1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên

116 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Quang Quý
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của đô thị hoá đối với sự phát triển kinh tế của thị xã và đời sống của người dân bị thu hồi đất, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hư

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Trang 2

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy, cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Kinh tế, Khoa sau đại học trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đặc biệt là sự

quan tâm giúp đỡ của PGS.TS Đỗ Quang Quý, người đã tận tình hướng dẫn và

dành nhiều thời gian quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi thiếu sót, rất mong tiếp tục nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn

Tác giả

Trang 3

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Tổng sản lượng quốc gia

CNH Công nghiệp hóa

CN & TTCN Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Trang 4

STT Tên bảng Trang

1.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo 16 2.1 Giá trị sản xuất ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2009 41 2.2 Tăng trưởng Công nghiệp, TTCN và Xây dựng 42 2.3 Quy mô và tăng trưởng GTSX ngành nông nghiệp 44 2.4 Biến động đất đai của thị xã giai đoạn 2005 – 2009 45 2.5 Thực trạng dân số - lao động thị xã Sông Công 48 2.6 Các chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư tại thị xã 49 2.7 Tốc độ ĐTH của thị xã Sông Công, giai đoạn 2005 - 2009 52 2.8 Các DA đầu tư đã được cấp giấy phép trên địa bàn thị xã 53 2.9 Hiệu quả đầu tư của các DA đã triển khai thực hiện trên 57 2.10 Kết quả phân tích chất lượng nước thải sản xuất 59 2.11 Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh khu vực nhà

máy kẽm điện phân

60

2.12 Kết quả phân tích hàm lượng một số chỉ tiêu kim loại nặng trong đất xung

quanh khu công nghiệp Sông Công

61

2.14 Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau đô thị hoá 68 2.15 Tình hình chung của hộ trước và sau ĐTH 69

2.17 Thu nhập của hộ trước và sau đô thị hóa 74 2.18 Hiệu quả SXKD của hộ trước và sau ĐTH 75 2.19 Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 76 2.20 Ý kiến của các hộ điều tra đánh giá sự thay đổi của thu nhập do tác động

của ĐTH

78

2.21 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của ĐTH 79

Trang 5

STT Tên biểu đồ Trang

2.1 Tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2005 - 2009 41

2.2 Cơ cấu và biến động giá trị ngành công nghiệp và XD 43

2.3 Sự thay đổi về giá trị SX của thị xã giai đoạn 2000 – 2009 52

2.4 Biến động cơ cấu kinh tế thị xã Sông Công

giai đoạn 2000 – 2009

54

2.5 Cơ cấu sử dụng số tiền đền bù của hộ nông dân sau ĐTH 77

Trang 6

iv

v

Trang 7

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Thời gian nghiên cứu 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

3.3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Bố cục của luận văn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP 4

NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC 4

1.1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.2 Một số chủ trương chính sách của đảng, Chính phủ liên quan 14

đến quá trình đô thị hoá 1.2 THỰC TIỄN ĐÔ THỊ HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 15

1.2.1 Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới 15

1.2.2 Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam 22

1.2.3 Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương trong việc giải quyết 24

những ảnh hưởng của đô thị hoá đối với nông nghiệp, nông thôn 1.2.4 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam 30

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

1.3.1 Các câu hỏi nghiên cứu 32

1.3.2.Phương pháp nghiên cứu 32

1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35

Trang 8

2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40

2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

2.2.1 Khái quát quá trình đô thị hóa thị xã Sông Công 51

2.2.2 Thực trạng quá trình đô thị hoá 52

2.2.3 Ảnh hưởng của ĐTH đến phát triển kinh tế của hộ nông dân 65

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA 88

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ THỊ HÓA ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ XÃ SÔNG CÔNG 90

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THỊ XÃ SÔNG CÔNG ĐẾN NĂM 2015 90

3.1.1 Định hướng phát triển không gian đô thị 90

3.1.2 Bố trí các mục đích sử dụng đất chuyên dùng [18] 90

3.1.3 Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan đô thị 93

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐÔ THỊ HOÁ 94

3.2.1 Giải pháp chung 94

3.2.2 Những giải pháp cụ thể 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

1 KẾT LUẬN 102

2 KIẾN NGỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đô thị hóa (ĐTH) là xu thế tất yếu trên con đường phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới Trong những năm qua, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh

đã làm cho bộ mặt các đô thị ở nước ta thay đổi theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, mặt trái của quá trình ĐTH cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề tạo việc làm cho nông dân bị mất đất, phương thức đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, giãn dân đang phát sinh ngày càng phức tạp Nếu không có một chiến lược cụ thể, chúng ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và khó khăn trong quá trình giải quyết những vấn đề đó

Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, đời sống Đô thị hoá kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm

và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện - đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá

Sự hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới, các tuyến giao thông mới trong những năm qua tại thị xã Sông Công đang diễn ra mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của thị xã không ngừng tăng lên qua các năm Chỉ tính trong năm 2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt 16,29%, giá trị sản xuất CN & TTCN đạt 10989 tỷ đồng và GDP bình quân trên người đạt 25,5 triệu đồng Đặc biệt hơn, chính nhờ các khu công nghiệp sau khi đi vào hoạt động đã giải quyết được nhiều việc làm cho nhiều lao động địa phương nói riêng và lao động trong tỉnh Thái Nguyên nói chung làm cho đời sống của người dân đang từng bước được cải thiện Tuy nhiên, đồng thời với việc đô thị hoá vấn đề tạo lập khu tái định cư cho người dân thuộc diện quy

Trang 10

hoạch sẽ được tiến hành như thế nào? Cuộc sống của người dân sau khi cắt phần đất nông nghiệp cho việc giải phóng mặt bằng sẽ ra sao? là những vấn đề cần được phân tích, tìm hiểu để đưa ra phương hướng giải quyết

Nhận thức được tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của đô thị hoá đối với

sự phát triển kinh tế của thị xã và đời sống của người dân bị thu hồi đất, tôi

đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển

kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng của quá trình của đô thị hoá đến khu vực nông nghiệp, nông thôn thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên nhằm đề xuất một số

giải pháp giải quyết những ảnh hưởng của đô thị hoá đến đến đời sống kinh

tế và xã hội của người dân bị mất đất trên địa bàn thị xã

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản về đô thị, đô thị hoá và các nhân tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá

- Phân tích thực trạng để tìm ra những mặt tích cực cũng như những tiêu cực mà quá trình đô thị hoá mang lại cho đời sống người dân địa phương nói riêng và phát triển kinh tế xã hội thị xã nói chung

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu và kiến nghị một số vấn đề nhằm giải quyết những ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông nghiệp, nông thôn thị xã Sông Công

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

1 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của thị xã Sông Công

2 Thực trạng về quá trình đô thị hoá tại thị xã

3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến thu nhập của hộ

4 Những tác động tích cực và tiêu cực tới phát triển kinh tế xã hội ở thị xã Sông Công

5 Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển

Trang 11

3.2 Thời gian nghiên cứu

- Về không gian: đề tài nghiên cứu trên địa bàn thị xã Sông Công, tập trung vào 02 phường và 01 xã là phường Cải Đan, Mỏ Chè và xã Tân Quang là các xã, phường bị thu hồi đất nhiều nhất cho quá trình đô thị hoá

- Về thời gian: những số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2000-

2009 (lấy mốc năm 2005) Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn hộ nông dân năm 2009

3.3 Đối tượng nghiên cứu

- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã Sông Công

- Thực trạng về dân số, lao động và việc làm thị xã Sông Công

- Hoạt động đầu tư và hiệu quả sản xuất của các hộ nông dân bị mất đất tại các phường, xã trên địa bàn

- Nghiên cứu những ảnh hưởng (tích cực, tiêu cực) mà đô thị hoá mang lại cho phát triển kinh tế xã hội của thị xã

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, luận văn được nghiên cứu nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của xu hướng

đô thị hoá đối với đời sống - kinh tế - xã hội và hộ nông dân trên địa bàn thị

xã Sông Công, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể cho hộ nông dân (bị thu hồi đất), cho thị xã và cho tỉnh nhằm phát huy những mặt mạnh và hạn chế những mặt chưa tốt do quá trình đô thị hoá mang lại

5 Bố cục của luận văn

- Phần Mở đầu

+ Chương I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu + Chương II: Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá tới phát triển kinh tế

xã hội tại thị xã Sông Công

+ Chương III: Một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ trong quá

trình đô thị hóa tại thị xã Sông Công

- Phần Kết luận và kiến nghị

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế

* Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng trong một

thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)

Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân

đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI)

Trong đó:

+ Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng

sản sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch

vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)

+ Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị

tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng

+ Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số

Trang 13

Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng

Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức

độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ

* Khái niệm về phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội để hình thành cơ cấu kinh tế hợp

lý Do đó, phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm

tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

* Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế

Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước

đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêu phấn đấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của chính phủ

Ở một góc độ nào đó tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu

Trang 14

nghèo có thể tăng lên, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao

và bất bình đẳng xã hội cũng có thể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí

Như vậy giữa tăng trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển và ngược lại sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

1.1.1.2 Đô thị hóa

a Khái niệm về đô thị

Khái niệm về đô thị có thể được nhìn nhận từ nhiều giác độ khác nhau như chức năng kinh tế, quy mô dân số, cơ cấu quy hoạch, quản lý Nhìn chung các quan điểm đều cho rằng, đô thị có những đặc điểm sau:

- Đô thị là nơi tập trung đông dân cư, mật độ dân số đô thị cao hơn bất

kỳ một vùng nông thôn nào khác, lao động là phi nông nghiệp sống và làm việc theo kiểu thành thị [3]

- Đô thị là nơi tập trung của các hoạt động kinh tế không trực tiếp coi đất đai là đối tượng lao động; Dân đô thị chủ yếu là lao động phi nông nghiệp bao gồm lao động công nghiệp và thủ công nghiệp; lao động xây dựng cơ bản; lao động trong lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tín dụng ngân hàng; lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ công, du lịch; lao động trong các cơ quan hành chính, văn hoá xã hội, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và các loại lao động khác ngoài lao động trực tiếp về nông nghiệp [6]

- Đô thị có kiểu kiến trúc quy hoạch hoàn toàn khác với nông thôn Tại các đô thị, các khu nhà ở và các cơ sở sản xuất nông nghiệp, các công trình văn hoá, khoa học, thương mại thường được phân bổ theo từng khu, từng dãy theo các trục đường giao thông (được coi là đường phố), có liên kết với nhau chứ không phân tán như ở các vùng nông thôn [6]

- Kết cấu hạ tầng đô thị là yếu tố phản ánh mức độ phát triển và tiện

Trang 15

nghi sinh hoạt của người dân đô thị theo lối sống đô thị Kết cấu hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật (như giao thông, điện nước, hệ thống cấp thoát nước, năng lượng, thông tin, xử lý chất thải, vệ sinh môi trường ) và hạ tầng xã hội (như nhà ở, công trình dịch vụ công cộng, y tế, văn hoá, xã hội, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, công viên cây xanh, giải trí

Ngoài ra, các nước trên thế giới cũng có những quy định riêng để phân biệt đô thị và nông thôn mà chủ yếu là các quy định theo quy mô dân số và các loại hình đô thị Quan niệm chung ở Việt Nam hiện nay và nhiều quốc gia đều cho rằng đô thị là những điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị Việc xác định quy mô dân cư tối thiểu phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia và

tỷ lệ phần trăm lao động phi nông nghiệp của một đô thị

Tại Việt Nam, theo phân cấp quản lý, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập

Quyết định số 132/QĐ - HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng

Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cũng đã quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau:

- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định

- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn)

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% tổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hoá phát triển

- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật các các công trình công cộng phục vụ dân

Trang 16

lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; kết cấu

hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch, xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2

Như vậy, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng lãnh thổ gồm nhiều tỉnh, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện Các đô thị được coi là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò chức năng nhiều mặt về hành chính, kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng, văn hoá, xã hội; các đô thị được coi là trung tâm chuyên ngành nếu có một chức năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết định tính chất của đô thị đó như đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị du lịch, đô thị đầu mối giao thông Việc xác định một đô thị là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định

b Khái niệm về đô thị hoá

Có nhiều quan điểm về khái niệm đô thị hoá:

Trên quan điểm một vùng, đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát

triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị

Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một quá trình biến đổi

về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu

Đô thị hoá là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống

đô thị của các nhóm dân cư Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hoá cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động

Trang 17

* Đô thị hoá nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật Là quá

trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt ), thực chất đó là tăng trưởng

đô thị theo xu hướng bền vững

* Đô thị hoá ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của

thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, và kết cấu hạ tầng tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn

* Đô thị hoá giả tạo là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư

đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộc sống đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị

và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ do vậy đô thị hoá gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội

Tóm lại, đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số [1]

1.1.1.3 Vai trò của đô thị và đô thị hoá trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

a Tác động tích cực của đô thị và quá trình đô thị hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Sự phát triển đô thị kích thích tăng trưởng và phát triển của các lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế thông qua quá trình phân bố lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ, văn hoá, xã hội Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, ở nhiều nước đã từng bước hình thành được những vùng lãnh thổ phát triển không chỉ đảm nhận chức năng động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ kinh tế - xã hội mà còn đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa học, kinh tế, văn hoá của thế giới rồi lan rộng ra các vùng xung quanh

Trang 18

Một là, ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa và dịch vụ

thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tương đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do các doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian đô thị nhất định Đồng thời khi kinh tế của các đô thị lớn đạt tới độ tăng trưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu ứng lan toả kích thích mạnh tới tăng trưởng kinh tế của cả nước

Hai là, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,

HĐH Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm

tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi

Ba là, cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng ĐTH tạo ra sự tập trung sản

xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa và thông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu

hạ tầng, nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó

mà hệ thống giao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô và chất lượng

Ở nông thôn , việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang được thực hiện với chủ trương “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân

Bốn là, ĐTH nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Các đô

thị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất hiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 19

Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ thuật cần thiết cho người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong ngoài nước

Năm là, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng

lân cận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/ tháng tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân Điều đó cho thấy ĐTH làm mức sống của dân

cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo

Sáu là, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi

thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa, [6]

b Những mặt hạn chế của quá trình đô thị hoá

Bên cạnh những mặt tích cực, tạo điều kiện thuận lợi đối với sản xuất

và đời sống con người, quá trình đô thị hoá cũng có những mặt hạn chế đó là:

- Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Một bộ phận nông dân bị mất đất canh tác, mất tư liệu sản xuất chủ yếu, thiếu hoặc mất việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn

- Hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị lớn, thậm chí cực lớn, gây mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư Những hộ nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp và xây dựng các công trình công cộng di

cư từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm

- Gia tăng các tệ nạn xã hội và làm tăng ô nhiễm môi trường mất cân bằng sinh thái Tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ra ngập úng; Tăng cường khai thác nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ v.v… làm suy thoái tài nguyên

Trang 20

nước; gia tăng các chất thải rắn, lỏng, khí từ sinh hoạt và sản xuất, dịch vụ; nhiều nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm mô trường lớn v.v…

- Thay đổi các tập quán, lối sống, phương thức kiếm sống là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hoá Sự thay đổi đó cùng với sự gia tăng số lượng dân

cư và các hình thức quần cư, gia tăng các nhu cầu y tế, giáo dục, giải trí góp phần làm cho phân hoá giàu nghèo diễn ra nhanh chóng; tỷ lệ thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác (trộm cắp, nghiện hút, mại dâm ) cũng gia tăng

- Thay đổi hình thái kiến trúc Tại các vùng nông thôn các nhà mái ngói truyền thống đang được thay dần bằng các nhà kiểu thành thị

1.1.1.4 Hình thái biểu hiện mức độ đô thị hoá

Theo các nhà kinh tế học đô thị, địa lý học và xã hội học đô thị thì có hai hình thức biểu hiện của đô thị hoá

Một là, đô thị hoá theo chiều rộng Là hình thức đô thị hoá trong đó

quá trình đô thị hoá diễn ra tại các khu vực trước đây không phải là đô thị đó cũng chính là quá trình mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới Với hình thức này, dân

số và diện tích đô thị không ngừng gia tăng, các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và các hoạt động của kinh tế đô thị không ngừng mở rộng; các hoạt động sản xuất kinh doanh và điểm dân cư ngày càng tập trung Sự hình thành các khu đô thị mới được tạo ra trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp thương mại, dịch vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô là xu hướng tất yếu của sự phát triển, là nhân tố mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đô thị hoá theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoá

Hai là, đô thị hoá theo chiều sâu Là quá trình hiện đại hoá và nâng cao

trình độ của các đô thị hiện có Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phương thức các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng tăng cường; hiệu quả kinh tế ngày càng được cải thiện và nâng cao đô thị hoá theo chiều sâu là quá trình thường xuyên và là yêu cầu tất yếu

Trang 21

của quá trình tăng trưởng và phát triển Quá trình đó đòi hỏi các nhà quản lý đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động và phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả trên cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội đô thị [6]

1.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa

- Nhân tố tự nhiên: trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đô

thị hoá phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác

sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hoá sớm hơn, quy mô lớn hơn Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hoá chậm hơn, quy mô nhỏ hơn

Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng

- Nhân tố kinh tế - xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình

thái đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hoá cũng có đặc trưng riêng của nó Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hoá và hiện đại hoá, là tiền đề cho đô thị hoá Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra với tốc độ cao, biểu hiện cụ thể là mở rộng quy mô đô thị theo mô hình phát triển từng phần theo một quy hoạch thống nhất; việc làm ở

đô thị được tăng thêm đáng kể, tuy nhiên tốc độ tăng việc làm còn chưa phù hợp với tốc độ tăng dân số đô thị, chất lượng sống của người dân đô thị chưa cao, rất nhiều vấn đề của đô thị được đặt ra và chưa có giải pháp hữu hiệu các nhà quản lý đô thị đang phải đối đầu với vấn đề quản lý kinh tế - xã hội ở

đô thị

- Văn hoá dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng của mình và

nền văn hoá đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và hình thái đô thị nói riêng

- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết

định trong quá trình đô thị hoá Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính để xây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn

Trang 22

Nguồn đó có thể từ trong nước hay từ nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế thể hiện trên nhiều phương diện: quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, trình độ văn hoá giáo dục của dân cư, mức sống dân cư

- Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau 1975, tốc độ đô thị hoá ngày

càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hoá đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc [1]

1.1.2 Một số chủ trương chính sách của đảng, Chính phủ liên quan đến quá trình đô thị hoá

Ngày 23 tháng 1 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 10/1998/QĐ - TTg về việc phê duyệt định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 Xây dựng các khu đô thị mới thực chất

là quá trình đô thị hoá và là từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị, theo vị trí và chức năng của mình, phát huy được đầy đủ các thế mạnh góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc Đô thị hoá liên quan trực tiếp đến nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục tập quán, lối sống của toàn xã hội, từng cộng đồng và cá nhân Nhận thức vấn đề này, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách giải quyết những vấn đề cơ bản khu vực nông thôn trong quá trình

đô thị hoá Hội nghị Ban chấp hành TW 5 (khoá IX) ngày 18/3/2002 đã đưa

ra Nghị quyết về nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và vấn đề việc làm cho nông dân đó là Nghị quyết số 13 NQ/ TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 14 NQ/TW về đẩy mạnh CNH –

Trang 23

HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010

Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ người lao động như Nghị định số 22/1998/NĐ – CP ngày 24/4/1998 quy định nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ trực tiếp kinh phí dạy nghề để chuyển nghề; Chính phủ đã có Nghị quyết số 09/2000/NQ – CP về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 126/1998/QĐ - TTg ngày 11/7/1998 về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2000; Quyết định số 032/2000/QĐ - TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; Quyết định số 143/2001/QĐ - TTg ngày 27/9/2001 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (thay thế Nghị định 22/1998/NĐ – CP) Mới đây là Quyết định số 81/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Nội dung cơ bản của chính sách trên là:

- Hướng vào tiếp tục giải phóng tiềm năng lao động, đất đai khu vực nông nghiệp, nông thôn, tạo động lực mới cho nông dân phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, nhất là trong kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, làng nghề, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn;

1.2 THỰC TIỄN ĐÔ THỊ HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới

Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về đô thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỷ 20, các quốc gia kém phát triển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỉ trọng dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển

Trang 24

Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo

Nguồn: World urbanization prospect: 1996, New York 1997

Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đô thị toàn thế giới là từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17.8% lên 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%

Hiện tại tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là 45%, Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân

số thế giới sống ở các đô thị [8]

* Đô thị hoá ở Ấn độ [6]

Là một nước đông dân cư đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc, năm 2000 dân số của Ấn độ đã vượt qua ngưỡng 1 tỷ người và kéo theo nó là nhu cầu nhà ở cũng rất cao Ở một số thành phố lớn, vấn đề nhà ở càng trở nên nổi cộm Do vậy, việc phát triển nhà để đáp ứng nhu cầu nhà ở Ấn độ nói chung và nhà ở các đô thị nói riêng trong quá trình đô thị hoá đã được Chính phủ Ấn độ rất quan tâm Chương trình phát triển nhà ở để đáp ứng cho nhu cầu đô thị hoá của Ấn độ được chia theo các kế hoạch 5 năm:

- Kế hoạch lần thứ nhất (1951 - 1956), Ấn độ chủ trương xây dựng các văn phòng, nhà ở cho các nhân viên Chính phủ và các công chức Nhà nước

- Kế hoạch lần thứ hai (1956 - 1961), Phạm vi của chương trình nhà ở

Trang 25

cho người nghèo được mở rộng trong phạm vi cho tất cả công nhân.

- Kế hoạch lần thứ ba (1961 - 1966) vạch ra định hướng chung cho chương trình nhà ở cho nhóm dân cư có thu nhập thấp

- Kế hoạch lần thứ tư, Sự phát triển đô thị cân đối được coi là ưu tiên hàng đầu trong (1969 - 1974)

- Kế hoạch lần thứ năm (1974 - 1979), kế hoạch trước về phát triển các

đô thị nhỏ ở các trung tâm đô thị mới để giảm sức ép dân số lên các thành phố lớn trong quá trình đô thị hoá

- Kế hoạch lần thứ sáu (1980 - 1985) là những chính sách kết hợp giữa dịch vụ với nhà ở, đặc biệt nhà cho người nghèo

- Kế hoạch lần thứ bảy (1985 - 1990) giao trách nhiệm về xây dựng nhà cho khu vực tư nhân

Chính phủ có vai trò hỗ trợ cho những người nghèo giúp họ tăng thêm thu nhập; giải phóng mặt bằng và tăng cường đất đai và dịch vụ cho nhân dân

* Đô thị hoá ở Seoul – Hàn Quốc [6]

Trong vòng hơn 40 năm qua (1953 - 2001), Hàn Quốc thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá, làm nên "Sự thần kỳ kinh tế trên sông Hàn" Công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã tạo điều kiện cho sự hình thành các khu đô thị, thành phố mới Tốc độ đô thị hoá tại các thành phố lớn ở Hàn Quốc rất cao, là kết quả của việc phát triển nhanh chóng các khu công nghiệp, các tổ hợp nhà máy lớn ở Seoul và các thành phố lớn khác

Seoul, thủ đô Hàn Quốc là thành phố đông dân cư thứ tư trên thế giới, với 10,97 triệu dân Dân số riêng Seoul chiếm 1/4 dân số Hàn Quốc, trong khi

đó diện tích Seoul là 605,3 km2, chỉ chiếm 0,6% diện tích Hàn Quốc Mật độ dân số cao (trên 18.000 người/ km2) là vấn đề xã hội nhức nhối của Seoul, đòi hỏi phải có chính sách phát triển và quy hoạch phù hợp Hiện tại, do sản xuất phát triển nên vẫn tồn tại khuynh hướng nông thôn di cư mạnh ra các khu vực

đô thị thuộc Seoul để kiếm việc làm và có cuộc sống đô thị, làm mật độ dân

số tại thủ đô Seoul ngày càng cao

Trang 26

Từ năm 1971, Chính phủ Hàn Quốc đặt trọng tâm quản lý đô thị ở Seoul vào việc ngăn không để dân số và diện tích đô thị tăng một cách tự nhiên và đã quyết định thành lập một vành đai xanh bao quanh thủ đô, có diện tích khoảng 160 km2 Trong phạm vi vành đai xanh, Chính phủ không cho phép xây dựng các cơ sở công nghiệp và các khu đô thị Thực tế ở khu vực vành đai xanh, chỉ có các hoạt động dịch vụ và sản xuất nông nghiệp Từ đó cho đến nay, diện tích của Seoul cơ bản không tăng, giữ ở mức 605,3 km2 đồng thời với việc lập vành đai xanh, Chính phủ Hàn Quốc đã quy hoạch và xây dựng tổng cộng 16 khu công nghiệp và dân cư mới (các thành phố vệ tinh) xung quanh thủ đô Mỗi thành phố vệ tinh có khoảng cách tới trung tâm Seoul khoảng 10 - 45 km Mục đích xây dựng các thành phố vệ tinh là nhằm thực hiện công nghiệp hoá, giảm các áp lực tăng dân số ở khu Seoul cũ Mỗi thành phố vệ tinh được xây dựng đều là khu đô thị mới, cung cấp chỗ ở và các tiện nghi sinh hoạt có liên quan cho khoảng 350 nghìn đến 460 nghìn dân; hoặc là khu công nghiệp tập trung với các nhà máy lọc dầu, hoá chất Là các nhà máy có thể gây ô nhiễm môi trường trong quá trình xây dựng và hình thành các thành phố vệ tinh, Chính phủ Hàn Quốc luôn đóng vai trò chủ đạo, làm chủ đầu tư Hai thành phố vệ tinh đầu tiên được xây dựng năm 1960 là khu công nghiệp hoá dầu Ulsan và khu dân cư Seong Nam Tiếp theo, vào đầu năm 1970, với chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và hoá chất, Chính phủ Hàn Quốc đã cho xây dựng một số tổ hợp công nghiệp lớn,

có các khu dân đi theo như Chang won, Yeocheon và Kumi, đến cuối năm

1970 là thành phố vệ tinh Ascal Cùng với việc xây dựng các thành phố vệ tinh này, Chính phủ Hàn Quốc đã dời các nhà máy thuộc hai lĩnh vực kể trên cùng toàn bộ lao động và gia đình của họ ra khỏi nội thành, giảm được mật độ dân số và giải quyết được nạn ô nhiễm môi trường có thể có bên trong thủ đô

Trong thời kỳ 1970 - 1980, dân số tại các thành phố lớn ở Hàn Quốc, đặc biệt là Seoul tăng rất nhanh do làn sóng người từ các vùng nông thôn nhập cư vào thành phố Hiện tượng thiếu nhà ở trở nên nghiêm trọng tại các

Trang 27

đô thị, đặc biệt là thủ đô Seoul Chính phủ Hàn Quốc khi đó đã xây dựng hai khu dân cư lớn - hai thành phố vệ tinh: Sanguedong và Mokdong ở ngoại ô Seoul để giải quyết tình hình trên Mỗi khu dân cư này có thể cung cấp chỗ ở

và các dịch vụ liên quan cho khoảng 250.000 dân

Vào cuối những năm 1980, do hiện tượng giá đất tăng vọt và thiếu đất

để xây dựng và phát triển, Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định xây dựng các thành phố vệ tinh mới ở xa trung tâm thủ đô Seoul, bên ngoài vành đai xanh Tháng 4/1989, Chính phủ Hàn Quốc công bố kế hoạch xây dựng 5 thành phố

vệ tinh: Bundang ở phía nam Seoul, Hasan ở phía tây bắc và 3 thành phố vệ tinh khác là: Pyung Chon, San Bon và Joong Dong ở phía nam Seoul Năm thành phố vệ tinh này được xây dựng, cung cấp nơi ở và các dịch vụ cần thiết khác cho cuộc sống của khoảng 2 triệu dân, làm giảm các áp lực kinh tế và xã hội do dân số tăng ở thủ đô Seoul một cách đáng kể

Nhờ nỗ lực xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp tập trung, các thành phố vệ tinh ở ngoại ô Seoul, Hàn Quốc đã giữ được thủ đô của mình là một trong các thủ đô đẹp và hiện đại nhất thế giới

* Đô thị hoá ở Nhật Bản [11]

Nhật Bản là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới, cũng đã gặt hái được nhiều thành công trong quá trình đô thị hoá, song đồng thời cũng phải đương đầu với rất nhiều vấn đề do quá trình này nảy sinh ra

Vào năm 1945, sau chiến tranh thế kết thúc, dân cư thành thị ở Nhật Bản mới chiếm khoảng 30% dân số, thì vào năm 1985, chỉ riêng ba khu thành phố lớn: Tokyo, Keihshin và Chuyoky với khoảng cách giữa chúng chưa tới

400 km mà chiếm tới gần 50% dân số toàn quốc Còn hiện nay số cư dân sống

ở đô thị của Nhật Bản đã chiếm tới khoảng 80% dân số Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về quy mô, thì số lượng các thành phố cũng tăng Năm 1957, Nhật Bản mới có 501, thì năm 1987 con số này lên tới 625 thành phố Về tổng thể, sự phát triển nhanh chóng của các thành phố Nhật Bản theo mô hình gia tăng dân số, hoàn bị và phát triển lại các khu vực đô thị vốn có Nhưng nhìn

Trang 28

chung, sự phát triển này nghiêng về phái thành phố ra đời từ những khu vực trước kia là nông thôn - ở đó sự thâm nhập đô thị vào nông thôn diễn ra một cách nhanh chóng

* Đô thị hoá ở Trung Quốc [11]

Quá trình đô thị hoá ở Trung Quốc chỉ thực sự diễn ra từ khi thành lập Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa trải qua nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, quá trình đô thị hoá ở đất nước khổng lồ này đang có xu hướng phát triển nhanh chóng và những nét đặc trưng riêng Quá trình đô thị hoá ở Trung Quốc được chia qua các thời kỳ sau:

+ Thời kỳ 1949 - 1957: đây là thời kỳ Trung Quốc khôi phục kinh tế và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nền kinh tế Trung Quốc đạt được những thành tựu huy hoàng Thời kỳ này, việc đô thị hoá sản phẩm song sinh của quá trình công nghiệp hoá cũng có những thành tựu nổi bật Cuối năm

1957 so với năm 1949, số dân thành phố tăng 84%, đạt 99,49 triệu người, tỷ

lệ trong tổng số dân cả nước tăng từ 10,6% lên 15,4% đó là kết quả của việc kinh tế phát triển, đời sống nâng nhanh, tỷ lệ sinh đẻ rất cao, tỷ lệ tử vong thấp, lại thêm sự di chuyển lớn dân nông thôn vào thành phố đã diễn ra một trào lưu đô thị hoá: số thành phố tăng từ 135 lên 178, trong đó số thành phố lớn tăng từ 13 lên 24, số thành phố cực lớn tăng từ 5 lên 11

+ Thời kỳ 1958 - 1965: đây là thời kỳ quá trình công nghiệp hoá của Trung Quốc lên xuống thất thường, dẫn đến sự trồi sụt rõ rệt của quá trình đô thị hoá Từ năm 1958, Trung Quốc mở chiến dịch “đại nhảy vọt”, chạy theo tốc độ, đổ đầu tư vào xây dựng cơ bản và phát triển công nghiệp nặng ở khắp các địa phương Theo đó, số lượng đô thị và nhân khẩu đô thị tăng vọt lên Trong 3 năm 1958-1960, số người mới từ nông thôn đổ vào thành phố lên đến

30 triệu người Năm 1961, số dân đô thị lên đến 123,71 triệu, chiếm 18,14%

số dân cả nước đã có đến 339 thành phố, trong đó có 39 thành phố lớn đây là thời kỳ các thành phố lớn phát triển nhanh nhất, vượt quá khả năng kinh tế

Từ năm 1961 đến năm 1964 đã giảm bớt 28,87 triệu công nhân viên chức,

Trang 29

đưa trở về quê 26 triệu người Nhân khẩu thành phố có mức tăng trưởng âm, đến năm 1964 chỉ còn 98,85 triệu người, chiếm 14% tổng số dân cả nước Lúc này Trung Quốc chủ trương kéo chậm quá trình đô thị hoá, đề ra phương châm phát triển đô thị là “Xây dựng thành phố lớn hiện có, thu hẹp và điều chỉnh các thành phố cực lớn” Năm 1965 so với năm 1960, số thành phố lớn

từ 39 giảm xuống 29, trong đó số thành phố cực lớn giảm từ 15 xuống 13, tỷ

lệ dân thành phố lớn trong tổng số dân thành phố trong thời gian đó giảm từ 66,2% xuống còn 58,7%

+ Thời kỳ 1966 - 1976: đó là thời kỳ “Cách mạng văn hoá”, có nhiều chính sách sai lầm, kinh tế ốm yếu, trình độ công nghiệp hoá, đô thị hoá kém phát triển, thậm chí bị tổn hại nặng nề Trong 10 năm đó, theo công bố, sản lượng công nghiệp tăng với nhịp độ hàng năm 6,9%, còn mức dân thành phố hàng năm chỉ tăng 1,3%, tỷ lệ so với dân số cả nước từ 14,6% xuống còn 12,2% Cơ sở vật chất và điều kiện sống của thành phố mới vô cùng lạc hậu, chất lượng đô thị hoá thấp Cũng trong 10 năm này, Trung Quốc đưa ra khẩu hiệu “Tích lương thảo, phòng chiến tranh”, đã chuyển một lượng lớn các công nghiệp vùng ven biển vào sâu trong nội địa, làm kinh tế các thành phố lớn ven biển bị tổn thất nặng nề, mà các thành phố nội địa mọc lên đột ngột và gượng

ép cũng không được hiệu quả cao trong xây dựng và phát triển Số thành phố lớn tăng từ 29 lên 40, chủ yếu là thành phố cấp tỉnh và cơ sở công nghiệp sâu trong nội địa, với số dân tăng từ 58,7% lên 63% tổng nhân khẩu thành phố Riêng số thành phố cực lớn không tăng

+ Thời kỳ 1978 đến nay: đây là thời kỳ Trung Quốc đoạn tuyệt với các chính sách quá tải, thực hiện chủ trương cải cách thể chế kinh tế, phát triển kinh tế hàng hoá có kế hoạch và sau đó là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mở rộng cửa với thế giới bên ngoài Các thành phần kinh tế đều phát triển với tốc độ cao liên tục Quá trình đô thị hoá theo đó cũng phát triển với quy mô chưa từng thấy đến năm 1995, Trung Quốc đã có 640 thành phố, trong

đó có 32 thành phố cực lớn, 43 thành phố lớn, 192 thành phố loại vừa (có số dân trên 20 vạn), 373 thành phố nhỏ (số dân dưới 20 vạn) và 16.992 thị trấn

Trang 30

1.2.2 Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam

Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam được chia ra thành các giai đoạn phát triển như sau:

- Trước năm 1954: đô thị Việt Nam đóng vai trò trung tâm hành chính, giao lưu thương mại phục vụ cho sự cai trị của bọn thực dân; sản xuất công nghiệp nhỏ bé Những thành phố nổi tiếng thời phong kiến: Hà Nội, Phố cổ Hội An, Thành Gia định

- Thời kỳ 1955 – 1965, quá trình đô thị hoá đã diễn ra hai xu hướng khác nhau: xu hướng đô thị hoá nhằm nâng cao đời sống nông thôn và thành thị kết hợp với công nghiệp hoá và phát triển giáo dục và y tế toàn dân đó là thời kỳ 10 năm đô thị hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1955 – 1965) Ngược lại ở miền Nam Việt Nam đã diễn ra xu hướng đô thị hoá nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của quân đội Mỹ và tầng lớp thị dân trong vùng Mỹ chiếm đóng, lấy mục tiêu quân sự để thiết lập hệ thống phường, xã nội đô, vùng ven

và ngoại ô, thi hành chính sách di dân ép buộc trong quá trình đô thị hoá, dùng bom đạn tàn phá nhiều vùng nông thôn để tạo ra áp lực di dân cơ học vào đô thị đó là thời kỳ 10 năm đô thị hoá cưỡng bức ở miền Nam Việt Nam

- Từ năm 1965 đến khi đất nước hoàn toàn được giải phóng vào ngày 30/4/1975, chiến tranh đã tàn phá nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, nhiều vùng dân cư nên trong thời gian đó quá trình đô thị hoá hoàn toàn bị ngừng lại

- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985, để phù hợp với tiến trình chung của cả nước, chúng ta đã tiến hành điều chỉnh sự phân bố các khu công nghiệp và dân cư nhằm tạo ra phân bố lại lực lượng sản xuất Chức năng từng

đô thị được xác định nhằm khai thác tiềm năng của từng đô thị Hệ thống đô thị được hình thành trên khắp cả nước với đủ các loại hình: đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị tổng hợp, song quy mô các đô thị còn bé

Trong điều kiện của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quá trình đô thị hoá diễn ra chậm chạp, đời sống dân cư đô thị gặp nhiều khó khăn: thiếu điện, thiếu nước, thiếu lương thực

Trang 31

- Giai đoạn 1986 đến nay, đại hội đảng lần thứ VI (năm 1986) đánh dấu một bước khởi đầu phát triển quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế

- Xã hội của đất nước Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được xác lập thay thế cho mô hình kế hoạch hoá tập trung Chính sách đổi mới đã tạo điều kiện nhanh chóng giải phóng lực lượng sản xuất; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng, chậm phát triển Quá trình đô thị hoá bắt đầu khởi sắc và diễn ra với tốc độ nhanh Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đô thị hoá không còn là mối quan hệ một chiều như trước (sự phát triển kinh tế dẫn đến đô thị hoá) mà đô thị hoá

đã có tác động trở lại quá trình phát triển kinh tế Ảnh hưởng tích cực của đô thị hoá đến phát triển kinh tế đã được thể hiện rất rõ nét

Năm 1990, cả nước có 461 đô thị, 3 thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2002 cả nước đã có 651 đô thị, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ương, 82 thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh và 565 thị trấn Dân số đô thị năm 1990 chỉ khoảng 13 triệu người, chiếm chưa đến 20% tổng dân số thì năm 2002 đạt khoảng 20,2 triệu người, chiếm 25,4% tổng dân số Tăng dân số

đô thị 0,5 triệu người/năm (4,2%/năm) Ở đồng bằng ven biển, năm 1990 bình quân khoảng 900 km2diện tích tự nhiên có 1 đô thị, đến năm 1998 đạt khoảng

700 km2có một đô thị Ở Trung du và miền núi năm 1990 cứ 1200 km2

đô thị còn nhỏ bé, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập Theo dự tính của Chính

Trang 32

phủ trong Quyết định phê duyệt định hướng quy hoạch đô thị Việt Nam đến năm 2020 (Quyết định số 10 ngày 23/1/1998), dân số đô thị năm 2010 là 30,4 triệu người (chiếm 33% dân số cả nước) và năm 2020 dân số đô thị là 46 triệu người (chiếm 45% dân số chung) Diện tích đô thị từ 0,2% trong tổng diện tích cả nước năm 1998 sẽ tăng lên 0,35% năm 2000, dự tính năm 2010 sẽ là 0,74% và năm 2020 diện tích đô thị cả nước sẽ là 460.000 ha, chiếm 1/4 diện tích tự nhiên cả nước Dân số chung Việt Nam năm 2020 sẽ là 103 triệu người, dân số đô thị là 46 triệu người (chiếm 45% dân số cả nước), bình quân hàng năm tăng 1,56 triệu người dân cư đô thị [5]

Trên thực tế, hệ thống đô thị Việt Nam vào thời điểm năm 1998 mới có trên 630 đô thị, nhưng đến nay đã có trên 730 đô thị Như vậy, sau 10 năm tăng thêm 100 đô thị, tức là trung bình 1 năm tăng thêm 10 đô thị, một tháng

có một đô thị ra đời đây là một sự phát triển vào loại nhanh nhất khu vực và thế giới [9]

Từ nay đến năm 2020 có nghĩa là trong vòng 20 năm tới, Việt Nam phải chung sống với các quốc gia trong một môi trường cạnh tranh ác liệt vì

sự tiến bộ của xã hội loài người do các mặt phát triển nhanh và tác hại lớn của quá trình toàn cầu hoá tác động Mục tiêu của Nhà nước ta cho đến năm 2010 hướng tới là sẽ đạt hạ mức giảm lao động nông nghiệp chỉ còn 50% và đến

2020 phấn đấu hạ mức lao động nông nghiệp thấp hơn nữa (các nước công nghiệp phát triển hiện nay có tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 2% đến 6% so với dân số chung) đồng thời Nhà nước ta còn đề ra mục tiêu cho năm 2010 là công nghiệp đạt tới 40 – 41%, dịch vụ 42 – 43% và nông nghiệp khoảng 16 – 17% của tỷ trọng GDP trong toàn quốc [5]

1.2.3 Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương trong việc giải quyết những ảnh hưởng của đô thị hoá đối với nông nghiệp, nông thôn

1.2.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

Năm 1997, đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; đến cuối năm 2003 được Chính phủ xếp hạng là đô thị loại 1 cấp Quốc

Trang 33

gia Bên cạnh những kết quả to lớn do quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp tập trung, chỉnh trang đô thị đem lại, là tình trạng hàng chục nghìn người thiếu việc làm, một bộ phận lớn lao động nông nghiệp phải chuyển sang ngành nghề khác Riêng năm 2004, quận Hải Châu huyện Hoà Vang với tổng diện tích đất sản xuất bị thu hồi chuyển mục đích

sử dụng là gần 1000 ha Tổng số hộ phải di dời, giải toả ở các địa phương nói trên là 12.694 hộ, gần 60.000 khẩu, lao động bị mất việc làm là 4.893 người

Qua khảo sát của Sở Lao động – Thương binh xã hội thành phố đà Nẵng về tình hình việc làm và đời sống của 5.753 hộ với 15.804 lao động (trong đó có 3.537 lao động nông – ngư nghiệp) nằm trong diện tích bị thu hồi đất sản xuất, di dời giải toả giai đoạn 2000 – 2003 có khó khăn về việc làm cho thấy tình trạng việc làm của lao động có các dạng: đã ổn định việc làm chiếm 52,22%, có việc làm không ổn định chiếm 17,07%, không có nhu cầu việc làm 7,03% và chưa có việc làm 23,68% Trong số lao động chưa có việc làm thì tỷ lệ có nhu cầu học nghề là 45,46% Về tình trạng việc làm của số lao động nông, lâm, ngư nghiệp có sự thay đổi như sau: giữ nguyên nghề cũ 30,05%, chuyển sang nghề khác 18,94%, có việc làm không ổn định 16,17%, không có việc làm 34,84% Trong số lao động không có việc làm làm này có

874 người có nhu cầu học nghề chiếm 71%, 358 người không đủ điều kiện học nghề chiếm 29% [6]

Trên cơ sở kết quả điều tra ở trên, ngoài chính sách đền bù, bố trí tái định cư, trong thời gian qua UBND thành phố đà Nẵng đã chỉ đạo các ngành, địa phương tổ chức các lớp học nghề miễn phí, cho vay vốn để sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn quỹ quốc gia giải quyết việc làm

Tuy nhiên, số lao động không chuyển đổi được ngành nghề còn lớn do văn hoá thấp, không có đất canh tác, không có nghề nghiệp nên rất khó khăn

để góp phần tháo gỡ vấn đề bức xúc này, thành phố đã chỉ đạo địa phương chủ động nằm danh sách các hộ bị giải toả, di dời cũng như tình trạng việc

Trang 34

làm và thu nhập của họ Qua đó vận động nhân dân vùng nông thôn mua đất lập trang trại, thuê mặt nước để nuôi trồng thuỷ hải sản, hướng dẫn thủ tục vay vốn từ các nguồn quỹ quốc gia giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo; vận động các doanh nghiệp trên địa bàn tiếp nhận lao động trong diện trên vào làm việc, hoặc nhận hàng về gia công tại nhà Kết quả là phần lớn nông dân bị thu hồi đất đã chuyển hẳn sang các hoạt động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

Thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/BCT của Bộ Chính trị, nhằm nhanh chóng xây dựng đà Nẵng trở thành một trong những thành phố công nghiệp phát triển Theo quy hoạch, từ nay đến năm 2010, một số công trình trọng điểm sẽ được triển khai với diện tích thu hồi lên đến 4 - 5 nghìn ha Với mức ảnh hưởng về việc làm bình quân 5.000 – 7.000 lao động/năm, một bộ phận nông dân sẽ không còn tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi ngành nghề, sức ép giải quyết việc làm cho đối tượng này sẽ gia tăng theo tỷ lệ thuận với quá trình đó để có chính sách ổn định và lâu dài ngành nghề cho nông dân trong diện giao đất, lao động trong diện di dời, giải toả, thành phố đã thực hiện các giải pháp sau đây:

- Tiếp tục thực hiện đầy đủ các chính sách bồi thường thiệt hại, hỗ trợ

và tái định cư cho người dân khi nhà nước thu hồi đất, bên cạnh đó thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh chính sách cho phù hợp

- Bổ sung nguồn vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm từ ngân sách đại phương, đồng thời thực hiện cho vay ưu đãi theo hướng cấp bù lãi suất để đảm bảo nguồn cho vay chuyển đổi ngành nghề khác Thực hiện chính sách miễn giảm học phí cho con em hộ nông dân diện thu hồi đất sản xuất đang học ở các trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, tiểu học bao gồm các trường công lập, dân lập, bán công, tư thục trên địa bàn thành phố

- Tăng đầu tư ngân sách và mở rộng hoạt động dạy nghề, tăng chỉ tiêu dạy nghề dài hạn bằng ngân sách từ 1.000 – 1.500 học sinh/năm

- Đẩy mạnh các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường

Trang 35

chuyển giao kỹ thuật, mở các lớp huấn luyện kỹ thuật, bồi dưỡng bổ túc nghề hình thành 3 - 4 vùng chuyên canh trồng rau sạch với quy mô mỗi vùng 30 -

50 ha nhằm giải quyết việc làm cho nông dân không còn đất sản xuất nhưng thực tế không có điều kiện chuyển đổi nghề

- Quy định với doanh nghiệp được giao đất tại các khu công nghiệp, địa bàn giải toả có trách nhiệm tiếp nhận lao động trong diện thu hồi đất, di dời, giải toả tại địa phương vào làm việc tại doanh nghiệp

1.2.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hoá theo chiều rộng cũng như theo chiều sâu ở thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra với tốc độ ngày càng cao Những biến động đột biến về quy mô dân số, về số lượng các Quận nội thành, về diện tích đất đô thị đều diễn ra vào những năm cuối của thập niên

90 Đó là kết quả của sự vận động lâu dài của quá trình đô thị hoá từ những năm trước đó đến thời điểm năm 2000, diện tích khu vực nội thành đã tăng thêm 30.000 ha Số quận nội thành tăng từ 12 lên 17 quận Dân số nội thành tăng từ 2,918 triệu người lên 4,247 triệu người, tức là đã tăng thêm 1,329 triệu người, hay 45,51% Trong đó, số người tăng thêm của chính 12 quận cũ là 0,567 triệu người, hay 19,43%; số người tăng thêm của việc chuyển các huyện thành quận là 0,761 triệu người, hay 26,07% Điều này tạo ra một sức

ép rất lớn đối với việc giải quyết việc làm cho người lao động khu vực ngoại thành Tuy nhiên với sự nỗ lực lớn của thành phố, bằng nhiều chính sách khá đồng bộ đã đạt được những kết quả rất khả quan trong lĩnh vực giải quyết việc làm, cụ thể là: trong năm 2003, thành phố đã giải quyết việc làm cho 213.000 người lao động, riêng các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp tạo

ra chỗ làm mới cho 73.600 lao động [7] Năm 2004, có 222.437 lao động

được giải quyết việc làm, trong đó có trên 9.000 doanh nghiệp trong và ngoài nước mới thành lập đã tạo gần 83.000 chỗ việc làm mới cho người lao động Hiện nay trên địa bàn toàn thành phố có 345 trung tâm dạy nghề, trong đó có

45 trường dạy nghề công lập; 14 trường dạy nghề ngoài công lập và 474 cơ sở

Trang 36

sản xuất kinh doanh dịch vụ tổ chức các lớp dạy nghề ngắn hạn với năng lực đào tạo mỗi năm 30.000 học sinh công nhân kỹ thuật và trên 200.000 học viên

hệ ngắn hạn Với sự quan tâm đặc biệt của thành phố, số lượng người được dạy nghề đã tăng lên nhanh chóng Cụ thể: số tuyển mới hệ dài hạn năm 2002

là 23.203 học sinh, năm 2004 là 27.000 học sinh và đến năm 2005 là 29.000 lượt học sinh; số tuyển ngắn hạn năm 2002, 2004 lần lượt là 198.162, 211.295 học sinh, năm 2005 là 290.000 người Với kết quả trên, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của thành phố tăng nhanh [4]

Về công tác giải quyết đất đai trong quá trình trình đô thị hoá: theo tinh thần Nghị định 22/NĐ - CP, thành phố Hồ Chí Minh không ban hành các văn bản triển khai Nghị định 22, mà tuân thủ theo đúng những gì Nghị định đã quy định Giá đền bù đất đai mà Nhà nước thu hồi được quy định bằng giá chuyển nhượng đất nông nghiệp thực tế tại thời điểm trên khi dự án được phê duyệt Tuy nhiên, đa phần các dự án đều được thẩm định giá đền bù thấp hơn giá thị trường 10 - 15% Mặc dù vậy, các hộ có đất bị thu hồi vẫn tự giác chấp hành, vì bên cạnh mức đền bù thiệt hại về đất, người có đất bị thu hồi còn người được đền bù thiệt hại về tài sản trên đất, trợ cấp đời sống và xã hội cho sự di chuyển chỗ ở và địa điểm kinh doanh, chi phí chuyển đổi nghề nghiệp Tóm lại, là họ nhận được tổng số tiền cao hơn giá chuyển nhượng thực tế tại địa điểm và thời điểm có đất bị thu hồi đây là lý do chính làm cho vấn đề giải phóng mặt bằng

ở thành phố Hồ Chí Minh không trở thành vấn đề bức xúc như ở một số địa phương khác

Quá trình đô thị hoá, với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, Sở Tài nguyên - Môi trường và nhà đất thường theo dõi sát sao diễn biến thực tế để chủ động đề xuất với UBND thành phố điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất một cách hợp lý ở một số địa điểm Sự điều chỉnh đó là cần thiết trong công tác quản lý thực hiện quy hoạch Song điều cần đánh giá cao ở đây

là sự chủ động và tính kịp thời trong việc làm của Sở Tài nguyên - Môi trường và nhà đất thành phố Hồ Chí Minh điều đó tạo sự thống nhất giữa quy

Trang 37

hoạch và thực tiến đó là cơ sở để thực hiện quản lý và các biến động về quyền sử dụng, về mục đích sử dụng đất ở các khu vực đô thị hoá, tránh tình trạng để những biến động đó, nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan quản

lý Nhà nước

Từ thực tiễn giải quyết vấn đề đất đai của thành phố Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số bài học sau đây:

Thứ nhất, việc đặt ra các mốc thời gian cho việc xác định khung giá đất

nhảy vọt là kẽ hở cho nạn tham nhũng Do vậy, cần tạo ra một khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh giá đất dần dần bám sát sự biến động của giá thị trường

Thứ hai, việc phân biệt đất đô thị, đất nông thôn theo ranh giới hành

chính là không hợp lý Trên thực tế tại một khu vực, với 2 lô đất thuộc 2 đơn

vị hành chính khác nhau sẽ khác nhau về thẩm quyền giao đất, khác nhau về quy định giá đất Thực tế là hai lô này có cùng mặt bằng giá Do đó, cần có một khuôn khổ pháp lý để định giá đất và quản lý đất cho khu vực đô thị hoá,

mà không phụ thuộc vào ranh giới đơn vị hành chính

Thứ ba, về quan điểm của chính sách đền bù khi thu hồi đất, trong đó

có hai quan điểm trái ngược nhau: quan điểm thứ nhất cho rằng nên đền bù theo giá thị trường, mua bán sòng phẳng giữa nhà nước và nông dân Theo đó nông dân cảm thấy thoả đáng và Nhà nước không cần tốn nhiều công sức để

lo cho dân về công ăn việc làm, mà tự dân lo liệu Quan điểm khác cho rằng,

có thể đền bù theo giá thấp hơn giá thị trường, và nhà nước sẽ hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân đương nhiên, khi đó, ngoài cơ quan thẩm định giá đất, nhà nước còn cần có cơ quan lo chuyển đổi nghề cho nông dân

Một số giải pháp khác: trong những năm qua thành phố đã có nhiều

hoạt động thiết thực như tổ chức Hội chợ việc làm, ngày hội nghề nghiệp và việc làm cấp quận, huyện nhằm tạo điều kiện cho người lao động và người sử dụng lao động có cơ hội gặp gỡ trao đổi và tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng của mình để phát huy hiệu quả của các nguồn Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, thành phố đã duy trì và mở rộng các làng nghề truyền thống ở các

Trang 38

huyện Củ Chi, Hóc Môn và quân 12; ngoài ra cũng góp phần tạo thêm nhiều khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong quá trình đô thị hoá Các chương trình tín dụng đã ưu đãi, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động, nhất là lao động nghèo trên địa bàn thành phố, đã đầu tư 549 dự án với số tiền 76.904 triệu đồng, tạo việc làm mới cho 15.470 lao động; quỹ XĐGN đã đầu tư trực tiếp cho 46.590 hộ nghèo, với số vốn 98.531 triệu đồng Nguồn vốn này được triển khai tại 599 tổ giảm nghèo, giải quyết việc làm cho 4.119 lao động, đầu

tư cho 243 dự án, thu hút 1.742 lao động nghèo có việc làm Mặc dù còn nhiều hạn chế, tuy nhiên những kết quả trong công tác giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hoá của thành phố Hồ Chí Minh là rất đáng khích lệ và học tập

1.2.4 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hình thái đô thị và quá trình ĐTH ở trên thế giới và khu vực

Từ cuối thế kỷ XIX, Cerda - kỹ sư người Catalan vẽ quy hoạch thành phố Barcelone, đặt ra thuật ngữ “urbanisacion” (sau này đã có trong tiếng pháp: “urbanization” - đô thị hoá) Ông tin rằng ĐTH là 1 kế hoạch và tồn tại nhiều nguyên lí cơ bản chi phối sự kiến thiết một đô thị Ông cũng ý thức về tầm quan trọng của việc quản lý thành phố một cách toàn diện với sự huy động kế hoạch về nhiều lĩnh vực của quản lý đô thị [12]

Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu khoa học đã có những quyết định khác nhau về các mô hình đô thị Năm 1925, nhà xã hội học Ernest Burgess (Mỹ) đã đem ra “mô hình làn sóng điện” Theo mô hình này thì thành phố chỉ có một trung tâm và 5 vùng đồng tâm Đặc điểm chung của mô hình

đô thị này là tất cả c ác lĩnh vực đều có xu hướng mở rộng [12] “Mô hình thành phố đa cực” được 2 nhà địa lý Marris và Ullman đưa ra vào năm 1945

Mô hình chủ yếu tính đổi các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển của phương tiện giao thông [12] Vào năm 1939, “Mô hình phát triển theo khu vực” do chuyên gia địa chính Hamer Hoyt đưa ra chủ yếu tính đến các dạng

Trang 39

đô thị phát triển với sự hiện đại hoá các quá trình giao thông và nhiều thành phần phát triển theo kiểu khu phố Có thể nói đây là hệ thống hoàn chỉnh nhất

vì nó đã tính đến các trục giao thông lớn

Có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển đô thị François Perrous với quan điểm “thuyết kinh tế chủ đạo” hay còn gọi là “thuyết về các cực tăng trưởng” ông cho rằng chỉ ở các trung tâm đô thị của hai vùng có sự phát triển các ngành công nghiệp, có sức bành trướng mạnh mới có khả năng tăng trưởng lớn nhất Nông nghiệp trọng tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng đây chính là quan điểm phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm Tuy nhiên theo nghiên cứu của David C Korkn cần phát triển đô thị lấy con người làm trung tâm Ông cho rằng “phát triển là một tiến trình quá trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ” [12]

Trong những năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có những công trình nghiên cứu về ĐTH ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu về “tác động kinh tế xã hội và môi trường của quá trình đô thị hoá đối với các vùng nông thôn xung quanh các đô thị lớn”, nghiên cứu “tri thức, thái độ hành vi ứng xử của cộng đồng đối với vấn đề rác thải, môi trường đô thị ” [12]

Những đề tài nghiên cứu này đã cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển đô thị nói trên và cuộc sống, quan hệ phát triển KT-XH nói chung

Tháng 11/2004, Bộ xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi chiến lược phát triển đô thị gắn với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam đây

là một chiến lược quan trọng mà Việt Nam đang tích cực triển khai thực hiện [2]

Trang 40

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1 Các câu hỏi nghiên cứu

- Vị trí các khu vực đang trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thị xã Sông Công có đặc điểm gì?

- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã thay đổi theo hướng nào? Có phù hợp không?

- Thu nhập của những hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp có sự thay đổi như thế nào?

- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội của thị

xã diễn ra như thế nào?

- Những cơ hội, thách thức, mặt tích cực và tiêu cực mà đô thị hóa mang lại cho người dân nói riêng và cho thị xã nói chung?

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

1.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu chung

Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Từ các hiện tượng, các biểu hiện đơn lẻ của các đối tượng cần nghiên cứu được tập hợp lại, chuẩn hóa một số yếu tố, đơn giản hoá một số tiêu thức và tiến hành phân tích đánh giá

1.3.2.2 Phương pháp thống kê

1 Chọn mẫu nghiên cứu

Điểm nghiên cứu phải đảm bảo yêu cầu phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, mang tính đại diện cho từng đối tượng, đại diện cho từng vùng địa lý nghiên cứu

Thị xã Sông Công có 6 phường và 3 xã, để tìm hiểu ảnh hưởng của tốc độ đô thị hoá đối với nông nghiệp, nông thôn của thị xã một cách khách quan, chúng tôi chọn 2 phường và 01 xã đã và đang diễn ra quá trình đô thị hoá tương đối mạnh mẽ đó là xã Tân Quang, Phường Mỏ Chè và phường Cải Đan

Căn cứ vào sự phân nhóm theo diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp,

Ngày đăng: 04/10/2014, 06:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội, Thực trạng và giải pháp (2002), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội, Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội, Thực trạng và giải pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Bộ Xây dựng (1999), Định hướng phát triển cấp nước đô thị đến năm 2020, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển cấp nước đô thị đến năm 2020
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1999
3. Trần Văn Chử, Trần Ngọc Hiên (1998), đô thị hoá và các chính sách phát triển đô thị trong CNH – HĐH ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đô thị hoá và các chính sách phát triển đô thị trong CNH – HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Chử, Trần Ngọc Hiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. Trần Trung Dũng (2005), "Công tác dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh - Kết quả và tồn tại", Tạp chí Lao động xã hội số 261 tháng 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh - Kết quả và tồn tại
Tác giả: Trần Trung Dũng
Năm: 2005
5. Mạc Đường (2002), Dân tộc học – đô thị và vấn đề đô thị hoá, Nhà xuất bản trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học – đô thị và vấn đề đô thị hoá
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2002
6. Hoàng Văn Hoa (2005), Tác động của quá trình đô thị hoá đối với lao động, việc làm ở Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quá trình đô thị hoá đối với lao động, việc làm ở Hà Nội - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Hoàng Văn Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Lê Minh Hùng (2005), Đà Nẵng nỗ lực chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho lao động diện giao đất, Tạp chí Lao động xã hội số 261 tháng 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng nỗ lực chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho lao động diện giao đất
Tác giả: Lê Minh Hùng
Năm: 2005
8. Trịnh Duy Luân (1996), Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môn xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Vương Hoàng Nam (2003), Giải quyết việc làm cho trên 21 vạn lao động – do đâu, Tạp chí Lao động xã hội số 261 tháng 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho trên 21 vạn lao động – do đâu
Tác giả: Vương Hoàng Nam
Năm: 2003
10. Quốc hội nước CHXHCNVN (2003), Luật đất đai năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
11. Nguyễn Duy Quý (1998), đô thị hoá trong quá trình công nghiệp hoá, kinh nghiệm của Nhật Bản và một số nước khác, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đô thị hoá trong quá trình công nghiệp hoá, kinh nghiệm của Nhật Bản và một số nước khác
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1998
12. Bassand, Michel (2001), Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững, Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững
Tác giả: Bassand, Michel
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2001
13. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2007), Báo cáo Hiện trạng môi trường khu công nghiệp Sông Công Khác
14. UBND thị xã Sông Công, Niên giám thống kê (2000 – 2009) thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên Khác
15. Uỷ ban nhân dân thị xã Sông Công (2009), báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện năm 2007 Khác
16. Uỷ ban nhân dân thị xã Sông Công (2009), báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện năm 2007 Khác
17. Uỷ ban nhân dân thị xã Sông Công (2000), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010 Khác
18. Ủy ban nhân dân thị xã Sông Công (2000), Quy hoạch sử dụng đất đai thị xã Sông Công giai đoạn 2000 – 2010, định hướng 2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 1.1. Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo (Trang 24)
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2009 - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2009 (Trang 49)
Bảng 2.2: Tăng trưởng Công nghiệp, TTCN và Xây dựng - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2 Tăng trưởng Công nghiệp, TTCN và Xây dựng (Trang 50)
Bảng 2.4: Biến động đất đai của thị xã giai đoạn 2005 – 2009 - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.4 Biến động đất đai của thị xã giai đoạn 2005 – 2009 (Trang 53)
Bảng 2.5. Thực trạng dân số - lao động thị xã Sông Công - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.5. Thực trạng dân số - lao động thị xã Sông Công (Trang 56)
Bảng 2.7. Tốc độ ĐTH của thị xã Sông Công, giai đoạn 2005 - 2009 - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.7. Tốc độ ĐTH của thị xã Sông Công, giai đoạn 2005 - 2009 (Trang 60)
Bảng 2.10. Kết quả phân tích chất lượng nước thải sản xuất - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.10. Kết quả phân tích chất lượng nước thải sản xuất (Trang 67)
Bảng 2.11. Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.11. Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh (Trang 68)
Bảng 2.12. Kết quả phân tích hàm lƣợng một số chỉ tiêu kim loại nặng trong - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.12. Kết quả phân tích hàm lƣợng một số chỉ tiêu kim loại nặng trong (Trang 69)
Bảng 2.13. Thông tin cơ bản của các hộ điều tra - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.13. Thông tin cơ bản của các hộ điều tra (Trang 74)
Bảng 2.15. Tình hình chung của hộ trước và sau ĐTH - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.15. Tình hình chung của hộ trước và sau ĐTH (Trang 77)
Bảng 2.16. Nguồn lực của các hộ điều tra - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.16. Nguồn lực của các hộ điều tra (Trang 79)
Bảng 2.17. Thu nhập của hộ trước và sau đô thị hóa - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.17. Thu nhập của hộ trước và sau đô thị hóa (Trang 82)
Bảng 2.18. Hiệu quả SXKD của hộ trước và sau ĐTH - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.18. Hiệu quả SXKD của hộ trước và sau ĐTH (Trang 83)
Bảng 2.19. Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra - ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thị xã sông công, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.19. Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w