Một trong những chủ trương quan trọng trong phát triển đất nước của Đảng ta là ra sức phát triển đô thị cùng với việc công nghiệp hoá nông nghiệp; quan tâm phát triển công nghiệp, dịch v
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ĐỊNH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ĐỊNH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60 62 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ ở một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Định
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn GS.TS Nguyễn Thế Đặng, giảng viên Trường Đai học Nông lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cám ơn sự góp ý chân thành của Thầy, Cô giáo Khoa Tài nguyên
và Môi trường, Khoa sau đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn Lãnh đạo UBND - HĐND huyện Phổ Yên, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Hội đồng Bồi thường hỗ trợ và tái định
cư huyện, Phòng NN - PTNT, Phòng Thống kê đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cám ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn
bè đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân thành cám ơn!
Nguyễn Thị Định
Trang 5MỤC LỤC Danh mục bảng, biểu đồ
Ký tự viết tắt
Đặt vấn đề ……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Mục đích và yêu cầu……… 2
2.1 Mục đích……… 2
2.2 Yêu cầu……… 2
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu ……… 4
1.1 Đô thị hóa và quá trình phát triển của đô thị……… 4
1.1.1 Khái niệm về đô thị……… 4
1.1.2 Đô thị hóa……… 9
1.2 Quá trình phát triển đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam……… 13
1.2.1 Trên thế giới……… 13
1.2.2 Khái quát quá trình đô thị Việt Nam……… 15
1.3 Tình hình phát triển đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam hiện nay 18
1.3.1 Trên thế giới……… 18
1.3.2 Đô thị hóa tại Việt Nam……… 20
1.3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến vấn đề sử dụng đất……… 29
1.3.4 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến thu nhập của người dân……… 30
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu.……… 34
2.1 Nội dung nghiên cứu……… 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 34
2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu……… 34
2.2.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu,tài liệu……… 34
Trang 62.2.3 Phương pháp xử lý số liệu điều tra phân tích kết quả nghiên cứu 37
2.2.4 Phương pháp chuyên gia……… 37
2.2.5 Phương pháp phân tích……… 37
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận……… 38
3.1 Điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội……… 38
3.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 38
3.1.2 Tình hình điều kiện kinh tế - xã hội……… 43
3.1.3 Thực trạng quá tình đô thị hóa……… 46
3.2 Tác động của đô thị hóa đến biến động đất đai……… 49
3.2.1 Biến động đất đai nói chung……… 49
3.2.2 Sự biến động các loại đất trong quá trình đô thị hóa giai đoạn 2008 – 2010……… 51
3.2.3 Thực trạng quá trình chuyển mục đích sử dụng đất, công tác giao đất, cho thuê, thu hồi đất……… ……… 55
3.2.4 Tác động của đô thị hóa……… 60
3.3 Tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp……… 62
3.3.1 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên……… 62
3.3.2 Biến động số lượng và cơ cấu đất nông nghiệp giai đoạn 2008 – 2010……… 63
3.3.3 Biến động diện tích, năng suất một sô loại cây trồng trên đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2008 – 2010……… 66
3.3.4 Ảnh hưởng của đô thị hoá đến thu nhập của hộ sử dụng đất nông nghiệp……… 70
3.3.5 Đánh giá chung về ảnh hưởng của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2008 – 2010………
77
Trang 73.4 Định hướng một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình
đô thị hóa……… 78
3.4.1 Định hướng phát triển đô thị hóa huyện Phổ Yên đến năm 2020…… 78
3.4.2 Những giải pháp thể chế chính sách……… 79
3.4.3 Những giải pháp kinh tế - xã hội……… 79
3.4.4 Giải pháp kỹ thuật……… 81
Kết luận và kiến nghị……… ……… 82
1 Kết luận……… 82
2 Kiến nghị……… 82
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Tăng trưởng kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2008 – 2010…… 47 Bảng 3.2 Chuyển dịch kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2008 – 2010… 47 Bảng 3.3 Tình hình biến động đất đai huyện Phổ Yên giai đoạn 2008-2010 50 Bảng 3.4 Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2008 -2010 ………… 52 Bảng 3.5 Biến động diện tích đất phi nông nghiệp giai đoạn 2008 - 2010 54 Bảng 3.6 Biến động diện tích đất chưa sử dụng giai đoạn 2008 – 2010 55 Bảng 3.7 Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2008-2010…… 56 Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả giao đất ở giai đoạn 2008-2010………… 58 Bảng 3.9 Kết quả thu hồi đất ở huyện Phổ Yên giai đoạn 2008-2010… 59 Bảng 3.10 Đặc điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Phổ Yên
Bảng 3.11 Tổng hợp diện tích đất sản xuất nông nghiệp chuyển mục
đích sử dụng giai đoạn 2008 – 2010……… 63 Bảng 3.12 Biến động số lượng và cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp giai
Bảng 3.13 Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính trên đất hàng
năm huyện Phổ Yên giai đoạn 2008 – 2010……… 67 Bảng 3.14 Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính trên đất lâu
năm huyện Phổ Yên giai đoạn 2008 – 2010……… 69 Bảng 3.15 Một số thông tin cơ bản của hộ điều tra……… 70 Bảng 3.16 Biến động diện tích đất nông nghiệp của các hộ điều tra giai
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
2L-1M : 2 lúa – 1 màu 2M- 1L : 2 màu – 1 lúa
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hoá là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới, nhất là đối với các nước ở châu Á Nền kinh
tế càng phát triển thì quá trình đô thị hoá diễn ra càng nhanh
Đất nước ta đang trên đà phát triển, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá phát triển song song với nhau Đô thị hoá là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của mọi nền văn minh trên thế giới, nó góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đời sống của nhân dân Trong xu thế quốc tế hoá, sản xuất ngày càng gia tăng, cách mạng khoa học
kỹ thuật trên thế giới diễn ra như vũ bão thì việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trở thành vấn đề cấp bách để đưa đất nước thành một nước công nghiệp
có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, mức sống vật chất và tinh thần cao, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Một trong những chủ trương quan trọng trong phát triển đất nước của Đảng ta là ra sức phát triển đô thị cùng với việc công nghiệp hoá nông nghiệp; quan tâm phát triển công nghiệp, dịch vụ, và kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để các đô thị làm hạt nhân thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong vùng và trên cả nước
Quá trình đô thị hoá ở nước ta đã bước đầu đem lại những thành quả, không những làm cho bộ mặt đô thị thay đổi mà còn tác động tích cực đến đời sống của nhân dân Tuy nhiên, nó cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: Vấn đề sử dụng đất đai, lao động và việc làm, di dân, dãn dân…Đứng trước tác động của đô thị hoá, chúng ta cần phải làm gì để hạn chế những ảnh hưởng
Trang 11tiêu cực và chủ động phát huy tính tích cực của quá trình đô thị hoá, đảm bảo cho kinh tế phát triển hiệu quả và bền vững
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nước, tốc độ đô thị hoá của tỉnh Thái Nguyên và huyện Phổ Yên diễn ra khá mạnh Quá trình đô thị hoá đã làm đất đai biến động mạnh cả về mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là các khu đô thị tăng lên Việc quản lý, sử dụng đất trở lên phúc tạp hơn Giá cả đất đai khu
đô thị trên thị trường tăng cao và có những biến động phức tạp Ngoài ra, sự phát triển của đô thị đã thu hút lực lượng lao động lớn từ nông thôn ra thành thị, gây lên sự bất ổn xã hội như: giải quyết việc làm, nhu cầu nhà ở, ô nhiễm môi trường…
Đô thị hoá là quá trình tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Tuy nhiên, phát triển kinh tế phải đi đôi với sử dụng đất hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Xuất phát từ thực tế trên, được sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Thế
Đặng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2008 - 2010”
1 Mục đích và yêu cầu
* Mục đích
- Xác định được sự tác động và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến
sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện
- Đưa ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình đô thị hoá
* Yêu cầu
- Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trang 12- Quá trình đô thị hoá diễn ra trên địa bàn huyện Phổ Yên
- Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu
- Định hướng giải pháp cho sử dụng đất trong quá trình đô thị hoá
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
1.1.1 Khái niệm về đô thị
a, Khái niệm
Các nước châu Á và trên thế giới nói chung đã hình thành đô thị từ rất sớm, cách đây khoảng mấy ngàn năm Tuy nhiên, đến nay khái niệm về đô thị chỉ có tính tương đối do tính khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Song phần nhiều vẫn thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Quy mô và mật độ dân số: Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết
để được gọi là một đô thị phải là 400 người/km2
hay 1000 người trên một dặm vuông Anh Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị
- Cơ cấu lao động: Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất
và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá
Có thể đưa ra một số ví dụ cụ thể như sau:
+ Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các "trung tâm thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông
+ Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người/km2
và tổng số dân phải trên 1.000 người Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của
Trang 14đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc
thậm chí là ranh giới tỉnh bang
+ Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông Đối với các khu thành thị
có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị
+ Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây
cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine) - gần giống như cách định nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine) Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area"
trong tiếng Anh, đa số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình [8]
Ở Việt Nam theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ Việt Nam về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị: Đô thị là khu dân cư tập trung đủ hai điều kiện :
- Về phân cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập
- Về trình độ phát triền, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương , vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động, kết cấu hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn quy chuẩn thiết kế quy
Trang 15hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người /km2
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ dân số cao , chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện, trong tỉnh Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội………
Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối giao thông…
Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùng tỉnh nhưng cũng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị một vùng liên tỉnh hoặc cả nước
Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm nội thành hay nội thị và ngoại ô hay ngoại thị Các đơn vị hành chính của nội thị bao gồm quận và phường, còn các đơn vị hành chính ngoại ô bao gồm huyện và xã
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản
lý của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị trung tâm quốc gia, đô thị trung tâm cấp vùng(liên tỉnh), đô thị trung tâm cấp tỉnh, đô thị trung tâm cấp huyện và đô thị trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện) [9]
b, Phân loại đô thị
Theo Nghị định số 72/2001/NĐ- CP ngày 05/10/2001 của Chính Phủ về việc
Trang 16- Đô thị loại đặc biệt: là thủ đô hoặc đô thị rất lớn với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên, có cơ sở hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh, quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên, mật độ dân số bình quân từ
12000 người /km2
trở lên Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng
kĩ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh
- Đô thị loại II: Là đô thị lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật, du lịch dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu vùng trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước Dân số đô thị có từ
25 vạn đến dưới 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 80% tổng số lao động, mật độ dân cư bình quân từ 10000 người / km2
trở lên, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh
- Đô thị loại III: Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, dịch
Trang 17vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh Dân số có từ 10 – 25 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 75% trong tổng số lao động, mật độ dân cư trung bình từ
trở lên Các đô thị này đã và đang đầu tư xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh từng mặt
hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng
- Đô thị loại V: Là những đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp….có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã Dân số có từ 4000 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 65% trong tổng số lao động Mật độ dân số bình quân 2000 người /km2
trở lên, đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kĩ thuật Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ tiến hành trong phạm vi địa giới nội thị Riêng miền núi, quy mô dân số đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô thị loại V là 2000 người [9]
c, Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản
Trang 18Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học
kỹ thuật của khu vực và trên thế giới [5]
1.1.2 Đô thị hóa
a, Khái niệm
Khái niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Các nhà khoa học cũng xem xét và quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau:
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống, [5]
Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị Do đó, sự tăng trưởng của
đô thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5 năm)
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống
- Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa (CNH) đất nước Có thể nói đô thị hóa là người bạn đồng hành của CNH
- Quá trình đô thị hóa là quá trình biến đổi sâu sắc về|:
+ Cơ cấu sản xuất,(sản xuất hàng hóa…,thành phần kinh tế hoạt động đa dạng hơn…)
+ Cơ cấu nghề nghiệp,(tăng tỉ lệ lao động phi NN…)
Trang 19+ Cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội,(phố, phường,quận)
+ Cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị
- Mức độ đô thị hóa được tính bằng tỉ lệ phần trăm dân số đô thị so với tổng dân số toàn quốc hay vùng
- Tỷ lệ dân số đô thị là thước đo về đô thị hóa để so sánh mức đô thị hóa giữa các nước hoặc từng vùng với nhau Tuy nhiên tỷ lệ phần trăm dân số đô thị cũng chưa phản ánh được đầy đủ mức độ đô thị hóa của một nước mà phải xem chất lượng đô thị hóa như thế nào
+ Ở các nước phát triển chất lượng đô thị hóa phát triển theo các nhân tố chiều sâu, nâng cao chất lượng cuộc sống, tận dụng tối đa những lợi ích và hạn chế tối thiểu những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa, nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chất lượng môi trường đô thị- Đó là đô thị hóa tích cực + Ở các nước đang phát triển,hiện tượng bùng nổ dân số đô thị bên cạnh sự phát triển yếu kém của công nghiệp đã làm cho quá trình CNH và đô thị hóa mất cân đối Sự mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn càng them sâu sắc Sự chênh lệch về mức sống đã thúc đẩy sự chuyển dịch dân số nông thôn ra đô thị càng ồ
ạt, làm cho dân số đô thị tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các đô thị lớn, đô thị trung tâm, tạo lên những điểm dân cư đô thị cực lớn, mất cân dối trong sự phát triển hệ thống dân cư – Đó là đô thị hóa tiêu cực…
Theo các học già Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn
b, Đặc trưng của đô thị hoá
Trang 20- Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc
biệt là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số
lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý,
liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị [6]
c, Sự phát triển của đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội Trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội
Quá trình đô thị hóa thực chất cũng là một quá trinh phát triển kinh tế xã hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển không gian văn hóa và kiến trúc Nó gắn liền với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới Quá trình đô thị hóa có thể theo hai xu hướng:
- Đô thị hóa tập trung:
Là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn,khác biệt nhiều với nông thôn
- Đô thị hóa phân tán:
Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối công nghiệp,nông nhiệp và dịch vụ công cộng,bảo đảm cân bằng sinh thái,tạo điều kiện làm việc,sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn
Hình thành và phát triển mạng lưới đô thị vừa và nhỏ trên các vùng,có vai trò thúc đẩy phát triển nông thôn,giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.[3]
Trang 21d, Tác động của đô thị hóa
Đô thị hóa có các tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực Đô thị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô thị hóa, tâm lí và lối sống của người dân thay đổi Sự gia tăng quá mức của không gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị" ,thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị Những người chống đối xu thế đô thị hóa cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư hạ tầng kĩ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô thị
e, Ảnh hưởng của đô thị hóa
- Đô thị hóa có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Đô thị hóa cũng tác động mạnh lên sự phát triển kinh tế xã hội của vùng và
cả nước
- Đô thị là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động
- Các thành phố thị xã là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài
e, Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa:
- Điều kiện tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế phát triển chưa mạnh mẽ thì đô
thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu thời tiết tốt, có khoáng sản, địa lí thuận lợi cho sản xuất và phát triển và các lợi thế khác sẽ có sức thu hút dân cư mạnh mẽ hơn, và do đó sẽ được đô thị hóa nhanh hơn, quy mô lớn hơn Ngược lại vùng nào kém thuận lợi hơn sẽ đô thị hóa chậm hơn và quy mô nhỏ hơn
Trang 22- Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị
tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó Kinh
tế thị trường đã mở đường cho lực lực sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thị hóa
- Văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng của mình và
nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội,…nói chung và hình thái đô thị nói riêng
- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết định
trong quá trình đô thị hóa Bởi nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính Để xây dựng nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn Nguồn đó có từ trong nước hay nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế thể hiện nhiều phương diện như quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ tầng, trình độ văn hoá giáo dục của dân cư, mức sống dân cư
- Tình hình chính trị: Sự ổn định chính trị là động lực thúc đẩy quá trình đô
thị hoá, chính trị càng ổn định thì dô thị càng phát triển Ở Việt Nam từ sau năm
1975, tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu
tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hoá đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc.[5]
1.2 Quá trình phát triển đô thị trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Quá trình phát triển đô thị trên thế giới
a, Thời kì cổ đại
Đó là thời tiền sử được tính từ 5000 năm đến 1000 năm trước công nguyên
và giai đoạn cổ đại tính đến năm 500 sau Công nguyên
Trang 23Các đô thị phát triển thời kì này gồm: vùng Lưỡng Hà, Ai Cập, vùng Tiểu Á, Trung Á, Ấn Độ và Trung Quốc
b, Thời kì trung đại
Đô thị xuất hiện chủ yếu vào đầu công nguyên thuộc chế độ phong kiến Quy mô thành phố nhỏ, không lớn hơn 5000 đến 10000 người, hầu hết có thành quách bao quanh
Thế kỉ XII, đô thị phát triển hơn do sự xuất hiện của thủ công nghiệp, hình thành nhiều đô thị cảng và đô thị nằm trên đầu mối giao thông
Thế kỉ XV,XVI nền văn hóa Phục Hưng phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của các đô thị ở châu Âu, đặc biệt là Ý, Pháp…
Châu Á với chế độ phong kiến kéo dài ảnh hưởng đến tính chất các đô thị phong kiến Tiêu biểu là Trung Quốc, thành phố có quy mô lớn trở thành chỗ ở và thể hiện uy quyền của các vua chúa phong kiến, là trung tâm chính trị văn hóa của giai cấp thống trị Các đô thị này thường được xây dựng theo kiểu thành quách Nói chung đô thị thời kì này phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xôn,phát triển tự phát, thiếu quy hoạch và môi trường đô thị không hợp lý
c, Thời kì cận đại
Giữa thế kỉ XVII, công nghiệp phát triển thu hút nguồn nhân lực lớn,các khu nhà ở mọc lên nhanh chóng bên cạnh các khu vực sản xuất Các nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp , Đức, Mỹ, dân số đô thị tăng lên nhanh chóng Các thành phố phát triển và phân bố không đồng đều do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế Các thành phố lớn có số dân tập trung cao: New York: 5 triệu người(1920), London gần 5 triệu người, Berlin trên 4 triệu người
Đô thị phát triển ồ ạt dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tổ chức không gian đô thị Nhà ở đô thị nảy sinh nhiều vấn đề,đặc biệt là sự thiếu thốn các khu nhà cho
Trang 24Môi trường đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự phát triển của công nghiệp và dân số,thiếu những khu cây xanh,công viên
Công trình công nghiệp xây dựng lộn xộn Mật độ xây dựng cao và các công trình
Những vấn đề trên đã dẫn tới sự khủng hoảng của đô thị thời kì này,do đó đòi hỏi phải có những cuộc cải tổ và những tư tưởng mới cho sự phát triển của ngành quy hoạch đô thị hiện đại.[3]
1.2.3 Khái quát quá trình phát triển đô thị Việt Nam
a, Tình hình phát triển đô thị từ trước thế kỷ XVIII
Trong lịch sử hàng nghìn năm tồn tại,Viêt Nam luôn phải chống lại các cuộc ngoại xâm của phương Bắc Do đó đô thị mang tính chất phòng thủ chủ yếu
là chống ngoại xâm Dấu vết đô thị là trung tâm chính trị và quốc phòng
Dấu vết đô thị đầu tiên ở nước ta là thành Cổ Loa của An Dương Vương ở
tả ngạng sông Hồng (khoảng 200 năm trước công nguyên) là trung tâp chính trị của nước Âu Lạc Cổ Loa có 3 vòng thành,dài 16 km (hình 2.9)
Trong thời kì Bắc thuộc một số thành thị khác nhau mang tính chất quân sự
và thương mại đã được hình thành Một trong số những đô thị lớn nhất thời Bắc thuộc là thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay)
Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô về Đại La ( thành Tống Bình cũ )và đổi tên là Thăng Long Đây là mốc khai sinh cho Hà Nội ngày nay Thăng Long phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, văn hóa và đã trở thành một đô thị có vị trí quan trọng nhất trong cả nước Ngay từ thời đó đã xuất hiện kiến trúc cung đình hiện đại Dưới thời thời phong kiến nhiều loại đô thị khác cũng đã hình thành Đó
là những nơi đóng đô chính của các vua chúa phong kiến như thành Hoa Lư – Ninh Bình (kinh đô của nhà Đinh); Thành Tây Đô ở Thanh Hóa( thành nhà Hồ)…
b, Đô thị dưới thời nhà Nguyễn
Trang 25Từ đầu thế kỷ XVIII khi các nước Châu Âu đã có nền kinh tế lớn mạnh thì Việt Nam vẫn là một nước công nghiệp lạc hậu Những điều luật phong kiến ngặt nghèo đã kìm hãm sự phát triển cảu đất nước, kể cả trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạnh và xây dựng Dân số đô thị lúc bấy giờ chỉ chiếm khoảng 1% dân
số cả nước
Đầu thế kỷ XIX, hệ thống đô thị nước ta đã kéo đến Hà Tiên, về sau tập trung tại khu Chợ Lớn, hình thành chuỗi đô thị phía Nam Chợ Lớn – Gia Định chính là nền móng Sài Gòn hiện nay
Năm 1800, nhà Nguyễn chọn Huế làm thủ đô với hình thức đô thị vẫn là thành quách, sông Hương bao bọc bên ngoài thành
Dưới thời nhà Nguyễn, các đô thị khác cũng đã bắt đầu phát triển Nguyễn Ánh đã cho xây dựng lại thành Hà Nội để củng cố chính quyền phương Bắc Đô thị thời kì này chủ yếu chỉ phát triển hệ thống hành chính,quyền lực quốc gia phong kiến với thành quach bao quanh có tác dụng bảo vệ, cấu trúc gồm:
+ Trong thành là các công trình nhà ở,nơi làm việc của quan lại và các trại lính + Ngoài thành là các khu dân cư và phố phường buôn bán của dân thường Với hình thức đó ,đô thị đã thể hiện rõ sự cách biệt giữa chính quyền và dân trong cấu trúc đô thị
c, Đô thị từ thời pháp thuộc đến 2003
Thời Pháp thuộc,ngoài các khu vực thành quách,thì các khu dân cư,phố xá bắt đầu phát triển Nhiều đô thị đã trở thành các trung tâm thương mại lớn và dần dần lấn át cả khu vực thành quách
Pháp thống trị với chính sách khai thác các nguồn tài nguyên ở thuộc địa đã cho xây dựng một loạt các đô thị mới mang tính trất khai thác,thương mại,công nghiệp,nghỉ ngơi giải trí Ví dụ: Hòn Gai, Cẩm Phả,Lào Cai ( đô thị khai thác);
Trang 26Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, Nam Định, Vinh ( đô thị công nghiệp, thương mại ); Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo ( đô thị nghỉ ngơi )…
Trong thời kì này yếu tố công nghiệp và nhất là yếu tố thương mại đã có tác động thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các đô thị trong cả nước
Sau cách mạng tháng Tám chúng ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến trống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Thời gian hòa bình để xây dựng CNXH rất ngắn,do đó quá trình phát triển đô thị bị hạn chế rất nhiều
- Miền Bắc sau năm 1954 dân số đô thị có xu hướng tăng lên
+ Đô thị phát triển do yêu cầu phát triển kinh tế,văn hóa,xã hội,hàn gắn vết thương chiến tranh,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH
+ Nhiều thành phố công nghiệp mới được xây dựng nhu Việt Trì, Thái Nguyên… + Nhiều thị trấn, thị xã được tiến hành cải tạo và mở rộng song song với việc xây dựng các cơ quan,nhà máy,trường học,bệnh viện và các khu nhà ở mới + Đầu năm 1975 dân số đô thị miền Bắc đã lên tới 2,7 triệu người, chiếm 11,5% dân số miền Bắc
- Miền Nam những năm dưới ách thống trị cảu Mỹ,các đô thị phát triển nhanh trong tình trạng không có tổ chức Đây là quá trình đô thị hóa giả tạo + Sự gia tăng dân số đô thị miền Nam là kết quả của sự di chuyển ồ ạt từ nông thôn vào các đô thị để tìm việc làm,từ vùng này sang vùng khác để tránh đàn áp của đế quốc tai sai Do đó dân số đô thị tăng cùng với các tệ nạn xã hội + Năm 1959 dân số đô thị Miền Nam chỉ có 1,75 triệu người,chiếm khoảng 15% dân số;đến năm 1975 tỷ lệ dân số đô thị đã lên tới 30% tổng dân số miền Nam Sau ngày đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính Phủ chúng ta đã phải khắc phục những hậu quả xấu của quá trình đô thị hóa trong những năm chiến tranh, đồng thời tiến hành cải tạo các đô thị theo quy hoạch
Trang 27thống nhất, đáp ứng các yêu cầu về sản xuất,sinh hoạt và cải thiện đời sống của nhân dân
Ngày nay chúng ta đã và đang nghiên cứu quy hoạch phát triển mạng lưới
đô thị va dân cư trên địa bàn toàn quốc
+ Một số đô thị được nâng cấp, mở rộng
+ Hàng loạt các thị trấn nông công nghiệp được hình thành mới mở đầu cho quá trình đô thị hóa có kế hoạch
+Hệ thống đô thị nước ta đã có bước phát triển mới khá mạnh mẽ Ở mức
độ khác nhau sự phát triển đó diễn ra tại hầu hết các đô thị, không kể lớn, nhỏ, ở miền xuôi, miền núi, ở ven biển và biên giới
+ Nhiều tụ điểm dân cư mới mang tính đô thị đã xuất hiện Dân số đô thị của cả nước tăng lên nhanh chóng, từ 12,74 triệu người năm 1989 lên 14,94 triệu người năm 1995 Đến năm 2003 dân số đô thị toàn quốc đã lên tới 20,87 triệu người, chiếm 25,8% tổng dân số.[12]
1.3 Tình hình phát triển đô thị trên thế giới và Việt Nam hiện nay
đô thị là chỗ ở Trong số 3 tỉ cư dân hiện sống tại đô thị, có 1 tỉ người sống trong các khu nhà ổ chuột không có nước sạch, cơ sở vệ sinh đầy đủ và nơi ở ổn định Mỗi năm có 1,6 triệu cư dân đô thị, phần đông là trẻ em, chết vì phải sống trong tình trạng thiếu nước sạch và thiếu vệ sinh
Trang 28Những vấn đề của cuộc sống đô thị hiện nay buộc thế giới phải xác định rõ các ưu tiên phát triển, nhất là phải xem xét lại việc phân bổ viện trợ quốc tế cho đúng nơi Từ năm 1970-2000, viện trợ quốc tế cho khu vực đô thị tại các nước đang phát triển chỉ chiếm có 4% tổng số tiền viện trợ phát triển của thế giới Đến năm 2015 sẽ có 59 thành phố tại châu Phi, 65 thành phố Mỹ La tinh và 253 thành phố châu Á có dân số từ 1 - 5 triệu người Khi đó đô thị sẽ là bộ mặt của nền văn minh, động lực đẩy nền kinh tế thế giới đi lên, là cái nôi của sáng tạo nghệ thuật, khoa học nhưng cũng đồng thời là mảnh đất nuôi dưỡng tội phạm, bệnh tật…
Có thể lấy ví dụ điển hình, Trung Quốc với kế hoạch lên tới 600 tỷ USD có mục tiêu lớn cho quá trình đô thị hoá chưa từng có trong lịch sử Thực tế cho thấy kế hoạch hàng trăm tỷ USD hỗ trợ tăng trưởng kinh tế được công bố hoành tráng vào ngày 9/11/2008 nhằm mục đích ngăn kinh tế Trung Quốc đi xuống Nguyên nhân hợp lý cho kế hoạch chi tiêu hoành tráng này là đáp ứng nhu cầu tài chính cho quá trình đô thị hóa lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại Những số liệu dự đoán về tình hình đô thị tại Trung Quốc khiến bất kỳ ai cũng phải ngỡ ngàng: trong 17 năm tới, 350 triệu người dân nông thôn (nhiều hơn tổng dân số Mỹ hiện nay) sẽ ra thành phố Như vậy số dân sống tại thành thị của Trung Quốc từ mức 600 triệu hiện nay sẽ lên tới khoảng 1 tỷ người sau 17 năm 2/3 dân số Trung Quốc sẽ sống tại thành thị Thay đổi này sẽ đưa Trung Quốc từ một nước bao thế kỷ nay với số dân chủ yếu sống ở vùng nông thôn sang một thái cực trái ngược 30 năm trước đây, khi Trung Quốc bắt đầu hiện đại hóa nền kinh tế, khoảng hơn 80% người sống tại nông thôn, và chỉ 6 năm trước, con số này là 60% và nay là 50%
Theo tính toán, quá trình đô thị hóa ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra nhanh nhất thế giới trong vòng 15 năm qua Năm 1990, có 33% dân số
Trang 29châu Á - Thái Bình Dương sống ở thành thị, thì tới nay con số này đã tăng lên 41% Quá trình “di cư” từ nông thôn và thành phố diễn ra nhanh nhất là ở khu vực các nước ASEAN, nơi tỉ lệ dân cư đô thị tăng từ 32% năm 1990 lên 45% năm 2006 Ấn Độ đang và sẽ là nước có tốc độ đô thị hoá nhanh hàng đầu châu
Á Tại Ấn Độ, dự tính đến năm 2050 sẽ có hơn 900 triệu người dân nước Nam Á này, chiếm khoảng 55% dân số, sinh sống ở khu vực thành thị so với 300 triệu người (chiếm 30%) hiện nay Mặc dù làn sóng di cư ra thành thị tăng mạnh, nhưng Ấn Độ vẫn sẽ là nước có số dân sống ở nông thôn đông nhất thế giới trong thời gian tới, vì dân số nước này lên tới hơn một tỷ người Theo các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ, Chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn nhằm ngăn chặn làn sóng di cư ra đô thị của các nông gia LHQ dự báo dân số thế giới sẽ tăng từ 6,7 tỷ người hiện nay lên tới 9,2 tỷ vào năm 2050 Đến lúc đó, toàn thế giới sẽ xuất hiện 27 “siêu thành phố”, tăng so với con số 19 hiện nay, và nhiều thành phố nhỏ hơn với không quá 0,5 triệu dân sẽ xuất hiện Tokyo (Nhật) là thành phố đông dân nhất với 35,7 triệu người Các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải (Trung Quốc); Mumbai và New Delhi (Ấn Độ); Cairo (Ai Cập); London (Anh); Tehran (Iran); Los Angeles, New York (Mỹ); Rio de Janeiro ( Brazil) nằm trong số 19 thành phố đông dân nhất Với tốc độ đô thị hóa tăng cao như hiện nay, số dân sống ở nông thôn toàn thế giới sẽ giảm dần, dự báo từ 3,4 tỷ người năm 2007 còn 2,8 tỷ năm 2050 [1]
1.3.2 Đô thị hóa tại Việt Nam
a, Góc nhìn toàn cảnh đô thị Việt Nam
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40% so với năm 1995 Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang,
Trang 30trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), người di cư nông thôn chiếm tới 1/3 dân số của TP Hồ Chí Minh và 1/10 dân số của Hà Nội và làn sóng này vẫn đang tiếp tục không ngừng chảy Dự kiến dân số
đô thị của Hà Nội đến năm 2010 sẽ là 3,9 - 4,2 triệu người, năm 2020 là 7,9 - 8,5 triệu người; còn với TP Hồ Chí Minh năm 2010 là 10 triệu người, đến 2025 là 16-17 triệu người
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80%.Với tốc độ phát triển
và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình đô thị hoá
Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp, cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn Trong trồng trọt, tỷ trọng hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả ngày càng tăng
Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ… Đô thị hoá kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện - đó là xu hướng chủ đạo
và là mặt tích cực của đô thị hoá
Trang 31Nhìn từ bình diện văn hoá, làn sóng đô thị hoá cùng với sự phát triển hạ tầng văn hoá xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu tố văn hoá đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hoá, các loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị; sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ ) làm cho văn hoá làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hoá, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hoá của nông dân các vùng đô thị hoá, nhìn trên tổng thể, được nâng lên.[8]
Đó là xu hướng chủ đạo của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua Thực tiễn đã chứng minh tính hợp qui luật và những tác động tích cực của đô thị hoá đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam
Tuy nhiên, do những khó khăn của bản thân nền kinh tế đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và những hạn chế chủ quan trong quản lý, điều hành, đô thị hoá ở Việt Nam còn nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân cần được nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả
b, Những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn đô thị hóa
-Vấn đề qui hoạch, quản lý, sử dụng đất đai nông nghiệp:
Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các địa phương đã thực hiện chính sách cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm, chọn lựa địa điểm sản xuất, kinh doanh Bình quân hàng năm, tính từ 2001 đến 2007, gần 10 vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi đã
Trang 32khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Sự dễ dãi và
cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đã cùng với tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng đất tuỳ tiện, lãng phí Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư… đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn ha “đất cấu tượng” đất “bờ xôi, ruộng mật” - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quí giá nhất của người nông dân; nền tảng bảo đảm
an ninh lương thực quốc gia - đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động nông nghiệp Đi liền với thực trạng này là sự nảy sinh phân hoá, thậm chí cả mâu thuẫn xã hội Đây là một vấn đề búc xúc, cần được nhìn nhận thấu đáo và khắc phục sớm
- Sự chậm chạp, ít hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Những năm qua, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng
Tuy nhiên, so với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam còn chậm Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40%; trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước vẫn còn tới 20%; nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp Trong nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ trọng lâm nghiệp còn thấp; chăn nuôi, thuỷ sản phát triển thiếu ổn định Nhìn trong tương quan khu vực và thế giới, tỷ trọng GDP nông nghiệp của Việt Nam còn cao, và nếu so với chuẩn một nước hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tỷ trong GDP nông nghiệp khoảng 4-8% tổng GDP), thì chặng đường phấn đấu vượt lên còn rất gian nan
Trang 33Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, chưa tác động trực tiếp và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn Doanh nghiệp nông thôn số lượng ít, qui mô nhỏ; số doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thuỷ sản không nhiều Đây là một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình chuyển dịch và hạn chế chất lượng cơ cấu kinh tế
ở nông thôn Phần lớn nông sản, kể cả nông sản xuất khẩu, có giá trị gia tăng thấp, chỉ số cạnh tranh chỉ ở mức trung bình hoặc dưới trung bình so với thế giới; giá trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình quân mới đạt xấp xỉ 30 triệu đồng/ha năm
- Sự ùn đọng lao động ở nông thôn ảnh hưởng đến thu nhập của người dân mất đất sản xuất
Ở Việt Nam, những năm qua, nhất là từ năm 2001 đến nay, quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động diễn ra khá nhanh và rõ nét hơn trước Nhìn trên phạm vi cả nước, tổng lao động làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản chiếm 54,7% (năm 2006), 52,8% (năm 2007) tổng lao động xã hội; hàng năm có hàng chục vạn lao động nông nghiệp chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp
Điều tra gần đây của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong số lao động di
cư, có tới 2/3 là lao động trẻ (15-19 tuổi); hơn 50% là di cư để tìm việc làm, 47% là để cải thiện điều kiện sống Một điều tra khác của Viện Khoa học lao động và xã hội cũng cho thấy, trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lao động ngoại tỉnh chiếm tới 70% Tính đến tháng 12/2007 cả nước có hơn 170 khu công nghiệp, khu chế xuất phân bổ
ở 55 tỉnh, thành trên cả nước với khoảng trên 1 triệu người lao động đang làm việc, trong đó có 700.000 người lao động di cư từ các tỉnh khác hoặc
Trang 34Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nhìn chung, diễn ra vẫn chậm chạp, chưa tương thích và đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đến năm 2007, trong GDP giá trị nông nghiệp đã giảm xuống còn 19,6%, trong khi đó lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tới 52,8% Nghịch lý này phản ánh một thực tế: công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn chưa đủ sức tạo nhiều việc làm mới để thu hút lực lượng lao động nông nghiệp còn rất tiềm tàng Ngoài một bộ phận không nhiều được tuyển vào các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc đi kiếm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp lớn, phần đông lao động vẫn đang bị ùn đọng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Một bộ phận lao động tiếp tục sản xuất nông nghiệp trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, một bộ phận chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp giản đơn, theo cơ chế thoả thuận Thực trạng này chứng tỏ quá trình công nghiệp hóa đô thị hoá chưa gắn kết và tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động; sự phân hoá thu nhập và những khó khăn về đời sống của người nông dân, phần lớn có nguyên nhân từ đây Đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động đô thị hoá tất yếu dẫn theo sự dịch chuyển dân cư theo hướng chuyển hoá cư dân nông thôn thành cư dân đô thị Sự chuyển hoá này diễn ra lâu dài thông qua các dòng chuyển cư theo chiều hướng khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm, hoàn cảnh của mỗi quốc gia
Ở Việt Nam, những năm qua đã diễn ra sự chuyển dịch dân cư nông nông thôn, dân cư nông thôn-đô thị Một bộ phận dân cư ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đã di chuyển một cách tự phát thiếu tổ chức, thiếu qui hoạch vào một
thôn-số tỉnh phía Nam, tập trung nhất là ở địa bàn Tây Nguyên Ở một thôn-số vùng nông thôn, điển hình là nông thôn đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện dòng chuyển cư về thành thị, chủ yếu về các khu công nghiệp tập trung
Trang 35các đô thị lớn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tình trạng tăng vọt dân số cơ học ở các thành phố lớn làm đậm thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động trên phạm vi toàn quốc; làm cho các thành phố lớn phải gánh chịu
áp lực quá tải rất nặng nề về dân số, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và không ít khó khăn, phức tạp trong công tác quản lý đô thị
- Sự phân tán, chia cắt trong qui hoạch, tổ chức không gian đô thị:
Đô thị hoá là xu thế khách quan phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Tuy nhiên, chất lượng đô thị hoá phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý của con người, trước hết là khả năng qui hoạch và tổ chức không gian đô thị của bộ máy quản lý nhà nước các cấp
Quy hoạch nói chung, qui hoạch đô thị nói riêng là một khoa học tổng hợp, đòi hỏi phải có sự tiếp cận liên ngành với một tầm nhìn xa rộng, sự tính toán chặt chẽ, chính xác nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ giữa tổng thể (nhìn trên phạm vi quốc gia) với bộ phận (vùng, địa phương); giữa không gian đô thị với không gian nông thôn; giữa không gian kiến trúc với cảnh quan môi trường Qui hoạch và tổ chức không gian đô thị là kết tinh tầm văn hoá, triết lý văn hoá
và khoa học, nghệ thuật phân bố các nguồn lực quốc gia Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu phát triển toàn diện đất nước và so sánh với trình độ qui hoạch, tổ chức không gian đô thị của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, công tác qui hoạch, tổ chức thực hiện qui hoạch ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế
Sự phân bố các khu đô thị còn phân tán, không đồng đều giữa các vùng miền Mặc dù, những năm gần đây, cùng với sự vươn dài, to rộng của hệ thống đường giao thông, ven các tuyến đường mọc lên ngày càng nhiều những khu đô thị mới, những điểm cư dân đô thị, song nông thôn các vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi, ven biển mật độ đô thị còn thưa thớt Cho đến nay, nhịp điệu đô thị hoá
Trang 36đặc biệt ở hai thành phố trung tâm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu đô thị học, người ta gọi tình trạng tập trung phát triển quá lớn một số thành phố trung tâm mà không quan tâm phát triển đồng bộ hệ thống các đô thị khác là “căn bệnh to đầu”, làm chậm tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; hạn chế việc phân bổ, phát huy các nguồn lực quốc gia, nhất là nguồn lực lao động, phát triển kinh tế-xã hội nói chung, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, cải thiện đời sống nông dân nói riêng
Ở từng địa phương, hạn chế phổ biến trong xây dựng, thực hiện qui hoạch là thiếu tầm nhìn xa, thiếu cách nhìn tổng thể, hệ thống và sự buông lỏng trong quản lý, triển khai qui hoạch Qui hoạch chung, qui hoạch hạ tầng khung chưa được quan tâm đúng mức, xu hướng chung vẫn là chú trọng xây dựng, triển khai qui hoạch chi tiết, đáp ứng nhu cầu trước mắt Hệ quả khó tránh khỏi là tình trạng tuỳ tiện, lộn xộn, chắp vá, chia cắt, thậm chí làm biến dạng, méo mó không gian kiến trúc
Trên địa bàn nông thôn đang diễn ra quá trình đô thị hoá, có thể thấy rõ sự bất hợp lý trong phân bố các công trình xây dựng sự thiếu gắn bó, liên thông giữa các thành tố cấu thành đô thị Phần lớn các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các điểm dân cư đều tràn ra, bám sát trục đường giao thông, tạo nên sự phát triển mất cân đối về không gian xây dựng Trong cùng một không gian đô thị hoá, thiếu sự liên kết hài hoà giữa khu vực sản xuất với khu vực dân cư; ngay trong khu vực sản xuất cũng thiếu sự gắn kết cần thiết giữa các khu công nghiệp với các khu thương mại, dịch vụ với các làng nghề, cụm làng nghề… Khá phổ biến là tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu khớp nối giữa hạ tầng bên trong hàng rào các khu vực sản xuất, kinh doanh với hạ tầng bên ngoài hàng rào, với hạ tầng các vùng nông thôn xung quanh; giữa hạ tầng kinh tế-kỹ thuật với hạ tầng văn hoá-
xã hội Về không gian kiến trúc, thiếu sự hoà điệu ở tầm văn hoá giữa những
Trang 37đường nét hiện đại của đô thị với vẻ đẹp truyền thống của nông thôn; một số kiểu dáng kiến trúc vay mượn vội vàng từ đô thị đem cấy vào nông thôn đã làm hỏng nét đẹp riêng có của những làng cổ, làng sinh thái, làng nghề - vốn là nguồn cảm hứng, tự hào bao đời của người Việt Nam và là nguồn tài nguyên du tịch tiềm tàng hôm nay
Nhìn từ góc độ qui hoạch, thực hiện qui hoạch, đô thị hoá chưa thật sự kết gắn và phục vụ hiệu quả qui hoạch phát triển kinh tế, xã hội và xây dựng nông thôn mới vì mục tiêu nâng cao chất lượng sống của nông dân
- Suy thoái về văn hoá, xã hội, môi trường
Nông thôn Việt Nam là chiếc nôi sản sinh, nuôi dưỡng, bảo vệ văn hoá dân tộc ngàn năm Những năm qua, một số yếu tố tiến bộ của văn hoá đô thị đã lan toả về nông thôn, tạo nên những sắc thái mới trong đời sống, sinh hoạt tinh thần của người nông dân và cộng đồng làng xã Nhiều loại hình, giá trị văn hoá ở nông thôn cũng được giới thiệu rộng rãi, thuận lợi hơn ở các đô thị Đó là mặt thuận Mặt chưa thuận là, do thiếu chuẩn bị, thiếu định hướng, chọn lọc và do cả những bất cập trong công tác qui hoạch, quản lý văn hoá, không ít những yếu tố phi văn hoá, phản văn hoá, từ đô thị và từ các phương tiện truyền thông, đặc biệt
từ internet, đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, đưa tới những vấn nạn xã hội đáng suy nghĩ
Việc sử dụng không hợp lý, lãng phí quĩ đất canh tác; tình trạng san lấp, lấn chiếm ao hồ, sông, suối, các công trình thuỷ lợi; nạn đốt phá rừng, khai thác khoáng sản tuỳ tiện cùng với sự yếu kém trong xử lí nước thải, rác thải, bụi, khói, tiếng ồn đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, đời sống và sức khoẻ của nông dân, giảm thiểu khả năng đề kháng, thậm
Trang 38Những nghịch lý, mâu thuẫn, thách thức nêu trên và những hệ luỵ của chúng là
có thật, đang từng ngày diễn ra trong quá trình đô thị hoá, từng giờ tác động đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân Song đó là những khó khăn khó tránh trên con đường đi lên, là hai mặt biện chứng của quá trình phát triển.[8]
1.3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến vấn đề sử dụng đất
Tại hội thảo An ninh lương thực diễn ra do Bộ NNPTNT và Viện chính sách lương thực quốc tế IFPRI tổ chức, những ý kiến của ông Suresh Babu, Giám đốc chương trình IFPRI diện tích đất trồng lúa đã thu nhỏ dần từ 4,47 triệu
ha vào năm 2000 xuống còn 4,1 triệu ha Tính trung bình mỗi năm nước ta mất 59.000 ha diện tích đất lúa Việc biến mất của mỗi ha đất trồng lúa có thể ảnh hưởng đến từ 10-13 lao động Hậu quả là khoảng 53% hộ dân bị lấy mất đất trồng lúa thiệt hại về tài chính, trong đó có 34% hộ đã nhìn thấy mức sống bị giảm sút đáng kể Để gìn giữ đất đai phục vụ cho nhu cầu lương thực trong nước
và xuất khẩu ngay từ hôm nay rất cần có những việc cần làm ngay
Tốc độ đô thị hóa của Việt Nam tăng mạnh, từ đó cho thấy nhu cầu về nhà ở của người dân đô thị là vô cùng lớn, kéo theo đó là giá đất tăng lên nhanh và có
sự chênh lệch lớn giữa giá đất nông nghiệp và đất ở Theo ông Nguyễn Đăng Quý, một đại biểu tham dự hội thảo An ninh lương thực nói trên cho rằng giá đất
ở đô thị Việt Nam hiện nay quá cao so với khu vực và thế giới và thậm chí còn cao hơn cả một số nước có giá bất động sản cao vào loại nhất, nhì thế giới như Nhật Bản - mà nguyên nhân chính lại là do quá trình đô thị hoá quá nhanh
Đô thị hoá làm tăng tình trạng chuyển nhượng đất nông nghiệp, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp vừa công bố kết quả điều tra khảo sát về tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn Kết quả cho thấy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta bị coi
là bất hợp pháp, nhưng vẫn có tới gần 3,8% số người được phỏng vấn đã trả lời
Trang 39là đã từng bán đất trong giai đoạn từ 1980 - 1988 Các giai đoạn tiếp theo, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta cứ tăng dần theo tỷ lệ: 4,67% (giai đoạn 1998 - 2003) và từ năm 2003 đến nay đã lên tới 6,22% Vùng có số hộ chuyển nhượng đất cao nhất là Đông Nam Bộ (hơn 48%), Tây Nguyên (41%), đồng bằng sông Cửu Long (32%) và tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng Nguyên nhân chính để người dân vùng nông thôn chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh nên họ
bị thu hồi đất; đồng thời họ cũng rất cần tiền đầu tư cho sản xuất (làm trang trại, mua sắm máy móc ), chuyển sang làm việc khác, để trả nợ, xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ dùng gia đình [12]
Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng cao cũng sẽ là một nguyên nhân làm nảy sinh các vụ việc khiếu kiện, tố cáo, tranh chấp về đất đai ngày một phức tạp hơn như: khiếu nại
về bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai; việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của các cơ quan nhà nước; tranh chấp các tài sản trên mặt đất;
Đô thị hóa đã làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, để đảm bảo nguồn thu cho cuộc sống và tăng cường năng suất cây trồng họ đã trở thành người có trách nhiệm hơn trong việc cải tạo và quản lý đất của mình Tuy nhiên,
vì thiếu sự hiểu biết và quá chú trọng tới lợi ích trước mắt nên đã làm cho việc sử dụng đất thiếu bền vững Việc sử dụng các hóa chất để cải tạo đất và diệt trừ sâu bệnh đã làm cho diện tích đất sản xuất bị ô nhiễm, bạc màu khó khắc phục
1.3.4 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến thu nhập của người dân
Trong quá trình đô thị hoá, cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi
Trang 40đổi cơ cấu dân só từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch
vụ Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiền được Nhà nước đền bù, họ dùng để tạo nghề mới, xây dựng nơi cư trú mới,… và đã làm cho cuộc sống của họ thay đổi dần với một nguồn thu nhập mới Khi chuyển đổi sang các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ, nhìn chung thu nhập của người dân được tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, vì chịu sự tác động của nhiều yếu tố đã làm cho tốc độ tăng của mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng rõ rệt
Theo thông tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đưa ra tại hội nghị lần thứ 11 của Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa IX), diễn ra ngày 25/7/2008 về khoảng cách thu nhập giữa nhóm tiền lương cao với mức trung bình tại Hà Nội là 42 lần (75,2 triệu đồng/tháng so với mức bình quân 1,8 triệu đồng/tháng), tại Tp.HCM là 109 lần (240 triệu đồng/tháng so với 2,2 triệu đồng/tháng) [8]
- Sở dĩ có sự chênh lệch lớn về thu nhập như vậy là do:
+ Thứ nhất, việc trả lương đã không còn bị bó buộc bởi các quy định, định
mức như trước đây Rõ ràng trong khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước, hiện nay việc chi trả cho một bộ phận người lao động có trình độ cao, hay các vị trí quản
lý chủ chốt, có kinh nghiệm, quan hệ rộng… không căn cứ trên hệ thống thang, bảng lương mà được tính bằng hiệu quả công việc đem lại cho doanh nghiệp
+Thứ hai, thỏa thuận mức lương đã theo quy luật cung cầu về lao động Các
vị trí lao động giản đơn, lao động phổ thông hiện có lượng cung lớn, ngoài nguồn bổ sung hàng năm vẫn tăng của lực lượng lao động, một bộ phần chuyển dịch của lao động nông nghiệp mất đất sang các lĩnh vực công nghiệp … Thêm vào đó, việc sắp xếp lại lao động để tạo hiệu quả trong điều hành doanh nghiệp