Các quá trình động thái diễn ra trong rừng có thể chia thành 3 nhóm quá trình: i tăng trưởng của cây dẫn đến sự chuyển cấp trong tầng cây cao; ii quá trình tái sinh bổ sung; và iii quá t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐỨC MẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI CẤU TRÚC ĐƯỜNG KÍNH
CỦA RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI HỖN LOÀI LÁ RỘNG
RỤNG LÁ THEO MÙA ƯU HỢP HỌ DẦU (RỪNG KHỘP)
Ở TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐỨC MẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI CẤU TRÚC ĐƯỜNG KÍNH
CỦA RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI HỖN LOÀI LÁ RỘNG
RỤNG LÁ THEO MÙA ƯU HỢP HỌ DẦU (RỪNG KHỘP)
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Khái quát về động thái rừng 7
1.2 Nghiên cứu ngoài nước 7
1.1.1 Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng 7
1.1.2 Các nghiên cứu về sinh trưởng rừng 12
1.1.3 Các nghiên cứu về rừng khộp 14
1.3 Nghiên cứu trong nước 16
1.3.1 Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng 16
1.3.2 Các nghiên cứu về tăng trưởng rừng 18
1.3.3 Các nghiên cứu về rừng Khộp 21
1.4 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu 24
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Mục tiêu 30
2.1.1 Mục tiêu lý luận 30
2.1.2 Mục tiêu thực tiễn 30
2.2 Nội dung và giới hạn nghiên cứu 30
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp tiếp cận chung 30
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.3.3 Các phương pháp xử lý thông tin và công cụ sử dụng 37
Trang 4Chương 3
GIỚI THIỆU ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN VÙNG NGHIÊN CỨU 40
3.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 40
3.1.2 Khí hậu 40
3.1.3 Đất đai 41
3.1.4 Hệ thực vật 41
Chương 4 KẾT QUẢ, THẢO LUẬN 43
4.1 Bảng cấu trúc lâm phần của các ô tiêu chuẩn 43
4.1.1 Bảng cấu trúc N-D 43
4.1.2 Cấu trúc tổ thành và đa dạng loài 53
4.2 Các quá trình động thái rừng khộp 56
4.2.1 Động thái tái sinh tự nhiên 59
4.2.2 Động thái sinh trưởng và chuyển cỡ kính 61
4.2.3 Quá trình chết tự nhiên hoặc/và khai thác 64
4.3 Xây dựng mô hình dự đoán cấu trúc rừng khộp 67
4.4 Một số đề xuất áp dụng kết quả nghiên cứu 74
Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 81
5.1.Kết luận 81
5.2 Tồn tại 83
5.3 Khuyến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC LUẬN VĂN 89
Trang 5MỞ ĐẦU
Rừng là tài nguyên quý giá có khả năng tái tạo, rừng không những là cơ sở
của sự phát triển kinh tế mà còn giữ chức năng sinh thái rất quan trọng Song nó là
một hệ sinh thái phức tạp bao gồm nhiều thành phần với các quy luật sắp xếp khác
nhau trong không gian và thời gian Trong quản lý rừng, tác động lâm sinh là biện
pháp kỹ thuật then chốt để cải thiện và làm cho rừng có cấu trúc phù hợp nhất với
mục đích quản lý, nhằm đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cho từng loại hình kinh
doanh rừng Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản
lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về
bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng (HSTR), trong đó có quy luật sinh
trưởng và các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của rừng Nghiên cứu
động thái của rừng tự nhiên là một công việc rất khó khăn nhưng cần thiết để nắm
bắt được các qui luật phát triển của rừng để có các quyết định điều chỉnh hợp lý và
kịp thời trong từng giai đoạn phát triển của rừng Các quá trình động thái diễn ra
trong rừng có thể chia thành 3 nhóm quá trình: (i) tăng trưởng của cây dẫn đến sự
chuyển cấp trong tầng cây cao; (ii) quá trình tái sinh bổ sung; và (iii) quá trình chết
tự nhiên trong các cỡ kính, hai quá trình sau làm thay đổi tổ thành loài và cấu trúc
của lâm phần Các nghiên cứu về cấu trúc và động thái của rừng tự nhiên đã được
các nhà khoa học lâm nghiệp quan tâm từ lâu, và có rất nhiều công trình đã được
công bố, nhiều kiến thức và kinh nghiệm đã được tích luỹ làm cơ sở cho các biện
pháp kỹ thuật trong quản lý và sử dụng rừng Tuy nhiên để có cơ sở xây dựng được
mô hình rừng "mục đích" và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm dẫn dắt rừng đạt
được sự bền vững cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung để có những hiểu biết sâu
hơn về các quy luật cấu trúc và động thái của rừng Ở Việt Nam, các nghiên cứu
định vị còn rất hạn chế Trong chương trình theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, bắt
đầu từ chu kỳ 2 (1985-1990), Viện Điều tra quy hoạch rừng đã thiết lập khoảng 100
ô định vị nghiên cứu sinh thái và đã thu thập được một nguồn dữ liệu rất phong phú,
tuy nhiên việc phân tích đánh giá nguồn số liệu này để nghiên cứu các vấn đề sinh
thái rừng và lâm học còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân rất khác nhau Trong
Trang 6khuôn khổ đề tài “nghiên cứu các đặc điểm lâm học của một số HSTR chủ yếu ở
Việt Nam” của Viện Khoa học Lâm nghiệp giai đoạn I từ năm 2006-2010, đã thiết
lập thêm 54 ô tiêu chuẩn định vị cho 4 kiểu rừng khác nhau trên các vùng sinh thái
của toàn quốc, trong đó có 6 ô tiêu chuẩn đƣợc lập cho kiểu thƣa rụng lá ƣu hợp họ
Dầu (rừng khộp) ở Tây Nguyên Hệ thống ô tiêu chuẩn định vị (ÔTCĐV) này là cơ
sở cho các nghiên cứu sâu hơn về các quá trình động trong các HSTR khác nhau ở
Việt Nam
Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tôi thực hiện đề tài: "Nghiên
cứu động thái cấu trúc đường kính của rừng tự nhiên nhiệt đới hỗn loài lá rộng
rụng lá theo mùa ưu hợp họ dầu(rừng khộp) ở Tây Nguyên " Đây là một trong
những nội dung nghiên cứu thuộc đề tài “nghiên cứu các đặc điểm lâm học của một
số HSTR chủ yếu ở Việt Nam” do nhóm nghiên cứu của PGS.TS Trần Văn Con,
Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về động thái rừng
Động thái rừng là một khái niệm rất rộng và bao gồm nhiều quá trình rất
phức tạp Nghiên cứu động thái rừng là một công việc hết sức khó khăn và càng đặc
biệt khó khăn hơn đối với rừng tự nhiên nhiệt đới bởi tính phức hợp của nó Các
công trình nghiên cứu về động thái rừng tự nhiên nhiệt đới ở trên thế giới và ở Việt
Nam đã được công bố cho đến nay là không kể được Sau đây chỉ cập nhật một số
công trình nghiên cứu quan trọng nhất liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
luận văn, đặc biệt là các công trình nghiên cứu các quá trình động thái của quần thụ
cây gỗ trên 3 vấn đề chính: tái sinh, diễn thế và tăng trưởng
1.2 Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng
Có rất nhiều phương pháp đã được sử dụng để nghiên cứu quá trình diễn thế
rừng, phương pháp được sử dụng nhiều nhất là mô hình hóa các quy luật biến đổi
tầng cây cao và tầng cây bụi thảm tươi dưới các tác động thay đổi điều kiện môi
trường
Hiện tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau trong nghiên cứu về lý thuyết
diễn thế của các hệ sinh thái, trong đó có thể chia thành hai trường phái cơ bản:
(i) Các lý thuyết về diễn thế dựa trên phản ứng của các cá thể sinh vật và quan niệm
diễn thế là kết quả của các chiến lược thích nghi của các cá thể đối với môi trường
(ii) Các lý thuyết diễn thế dựa trên phản ứng của toàn bộ HSTR (Shugart,
H.H.1984) [52] Diễn thế dưới quan điểm của nhiều nhà sinh thái học, bao gồm sự
biến đổi của các hệ tự nhiên và hiểu biết về nguyên nhân cũng như xu hướng của
các biến đổi đó Trong kho tàng tài liệu về sinh thái học, đã có quá nhiều các công
trình viết về diễn thế đến nỗi rất khó cho ai đó muốn tổng quan để đưa đến một sự
phân loại hay tổng hợp về các lý thuyết, trường phái về diễn thế cũng như các mô
hình toán đã được ứng dụng để nghiên cứu về diễn thế Shugart H.H (1984) [52] đã
sử dụng một loạt các mô hình máy tính về diễn thế rừng (gọi là mô hình lỗ trống) để
Trang 8nghiên cứu phản ứng động thái lâu dài của HSTR Các nghiên cứu này tập trung
vào việc ứng dụng các mô hình để phát triển lý thuyết và giải quyết các vấn đề
trong hiểu biết của chúng ta về diễn thế Một loạt các mô hình động thái rừng dựa
trên cây cá thể đã được thảo luận trong công trình này như: mô hình cho rừng đồng
loài đều tuổi, mô hình cho rừng hỗn loài đều tuổi, mô hình cho rừng đồng loài khác
tuổi và mô hình cho rừng khác loài khác tuổi Các mô hình này lại được chia theo
cách tiếp cận có chú ý đến không gian và không chú ý đến không gian
Ngoài các phương pháp tiếp cận nghiên cứu diễn thế bằng mô hình hóa toán
học, các phương pháp nghiên cứu mô tả trên cơ sở nghiên cứu định vị lâu dài (thông
qua hệ thống ô tiêu chuẩn sinh thái định vị) hoặc thông qua một hệ thống các ô
nghiên cứu với các giai đoạn diễn thế khác nhau tồn tại cùng một thời điểm trên các
địa điểm không gian khác nhau (phương pháp lấy không gian thay thế thời gian)
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của HSTR, biểu hiện
của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn
hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng
sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy
tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ
yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định
bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự
tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều
nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard,
1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969,
dẫn theo [5]) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá
trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được
nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ
tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến
đổi Van steenis (1959)[54] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng
Trang 9mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của
các loài cây ưa sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách
thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng
Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh
Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961) dẫn theo [2] với phương
thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux
(1951, 1954) dẫn theo [2] với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954),
Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji
(1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Nội dung chi tiết các
bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1962) [2] tổng
kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938) nhận thấy cây
con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm A.Obrevin đã khái quát hoá các
hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh,
nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế chưa đưa ra được những đề xuất
cụ thể Vì vậy, lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản
xuất để điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra
Tuy nhiên, những kết quả quan sát của Davit và P.W Risa (1933), Bơt (1946),
Sun (1960), Role (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn với nhận định của
A.Obrevin Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài
cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú
ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết
các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có
kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít
có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard
(1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ
sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên
Trang 10rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận
định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế,
do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn
dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [5]
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng
(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm
tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G.N
(1962)[2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con
còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường
không rõ ràng Thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh
Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn
có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ
cây tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường
không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít
được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau
nương rẫy
H Lamprecht (1989)[46] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong
suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây
bạn chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng
đến tái sinh rừng I.D.Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát
triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây
con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ,
V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh
dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua
lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của
quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[29]
Trang 11Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua
thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh
hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và
nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng
của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng
đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này
chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973)
(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[29]
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ
việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các phương
thức lâm sinh hợp lý
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên
cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận
xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục
Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà
nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau
phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban,
2000 [1]) Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambert et al (1989), Warner (1991),
Rouw (1991) đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám
nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong
được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ,
tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con Những loài cây gỗ
tiên phong chết đi sau 5-10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây rừng mọc
chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loại
hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy từ 1-20
năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981, 1992) đã cho biết chỉ số đa dạng
loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và
giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng
Trang 12thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận
xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật
Bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)[1]
Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho
chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một
số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững
1.1.2 Các nghiên cứu về sinh trưởng rừng
Người ta đã dùng nhiều cách để mô tả sinh trưởng của cây và sản lượng lâm
phần Cách truyền thống mà các nhà lâm học cổ điển thường dùng là bảng sản
lượng Từ những năm 1960 trở lại đây ngày càng xuất hiện nhiều công trình dùng
mô hình toán để nghiên cứu quá trình sinh trưởng của cây rừng Ngày nay đã có
hàng loạt các hàm sinh trưởng có thể diễn tả chính xác đường cong sinh trưởng của
cây rừng phụ thuộc vào thời gian Backman (1962)[38]đã chỉ ra rằng: Suất tăng
trưởng của một lâm phần là một hàm phụ thuộc vào tuổi, loài cây, lập địa và mật
độ Clutter (1963) [42] đã dùng phương trình vi phân để dự báo năng suất của rừng
thuần loài đều tuổi, còn Moser và Hau (1962 dẫn theo [55]) thì dùng phương pháp
này để nghiên cứu rừng lá rộng khác tuổi Các nghiên cứu về sau đã bổ sung thêm
nhiều yếu tố mới Moser đã định lượng ba thành phần chủ yếu của quá trình sinh
trưởng: Tái sinh (ingrowth); chết (mortality); tăng trưởng cây sống (Survior
growth), ông đã phát triển một mô hình gồm các hệ phương trình phi tuyến để dự
báo sinh trưởng của rừng cho các cấp đất và cỡ đường kính khác nhau Leary (1970)
cũng tiến hành những nghiên cứu tương tự, ông đã thảo luận sâu hơn về các luận
điểm lý thuyết của các mô hình mô phỏng sinh trưỏng và đưa ra những nguyên tắc,
để ước lượng các tham số Ek (1974) đã dùng hệ phương trình phi tuyến để nghiên
cứu nhiều lâm phần rừng lá rộng khác tuổi (dẫn theo Trần Văn Con (1991)[6]
Người ta cũng có thể dùng các quá trình ngẫu nhiên để mô tả sinh trưởng của
lâm phần Burner và Moser (1973) đã dùng quá trình Markov để mô phỏng sự
chuyển hoá cấp kính theo thời gian Stephen và Waggoner (1970) cho rằng có thể
Trang 13dùng mô hình Markov để mô phỏng sự biến đổi thành phần loài của một lâm phần
trong vòng 40 năm Suzuki và Umemura (1974) Kouba, J (1976) đã dùng chuỗi
Markov để dự báo phân bố số cây theo cấp kính trong tương lai và quá trình thay
đổi cấu trúc tuổi trong khi điều chế, dẫn theo Trần Văn Con (1991)[5]
Bên cạnh mô hình lâm phần người ta cũng có thể xây dựng các mô hình trên
cơ sở của từng cây cá thể Về phương pháp luận thì cách làm này dễ và chính xác
hơn phương pháp mô tả chung cho lâm phần; tuy nhiên nó đòi hỏi một khối lượng
thông tin và tính toán lớn hơn nhiều Ưu điểm nổi bật của mô hình từng cây là có
thể dễ dàng kết hợp với quá trình đào thải (tự nhiên, nhân tạo) hoặc sự tái sinh
thêm; và cũng thích hợp hơn để mô tả rừng hỗn loài Do đó xu hướng sử dụng mô
hình từng cây đang tăng lên
Người ta còn phân biệt mô hình phụ thuộc khoảng cách và mô hình không
phụ thuộc khoảng cách, ở loại mô hình phụ thuộc khoảng cách người ta đưa thêm
chỉ số cạnh tranh để đánh giá mức độ phụ thuộc giữa các các thể với nhau
Cho dù sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả thực nghiệm, phương pháp
biểu đồ hay phương pháp mô hình hoá toán học thì điều quan trong nhất vẫn phụ
thuộc vào phương pháp thu thập số liệu Phương pháp thu thập số liệu chính xác
nhất là thiết lập một hệ thống ô tiêu chuẩn định vị để theo dõi lâu dài các nhân tố
tạo thành cấu trúc của rừng Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có thời gian
nghiên cứu lâu dài và tốn nhiều công sức để theo dõi định kỳ Trong một số trường
hợp, người nghiên cứu cần phải rút ngắn thời gian nghiên cứu để đưa ra những cơ
sở khoa học đáp ứng ngay yêu cầu sản xuất và người ta đã sử dụng hệ thống các ô
tiêu chuẩn tạm thời được thiết lập theo các cách rút mẫu khác nhau tuỳ theo mục
tiêu nghiên cứu Cách cách rút mẫu chủ yếu là: hệ thống, ngẫu nhiên, điển hình
hoặc phối hợp giữa các phương pháp rút mẫu với nhau
Tóm lại, việc mô hình hoá quá trình sinh trưởng của cây rừng được tiến hành
bằng nhiều hướng khác nhau, nhưng có thể xếp thành hai xu hướng chính Xu
hướng thứ nhất tập trung mô tả sinh trưởng chung của lâm phần có chú ý đến các
đặc trưng động thái như quá trình sinh trưởng, tái sinh và quá trình chết tự nhiên,
Trang 14hướng này về sau đã chi tiết đến các cấp kích thước và nhóm loài Xu hướng thứ
hai là mô hình từng cây, là những mô hình rất chi tiết với một khối lượng tính toán
lớn, phức tạp, tuy nhiên nó đã trở thành hiện thực thông qua các tiến bộ của kỹ thuật
máy tính điện tử
1.1.3 Các nghiên cứu về rừng khộp
Rừng Khộp là tên gọi chung cho các loại rừng thưa ưu hợp họ dầu, rụng lá
mùa khô (tiếng Pháp gọi là Forets Claires Dipterocarpacees; tiếng Anh là dry open
dipterocarps forest) Đây là một HSTR đặc trưng chỉ phân bố tự nhiên ở những lập
địa khô vùng Đông nam Châu Á như: Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia, Thái Lan,
Mianmar và một phần nhỏ ở đông bắc Ấn Độ Rừng Khộp được hình thành dưới
những điều kiện sinh thái cực kỳ khắc nghiệt: chúng ta có thể bắt gặp rừng Khộp ở
những nơi có khí hậu gió mùa với mùa khô kéo dài từ 5-6 tháng và tổng lượng mưa
năm không quá 1500mm, nằm trên độ cao từ 150-1300m, nhưng nhìn chung rừng
khộp thường phân bố ở độ cao không quá 1000m, tập trung trên các đai địa hình cao
nguyên tương đối bằng phẳng và trên các bình nguyên bị bào mòn với độ dốc không
quá 10 độ Rừng Khộp có thành phần thực vật tương đối đơn giản và được đặc
trưng bởi 4 loài cây chính: Cà chắc (Shorea obtusa Wall), Cẩm liên (Shorea
siamensis, Miq.), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius Teysm) và Dầu đồng
(Dipterocarpus tuberculatus Roxb) So với các kiểu rừng khác như rừng lá rộng
thường xanh, rừng thông… thì các nghiên cứu trước đây về rừng khộp còn rất ít,
nhất là những nghiên cứu trên địa bàn Tây Nguyên Ngược dòng thời gian có thể kể
đến các nghiên cứu của Kurs (1897) ở Mianmar, Ryan và Keen (1911) ở bắc Thái
Lan, Champion (1936), Edward (1950) ở Ấn Độ và Mianmar, Maurand, Rollet
(1952), Vidal (1958) ở Đông dương (dẫn theo Vũ Biệt Linh và cộng sự (1998) [14]
Bunyavejchevin B (1983) [40] nghiên cứu cấu trúc quần thụ của rừng khộp ở miền
Bắc, Tây Bắc và miền Tây Thái Lan đã chia thành 5 kiểu ưu hợp dựa vào các loài
ưu thế chính:
1 Ưu hợp Cẩm liên, được chia thành hai kiểu phụ: kiểu phụ dạng cây bụi và kiểu
phụ dạng cây vừa Kiểu dạng cây bụi có mật độ cao nhưng tổng tiết diện ngang
Trang 15thấp, trong khi kiểu dạng cây vừa thì mật độ thấp hơn, cây cao hơn và tổng tiết
diện ngang lớn hơn Kiểu ưu hợp này phân bố ở các lập địa thấp nhất trên đất sét
cát chưa hàm lượng calcium cao và hàm lượng chất hữu cơ và nitơ vừa phải
2 Ưu hợp cà chít chiếm ưu thế trên các lập địa dốc nhẹ đến dốc vừa ở nơi cao hơn
ưu hợp Cẩm liên Đất dưới kiểu ưu hợp này biến động từ đất sét cát đến đất thịt
cát, hàm lượng chất hữu cơ và nitơ thấp Ưu hợp này cũng chia thành hai kiểu
phụ: kiểu cây bụi và kiểu cây vừa
3 Ưu hợp Trà beng-Cà chít chiếm lĩnh các sườn dốc ở cùng một độ cao với ưu hợp
Cà chít, một vài lâm phần có thể ởp độ cao cao hơn Kiểu ưu hợp này có thành
phần loài phong phú hơn và thường ở trên đất sét với hàm lượng chất hữu cơ và
nitơ cao và tỷ trọng hạt thấp
4 Ưu hợp Dầu đồng-Cà chít phân bố cao hơn, ở độ cao thấp hơn trên các lập địa
chứa hydro cũng là môi trường thích hợp cho kiểu ưu hợp này Cây trong kiểu
ưu hợp này lớn hơn các kiểu ưu hợp khác Đất thường là sét hàm lượng calcium
cao nhưng chất hữu cơ và nitơ thấp
5 Ưu hợp Thông-Cây họ dầu cấu tạo bằng các cây vừa đến lớn phân bố từ độ cao
vừa đến cao Đất cát với hàm lượng calcium cao ở tầng mặt Kiểu ưu hợp này có thể
chia thành 4 kiểu phụ: Kiểu ưu hợp phụ Dầu đông-Cà chít-Thông nhựa ở độ cao
vừa, dốc mạnh; kiểu ưu hợp phụ Dầu đồng-Thông nhựa phân bố ở độ cao cao hơn
dốc nhẹ, đây là kiểu rừng có năng suất cao nhất Ở độ cao cao nhất phổ biên kiểu ưu
hợp phụ Dầu Trà beng-Thông nhựa và Dầu trà beng-Thông ba lá Cả hai kiểu phụ
này cùng trên một độ cao nhưng kiểu ưu hợp Dầu trà beng-Thông nhựa thường tốt
hơn ở địa hình bằng hoặc lượn sóng, trong khi kiểu ưu hợp Dầu trà beng-Thông ba
lá thường chiếm lĩnh nơi dốc Các nghiên cứu của Khermark (1972)[43],
Kostermann (1985)[44], Kutintata (1975), Perset Sornsathapornkul (2002) [48] về
cấu trúc rừng khộp cũng cho các kết quả tương tự
Trang 161.3 Nghiên cứu trong nước
1.3.1 Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng
Tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của HSTR, mà biểu hiện
là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ Hiểu theo nghĩa hẹp, tái
sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Hay nói cách khác tái sinh rừng là quá trình sinh học quan trọng nhất trong đời sống
của rừng
Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi có nghĩa là lợi dụng tái sinh tự nhiên kết
hợp với tác động hợp lý của con người tạo ra một thế hệ mới có thành phần loài cây
đáp ứng mục đích kinh doanh và phù hợp với điều kiện tự nhiên, tạo ra HSTR ổn
định bền vững
Tái sinh rừng mưa nhiệt đới có đặc điểm phân tán liên tục, ngoài ra còn có
tái sinh theo vệt Rừng nhiệt đới Việt Nam thích hợp với cả hai kiểu tái sinh trên,
ngoài ra còn có hiện tượng nảy mầm đồng thời tạo ra một thế hệ rừng tiên phong
thuần loài, như rừng Sau Sau (Hữu Lũng - Lạng Sơn), rừng Bồ Đề (Phú Thọ)
Tái sinh tự nhiên là qúa trình chủ yếu để phục hồi rừng qua các pha diến thế
Có hai phương thức tái sinh tự nhiên:
1 Tái sinh liên lục dưới tán kín rậm của những loài chịu bóng thường thưa
thớt và yếu ớt vì thiếu áng sáng nên chỉ có một số ít cây thoát khỏi giai đoạn nguy
hiểm, ức chế kéo dài để chờ cơ hội vươn lên tầng cao cho thích hợp với nhu cầu
sinh thái;
2 Tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống trong tán rừng do cây già đổ
rụi hay gió bão làm đổ gãy Trên lỗ trống đó, trước hết sẽ mọc lên các loài cây tiên
phong ưa sáng, mọc nhanh Dưới tán của các cây tiên phong, các loài cây định vị
trong thành phần quần thụ cũ thường đòi hỏi che bóng trong 1-2 năm đầu, sẽ mọc
sau và dần dần vươn lên thay thế những loài tiên phong tạm thời có tuổi thọ ngắn
Quá trình tái sinh và diễn thế của rừng tự nhiên là những vấn đề hết sức quan
trọng trong nghiên cứu sinh thái rừng nhiệt đới Mỗi sự phá hoại rừng nguyên sinh
đều dẫn đến quá trình diễn thế theo xu hướng trở lại trạng thái ban đầu Sự thay đổi
Trang 17như vậy thường được gọi là quá trính diễn thế thứ sinh, đây là một quá trình hết sức
phức tạp vì các hình thức, mức độ và thời kỳ phá hoại quần thể thực vật cũng như
sự thoái hoá của đất rừng cũng hết sức phức tạp Theo Thái Văn Trừng (1970) [34],
(1978) [33], (1986) [32] thì có thể phân ra hai loại trong quá trình diễn thế thứ sinh:
(i) Trên đất rừng nguyên trạng; (ii) Trên đất rừng thoái hoá
Trên đất rừng nguyên trạng, nếu thảm thực vật chỉ bị phá hoại một lần thì các
kiểu thảm thực vật sẽ phục hồi gần giống như các quần thể nguyên hay thứ sinh tự
nhiên ở một số khu vực nhất định Nếu bị tác động nhiều lần trong quá trình diễn
thế thứ sinh thì tuỳ loại hình quần thụ nhưng thường là không biến đổi mấy về hình
dạng, còn về cấu trúc sẽ đơn giản và thành phần cây tái sinh gồm chủ yếu là những
loài cây tiên phong tạm cư hay tiên phong định cư và có rất nhiều loài định vị nên
không thể đạt độ ưu thế tương đối của rừng nguyên sinh Trên loại đất rừng thoái
hoá, môi trường đã biến đổi, nhiều khi thảm thực vật rừng không phục hồi nguyên
trạng được nên sẽ phát sinh những kiểu thảm thực vật ở bậc thấp hơn kiểu khí hậu,
hay kiểu khí hậu thổ nhưỡng Đây là loại diễn thế đi xuống, muốn rừng trở lại
nguyên trạng thì phải chờ thời gian dài để cải thiện chất lượng về mặt thổ nhưỡng
Nghiên cứu tái sinh 9 loài cây gỗ có giá trị kinh tế (Táu mật, Dẻ, Re, Lim xanh, Cà
ổi, Sến, Xoay, Vàng tâm, Giổi) trên các trạng thái rừng khác nhau so với rừng giàu
chưa bị tác động nhận thấy số lượng cây tái sinh giảm rõ rệt: ở rừng nguyên sinh,
tổng số cây tái sinh mục đích đạt 2594 cây/ha, trong khi đó rừng IIIA2 số lượng
giảm xuống còn 1481 cây/ha, ở rừng IIIA1 chỉ còn là 750 cây/ha; trong đó có một
số loài hầu như rất ít gặp như Lim xanh, Re, Vàng tâm, Xoay, Sến Tỷ lệ % so với
tổng số các loài cây tái sinh cũng giảm rõ rệt Tuy nhiên, rừng ở Kon Hà Nừng còn
có trữ lượng cao và khai thác chọn mới được diễn ra trong vòng 10 năm thì sự thay
đổi trong tái sinh chưa xẩy ra mạnh
Hoàng Văn Tuấn (2007) [30], khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động thái tái
sinh của HSTR lá rộng thường xanh vùng Tây bắc đã chỉ ra rằng: có một sự tích luỹ
số loài ở các lớp cây có kích thước lớn hơn so với các lớp cây dưới đó Thực tế này
phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng của các loài cây tái sinh và
Trang 18tuỳ vào kích thước của lỗ trống được tạo ra trong tán rừng làm tiền đề cho quá trình
tái sinh Trần Văn Con và cộng sự (2006) [7] đã chỉ ra rằng, động thái rừng có thể
được nghiên cứu bằng theo dõi các ô định vị qua nhiều năm Kết quả phân tích tài
liệu thu thập được trong 3 năm từ các ô tiêu chuẩn định vị ở Kon Hà Nừng đã cho
thấy qui luật động thái của rừng Biến động về số cây ở lớp cây tái sinh rất lớn, tỷ lệ
chết và tỷ lệ tái sinh vào cấp kính nhỏ nhất khá cao Tỷ lệ chết cao nhất là ở lớp cây
tái sinh có D1,3 từ 1 đến 10cm (64%) chứng tỏ có một sự cạnh tranh rất lớn trong lớp
cây tái sinh này Trong thời gian quan sát 3 năm, số cây chết trong tầng cây cao là
25 cây (chiếm 6%), trong đó chết chủ yếu ở cấp kính từ 10 - 20cm Số cây từ lớp
cây tái sinh chuyển lên tầng cây cao là 28 cây Số cây trong tầng cây cao chuyển lên
các cỡ kính cao hơn là 56 cây
1.3.2 Các nghiên cứu về tăng trưởng rừng
Ở Việt Nam, nghiên cứu tăng trưởng rừng mới được bắt đầu từ những năm
đầu thập niên 50 của thế kỷ trước Từ 1958-1960, các chuyên gia của Đức đã tiến
hành giải tích và nghiên cứu sinh trưởng cho một số loài cây rừng tự nhiên phục vụ
công tác điều tra và phân loại rừng một số vùng trọng điểm: Thanh Hoá, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh Từ 1960 – 1965, các chuyên gia Trung Quốc và
cán bộ điều tra rừng Việt Nam phối hợp nghiên cứu tăng trưởng và sinh trưởng trên
20 loài cây phổ biến ở vùng Sông Hiếu, Nghệ An bằng phương pháp giải tích thân
cây tiêu chuẩn để phục vụ nhiệm vụ quy hoạch vùng trọng điểm phát triển Lâm
nghiệp của miền Bắc Từ 1965 – 1975, vấn đề điều tra tăng trưởng được quan tâm
nhằm phục vụ công tác quy hoạch rừng, luận chứng kinh tế kỹ thuật, phát triển
trồng rừng và đào tạo cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp ở miền Bắc Việt Nam Bộ môn
Điều tra tăng trưởng được thành lập và bước đầu hoạt động nghiên cứu phục vụ sản
xuất có hiệu quả (Viện ĐTQH rừng, Viện nghiên cứu lâm nghiệp, Trường ĐHLN)
Đặc biệt phải kể đến công trình nghiên cứu tăng trưởng khá toàn diện cho đối tượng
rừng Mỡ trồng và Bồ đề tái sinh sau nương rẫy ở vùng trung tâm miền Bắc của Vũ
Đình Phương, Viêm Ngọc Hùng (1980) [20] Giai đoạn sau năm 1975 đã bắt đầu có
các nghiên cứu tăng trưởng ở các loài cây trồng rừng nguyên liệu giấy, rừng gỗ trụ
Trang 19mỏ như Thông, Mỡ, Bồ đề, Bạch đàn, Keo và các loài cây rừng tự nhiên Ngoài
tính toán tăng trưởng cây cá lẻ và lâm phần thuần loài theo từng vùng sinh thái, một
số nghiên cứu đã cố gắng xác định tăng trưởng lâm phần rừng tự nhiên hỗn giao
khác tuổi Phương pháp thu thập tài liệu vẫn áp dụng các phương pháp truyền thống
như lập ô mẫu cố định để đo đếm định kỳ nhằm xác định tăng trưởng lâm phần, giải
tích cây (cưa thớt, khoan tăng trưởng, đẽo vát ), xác định tuổi và tăng trưởng cây
cá lẻ và tính toán tăng trưởng cho toàn bộ lâm phần Phương pháp xử lý tính toán đã
tiến dần từ việc tính tăng trưởng bình quân từ một số cây mẫu bằng phương pháp
mô phỏng tăng trưởng theo các hàm toán học Phương pháp này tránh được các sai
số do phân cấp thời gian, nắn tròn số lẻ, hoặc các sai số do sử dụng công thức gần
đúng Hiện nay đã có biểu tăng trưởng cho khoảng 100 loài cây trồng rừng phổ biến
và loài cây rừng tự nhiên Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau
(Dẫn theo Cẩm nang Lâm nghiệp, chương Tăng trưởng rừng - Cục Lâm nghiệp và
GTZ (2006) [3]
Giai đoạn 1981-1985: Trịnh Khắc Mười (1993) [17] đã nghiên cứu qui luật tăng
trưởng làm cơ sở cho việc tỉa thưa, nuôi dưỡng rừng Thông nhựa vùng Thanh Nghệ
Tĩnh và vùng Đông Bắc trên cơ sở đo đếm 187 ô định vị và tạm thời, 481 cây giải
tích và khoan tăng trưởng
Năm 1985: Vũ Đình Phương và cộng sự Viện Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp (nay
là Viện Nghiên cứu lâm nghiệp) đã nhiên cứu qui luật tăng trưởng của lâm phần
thuần loài và hỗn loài năng suất cao để làm cơ sở đưa ra các phương pháp kinh
doanh rừng hợp lý (đề tài 04010102a - Chương trình 04.01) Tài liệu nghiên cứu từ
50 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích từ 0,25-1ha ở các khu rừng giàu tại Kon Hà
Nừng và lưu vực Sông Hiếu
Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1990) [16] nghiên cứu tăng trưởng và sản
lượng rừng trồng Thông ba lá dựa trên tài liệu thu thập từ 142 ô định vị và bán định
vị, 350 ô tiêu chuẩn tạm thời, 420 cây tiêu chuẩn theo cỡ kính, giải tích 242 cây
ngả, đo 548 bộ tán lá về diện tích và đường kính hình chiếu tán, đo đếm sinh khối
Trang 20thân, cành, lá, rễ của 60 cây, sử dụng tài liệu 572 ô tròn, chặt trắng 4 ô tiêu chuẩn
100 x100m
Năm 1998: Trần Quốc Dũng và các cộng sự Viện Điều tra qui hoạch rừng đã nghiên
cứu phân tích đánh giá tăng trưởng rừng thường xanh cây gỗ lá rộng vùng Bắc
Trung bộ dựa trên 587 cây giải tích của 27 loài ưu thế (dẫn theo [3])
Năm 2000: Trần Quốc Dũng và các cộng sự Viện Điều tra qui hoạch rừng đã nghiên
cứu phân tích đánh giá tăng trưởng rừng thường xanh cây gỗ lá rộng vùng Bắc
Trung bộ dựa trên 1187 cây giải tích của 43 loài ưu thế (dẫn theo [3])
Cũng năm 2000, Vũ Tiến Hinh và cộng sự thuộc trường Đại học Lâm nghiệp đã lập
biểu sinh trưởng và sản lượng cho 3 loài cây: sa mộc, mỡ và thông đuôi ngựa ở các
tỉnh phía Bắc và Đông Bắc Việt Nam [11]
Năm 2001: Đào Công Khanh và cộng sự thông qua đề tài nghiên cứu cấp Bộ, đã lập
biểu quá trình sinh trưởng và sản lượng cho rừng trồng các loài cây Bạch đàn
urophylla (Eucalyptus urophylla), Tếch (Techtona grangdis), Keo tai tượng (Acacia
mangium), Thông nhựa (Pinus merkusii), và kiểm tra biểu sản lượng các loài Đước
(Rhyzophora apiculata) và Tràm (Melaleuca leucadendra)
Năm 2004: Trần Quốc Dũng và các cộng sự Viện Điều tra qui hoạch rừng đã nghiên
cứu xây dựng một số chỉ tiêu tăng trưởng một số trạng thái rừng tự nhiên vùng
Đông Nam Bộ và Tây nguyên dựa trên 631 cây giải tích của 26 loài ưu thế của vùng
Đông Nam Bộ và 587 cây giải tích của 27 loài ưu thế của vùng Tây nguyên [3]
Giai đoạn 2001-2004: Đỗ xuân Lân (Viện Điều tra quy hoạch rừng) đã nghiên cứu
tăng trưởng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh đã qua tác động Đây là đề tài nghiên
cứu cấp Bộ
Năm 2001-2005, nhóm đề tài do Đỗ Đình Sâm chủ trì đã xây được 1 số dạng
phương trình tăng trưởng đường kính lâm phần ở các vùng sinh thái và tính được
tăng trưởng rừng cho một số ô tiêu chuẩn trên các trạng thái rừng phổ biến hiện nay
Trên cơ sở đó đã xác định đường kính thành thục để có thể khai thác của các loài
cây gỗ kinh doanh tuỳ thuộc tốc độ sinh trưởng và đặc tính sinh học của từng loài
trên các vùng sinh thái với hơn 60 loài ở Bắc Trung bộ, 22 loài ở Tây Nguyên và 18
Trang 21loài ở Duyên Hải Nam trung bộ Sắp xếp các loài cây theo tốc độ sinh trưởng
(chậm, trung bình, nhanh ) và kết hợp theo nhóm gỗ (Đỗ Đình Sâm và cộng sự
.,2007)[27]
Năm 2004-2006, nhóm nghiên cứu do Trần Văn Con chủ trì đã nghiên cứu bổ sung
qui luật sinh trưởng của chiều cao 20 loài cây thường được khai thác ở Tây Nguyên
cho phép phân thành ba nhóm theo đặc điểm sinh trưởng: (i): Các loài cây ưa bóng
giai đoạn đầu, sinh trưởng chiều cao trong 10 năm đầu rất chậm sau đó tăng dần lên
khi vượt lên được tầng cây cao để trở thành tầng trội Đó là các loài: Xoay, Chò,
Cồng, Thạch đảm, Giẻ và Hoàng đàn (ii) Các loài cây chịu bóng nhẹ (trung tính)
giai đoạn đầu, sinh trưởng chiều cao ở 10 năm đầu trung bình và tăng lên ở giai
đoạn sau đạt tầng cây cao ở tuổi thành thục Đó là các loài: Re, Vạng, Vàng tâm,
Trám, Sến, Gội, Giổi và Cóc đá (iii) Các loài cây ưa sáng, sinh trưởng chiều cao
giai đoạn đầu rất nhanh sau đó chậm lại và dừng lại rồi dừng lại ở tầng giữa của
rừng ổn định Đó là các loài: Bời lời, Chân chim, Bứa, Côm, Gáo, và Trâm Nghiên
cứu qui luật sinh trưởng đường kính đã xác định được đường kính tại đó tăng
trưởng đạt tối đa để làm căn cứ khoa học cho việc xác định đường kính khai thác tối
thiểu (Trần Văn Con và cộng sự., 2006) [7]
1.3.3 Các nghiên cứu về rừng Khộp
Ở Việt Nam, có các nghiên cứu của Schmid (1962) ở Buôn Ma Thuột, Rollet
(1952) ở Lang Hanh và của Nguyễn Tiến Hiệp (1960) ở Trảng Bom (dẫn theo Vũ
Biệt Linh và cộng sự., 1998) [14] Nhìn chung các nghiên cứu này chủ yếu nặng về
phân loại rừng, mô tả thảm thực vật một cách định tính Sau ngày miền Nam được
giải phóng (1975), do ý nghĩa quan trọng về kinh tế-xã hội và sinh thái, rừng Khộp
ở Tây Nguyên đã trở thành đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu khoa học thuộc các
lĩnh vực khác nhau Viện điều tra qui hoạch rừng (1983) đã công bố một loạt các kết
quả điều tra, nghiên cứu về tài nguyên rừng khộp ở Tây Nguyên Về hệ thực vật
trong rừng khộp đã có các nghiên cứu của Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp (1987)
[15], Nguyễn Bội Quỳnh, Trần Hợp, Đoàn Sỹ Hiên (1988) [23], Ngô Tiến Dũng
(2000) [9], 2004 [10] Về đất, có các nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu (1976),
Trang 22Nguyễn Văn Thái (1981, dẫn theo Vũ Biệt Linh và cộng sự., 1998) [14]), Viện qui
hoạch thiết kế bộ Nông nghiệp (1985 [18]) và đặc biệt là nghiên cứu của Nguyễn
Công Pho (1984) [19] về đất rừng khộp ở Easup Về lập địa có các nghiên cứu của
Đỗ Đình Sâm (1986) [26], Hoàng Xuân Tý (1988) [35] Về lâm học, có các nghiên
cứu của Nguyễn Hồng Quân, Trương Hồ Tố, Hồ Viết Sắc (1981) [22], Hồ Viết Sắc
(1984) [24]… Tuy vậy, các nghiên cứu này vẫn còn rất tản mạn và chưa đáp ứng
yêu cầu cung cấp đủ cơ sở khoa học vững chắc để đề ra các biện pháp kinh doanh
tổng hợp rừng Khộp Vì vậy, trong chương trình Tây Nguyên II, đã tiến hành một
đề tài “Nghiên cứu các cơ sở khoa học kỹ thuật để kinh doanh tổng hợp rừng khộp
Tây Nguyên” (Vũ Biệt Linh và cộng sự 1988) [14]) Cùng với báo cáo khoa học
tổng kết của đề tài này còn có một số luận án nghiên cứu sinh về đối tượng rừng
Khộp đã được công bố (Trần Văn Con, 1991) [6], Đinh Quang Diệp (1990) [8])
Nghiên cứu về cấu trúc
Trần Văn Con (1991) [6] nghiên cứu về cấu trúc tổ thành rừng Khộp ở Tây
Nguyên đã dùng phương pháp mô phỏng cấu trúc tổ thành loài rừng khộp bằng
phương trình entropie có dạng:
h = H’(1-exp(-ks))
của Stocker/Bergmann (1977) và đã phân biệt được 5 kiểu ưu hợp chính dựa theo
các loài ưu thế chính có tầm quan trọng nhất(>30%) và 16 kiểu ưu hợp phụ dựa theo
các loài ưu thế phụ (>10-30%)
- Cấu trúc N/D: So với các kiểu rừng khác như rừng lá kim và rừng thường xanh,
các nghiên cứu về cấu trúc N/D của rừng Khộp chưa có nhiều Theo Hồ Viết Sắc
(1984) [24] thì phân bố số cây theo cấp kính của rừng Khộp tuân theo qui luật giảm,
đặc trưng của rừng hỗn loài khác tuổi Bằng số liệu của 40 ô tiêu chuẩn (mỗi ô 1 ha)
đại diện cho các vùng rừng Khộp đặc trưng ở Tây Nguyên, Trần Văn Con (1991)
[6] chỉ ra rằng phân bố N/D của rừng khộp có thể mô phỏng tốt bằng hàm Weibull
với hai tham số và Mỗi một cặp ( , ) đặc trưng cho một dạng phân bố N/D
Tham số biểu thị mức tập trung hay phân tán của phân bố nếu nhỏ thì phân bố
bẹt và phân tán, nếu lớn thì phân bố nhọn và tập trung Tham số biểu thị dạng
Trang 23của phân bố: nếu = 1 thì phân bố có dạng phân bố mũ (phân bố giảm, nếu < 3,6
phân bố có dạng một đỉnh lệch trái, nếu > 3,6 phân bố có dạng một đỉnh lệch
phải, trong trường hợp = 3,6 thì phân bố có dạng chuẩn Như vậy, cặp tham số (
, ) cấu trúc nội tại của lâm phần Qua số liệu thực nghiệm, dựa vào giá trị của tham
số , cho thấy trong rừng khộp có thể tồn tại 3 dạng cấu trúc N/D:
(I) Phân bố giảm (giá trị 0,75 < < 1,25) qui về =1, đặc trưng cho rừng khác
tuổi có lớp tái sinh liên tục và đủ lớn Loại rừng này có thể kinh doanh bằng
phương thức chặt chọn theo cấp kính
(II) Phân bố một đỉnh lệch trái (giá trị 1,25 < < 1,75) qui về =1,5, đặc trưng
cho rừng khác tuổi có lớp cây tái sinh liên tục nhưng không đủ số lượng Số
cây có cấp kính từ 15-19 cm chiếm đa số
(III) Phân bố Rayleich, một đỉnh lệch trái ít hơn, đặc trưng cho rừng gần như
đồng tuổi (có thể coi là gần chuẩn, giá trị 1,25 < < 2,5 qui về =2) Quá
trình tái sinh trong dạng cấu trúc này bị gián đoạn nhiều kỳ, số lượng tái sinh
ít, rừng có thể kinh doanh theo phương thức chặt trắng theo đám nhỏ
Dựa vào tham số có thể chia rừng thành 3 cấp:
(1) Giá trị nằm từ 1-2,5, nghĩa là đường kính bình quân của lâm phần >20cm, đặc
trưng cho loại rừng non hoặc rừng gỗ nhỏ
(2) Giá trị nằm từ 2,5-4, nghĩa là đường kính bình quân của lâm phần nằm trong
khoảng 20-30cm, đặc trưng cho rừng trung niên hoặc gổ nhỡ
(3) Giá trị lớn hơn 4, nghĩa là đường kính bình quân lâm phần lớn hơn 30 cm, đặc
trưng cho rừng thành thục và gỗ lớn
Đại đa số các ô quan sát có cấu trúc N/D theo dạng II, nghĩa là phân bố một đỉnh
lệch trái Do giữa và có tương quan tỷ lệ thuận, nên hầu hết các ô có dạng phân
bố I đều nằm ở cấp 1, các ô có dạng phân bố II nằm ở cấp 2 và các ô có dạng phân
bố III nằm ở cấp 2 hoặc cấp 3
Trang 24Nghiên cứu về động thái:
Động thái sinh trưởng của rừng Khộp đã được Trần Văn Con (1991) [6],
Nguyễn Thanh Tân (1997) [28] nghiên cứu Trần Văn Con [6] đã sử dụng phương
pháp mô phỏng riêng cho từng nhân tố H, D, V và G và phân thành 4 cấp năng suất
dựa vào tương quan H/A Nếu chúng ta so sánh chiều cao đạt được ở tuổi 50 và tuổi
100 (H50/H100) ở các cấp năng suất S18, S14, S12 và S9 thì ta có các tỷ số tương
đương là: 0,82; 0,78; 0,74 và 0,69 Điều này có nghĩa là: ở cấp năng suất cao (S18)
tại tuổi 50 chiều cao đã đạt được 82% chiều cao mà cây sẽ đạt được ở tuổi 100,
trong khi đó ở cấp năng suất thấp (S9) thì chỉ đạt 69% Vậy, cấp năng suất càng cao
thì ở giai đoạn non chiều cao phát triển càng nhanh và do đó Zh đạt cực đại sớm
hơn so với cấp năng suất thấp Nghiên cứu tương quan H/D cũng đưa đến nhận xét
như vậy Động thái sinh trưởng chiều cao phản ánh một tập tính của cây rừng Khộp
đã được hình thành nhằm thích ứng với điều kiện lửa rừng xẩy ra thường xuyên Đó
là sự phát triển rất nhanh về chiều cao trong giai đoạn đầu (để vượt tầm nguy hiểm
của lửa) sau đó giảm dần, trong khi sinh trưởng của đường kính tăng lên ở giai đoạn
sau Zd đạt cực đại ở cấp kính nào là phụ thuộc vào cấp năng suất, cụ thể ở cấp
năng suất S18, Zd cực đại tại D=43 cm, S14 tại D=38,7, S12 tại D=30,6 và S9 tại
D=25,1 cm Đây là cơ sở để qui định đường kính khai thác hợp lý cho từng cấp
năng suất Biểu đồ mô phỏng động thái tăng trưởng của thể tích theo tuổi và theo
đường kính trên cùng một trục tọa độ có thể dùng để ước lượng tuổi cây khi khi biết
đường kính và cấp năng suất
Biểu đồ mô phỏng tương quan tổng tiết diện ngang G với số cây N/ha và cấp
kính Dg của rừng có thể dùng để xác định mật độ tối ưu và tối đa của rừng khộp
Phân tích biểu đồ này Trần Văn Con (1991) [6] nhận xét rằng, hiện trạng mật độ
rừng Khộp đã nghiên cứu ở Tây Nguyên thưa hơn nhiều so với mật độ tối ưu, độ
đầy của rừng hiện tại chỉ đạt khoảng 0,3- 0,7 so với rừng chuẩn
1.4 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về quá trình động thái của rừng tự nhiên là hết sức phức tạp nhưng lại
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định các phương pháp hiệu quả để dự
Trang 25báo tà nguyên rừng Các phương pháp mô hình hoá các quá trình động còn có khả
năng thăm dò các lựa chọn về quản lý và phương án kỹ thuật lâm sinh Chẵng hạn,
các nhà lâm học muốn biết hiệu quả lâu dài của một biện pháp kỹ thuật lâm sinh cụ
thể như việc thay đổi cường độ khai thác rừng và khả năng khai thác trong tương
lai Với một mô hình sinh trưởng, nhà nghiên cứu có thể kiểm tra đầu ra của các
phương án (kịch bản) khai thác khác nhau để lựa chọn được phương án tối ưu nhất
Quá trình xây dựng một mô hình sinh trưởng còn khó khả năng tìm hiểu sâu hơn về
các kiến thức động thái của lâm phần rừng Đã có quá nhiều các công trình nghiên
cứu mô hình hoá sinh trưởng của rừng thuần loài đều tuổi, đặc biệt là cho rừng
trồng Tuy nhiên, các HSTR trồng thường rất đơn giản và phương pháp tiếp cận để
xây dựng mô hình cho chúng không thể áp dụng được đối với rừng hỗn loài, khác
tuổi Rừng hỗn loài nhiệt đới ẩm với sự tồn tại hàng trăm loài cây khác nhau ở các
cấp tuổi (cấp kích thước) và kiểu sinh trưởng rất đa dạng là một thách thức lớn đối
với việc xây dựng các quá trình động thái
Các nhà quản lý lâm nghiệp cần các thông tin về hiện trạng tài nguyên rừng ( ví dụ
số cây theo loài, theo cỡ kính, …) các dự báo về xu thế phát triển của rừng, lượng
khai thác và thời gian có thể khai thác trong tương lai… Các thông tin này có thể
được sưu tập từ ba nguồn sau đây: (i) xác định diện tích rừng hiện có; (ii) số liệu
kiểm kê cấp lâm phần rừng hiện tại; và (iii) các mô hình sinh trưởng và khai thác
dựa trên dữ liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng Vai trò và mối quan hệ tương
tác giữa 3 nguồn số liệu này được thể hiện ở hình 1.1 Kiểm kê tỉnh (static
inventory) là việc kiểm kê trạng thái rừng ở một thời điểm nhất định và thường sử
dụng hệ thống ô tiêu chuẩn tạm thời Kiểm kê động (dynamic inventory) là việc
kiểm kê định kỳ bằng hệ thống ô tiêu chuẩn định vị để theo dõi diễn biến động thái
rừng Một mô hình sinh trưởng là sự tổng hợp dữ liệu của kiểm kê động để biểu thị
sinh trưởng và diễn biến của rừng Các mô hình sinh trưởng có thể có vai trò rất lớn
trong quản lý rừng và thể hiện các chính sách lâm nghiệp Tận dụng được các ưu
thế của mô hình sinh trưởng và kết hợp với các nguồn dữ liệu khác về tài nguyên và
Trang 26môi trường, mô hình sinh trưởng có thể được áp dụng để dự báo và trình bày các
quy định, các hướng dẫn về chính sách lâm nghiệp
Hình 1.1 Vai trò của mô hình sinh trưởng và dữ liệu bổ sung trong cung cấp thông
tin cho quản lý rừng (Vanclay, J.K., 1994 [55]) Hiện tại có quá nhiều mô hình sinh trưởng vì vậy không một ai có khả năng kiểm
tra tất cả các phương pháp đã sử dụng để xây dựng các mô hình sinh trưởng Do đó,
cần thiết phải có một sự phân loại các mô hình theo các tiêu chí nhất định Dựa trên
tính chi tiết của mô hình sinh rưởng có thể phân thành 3 nhóm mô hình: (i) Mô hình
lâm phần; (ii) Mô hình theo cỡ kính và (iii) Mô hình cây cá thể
Mô hình lâm phần thường là những mô hình đơn gian, mang tính khái quát nhưng
không toàn diện như các cách tiếp cận khác Cách tiếp cận này dùng các tham số
bình quân chung của lâm phần như mật độ, tổng tiết diện ngang và thể tích cây
đứng để dự báo sinh trưởng và sản lượng của rừng Không tính toán chi tiết cho
từng cây
Mô hình theo cỡ kính cung cấp các thông tin liên quan đến cấu trúc của lâm phần
Có rất nhiều kỹ thuật có thể sử dụng để mô hình hoá cấu trúc lâm phân, nhưng
phương pháp được sử dụng rộng rải nhất là mô hình phân bố số cây theo cỡ kính
Kiểm kê tĩnh
Diện tích rừng
Hiện trạng tài nguyên rừng
Mô hình sinh trưởng
Lâm phần tương lai
Diện tích rừng
Dự báo tài nguyên rừng
CÁC GIẢ ĐỊNH
Kiểm kê
động
Trang 27Cách tiếp cận này là một sự dung hoà giữa tiếp cận toàn lâm phần và tiếp cận theo
từng cây Khi khoảng cách cỡ kính lớn và toàn lâm phần chỉ có một cỡ kính thì
chúng ta có mô hình cho toàn lâm phần và khi khoảng cách cỡ kính nhỏ để mỗi cây
cá thể được coi là một cỡ kính thì ta có mô hình cây cá thể
Mô hình cây cá thể là mô hình chi tiết nhất trong đó sử dụng đơn vị cây cá thể
làm cơ sở cho mô hình hoá Số liệu đầu vào tối thiểu là một danh sách đặc trưng
kích thước của tất cả các cây cá thể
Dựa trên đặc tính của mô hình, người ta cũng có thể chia thành hai nhóm (i) mô
hình quá trình nhằm mô phỏng quá trình sinh trưởng của rừng phụ thuộc vào các
nhân tố như ánh sáng, độ ẩm liên quan đến quá trình quan hợp và hô hấp của cây
rừng và (ii) mô hình diễn thế nhằm mô phỏng sự thay thế lẫn nhau của các loài
trong các giai đoạn diễn thế khác nhau, tuy nhiên nhóm mô hình này không cung
cấp các thông tin về sản lượng của rừng
Dựa trên chức năng của mô hình thì có thể phân thành (i) mô hình để hiểu (tức là
các mô hình mô phỏng bản chất của các quá trình động thái) và (ii) mô hình để dự
báo (tức là các mô hình có thể tính toán dự báo được sự thay đổi của lâm phần trong
tương lai dựa trên các thông vào thời điểm hiện tại và các tương quan về xu thế
phát triển của chúng
Và cuối cùng căn cứ vào tính chất toán học mà không phụ thuộc vào chi tiết của
chúng các mô hình có thể phân thành hai nhóm: (i) mô hình xác định (deterministic)
và (ii) mô hình xác suất (stochachastic)
Như đã tổng quan ở trên đây, sự thay đổi (động thái) của một lâm phần rừng tự
nhiên phụ thuộc vào 3 quá trình cơ bản đó là: Tăng trưởng, Chết, và Tái sinh bổ
sung Do đó, một mô hình động thái của rừng cũng có thể bao gồm 3 thành phần
chủ yếu như biểu diễn ở hình 1.2 dưới đây
Trong rất nhiều các công trình nghiên cứu về tăng trưởng ở Việt Nam đã
tổng quan ở trên, các tác giả mới tập trung nghiên cứu thành phần tăng trưởng và
dựa chủ yếu vào phương pháp giải tích thân cây và rất ít các nghiên cứu đề cập đến
thành phần Chết và tái sinh bổ sung, do thiếu các nghiên cứu định vị
Trang 28Tuy nhiên, các nghiên cứu về tăng trưởng cho đến hiện nay cũng rất hạn chế về độ
tin cậy vào tính chính xác của các kết quả do sự tạo thành vòng năm của cây rừng
nhiệt đới không có quy luật, hoặc ít nhất là chưa có kiến thức chắc chắn về quy luật
Chỉ có rất ít loài có vòng năm rõ ràng, còn phần lớn rất khó xác định vòng năm
Hơn nữa, chưa ai dám chắc trong một năm cây rừng chỉ tạo ra một vòng năm Các
nghiên cứu lâm học về rừng Khộp trước đây ở Việt Nam chỉ dựa vào điều tra một
lần trên các ô tiêu chuẩn tạm thời và kết hợp với giải tích cây để nghiên cứu tăng
trưởng cho nên độ tin cậy của các kết quả chưa cao Do đó, cần phải có những
nghiên cứu dự trên số liệu thu thập nhiều lần trên hệ thống ô tiêu chuẩn định vị Đề
tài này luận văn của chúng tôi sẽ dựa trên số liệu thu thập được ở 6 ô tiêu chuẩn
định vị do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lập và đo lần đầu vào năm
2006 và đo lại vào năm 2009 để bước đầu nghiên cứu các quá trình động thái của
rừng rừng Khộp ở Vườn Quốc gia Yok Đôn
Trang 29Tăng trưởng
Chết
Tái sinh bổ sung
Lâm phần tương lai
Trang 30Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu lý luận
Góp phần hoàn thiện các phương pháp xây dựng mô hình động thái cấu trúc
của rừng tự nhiên nhiệt đới hỗn loài lá rộng rụng lá ưu hợp họ dầu (rừng Khộp) ở
Tây Nguyên
2.1.2 Mục tiêu thực tiễn
Xây dựng được các mô hình dự đoán cấu trúc đường kính của rừng lá rộng
rụng lá theo mùa, ưu hợp họ dầu ở Đắc Lắc làm cơ sở cho việc quản lý rừng theo
hướng bền vững
2.2 Nội dung và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
+ Thiết lập bảng cấu trúc lâm phần rừng hỗn loài khác tuổi theo cỡ kính và
loài/nhóm loài cho hai thời điểm điều tra trên ô tiêu chuẩn định vị
+ Nghiên cứu các quá trình động thái trong bảng cấu trúc lâm phần (quá trình
tăng trưởng, quá trình chuyển cấp, quá trình tái sinh vào cấp kính đầu tiên, quá
trình chết/hoặc khai thác)
+ Nghiên cứu thiết lập các mô hình dự đoán cấu trúc cấp kính (mô hình bảng
tính dựa trên tăng trưởng ở các cấp kính, mô hình chuyển đổi trạng thái trên cơ
sở ma trận tham số, mô hình mô phỏng
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu
Giới hạn nghiên cứu của đề tài là rừng tự nhiên nhiệt đới hỗn hoài lá rộng ưu
hợp họ dầu tại Vườn Quốc gia Yok Đôn thuộc địa phận xã Krông Na, huyện Buôn
Đôn, tỉnh Đắc Lắc
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận chung
Trong đề tài này sẽ tiếp cận phương pháp nghiên cứu định vị trên cơ sở kế
thừa hệ thống 6 ô tiêu chuẩn định vị được thiết lập trong khuôn khổ của đề tài
“Nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc và động thái của một số kiểu rừng chủ yếu ở
Trang 31Việt Nam” do nhóm nghiên cứu của PGS.TS Trần Văn Con, Viện Khoa học lâm
nghiệp Việt Nam thực hiện Đề tài sẽ kế thừa số liệu đo đếm năm 2006 và tham gia
thu thập số liệu trên các ô tiêu chuẩn năm 2009 để làm cơ sở cho các nghiên cứu
của đề tài
Trong tiếp cận xây dựng mô hình, do thời gian có hạn, đề tài lựa chọn
phương pháp tiếp cận mô hình toàn lâm phần và theo cỡ kính, chưa thực hiện
phương pháp tiếp cận chi tiết theo từng cây, mặc dù dữ liệu có thể cho phép mô
hình hoá theo từng cây, nhưng việc phân tích là rất phức tạp và tốn nhiều thời gian,
trong khi đó phần mềm phân tích do nhóm đề tài xây dựng chưa hoàn chỉnh
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Các phương pháp thiết lập và thu thập số liệu đã được đề tài của PGS.TS Trần Văn
Con quy trình hoá một cách chi tiết, sau đây chỉ tóm tắt các nội dung chính của
phương pháp thiết lập và thu thập số liệu cho hệ thống ô tiêu chuẩn định vị
1 THIẾT LẬP Ô TIÊU CHUẨN:
ÔTCĐV được thiết kế là một hình vuông có cạnh là 100 m và được chia thành ba
cấp (compartments) như ở hình 2.1
* Ô cấp A có diện tích 1 ha để đo các cây tầng cao có D 1,3 ≥ 10 cm, được chia
thành 25 ô vuông nhỏ có cạnh 20m x 20m, như hình 2.2 sau đây; ở mỗi góc của ô
vuông này đánh dấu bằng một cọc gỗ (hoặc tre) sao cho có thể nhận biết được ở lần
đo sau
* Ô cấp B dùng để đo các cây có các cây có D1,3, từ 1 cm đến 9,9 cm, được xác
định bằng một hình tròn có tâm chính là tâm của ô cấp A với bán kính vòn tròn là
15 m Ranh giới của ô cấp B được xác định bằng cách đánh dấu một vạch dọc sơn
đỏ vào tất cả các cây có đường D1,3 >10cm nằm bên ngoài ô B (vạch sơn hướng vào
tâm ô)
* Ô cấp C dùng để đo đếm cây tái sinh có D1,3 từ dưới 1 cm trở xuống, đó là một
hệ thống 12 ô dạng bản (2x2m) được thiết lập trên hai đường kính vuông góc nhau
(theo hướng N-B, Đ-T) của ô cấp B và cách đều nhau
Trang 32* Giữa tâm ô đào một phẫu diện để điều tra đất: phẫu diện rộng 1m, dài 2m và sâu
4 Địa hình Dạng địa hình Vị trí địa hình Độ cao Độ dốc
5 Mô tả rừng Kiểu rừng Trạng thái Loài ưu thế
* Đánh số cây và lập bản đồ vị trị cây: tất cả các cây đo đếm trong ô cấp A đều
được ghi số cho từng cây và lạp bản đồ vị trí của chúng trong ÔTCĐV
*Xác định tên cây: tất cả các cây điều tra ở cả 3 cấp: tái sinh, lớp cây nhỏ và lớp cây
lớn đều được xác định tên loài Việc xác định tên loài được chia thành 2 bước như
sau: (i) Xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực hiện ngay ở lần
điều tra đầu tiên Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi chú ở cột chú thích ở
mẫu điều tra để kiểm định lại ở bước sau Các loài không biết tên cây cần phải lấy
mẫu (lá, hoa quả,…) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2,… để nhờ giám
định (ii) tất cả các cây điều tra trong ô tiêu chuẩn được thẩm định lại tên cây nhờ
một nhóm chuyên gia thụ mộc học; các cây được ghi chú là chưa chắc chắn, các cây
Trang 33chưa biết tên và có mẫu được mang đi giám định Danh sách tên cây của ÔTCĐV sẽ
được hoàn thiện tại lần điều tra thứ hai Khi danh sách tên cây trong ÔTCĐV đã
được khẳng định, thiết lập một danh sách tên cây bao gồm tên Việt nam, tên khoa
học và ghi chú các tên gọi khác và số hiệu của loài Danh sách tên cây này được lưu
trong túi hồ sơ của ÔTCĐV
* Đo đường kính ngang ngực (D1,3): Đường kính ngang ngực được đo cho hai cấp:
lớn cây nhỏ (ô cấp B) và lớp cây lớn (ô cấp A), lớp cây tái sinh (ô cấp C) không đo
đường kính Dụng cụ đo đường kính được thống nhất là thước đo vanh có độ chia
đến mm Đơn vị đo đường kính (chu vi) thân cây là cm, lấy chính xác đến mm tức
là sau dấu phẩy một số thập phân; ví dụ: 245,4 cm, 86,2 cm…
* Đo chiều cao: chiều cao được đo cho cả 3 lớp cây: tái sinh, cây nhỏ và cây cao
Đối với tầng cây cao chiều cao thường được chia thành hai loại: Chiều cao vút ngọn
(Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) Đơn vị đo chiều cao của cây là m lấy chính
xác đến dm (đối với lớp cây tầng cao) và đến cm (đối với lớp cây tái sinh)
Trang 34có
1 cm ≤D1,3<10cm
Ô cấp C gồm 12 ô dạng bản hình vuông 2m x 2m (=48m2) để điều tra các cây tái sinh cho đến cây
có D1,3 <1cm
Hình 2.1 Thiết kế ÔTCĐV
Trang 35Hình 2.2 Sơ đồ chia ô tiêu chuẩn thành các ô vuông để điều tra cây tầng cao
* Đo đường kính tán: trong rừng rậm nhiệt đới hỗn loài thường rất khó khăn
Đường kính tán được đo bằng 4 bán kính từ tâm cây đo ra 4 hướng B-N- Đ-T Để
đo được các bán kính tán này cần một nhóm ít nhất 3 người Một người đứng ở một
khoảng cách nhất định từ cây đo để có một tầm nhìn rõ nhất cạnh tiếp tuyến với tán
cây nhằm xác định được điểm tiếp tuyến của hình chiếu tán cây trên mặt đất; người
thứ hai cầm đầu dây đứng ở điểm tâm cây đo và người thứ ba cầm cuộn dây di
chuyển trên trục Bắc- Nam cho đến khi người thứ nhất xác định được đó là điểm
tiếp tuyến với hình chiếu tán cây về phía Bắc (đọc được bán kính tán theo hướng B)
các bán kính hướng khác cũng đo tương tự
Trang 36* Đánh giá chất lượng cây: Chất lượng cây được đánh giá theo 3 cấp và ký hiệu là
A, B, C Tiêu chí để đánh giá chất lượng cây gỗ lớn có D1,3 ≥10cm là:
+ Loại A: Thân cây thẳng, tròn đều, chiều cao dưới cành chiếm lớn hơn
50% chiều cao vút ngọn; không lỗi gỗ (cành mấu to, sâu bệnh, …), hình
thái lá từ loại 4 trở lên
+ Loại B: Thân không được thẳng đều như loại A, nhưng chiều cao dưới
cành lớn hơn 50% chiều cao vút ngọn, ít lỗi gỗ Hình thái tán từ loại 3
trở lên
+ Loại C: thân cong queo, chiều cao dưới cành thấp hơn 50% chiều cao
vút ngọn Có nhiều lỗi gỗ
Tiêu chí để đánh giá chất lượngcây gỗ nhỏ có 1cm ≤ D1,3 <10 cm là:
+ Loại A: cây thẳng đẹp, có sinh lực tốt, có khả năng sinh trưởng để vươn
lên tầng cao hơn (vị thế tầng tán từ loại 3 trở lên)
+ Loại B: Cây có thân hình tương đối đẹp, vẫn còn có khả năng phát
triển, vị thế tầng tán từ cấp 2 trở lên
+ Loại C: Cây có thân hình xấu, còn sống nhưng khả năng sinh trưởng
kém vị thế tầng tán từ loại 2 đến 1
Tiêu chí để đánh giá chất lượng cây tái sinh là:
+ Loại A: Cây tái có hình dáng đẹp, sinh lực tốt
+ Loại B: Cây có hình dạng vừa, sinh lực tương đối tốt
+ Loại C: cây tái sinh có hình dáng xấu và sinh lực yếu
* Đo đếm và đánh giá tái sinh tự nhiên: Cây tái sinh được đo đếm trong hệ thống ô
dạng bản được thiết kế ở hình 2.1 trên đây Hệ thống ô dạng bản này được đánh dấu
(định vị) cho các lần đo sau để bảo đảm sự thống nhất vị trí đo đếm cây tái sinh Đo
chiều cao cây tái sinh có thể thực hiện tương đối chính xác bằng thước khắc đến cm
Chiều cao của cây tái sinh được đo đến điểm cao nhất của cây mà không dựng thẳng
cây lên vì đỉnh của cây tái sinh thường có khuynh hướng nghiêng về một bên chứ
không đứng thẳng Nguồn gốc cây được xác định bằng việc xem xét xem cây con
tái sinh được hình thành từ hạt hay chồi Cây có nguồn gốc từ hạt là cây mới hình
Trang 37thành từ cây mầm được nẩy ra từ hạt giống; khác với cây chồi được nẩy ra từ gốc
(hoặc rễ) cây mẹ còn sống hoặc đã bị chặt
3.GHI CHÉP, QUẢN LÝ SỐ LIỆU
Ghi số liệu ngoài hiện trường nên dùng bút chì để tránh nhoè và dễ tẩy
xoá/sửa chữa khi có nhầm lẫn Dữ liệu thu thập được từ ÔTCĐV được nhập vào
máy tính tạo cơ sở dữ liệu cho việc lưu trữ và xử lý vào các mục đích nghiên cứu
khác nhau trong đó chủ yếu là nghiên cứu các đặc trưng cấu trúc và động thái của
rừng; tiến tới thiết lập các mô hình mô phỏng quá trình sinh trưởng của rừng tự
nhiên hỗn loài nhiệt đới
2.3.3 Các phương pháp xử lý thông tin và công cụ sử dụng
Tất cả số liệu thu thập được từ các ô tiêu chuẩn được tổng hợp lại, tiến hành
chỉnh lý, phân tích, xử lý và tích toán bằng phầm mềm Excel, SPSS các chỉ tiêu cần
thiết phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài Khung lô gíc về nhập và xử lý số
liệu được mô tả ở hình 2.6
(1) Phương pháp phân tích tổ thành và sự thay đổi cấu trúc tổ thành
Tổ thành cây được xác định dựa trên các thông số:
Tổng số loài S, Tổng số cây N
Tổng số loài có độ nhiều tương đối >5%: S2 và tổng số cây của các loài S2 là
N2
Hệ số hỗn loài: HL1=S/N và HL2=S2/N; tỷ lệ hỗn loài được biểu thị dưới
dạng 1/n (trong đó n là một số nguyên) có nghĩa là cứ n cây cá thể thì có 1
loài Do đó, ta có n=N/S (và chỉ lấy tròn số nguyên)
Hệ số đa dạng Shannon-Wiener H’:được tính bằng công thức:
H’=-∑(pi)(lnpi) với i=1,2,…,s
với pi =Ni/N
Công thức tổ thành: được xác định bằng: Trị số IV% của Daniel Marmillod
%G
%N
Trang 38IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng: Important Value) của loài i
Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng
Gi% là tỷ lệ theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng
(2) Trữ lượng và chất lượng
Là thể tích của loài trong từng cỡ kính Vi = Gi*Hi*Fi
Cách tính toán cho nhóm loài và tổng của cả ô tiêu chuẩn cũng tương tự với đầu vào
(3) Động thái: Động thái rừng được xác định thông qua các chỉ số:
* Tỷ lệ chết, chuyển vào và tăng trưởng
Tăng trưởng quần thể ∂ = (lnNt-lnNo)t
t= khoảng thời gian
No và Nt = số cây ở thời điểm 0 và t; St số cây sống ở thời điểm t; Do, Dt đường
kính ở thời điểm 0 và t
Trang 39
Hình 2.6 Khung lô gíc về nhập, kiểm tra và quản lý dữ liệu ÔTCĐV
(1) Về cấu trúc rừng
a Tổ thành loài
NHẬP SỐ LIỆU
Thiết kế cơ sở dữ liệu
Kiểu tra dữ liệu Quản lý File
TÀI LIỆU HOÁ Liệt kê số liệu ÔTCĐV
Vẽ sơ đồ vị trí cây
GỘP VÀ CHUẨN HOÁ SỐ
Kiểm tra dữ liệu đã gộp
Chuẩn hoá và thay đổi đơn vị đo
Các đặc trƣng thống kê của ÔTCĐV Tính toán chỉ số cạnh tranh
Tạo File đầu ra
Trang 40Chương 3 GIỚI THIỆU ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN VÙNG NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
Ranh giới phía Bắc và phía Đông là sông Srepok (bờ Bắc), phía Tây là biên
giới Việt Nam - Campuchia, phía Nam là ranh giới giữa hai huyện Dakmin và
Easup, cách thành phố Buôn Ma Thuật khoảng 48 km theo đường chim bay
Về địa hình: toàn bộ bờ trái sông Srepok là vùng đồng bằng bóc mòn và bồi
tụ ít, chính vì vậy kiểu địa hình chung cho cả vùng điều tra là kiểu địa hình đồng
bằng bóc mòn với dạng các đồi thấp hơn sông theo các dòng chảy và vừa thuộc
chân các vùng đồi còn sót lại, vừa có bờ dốc đứng nơi ven sông Độ cao tuyệt đối
trung bình của khu vực điều tra nằm dưới 200m với độ dốc trung bình từ 3 80,
thấp dần từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc Nhìn chung đây là khu vực tương
đối bằng phẳng với các dải đồi thấp xen kẽ với các suối nông, đôi chỗ có hơi trũng,
tụ nước vào mùa mưa, hoặc vùng bằng phẳng thấp là nơi canh tác của đồng bào, độ
cao tương đối trung bình của khu vực chỉ là 20 25m, do đó cảnh quan rừng và đất
rừng ở đây liền một dải rộng, khu vực nghiên cứu có hoàn cảnh sống gần giống
nhau
3.1.2 Khí hậu
Khí hậu theo mùa ở đây đóng một vai trò rất lớn trong quá trình sinh trưởng
và phát triển của các loài cây thân gỗ Khí hậu Vườn Quốc gia Yokdon mang tính
chất khí hậu nhiệt đới khô, có tổng nhiệt độ năm khoảng 93000
C , nhiệt độ trung bình năm 25260C, biên độ giao động nhiệt ngày đêm khá lớn Chế độ mưa phân
hoá theo mùa rõ rệt với lượng mưa trung bình năm 1.400 1.500mm, phân bố phần
lớn từ tháng 4 đến tháng 9, lớn nhất vào tháng 7 và 8 với 284 382mm/tháng, còn
lại chỉ khoảng 6 7% lượng mưa cả năm rơi vào tháng 12 tới tháng 3 năm sau Như