em nhất nên có thể biết được hứng thú năng lực sở trường của các em Cha mẹ là người đi trước, có nhiều hiểu biết về kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm thực tế về nghề nghiệp hơn các em Hơn nữa lựa chọn một nghề

và vấn đề xin việc sau khi ra trường còn phụ thuộc phần lớn vào mối quan hệ tài chính của gia đình Các em chưa thể tự mình quyết định cuộc sống nên

Trang 39

việc chịu sự tác động của cha mẹ đến việc lựa chọn nghề là điều không thể tránh khỏi

Chúng ta thấy rằng, việc chịu ảnh hưởng quá lớn từ cha mẹ có tác động hai mặt: Thứ nhất, trường hợp nếu cha mẹ là người có hiểu biết nhất định về

xã hội, hiểu rõ năng lực, hứng thú của con mình sẽ hướng cho con mình lựa chọn một ngành nghề phù hợp Thứ hai, có một bộ phận không nhỏ các bậc cha mẹ áp đặt, buộc con mình phải đi theo con đường mà mình đã định sẵn

mà không căn cứ vào tính cách cũng như năng lực của con mình Người lớn can thiệp quá sâu vào việc chọn nghề mà không quan tâm đến nhu cầu của các

em sẽ dễ để lại cho các em sự ỷ lại vào cha mẹ, sự thụ động trước những biến đổi của thị trường lao động Vì vậy các em trong số đó thường không thành đạt trong nghề, chán hoặc bỏ nghề Trong những trường hợp như vậy nếu các

em thiếu bản lĩnh thì sẽ không được chọn nghề phù hợp với khả năng và nguyện vọng của bản thân

Hiện nay các gia đình thường định hướng phân tích, khuyên các em nên chọn nghề theo nghề của cha mẹ hoặc nghề sau khi học xong dễ xin việc Vì thế họ tích cực tìm hiểu thông tin, sách báo, các tài liệu liên quan đến các nghề trong xã hội giúp con mình lựa chọn một nghề làm hành trang bước vào đời

1.2.5.2 Yếu tố giáo dục hướng nghiệp của nhà trường

Giáo dục nhà trường phải đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh Hướng nghiệp là hệ thống những tác động của các lực lượng gia đình, nhà trường, xã hội Trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn, chuẩn bị cho học sinh tâm lí sẵn sàng đi vào lao động trong các ngành nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, sở trường, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề nghiệp

Thông qua hoạt động hướng nghiệp ở nhà trường, người học lĩnh hội

Trang 40

được những thông tin về thế giới nghề nghiệp, về những yêu cầu của nghề đối với bản thân người lao động Trên cơ sở đó, học sinh sẽ đối chiếu khả năng của mình với hệ thống những yêu cầu của nghề nghiệp và có những quyết định đúng đắn khi lựa chọn một nghề cụ thể cho mình

Tuy nhiên khi học sinh đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời còn nhiều băn khoăn, lúng túng Một phần do thiếu thông tin về thế giới nghề trong xã hội rộng lớn Thứ nữa do hậu quả của việc nhận thức chưa đúng đắn về giáo dục hướng nghiệp của nhà trường Kết quả của việc thực hiện một cách đối phó, hình thức của nhà trường và học sinh trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp Trong các nhà trường phổ thông giáo viên dạy các môn văn hóa kiêm nhiệm vụ tư vấn hướng nghiệp Đây có phải là vấn đề đặt ra cho

cơ quan giáo dục có thẩm quyền và Bộ Giáo dục- Đào tạo về việc đưa giáo viên có chuyên môn vào trong các trường phổ thông? Bên cạnh đó các trường cần thực hiện đúng hơn những quy định về nội dung, chương trình, thời gian cũng như chất lượng các giờ tổ chức hoạt động hướng nghiệp Tránh tình trạng học sinh ngồi trong lớp một cách chán nản, mong sớm hết giờ Hiện nay chúng ta đang cần một đội ngũ có trình độ chuyên môn đảm nhiệm nhiệm vụ trên Nếu mỗi trường chỉ cần một giáo viên làm nhiệm vụ hướng nghiệp thì cả nước thiếu tới hơn 10.000 người

Tù thực tế trên ta thấy rằng, hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường phổ thông chưa đủ sức thuyết phục người học, hoặc chưa đáp ứng đủ nhu cầu về tư vấn nghề, lựa chọn nghề cho học sinh Vì thế ảnh hưởng của nhà trường tới việc chọn nghề cho học sinh là không đáng kể

1.2.5.3 Yếu tố bạn bè

Tình bạn là yếu tố không thể thiếu được đối với tất cả mọi người trong

đó có thanh niên, học sinh Nhu cầu tình bạn đã có từ rất sớm và phát triển ở tuổi thiếu niên Nhưng nó trở nên mạnh mẽ và bức thiết hơn ở tuổi thanh niên

Ngày đăng: 04/10/2014, 06:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin, Nxb Lý luận chính trị, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
2. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
4. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Sự thật, Hồ Chí Minh toàn tập, Hà nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Sự thật
5. Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT, Nxb Giáo dục, Tr. 8-9, 20- 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
6. Nguyễn Như Ý, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Như Ý, "Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
7. Phạm Thị Đức (2002), Những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở học sinh THPT, Tạp chí Giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Đức (2002), "Những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở học sinh THPT
Tác giả: Phạm Thị Đức
Năm: 2002
8. Quyết định số 201/2001/QĐ ngày 28/12/2001, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 đến 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: số 201/2001/QĐ ngày 28/12/2001
9. Trần Đình Hoan, Phát triển nguồn nhân lực và sử dụng lao động- yếu tố quyết định phát triển kinh tế, Tạp chí lao động xã hội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Hoan, "Phát triển nguồn nhân lực và sử dụng lao động- yếu tố quyết định phát triển kinh tế
10. Thủy nguyễn (2009), Những lầm khi lựa chọn nghề, http://www.24h.com.vn, tháng 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy nguyễn (2009), "Những lầm khi lựa chọn nghề
Tác giả: Thủy nguyễn
Năm: 2009
11. Võ Đại Lược (1996), Công nghiệp hóa- hiện đại hóa Việt Nam đến năm 2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Đại Lược (1996), "Công nghiệp hóa- hiện đại hóa Việt Nam đến năm 2000
Tác giả: Võ Đại Lược
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Viện kinh tế và phát triển (2007), Giáo trình “Kinh tế học và phát triển”,Nxb Lý luận chính trị, Hà nội, Tr. 88-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Kinh tế học và phát triển”
Tác giả: Viện kinh tế và phát triển
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1: Nhận thức của giáo viên và  học sinh về tầm quan trọng - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2. 1: Nhận thức của giáo viên và học sinh về tầm quan trọng (Trang 47)
Bảng 2.2.Nhận thức của giáo viên và học sinh về mục đích của hoạt động - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.2. Nhận thức của giáo viên và học sinh về mục đích của hoạt động (Trang 48)
Bảng 2.3: Hành vi của học sinh khi tham gia hoạt động - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.3 Hành vi của học sinh khi tham gia hoạt động (Trang 50)
Bảng 2.4: Thực trạng thái độ của học sinh khi tham gia các hoạt động - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.4 Thực trạng thái độ của học sinh khi tham gia các hoạt động (Trang 52)
Bảng 2.6: Mức độ ƣu tiên lựa chọn các ngành nghề của học sinh THPT - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.6 Mức độ ƣu tiên lựa chọn các ngành nghề của học sinh THPT (Trang 56)
Bảng 2.7: Nhận xét của giáo viên về nhóm ngành, nghề đƣợc học sinh ƣu - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.7 Nhận xét của giáo viên về nhóm ngành, nghề đƣợc học sinh ƣu (Trang 58)
Bảng 2.9: Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.9 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề (Trang 61)
Bảng 2.10: Nhận xét của giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.10 Nhận xét của giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng (Trang 63)
Bảng 2.11: Những khó khăn khi lựa chọn nghề của học sinh THP - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.11 Những khó khăn khi lựa chọn nghề của học sinh THP (Trang 64)
Bảng 2.12: Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.12 Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho (Trang 66)
Bảng 2.13: thực trạng hiệu quả tổ chức hoạt động GDHN - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 2.13 thực trạng hiệu quả tổ chức hoạt động GDHN (Trang 67)
Bảng 3.1: Đánh giá của chuyên gia về mức độ phù hợp của cơ sở có tính - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 3.1 Đánh giá của chuyên gia về mức độ phù hợp của cơ sở có tính (Trang 81)
Bảng 3.2: Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của các biện pháp - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 3.2 Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của các biện pháp (Trang 82)
Bảng 3.3: Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi - ảnh hưởng của thị trường lao động đến sự lựa chọn nghề của học sinh thpt tỉnh bắc giang
Bảng 3.3 Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w