1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên

80 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 733,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong những năm gần đây cũng như dự báo phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhu

Trang 1

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của sự sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng Đất đai là thành quả lao động, đấu tranh của nhiều thế hệ ở nước ta tạo lập nên, luôn là vấn đề xuyên suốt của mọi thời đại Sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả

đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại Việc khai thác, quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội

Thực tế cho thấy, với quỹ đất có hạn, trong khi nhu cầu sử dụng đất của xã hội ngày càng tăng đang đặt ra nhiều thách thức với con người và xã

hội Những sai lầm của chúng ta trong quá trình sử dụng đất đã nẩy sinh nhiều

mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường ngày càng gay gắt, đang làm hủy hoại tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên đất đai nói riêng

Nước ta đang trong tiến trình đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong điều kiện toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, một trong các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, đất đai luôn đặc biệt được quan tâm Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả

Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của cả tỉnh, là vùng đất giàu truyền thống cách mạng và nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội Thành phố Thái Nguyên có nhiều lợi thế so sánh với các huyện trong tỉnh vì gần thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài, có hệ thống đường bộ bao gồm đường Quốc lộ 3 cũ đang cải tạo nâng cấp, Quốc lộ 37, Quốc lộ 1B và trong tương lai gần là Quốc lộ 3 mới đạt tiêu chuẩn quốc tế đường cao tốc, có hệ thống đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên, Thái Nguyên - Lưu Xá - Kép, Thái Nguyên - Núi Hồng và tương lai có hệ thống đường sắt đi các tỉnh lân cận trong khu vực Thành phố Thái Nguyên là trung tâm công

Trang 2

nghiệp, trung tâm giáo dục đào tạo nguồn nhân lực cao của tỉnh, đứng thứ 3 của cả nước, là trung tâm du lịch dịch vụ với khu du lịch nổi tiếng Hồ Núi Cốc mang tầm cỡ quốc gia vừa được công bố quy hoạch, nơi đây cũng là vùng đất hội tụ của con người ở mọi sứ sở của đất nước Việt Nam, có truyền thống văn hóa lâu đời, mang bản sắc của vùng trung du miền núi Bắc bộ, có vùng chè Tân Cương nổi tiếng trong và ngoài nước Hiện nay thành phố Thái Nguyên là điểm đến của nhiều nhà đầu tư hàng đầu thế giới và trong nước, đã

và đang tìm kiếm, đăng ký, dự kiến đầu tư vào thành phố trên nhiều lĩnh vực

Với thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong những năm gần đây cũng như dự báo phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhu cầu sử dụng đất cũng như công tác quản lý, sử dụng đất đai ở thành phố Thái Nguyên nói chung, của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố nói riêng đang là một thách thức lớn đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai Trong tình hình hiện nay việc vi phạm pháp luật đất đai cả về quản lý và sử dụng còn diễn ra ở nhiều địa phương, ở các xã, phường đặc biệt là của các tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất

để thực hiện các dự án đầu tư Hiện tượng sử dụng đất sai mục đích, lấn chiếm đất đai, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật, đất để hoang hóa không sử dụng, chậm triển khai dự án, tình trạng “quy hoạch treo” chưa được ngăn chặn kịp thời, vẫn còn xảy ra

Trước thực trạng và yêu cầu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đánh giá được thực trạng sử dụng đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất đã giao

Định hướng giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

1.3 Yêu cầu của đề tài

Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên ảnh hưởng đến sử dụng đất

Trang 3

Thực trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010

Điều tra tình hình sử dụng đất đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

Phân tích đánh giá quá trình sử dụng đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

Đưa ra các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

1.4 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để hoạch định các chính sách

và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với tài nguyên đất của thành phố Thái Nguyên Là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đất đai của các huyện có điều kiện tương đồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 4

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về đất đai Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh và lao động của nhân dân ta, trong lực lượng sản xuất “lao động là cha, đất là mẹ sinh ra của cải vật chất cho xã hội” Do đất đai giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội như vậy nên theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác-xít thì đất đai đóng một vai trò kinh tế và chính trị to lớn trong quá trình phát triển của

Vì lẽ đó trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các tài sản công để các nguồn lực này được quản lý, sử dụng có hiệu quả”[3]

Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam (bổ sung, phát triển năm 2011)

đã ghi: “… Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”[3]

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ,

Trang 5

mục tiờu bảo vệ mụi trường với phỏt triển kinh tế - xó hội Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyờn và bảo vệ mụi trường Đưa nội dung bảo vệ mụi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phỏt triển ngành, lĩnh vực, vựng và cỏc chương trỡnh, dự ỏn Cỏc dự ỏn đầu tư xõy dựng mới phải bảo đảm yờu cầu về mụi trường Thực hiện nghiờm ngặt lộ trỡnh xử lý cỏc cơ sở gõy ụ nhiễm mụi trường Hoàn thiện hệ thống luật phỏp về bảo vệ mụi trường; xõy dựng chế tài

đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý cỏc hành vi vi phạm Khắc phục suy thoỏi, bảo

vệ mụi trường và cõn bằng sinh thỏi, nõng cao chất lượng mụi trường Thực hiện tốt chương trỡnh trồng rừng, ngăn chặn cú hiệu quả nạn phỏ rừng, chỏy rừng; tăng diện tớch cỏc khu bảo tồn thiờn nhiờn Quản lý, khai thỏc và sử dụng cú hiệu quả tài nguyờn đất, nước, khoỏng sản và cỏc nguồn tài nguyờn thiờn nhiờn khỏc…”[3]

Trong Bỏo cỏo Chớnh trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Thỏi Nguyờn lần thứ XVIII cũng đó nờu: “Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyờn thiờn nhiờn, nhất là tài nguyờn khoỏng sản, tài nguyờn đất phục vụ cho cụng nghiệp…”[4]

Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thỏi Nguyờn lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015 đó ghi: Tiếp tục đẩy mạnh cụng tỏc cải cỏch hành chớnh, cụng tỏc quy hoạch, quản lý quy hoạch, bồi thường giải phúng mặt bằng, thu hỳt đầu tư, huy động vốn và cỏc nguồn lực xó hội đầu tư xõy dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội, phục vụ cho mục tiờu phỏt triển kinh tế - xó hội của tỉnh Tăng cường cụng tỏc quản lý và bảo vệ mụi trường: Thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ mụi trường Quốc gia Gắn nhiệm vụ bảo vệ mụi trường, bảo vệ tài nguyờn thiờn nhiờn với quy hoạch, kế hoạch phỏt triển kinh tế - xó hội ở địa phương Tăng cường cụng tỏc tuyờn truyền, nõng cao nhận thức, trỏch nhiệm của từng cỏ nhõn và toàn xó hội về sự cần thiết phải bảo vệ mụi trường đối với yờu cầu phỏt triển bền vững Nõng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chuyờn trỏch bảo vệ mụi trường, kiờn quyết xử lý những tổ chức, cỏc nhõn vi phạm Luật Bảo vệ mụi trường [5]

Và cũng tại Điều 15 Luật đất đai 2003 quy định: Nhà n-ớc nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai; không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích;

vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đ-ợc công bố; huỷ hoại đất; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi sử dụng các quyền của ng-ời sử dụng đất; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của ng-ời sử dụng đất

Trang 6

Nhà n-ớc nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, v-ợt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của ng-ời có thẩm quyền để làm trái các quy định về quản lý đất đai

2.1.2 Cơ sở phỏp lý của đề tài

Thiờn nhiờn chứa đầy những bớ ẩn, rất khắt khe nhưng cũng rất hào phúng Từ bao đời nay, trong sử dụng đất, ụng cha ta đó tớch luỹ được nhiều kinh nghiệm, đỳc kết lại thành những cõu ngụ ngụn, truyền từ đời này qua đời khỏc như: "đất nào cõy ấy", "khoai đất lạ, mạ đất quen" Hiện nay, những kinh nghiệm này đó được ỏnh sỏng của khoa học và cụng nghệ làm sỏng tỏ

Sự hoà quyện giữa những kinh nghiệm truyền thống với khoa học, cụng nghệ hiện đại đó tạo ra những giỏ trị mới trong sử dụng đất Thật vậy, núi tới sử dụng đất hợp lý, nhất thiết phải đi đụi với bảo vệ và bồi dưỡng đất, xong muốn bảo vệ đất một cỏch cơ bản khụng thể chỉ ỏp dụng một biện phỏp duy nhất Nếu chỉ ỏp dụng biện phỏp đơn độc, thiếu tớnh tổng hợp thỡ biện phỏp đú

sẽ mang lại hiệu quả thấp và khụng ớt trường hợp một số mặt yếu của biện phỏp đú sẽ nhanh chúng bộc lộ và ngay tức khắc bị cỏc mục tiờu chung phủ định

Khi xó hội phỏt triển ở trỡnh độ cao, việc sử dụng đất luụn hướng tới mục tiờu kinh tế nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trờn một đơn vị diện tớch đất nhất định như xõy dựng cỏc khu cụng nghiệp, khu chế xuất, trang trại sản xuất quy

mụ lớn… Bờn cạnh đú, một phần diện tớch đất khụng nhỏ sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa món đời sống tinh thần của con người như xõy dựng nhà ở, hệ thống giao thụng, cỏc cụng trỡnh dịch vụ thể dục thể thao, văn húa xó hội, mở mang phỏt triển đụ thị và khu dõn cư nụng thụn… Tuy nhiờn, trong quỏ trỡnh sử dụng đất, cỏc mục đớch sử dụng đất nờu trờn luụn nảy sinh mõu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa con người và đất đai ngày càng căng thẳng Những sai lầm liờn tục của con người trong quỏ trỡnh

sử dụng đất (sai lầm cú ý thức hoặc vụ ý thức) dẫn đến hủy hoại mụi trường núi chung và mụi trường đất núi riờng (lũ lụt, hạn hỏn, chỏy rừng, trượt lở đất…) liờn tục xảy ra với quy mụ ngày càng lớn và mức độ này càng nghiờm trọng làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi Để thỏa món nhu cầu của con người cả về 3 lợi ớch kinh tế - xó hội – mụi trường nhất thiết phải giải quyết cỏc xung đột này để sử dụng đất cú hiệu quả Việc sử dụng đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả

sử dụng cao và liờn kết được sự phỏt triển kinh tế - xó hội với bảo vệ mụi

Trang 7

trường và nâng cao chất lượng môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hòa được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường

Chính vì vậy, cần phải hiểu rõ được tầm quan trọng của Tài nguyên đất

Từ đó, đưa ra những kế hoạch quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên này một cách hợp lý nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho nhu cầu của hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ tương lai

Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại, bởi nhiều lẽ [6]:

Một là, tài nguyên đất vô cùng quý giá Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân Nói đến tầm quan trọng của đất, từ xa xưa, người Ấn Độ, người Ả-rập, người Mỹ đều có cách ngôn bất hủ: “Đất là tài sản vay mượn của con cháu” Người Mỹ còn nhấn mạnh “ đất không phải là tài sản thừa kế của tổ tiên” Người Ét-xtô-ni-a, người Thổ Nhĩ Kỳ coi “có một chút đất còn quý hơn có vàng” Người Hà Lan coi “mất đất còn tồi tệ hơn sự phá sản” Gần đây trong báo cáo về suy thoái đất toàn cầu, UNEP (Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc) khẳng định “Mặc cho những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vĩ đại, con người hiện đại vẫn phải sống dựa vào đất” Đối với Việt Nam, một đất nước với “Tam sơn, tứ hải, nhất phân điền”, đất càng đặc biệt quý giá Hai là, tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi Trong

đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá mặn, quá phèn, bị ô nhiễm, bị phá hoại do hoạt động sản xuất hoặc do bom đạn chiến tranh Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu ha Hiện nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu héc-ta đất canh tác

Ba là, diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm

do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng

kỹ thuật Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha Theo tính toán của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có

đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác

Bốn là, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả của chiến tranh nên diện tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái

Trang 8

hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác Trên thế giới hiện có 2.000 triệu héc-ta đất đã và đang bị thoái hóa, trong đó 1.260 triệu héc-ta tập trung ở châu Á, Thái Bình Dương Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu héc-ta bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu héc-ta đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu héc-ta đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9 triệu héc-ta đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất

Năm là, lịch sử đã chứng minh sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất tốt mới có hiệu quả Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp cho các mục đích khác cần cân nhắc kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt

Nhằm quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý phục

vụ mục tiêu phát triển bền vững cho nhu cầu của hiện tại những không làm ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ tương lai, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã tập trung tháo gỡ những khó khăn, mà bước đột phá đầu tiên

là Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi năm 1998, năm 2001 và Luật Đất đai năm

2003 đã được Quốc hội thông qua Bên cạnh đó, nhiều bộ luật liên quan khác cũng đã được ban hành, như Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Bảo vệ môi trường; và các nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn thi hành Luật do Chính phủ, các bộ, ngành, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Sau đây là những cơ sở pháp lí được nghiên cứu để thực hiện đề tài

- Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật:

+ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

+ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

Trang 9

+ Nghị định của Chính phủ số 181/2004/NĐ – CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai 2003

+ Thông tư số 01/2005/TT- BTNMT ngày 13 ngày 4 tháng 2004 hướng

dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

+ Nghị định số 182/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

+ Thông tư số 05/2006/TT-BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2006 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 182/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất

về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

+ Nghị định số 197/2004/NĐ – CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của

Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

+ Nghị định số 198/2004/NĐ – CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất

+ Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng

12 năm 2004 về thu tiền sử dụng đất

+ Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

+ Nghị định số 84/2007/NĐ – CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ về quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại về đất đai

+ Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 của Liên bộ Tài chính – Tài nguyên và

Trang 10

Môi trường, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số

84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính Phủ

+ Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 7/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm kê quỹ đất của các tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất

+ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ qui định bổ sung về qui hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

+ Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

+ Chỉ thị số 134/CT-TTg ngày 20/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức được nhà nước giao đất cho thuê đất

- Các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai của UBND tỉnh Thái nguyên:

+ Chỉ thị số 16/2004/CT-UB ngày 13 tháng 8 năm 2004 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc triển khai thực hiện Luật Đất đai 2003

+ Nghị Quyết số 02/2005/NQ-HĐND ngày 25 tháng 7 năm 2005 của HĐND tỉnh Thái Nguyên chuyên đề về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

+ Quyết định số 1883/2005/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy định về hạn mức đất ở khi giao đất và hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất có vườn, ao khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh

+ Quyết định số 326/2006/QĐ- UBND ngày 27 tháng 2 năm 2006 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy trình về thu hồi đất, quản lý quỹ đất đã thu hồi, trình tự thủ tục xin giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

+ Quyết định số 867/2007/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định về thu hồi đất, quản lý

Trang 11

quỹ đất đã thu hồi; trình tự, thủ tục xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

+ Quyết định số 12 /2011/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với

đất, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Quyết định này thay thế Quyết định số 868/2007/QĐ-UBND, ngày 14 tháng 5 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên)

+ Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 05 tháng 1 năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.2 Tình hình sử dụng đất trên Thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình sử đất trên Thế giới

Trong những bước đi ban đầu của công nghiệp hóa, chính nông thôn vừa

là nguồn cung cấp lao động, vừa là thị trường của công nghiệp Nhưng càng vào giai đoạn cuối của công nghiệp hóa và đô thị hóa, vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm sút Trước tác động của quy luật thị trường, nhiều nước đã cố gắng phát triển nông nghiệp, nhưng vẫn không giữ được an ninh lương thực, nên ngày càng phải lệ thuộc vào thị trường bên ngoài Điều đó đặc biệt nguy hiểm đối với những nước đông dân Một số nước đến lúc công nghiệp đã đạt trình độ phát triển cao, thì chính phủ lại phải hỗ trợ nông nghiệp rất nhiều Việc bảo hộ nông nghiệp đã trở nên cần thiết tới mức các nước giàu khó lòng cắt bỏ được và đây cũng chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong các vòng đàm phán của Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO), mà 5 năm gần đây thế giới đã chứng kiến những thất bại liên tiếp trong các vòng đàm phán Đô-ha

Ở các nước Đông Á, trong thời kỳ công nghiệp hóa do có ít đất (đất nông

nghiệp chỉ còn dưới ngưỡng 400 m2/người) nên phải nhập thức ăn ngày càng nhiều Ở Nhật Bản có dự báo rằng, trong 10 năm tới sẽ không còn nông nghiệp nữa, vì hiện nay chỉ có người già làm ruộng! Nông dân Hàn Quốc đang gặp nhiều khó khăn trong điều kiện toàn cầu hóa, nên họ đang đấu tranh chống lại quá trình này rất mãnh liệt Chỉ có Đài Loan chú ý đến nông nghiệp hơn cả, nhưng đến nay cũng đã phải nhập thức ăn ngày càng nhiều Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong nông nghiệp, vì sản xuất

Trang 12

lương thực có xu hướng giảm dần và đang lo thiếu lương thực vì việc cung cấp cho hơn 1,3 tỉ người

Theo tài liệu của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) thì diện tích của phần đất liền của các lục địa là 13.400 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng Trong đó có 1.500 triệu ha (11%) là đất canh tác, 3.200 triệu ha (24%) là đồng cỏ chăn nuôi gia súc, 4.100 triệu ha (31%) là diện tích rừng và đất rừng; 4.400 triệu ha (34%) còn lại là diện tích đất dùng vào các việc khác (dân cư, đầm lầy, đất ngập mặn ) Diện tích đất có thể dùng cho canh tác được đánh giá vào khoảng 3.200 triệu

ha, hiện mới khai thác khoảng 1.500 triệu ha Tại các vùng khác nhau, các nước khác nhau, tỉ lệ đất đã sử dụng canh tác so với đất có tiềm năng canh tác cũng khác nhau Đáng chú ý là khu vực Châu Á, tỉ lệ này rất cao, đạt đến 92%; trái lại, ở Châu Mỹ Latinh con số này chỉ đạt 15%, các nước phát triển

là 70%, các nước đang phát triển là 36% Trong diện tích đất canh tác, đất cho năng suất cao chiếm 14 %, năng suất trung bình là 28% và năng suất thấp là 58%

Hàng năm trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kinh tế nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Hoang mạc hoá hiện đang đe doạ 1/3 diện tích trái đất, ảnh hưởng đời sống ít nhất 850 triệu người Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân số Ở Việt Nam từ năm 1978 đến nay, 130.000 ha bị lấy cho thủy lợi, 63.000 ha cho phát triển giao thông, 21 ha cho các khu công nghiệp

Theo số liệu của Viện Tài nguyên Thế giới, năm 1993 quỹ đất của toàn thế giới khoảng 13 tỉ ha, mật độ dân số 43 người/km2 Một số nước có quỹ đất hạn hẹp như Hà Lan, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore (chỉ 0,3ha/người) Diện tích nước ta là trên 33 triệu ha diện tích bình quân đầu người khoảng 0,4 ha Quỹ đất trồng trọt tăng không đáng kể trong khi dân số tăng nhanh nên diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Đất ngày bị sa mạc hóa, bạc màu… do sự khai thác của con người

Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi

Trang 13

năm mở rộng lấn mất 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong

25 năm tới

Tỷ trọng đóng góp gây thoái đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai thác rừng quá mức (chặt cây cối làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%, canh tác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây ô nhiễm 1% Vai trò của các nguyên nhân gây thoái hoá đất ở các châu lục không giống nhau: ở Châu Âu, Châu Á, Nam Mỹ mất rừng là nguyên nhân hàng đầu, Châu Đại Dương và Châu Phi chăn thả gia súc quá mức có vai trò chính yếu nhất, Bắc và Trung Mỹ chủ yếu do hoạt động nông nghiệp

Xói mòn rửa trôi: Mỗi năm rửa trôi xói mòn chiếm 15% nguyên nhân

thoái hoá đất, trong đó nước đóng góp 55,7% vai trò, gió đóng góp 28% vai trò, mất dinh dưỡng đóng góp 12% vai trò Trung bình đất đai trên thế giới bị xói mòn 1,8 - 3,4 tấn/ha/năm Tổng lượng dinh dưỡng bị rửa trôi xói mòn hàng năm là 5,4 - 8,4 triệu tấn, tương đương với khả năng sản sinh 30 - 50

triệu tấn lương thực

Hoang mạc hoá là quá trình tự nhiên và xã hội Khoảng 30% diện tích trái đất nằm trong vùng khô hạn và bán khô hạn đang bị hoang mạc hoá đe doạ và hàng năm có khoảng 6 triệu ha đất bị hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác do những hoạt động của con người

Tính tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới thì đại dương chiếm 71%, còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 29% Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới được phân

bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000

m2 Đất trồng trọt toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai trong đó có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Diện tích đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích tự nhiên, được đánh giá là:

Đất có năng suất cao: 14%

Đất có năng suất TB: 28%

Đất có năng suất thấp: 28%

Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích khác Mặt khác dân số ngày

Trang 14

càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 - 85 triệu người Như vậy, với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất cũng như tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết

Dân số ngày một tăng cùng với những phát hiện mới về thiên nhiên, con người đã nghĩ ra nhiều phương thức sản xuất mới, nhiều ngành nghề khác nhau để kiếm sống Và quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đều xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức

độ đô thị hóa cũng như diện tích đất được chuyển mục đích hàng năm Quá trình chuyển mục đích trên thế giới diễn ra sớm hơn, với tốc độ mạnh mẽ hơn

ở Việt Nam Đặc biệt là ở một số nước phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản v.v…thì tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm quá trình chuyển mục đích sử dụng đất trong đó có đất nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, chính quá trình đô thị hoá, chuyển mục đích sử dụng đất một cách hợp

lý đã giúp nền kinh tế của các nước này phát triển khá nhanh trong những năm qua Để đạt được những thành tựu đó thì công tác quản lý đất đai ở các quốc gia này được thực hiện khá tốt Một trong những nước điển hình về công tác quản lý nhà nước về đất đai đó là nước Pháp Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống quốc gia tư bản chủ nghĩa, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng nước ta chịu ảnh hưởng của phương pháp tổ chức quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai khá rõ của Cộng hòa Pháp Vấn đề này dễ lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của Nước Cộng hòa Pháp có một số đặc điểm đặc trưng sau:

Về chế độ sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai

có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện nay tồn tại hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu nhà nước (đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng) Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng

Trang 15

Về công tác quy hoạch đô thị: Do đa số đất đai thuộc sở hữu tư nhân, vì vậy để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm chú

ý từ rất sớm và thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, ở Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch đô thị hóa cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và năm 1977, Nhà nước đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về phân cấp quản

lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị

ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu tư nhân

và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các ngành khác nhau như bất động sản, xây dựng và quy hoạch lãnh thổ…

Về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai: Mặc dù là quốc gia duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, nhưng công tác quản lý nhà nước về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, rất quy

củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước,

vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đầy đủ thông tin về hiện trạng, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng

Ngoài Pháp thì Mỹ cũng là một trong các quốc gia có hệ thống pháp luật về đất đai rất phát triển có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội

đa dạng và phức tạp nhất Luật Đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân về đất đai, các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Cho đến nay có thể thấy các quy định này đang phát huy rất có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế đất nước, vì nó phát huy được hiệu quả đầu tư để nâng cao giá trị của đất đai

và làm tăng đáng kể hiệu quả sử dụng đất trong phạm vi toàn xã hội

Tuy công nhận quyền sở hữu tư nhân, nhưng Luật Đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của nhà nước trong

Trang 16

quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất (thu thuế kinh doanh bất động sản; quy định mức giá thuê đất hoặc thuê bất động sản…) Quyền thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân

để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi… bản chất quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở Mỹ tương đương với quyền bất động sản ở Việt Nam

Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế

độ sở hữu đối với đất đai khác nhau), đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh, để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia

2.2.2 Tình hình sử dụng đất trong nước

- Tình hình chung

Tổng diện tích đất tự nhiện của nước ta là trên 33.000.000 ha, đứng thứ

59 trong hơn 200 nước trên thế giới Đất bằng ở Việt Nam có khoảng >7 triệu

ha, đất dốc >25 triệu ha, >50% diện tích đất đồng bằng và gần 70% diện tích đất đồi núi là đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu ha, đất trơ sỏi đá 5,76 triệu ha, đất mặn 0,91 triệu ha, đất dốc trên 25% gần 12,4 triệu ha [8]

Theo mục đích sử dụng năm 2000, đất nông nghiệp 16.406,1 nghìn ha, lâm nghiệp 11.575,4 nghìn ha, đất phi nông nghiệp 1.772,3 nghìn ha, đất chưa

sử dụng 14.924,9 nghìn ha

Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu ha Bình quân diện tích đất tự nhiên ở Việt Nam là 0,4 ha/người Bình quân diện tích đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2

ha, năm 1995 là 0,095 ha Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển Đầu tư

và hiệu quả khai thác tài nguyên đất ở Việt Nam chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất

Trang 17

thuỷ lợi hoá thấp, hiệu quả dùng đất thấp, năng suất cây trồng thấp, riêng năng suất lúa, cà phê và ngô đã đạt mức trung bình thế giới Trong điều kiện

mở mang đô thị như hiện nay, đất sản xuất nông nghiệp ở nước ta sẽ còn mất thêm Vấn đề đặt ra là cần phải quy hoạch và bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ

sở tiết kiệm đất đai, hạn chế thấp nhất việc mất đất

Theo mục đích sử dụng đất năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích đất

tự nhiên 33.115 nghìn ha, là nước có quy mô diện tích thuộc loại trung bình nhưng vì dân số đông (xếp thứ 12 trên thế giới) nên diện tích đất bình quân theo đầu người vào loại thấp: với mức 0,1 ha/người( bằng 1/6 mức bình quân của thế giới) Hiện nay, toàn quốc đã đưa vào sử dụng cho nông nghiệp 24.997,2 nghìn ha (chiếm 75,5% tổng diện tích đất tự nhiên) Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 9.420,3 nghìn ha (chiếm 28,4% tổng diện tích đất tự nhiên), đất lâm nghiệp 14.816,6 nghìn ha (chiếm 44,7% tổng diện tích đất tự nhiên), đất nuôi trồng thủy sản 728,6 nghìn ha (chiếm 2,2% tổng diện tích đất

tự nhiên), đất làm muối 13,7 nghìn ha (chiếm 0,04% tổng diện tích đất tự nhiên), đất nông nghiệp khác 18,1 nghìn ha (chiếm 0,05% tổng diện tích đất

tự nhiên); đất phi nông nghiệp 3.385,8 nghìn ha, mặt nước ven biển 42,5 nghìn ha còn lại là đất chưa sử dụng [1]

Đa số diện tích đất chưa sử dụng nằm ở vùng đất trống đồi núi trọc Đây cũng là đối tượng khai hoang mở rộng diện tích đất nông, lâm nghiệp ở nước

ta Trong tổng số diện tích đất chưa sử dụng phần lớn diện tích có khả năng đưa vào sản xuất cho lâm nghiệp và sản xuất nông nghiệp Ươc tính trong tương lai diện tích đất sản xuất nông nghiệp tối đa có khoảng 12 triệu ha Trong khi bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ở nước ta với tỷ

lệ tăng dân số như hiện nay, thì vẫn không vượt qua ngưỡng 1.300 m2 Con số này thấp hơn nhiều so với tính toán của tổ chức Nông lương Liên hiệp Quốc (FAO) là với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới mỗi đầu người cần có 4.000 m2

đất canh tác

Do điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ẩm của Việt Nam, cùng với sự gia tăng dân số mạnh và kỹ thuật canh tác lạc hậu kéo dài và do hậu quả chiến tranh, đã làm trầm trọng hơn nhiều vấn đề về môi trường đất Cụ thể, từ những quan trắc trong nhiều năm qua cho thấy thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất, nơi cân bằng sinh thái bị phá vỡ nghiêm trọng Các loại hình thoái hóa môi trường đất ở Việt Nam thể hiện rất phức tạp và đa dạng:

Trang 18

- Rửa trôi, xói mòn, suy kiệt dinh dưỡng đất, hoang hoá (Ninh Thuận, Bình Thuận) và khô hạn, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, đất mất khả năng sản xuất ở trung du, miền núi (Tây Nguyên) Do lượng mưa tập trung lớn vào mùa mưa (đến 80%), mất rừng, đốt nương làm rẫy, canh tác không hợp lý trên đất dốc

- Mặn hóa, phèn hoá: khoảng 3 triệu ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long

- Bạc màu do di chuyển cát: khoảng 0,5 triệu ha ở đồng bằng ven biển miền Trung

- Ngập úng, ngập lũ, lầy hóa có diện tích khoảng 1,4 triệu ha

- Ô nhiễm môi trường đất, nước và bùn do nước thải xung quanh đô thị, các khu công nghiệp và những nơi sử dụng thuốc trừ sâu diệt cỏ, những nơi bị rải chất diệt cỏ, chất độc màu da cam trong chiến tranh

Tình hình sử dụng đất cũng như quản lý đất đai của nước ta qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì lại có những điểm mới để phù hợp với quá trình phát triển chung Trong những năm gần đây đặc biệt là từ khi có Luật Đất đai năm 1987 thì tình hình quản lý về đất đai đã được cải thiện Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài Theo tinh thần của Luật này thì: Kinh tế nông hộ đã được khôi phục và phát triển Các hộ nông dân đã được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, khuyến khích kinh tế tư nhân trong lĩnh vực khai thác sử dụng đất v.v Tuy nhiên Luật Đất đai 1987 được soạn thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật Do đó đã bộc lộ một số tồn tại như: Việc tính thuế trong giao dịch đất đai rất khó khăn vì Nhà nước chưa thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị, chưa quy định rõ những cơ

sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh về quan hệ đất đai trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp và phân công lại lao động trong nông thôn, chính sách tài chính đối với đất đai chưa rõ nét, đặc biệt là giá đất, chưa có điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong những chính sách cũ vv…

Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành

Trang 19

chính các cấp địa phương Tuy nhiên, đất nông nghiệp đã giao cho nông dân

sử dụng lâu dài nhưng công tác quản lý chưa được chặt chẽ

Sau giai đoạn đổi mới (từ năm 1986 – 1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Vì vậy, Hiến pháp

1992 ra đời đã khắc phục được những hạn chế của Luật Đất đai 1987 và trên

cơ sở của Hiến pháp 1992 thì ngày 14 tháng 7 năm 1993 Luật Đất đai năm

1993 đã được Quốc hội khóa IX thông qua

Luật Đất đai năm 1993 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Luật này đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng và hoàn thiện hơn

Trong quá trình chúng ta thực hiện Luật Đất đai 1993 đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng kể nhưng cùng với sự phát triển thì một số nội dung của Luật cần được thay đổi và bổ sung thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của đất nước đặt ra Ngày 26 tháng 12 năm 2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI

đã thông qua Luật Đất đai mới – Luật Đất đai 2003 Và trong số các nội dung đổi mới mà Luật đề cập có nội dung về chuyển mục đích sử dụng đất nói chung và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Như vậy, Đảng

và Nhà nước đã quan tâm tới việc sử dụng đất đúng theo mục đích cũng như hạn chế việc tự ý chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Và cho đến nay chúng ta vẫn đang thực hiện theo Luật Đất đai 2003 cùng với những văn bản dưới Luật để quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách tốt nhất

Quá trình chuyển mục đích sử dụng đất luôn diễn ra ở mọi thời điểm Trước kia khi chưa có Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục chuyển mục đích thì quá trình chuyển mục đích vẫn luôn diễn ra Sau khi chúng ta xây dựng luật để quản lý cũng như bảo vệ quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng thì vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất vẫn chưa được quan tâm Cho đến lần sửa đổi thứ 2 (năm 2001) của Luật Đất đai 1993 thì vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất mới được đưa ra và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai 2003 Hiện nay cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã kéo theo việc chuyển mục đích

Trang 20

sử dụng các loại đất cũng như chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp ngày càng tăng

Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tương ứng mỗi

hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm (Bộ Xây dựng, 1995)

Tốc độ đô thị hoá quá nhanh cùng với sự gia tăng dân số đã làm ảnh hưởng tới nhiều vấn đề như: vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường vv… Đứng trước vấn đề đó ngày 23 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “ Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/QĐ-TTg, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng (Bộ Xây dựng, 1999)

Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có những công trình nghiên cứu, hội thảo

về quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng cũng như các đề tài liên quan tới vấn đề này Từ đó cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc quy hoạch, định hướng cuộc sống và sử dụng quỹ đất nông nghiệp sao cho hợp lý và hiệu quả nhất

Ngày 6 tháng 9 năm 2008, tại thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra hội thảo “Công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và chính sách pháp luật về

sử dụng đất trong tình hình hiện nay”

Hội thảo do Văn phòng Quốc hội phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức nhằm đóng góp những ý kiến giúp Chính phủ xây dựng dự án Luật Đất đai sửa đổi cho phù hợp, góp phần đảm bảo hài hòa lợi ích phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảo ổn định xã hội và an ninh lương thực quốc gia [8]:

- Ông Trần Thế Vượng - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng trong quá trình thực hiện Luật Đất đai (năm 2003) đã bộc lộ nhiều vấn đề phức tạp cần điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như thu hồi đất nông nghiệp, giá cả đền bù, tạo công ăn việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, tái định cư Kết quả giám sát của Quốc hội cho thấy

Trang 21

hơn 80% đơn khiếu nại tố cáo liên quan về đất đai cần tiếp tục xem xét giải quyết

- Theo ông Nguyễn Hữu Nhơn, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 7 năm qua (2001-2007) khẳng định: Có trên 500.000 ha diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp, chiếm 5% đất nông nghiệp đang sử dụng; đặc biệt, đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn năm trước Chỉ tính trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm 125.000 ha Riêng tỉnh Đồng Tháp, công tác quy hoạch sử dụng đất từng lúc, từng nơi chưa theo kịp yêu cầu phát triển; tình hình quy hoạch treo còn khá phổ biến, có những dự án kéo dài 5-7 năm không thực hiện dẫn đến đời sống của người dân trong nhiều khu quy hoạch chưa được đảm bảo

- Còn ông Trần Văn Kiệt - Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long cho rằng, một số nơi không cần đất nông nghiệp hoặc sản xuất không hiệu quả cần được chuyển mục đích thì không được quy hoạch Nơi đất sản xuất nông nghiệp tốt thì lại quy hoạch chuyển mục đích, không phải để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cũng không phải mở rộng đô thị mà quy hoạch để làm sân golf dẫn đến hàng vạn nông dân mất đất sản xuất, đời sống khó khăn phải đi tha phương cầu thực, thậm chí đây là một trong những nguyên làm cho tình hình mất an ninh trật tự, tệ nạn xã hội tăng lên

Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) báo động về việc đất nông nghiệp đang từng ngày bị chuyển đổi mục đích sử dụng một cách thiếu quy hoạch và tùy tiện nên ngày càng bị thu hẹp một cách báo động Tổng diện tích đất lúa toàn quốc hiện nay là trên 4,1 hécta Song từ năm 2000

- 2005, diện tích đất lúa đã giảm nghiêm trọng với hơn 302.000ha Gần 9 năm qua, đất lúa đã bị giảm trên 59.000 ha Riêng tại đồng bằng sông cửu long, tính toán sơ bộ cho thấy từ năm 2000 - 2007, đất lúa đã bị giảm 205.000ha (chiếm 57% đất lúa bị suy giảm toàn quốc) Tại phía Bắc, Hải Dương là tỉnh

có tỉ lệ đất lúa giảm lớn nhất, bình quân 1.569 ha/năm, Hưng Yên 939 ha/năm, Hà Nội (cũ) là 653 ha/năm

Theo tính toán, năm 2020 dân số cả nước sẽ xấp xỉ 100 triệu người, năm 2030 sẽ có khoảng 110 triệu người Tổng nhu cầu lúa cho năm 2015 là 32,1 triệu tấn, năm 2020 là 35,2 triệu tấn và năm 2030 là 37,3 triệu tấn Tuy

Trang 22

nhiên, tình trạng ồ ạt chuyển đổi đất nông nghiệp đã khiến sản lượng lúa suy giảm khá lớn qua mỗi năm, trung bình giảm từ 400.000 - 500.000 tấn/năm Cục Trồng trọt báo động, với tốc độ đô thị hóa chóng mặt như hiện nay thì sẽ không còn lúa gạo để xuất khẩu vào năm 2020 Một số liệu đáng chú ý khác cho thấy, tại cả hai miền Nam và Bắc, số lượng các khu công nghiệp lấy từ quỹ đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang không ít và hiện chỉ lấp đầy khoảng 50%-70% số lượng doanh nghiệp hoạt động [2]

Tình hình sử dụng đất của các tổ chức tại Việt Nam

Tổng diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng trên toàn quốc

là 7.833.142,70 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp 6.687.695,59 ha (chiếm 85,38%), sử dụng mục đích phi nông nghiệp 845.727,62 ha (chiếm 10,80%), diện tích đất chưa sử dụng 299.719,49

ha (chiếm 3,83%), đất mặt nước ven biển được giao, cho thuê là 0,23% Tổng số diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức đang quản lý, sử dụng là 845.727,62 ha, các loại hình tổ chức đều có diện tích đất phi nông nghiệp, tập trung nhiều nhất là các tổ chức sử dụng vào mục đích quốc phòng,

an ninh (34,92%), tổ chức kinh tế (24,79%), nông, lâm trường (18,13%), ủy ban nhân dân cấp xã (13,79%), tổ chức sự nghiệp công (6,62%)

Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức có 299.719,49 ha, chiếm 3,83% diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng, phần lớn là diện tích đất đã giao nhưng chưa đưa vào sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng hiện còn

để hoang hoá Diện tích đất chưa sử dụng tập trung chủ yếu ở nông, lâm trường (51,36%), tổ chức sự nghiệp công (40,15%), các tổ chức kinh tế (6,88%), ủy ban nhân dân cấp xã (0,87%)

Kết quả kiểm kê quỹ đất năm 2008 của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị 31 của Thủ tướng Chính phủ [10]:

- Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức, cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47

ha, chiếm 91,26% 6 vùng có tỷ lệ đạt trên 90% là Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây nguyên và đồng bằng Cửu Long 2 vùng đạt tỷ lệ thấp là Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ Nhìn chung, các tổ chức sử dụng đất đúng mục đích, đạt hiệu quả trong sử dụng, tỷ lệ sử dụng đúng mục đích trên tổng diện tích theo hình thức sử dụng của toàn quốc

Trang 23

đạt trên 90%

- Tình trạng sử dụng vào mục đích khác hay còn gọi là sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê xảy ra ở hầu hết các loại hình tổ chức, trong đó chủ yếu là các tổ chức sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp với 1.527 tổ chức trên diện tích 21.499,68 ha, chiếm 84,02% Có 1.828 tổ chức sử dụng làm nhà ở với diện tích 4.088,24 ha, trong đó phần lớn

là xây nhà cho cán bộ công nhân viên

- Có 1.205 tổ chức sử dụng đất cho thuê trái phép với diện tích 2.918,65

ha, tập trung lớn nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với 271 tổ chức trên diện tích 1.756,59 ha, sau đó tới vùng Đông Bắc, vùng Đông Nam Bộ Cho thuê trái phép xảy ra ít nhất ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên

- Có 1.647 tổ chức sử dụng đất để cho mượn với diện tích cho mượn 6.740,76 ha, tập trung lớn nhất ở vùng Đông Bắc với 653 tổ chức, rồi tới vùng đồng bằng sông Cửu Long với 478 tổ chức, vùng Đông Nam Bộ 141 tổ chức

188 tổ chức sử dụng đất chuyển nhượng trái phép với 375,28 ha đất chuyển nhượng trái phép Trong đó tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long với 43 tổ chức và diện tích chuyển nhượng trái phép là 163,79 ha, tập trung nhiều nhất tại Long An với diện tích 97,72 ha, Kiên Giang với diện tích 55,7 ha

- Tổng diện tích để bị lấn chiếm là 254.033,19 ha do 3.915 tổ chức đang quản lý Trong đó 397 tổ chức là cơ quan Nhà nước, 34 tổ chức chính trị, 22

tổ chức xã hội, 25 tổ chức chính trị xã hội, 14 tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp Đông nhất phải kể tới 1.458 tổ chức sự nghiệp công, 965 tổ chức kinh

tế, 712 UBND xã

- Theo Tổng cục Quản lý đất đai, diện tích đất bị lấn chiếm có nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao, quản lý lỏng lẻo ở hầu hết các loại hình tổ chức, trong đó tập trung chủ yếu ở loại hình tổ chức sự nghiệp công, UBND xã, tổ chức kinh tế, quốc phòng, an ninh, nông, lâm trường Thiếu kiểm tra thường xuyên, chưa quan tâm đến việc lập hồ sơ và lưu giữ đầy đủ các giấy tờ để theo dõi, quản lý nên không quản lý được mốc ranh khu đất đã được giao, chưa xây dựng tường rào hoặc cắm mốc giới để phân định với đất của dân, của các tổ chức khác

Trang 24

- Mặt khác, thời gian giao đất trước đây đã quá lâu, thủ tục không đầy đủ, thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn giao cho người sau để tiếp tục quản lý , nên trong suốt quá trình sử dụng đất để cho người dân hoặc tổ chức lấn, chiếm Cá biệt có tổ chức không biết ranh giới đất của đơn vị mình, nên khi kiểm kê hiện trạng rất khó khăn, phải mất nhiều thời gian mới xác định được diện tích đất được giao

- Đất do các nông, lâm trường quản lý bị lấn chiếm, có nguyên nhân khách quan là do diện tích lớn, lại thường ở khu vực vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn trong khi lực lượng cán bộ công tác tại các nông lâm trường lại mỏng, trong địa bàn quản lý có dân cư sinh sống xen kẽ Về chủ quan, các cấp chính quyền địa phương, Ban quản lý nông, lâm trường và cán bộ quản lý tại đây thiếu tính chủ động, làm ngơ trước tình trạng lấn chiếm của người dân địa phương

- Đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm cũng là vấn đề đáng quan tâm bởi có diện tích không nhỏ, trên 313.969 ha, trong đó tranh chấp trên 34.200 ha và lấn chiếm trên 25.700 ha Đất bị chiếm lên tới trên 254.000

ha với 3.915 tổ chức, chủ yếu xảy ra ở tổ chức kinh tế, quốc phòng, an ninh, nông, lâm trường, UBND xã, tổ chức sự nghiệp công Nguyên nhân phải kể đến là khi thực hiện giao đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng cụ thể Một số khu đất đã

có mốc giới nhưng quá trình xây dựng các công trình đã làm thất lạc mốc hoặc dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Việc giải quyết khi có tranh chấp vì thế rất khó khăn

- Diện tích đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức được giao, thuê cũng lên tới trên 299.719 ha, trong đó diện tích còn để hoang hóa là trên 250.862 ha do 2.455 tổ chức quản lý Diện tích đầu tư, xây dựng chậm cũng lên tới trên 48.888 ha, tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển đô thị mới, dự án xây dựng khu công nghiệp

- Diện tích đất chưa sử dụng tập trung chủ yếu tại Bắc Trung Bộ chiếm 56,1% tổng diện tích đất chưa sử dụng (Nghệ An 73,23% diện tích của vùng); Tây Nguyên chiếm 16,9% (Gia Lai 90,17%), duyên hải Nam Trung Bộ chiếm 15,8% (Ninh Thuận chiếm 83,78%)

- Hiện nay còn 3.311 tổ chức sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 25.587,82 ha Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính

Trang 25

phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương, sau một năm các cơ quan chức năng đã thu hồi 4.731 ha đất vi phạm Bên cạnh đó còn nhiều dự án

“treo” trên khắp cả nước, cụ thể vẫn còn hơn 20.000 ha đất trong dự án “treo”, trong đó không ít những diện tích ở các vị trí đắc địa Điều này đồng nghĩa với việc hàng trăm nghìn tỷ đồng đang bị lãng phí

2.2.3 Tình hình sử dụng đất tại tỉnh Thái Nguyên

Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên là 353.171,60 ha (Bảng 2.1), gồm có [13]:

Diện tích đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp là rất lớn với diện tích 29.3378,12 ha chiếm 83,7% so với tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 109.277,74 ha chiếm 30,94% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất lâm nghiệp là 179.813,30 ha chiếm 50,91% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất nuôi trồng thủy sản 4.186,66 ha chiếm 1,19% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp khác là 100,42 ha chiếm 0,03% so với tổng diện tích đất tự nhiên;

Diện tích đất phi nông nghiệp là 43.429,42 ha chiếm 12,30% so với tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: Diện tích đất ở 12.985,17 ha chiếm 3,68% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất chuyên dùng là 19.684.69 ha chiếm 5,57% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất tôn giáo, tín ngưỡng là 101,76 ha chiếm 0,03% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa 814,98 ha chiếm 0,23% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất sông suối mặt nước chuyên dùng 9.794,50 ha chiếm 2,77% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất phi nông nghiệp khác 48,32 ha chiếm 0,01% so với tổng diện tích đất tự nhiên;

Diện tích đất chưa sử dụng 16.364,06 ha chiếm 4,63% so với tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: diện tích đất đất bằng chưa sử dụng 1.444,66 ha chiếm 0,41% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đồi núi chưa sử dụng 4.688,22 chiếm 0,33% so với tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích núi đá không có rừng cây 10.231,18 chiếm 2,90% so với tổng diện tích đất tự nhiên Như vậy, tiềm năng đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp còn tương đối lớn Trong thời gian tới Tỉnh cần quy hoạch đưa phần diện tích này vào sử dụng, tránh để lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này

Trang 26

Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên

Thứ tự MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT Mã Diện tích (ha) Cơ cấu

Trang 27

2.1.1 Đất ở tại nông thôn ONT 11.333,49 3,21

3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 1.444,66 0,41 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 4.688,22 1,33 3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 10.231,18 2,90

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường)

Qua kết quả rà soát, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo Chỉ thị số 134/2010/CT-TTg ngày 20/1/2010 của Thủ tướng Chính Phủ cho thấy toàn tỉnh Thái Nguyên có 1.635 tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất (không tính các đơn vị quân đội và công an trên địa bàn) với diện tích 3.569,53ha Trong đó, có 140 tổ chức vi phạm pháp luật đất đai chiếm 8,09% so với tổng số tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất với diện tích vi phạm 117,22 ha chiếm 3,07% diện tích được nhà nước giao đất, cho thuê đất Phân theo loại hình tổ chức thì có 349 tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất với diện tích 2.300,16 ha đã có tới 72 doanh nghiệp vi phạm pháp luật đất đai chiếm 20,63% với diện tích vi phạm là 101,32 ha chiếm 4,275% so với diện tích đã giao, thuê Các hình

Trang 28

thức vi phạm chủ yếu là: sử dụng đất không đúng mục đích, để dự án “treo” chưa sử dụng, cho thuê, chuyển nhượng, cho mượn đất trái pháp luật, để đất

bị lấn chiếm và lấn chiếm đất…[9]

Trang 29

Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

- Thời gian: Từ 10/2010 đến tháng 7/2011

- Địa điểm thực hiện: Thành phố Thái Nguyên

- Đối tượng nghiên cứu: Đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên ảnh hưởng đến sử dụng đất

- Điều kiện tự nhiên:

+ Vị trí địa lý

+ Địa hình, địa mạo

+ Khí hậu

+ Tài nguyên đất

- Điều kiện kinh tế - kiện xã hội

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010

Trang 30

3.2.4 Định hướng giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với việc sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp logic kết hợp với phương pháp kế thừa lịch sử, phương pháp điều tra, khảo sát thu thập tài liệu kết hợp với phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích và phương pháp thống kê Sau đây là một số phương pháp cụ thể được vận dụng để nghiên cứu:

3.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Là các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựa chọn sử dụng vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc của các tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệu tham khảo” Nguồn tài liệu này bao gồm:

- Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, các chương trình nghiên cứu đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, các tài liệu trên internet

- Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế, xã hội nông thôn, kinh tế của các ngành sản xuất nằm trong khu vực nghiên cứu… các số liệu này thu thập từ phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê thành phố, Sở Tài nguyên Môi trường và các Sở, ban, ngành có liên quan Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu

3.3.2 Tài liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những số liệu này được thu thập từ việc điều tra các tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất Các số liệu này được sử dụng để phân tích về tình hình hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế Phương pháp điều tra được tiến hành như sau:

Cơ sở chọn mẫu điều tra:

Trang 31

Đề tài đã chọn 20 tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên để điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo nhiều cấp

- Phương pháp phát phiếu điều tra trực tiếp

Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi

đã điều tra các tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 1 thành viên hiểu biết về công tác quản lý, sử dụng đất đai của đơn vị, ngoài ra có sự đóng góp ý kiến của các thành viên khác trong đơn

vị Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Chúng tôi phỏng vấn thử một số đơn vị theo một mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước Sau đó xem xét bổ sung phần còn thiếu và loại bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi

mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu theo các nhóm thông tin sau:

+ Nhóm thông tin về điều kiện đất đai và sử dụng đất đai của đơn vị + Nhóm thông tin về tình hình quản lý, sử dụng đất

+ Nhóm thông tin về nhu cầu sử dụng đất của đơn vị trong tình hình hiện nay

+ Các câu hỏi mở về những khó khăn, thuận lợi của đơn vị trong quá trình quản lý sử dụng đất đai, kinh doanh sản xuất của đơn vị, những kiến nghị đề xuất của đơn vị

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:

Để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người bị phỏng vấn cảm thấy bị nhàm chán, bị ép buộc phải trả lời câu hỏi có sẵn, chúng tôi đã dùng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để hỏi đối tượng, những câu hỏi phát sinh trong quá trình phỏng vấn

Phương pháp này nhằm mục đích lấy thông tin rộng hơn, gợi mở hơn nhiều vấn đề mới quan trọng và thú vị

Mục đích của điều tra: Nắm bắt một cách tương đối chi tiết về tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

Trang 32

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu

thập ý kiến của các chuyên gia trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, các cán

bộ quản lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Đây là phương pháp rất sinh động và

thực tế, vì qua phương pháp này tất cả các giác quan của người phỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe qua đó các thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel, phân nhóm phân tích tương quan giữa các yếu tố về tình hình sử dụng đất, mối quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất…

- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận vĩ mô từ trên xuống, tiếp cận vi mô từ dưới lên

Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của thành phố, quy hoạch của các ngành, vùng có liên quan hoặc có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các tổ chức kinh tế

Căn cứ nhu cầu sử dụng đất của các phường, xã; quy hoạch phát triển của các ngành trên địa bàn thành phố để tổng hợp, phân tích các vấn đề sử dụng đất

- Phương pháp tổng hợp: Là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ

các yếu tố, các nhận xét mà khi ta sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn thiện, đầy đủ Vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hoá các vấn đề trong nhận thức tổng hợp

- Phương pháp kế thừa: Phân tích các tài liệu đã có trên địa bàn thành phố, các tài liệu có liên quan đến việc sử dụng đất đai

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên ảnh hưởng đến sử dụng đất

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hà Nội 80 km về phía Bắc [12] Có giới hạn:

Phía Bắc giáp: Huyện Đại Từ, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ Phía Nam giáp: Thị xã Sông Công

Phía Tây giáp: Huyện Đại Từ

Phía Đông nam giáp: Huyện Phú Bình

Trang 34

Hình 4.1 Bản đồ địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên

Thành phố Thái Nguyên cách sân bay Quốc tế Nội bài 52 km về phía Bắc Có Quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng; Quốc lộ 1B đi Lạng Sơn; Quốc Lộ 37 đi Bắc Giang, Tuyên Quang

- Địa hình, địa mạo

Địa hình của thành phố Thái được coi như miền đồng bằng riêng của tỉnh Thái Nguyên Đây là miền có độ cao thấp nhất, ruộng đất tập trung ở hai bên

bờ sông Cầu và sông Công, được hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này Tuy nhiên, vùng này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích (đất dốc tụ) Địa hình của vùng này gồm có những đồi, gò thoải, bát úp xen kẽ nhau Độ dốc từ 8o

- 25o chiếm không đáng kể, phần lớn diện tích có độ dốc nhỏ hơn 8o Loại địa hình này thích hợp với cây lúa, cây trồng hàng năm Kết quả xác định độ dốc địa hình của thành phố thể hiện bảng sau [15]:

Bảng 4.1 Phân loại địa hình theo cấp độ dốc thành phố Thái Nguyên

Trang 35

Mùa lạnh: từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau nhiệt độ trung bình dưới 180

C, tháng 1 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ trung bình khoảng 15-160C Những đợt không khí lạnh tràn về nhiệt độ trung bình xuống dưới 150

Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6 và tháng 7) với tháng lạnh nhất (tháng 1 và tháng 2) khoảng 15o

Trang 36

Lượng mưa từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm đặc biệt là tháng 12, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% lượng mưa cả năm

Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm

- Thủy văn

Hệ thống sông ngòi trong địa phận thành phố Thái Nguyên chủ yếu nằm trong lưu vực sông Cầu Sông Cầu bắt nguồn từ huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên thuộc vùng trung lưu dài 25km, đoạn này dòng sông mở rộng 70 – 100 m Sông Cầu có lượng nước dồi dào, lưu lượng bình quân mùa mưa 620m3/giây, vào những ngày lũ lưu lượng nước lên tới 3.500m3

/giây Mùa khô lưu lượng nước nhỏ, chỉ đạt bình quân 3,32 m3/giây Chế độ nước chảy theo mùa, phụ thuộc vào chế độ mưa, mùa lũ chiếm khoảng 75% lượng nước cả năm, mùa kiệt chỉ khoảng 25% lượng nước

cả năm Nhánh lớn nhất của sông Cầu là sông Công, lượng nước sông Công chiếm khoảng 40% lượng nước sông Cầu và đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới cho vùng tả ngạn sông Cầu thuộc thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên

Sông Công có lưu vực 951 km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hoá chạy dọc theo chân núi Tam Đảo vào thành phố Thái Nguyên, đoạn chảy quan thành phố dài 15km Vào mùa mưa, lưu lượng nước của sông Công trong lũ đạt 1.880m3/giây, mùa khô lưu lượng nước rất nhỏ, chỉ 0,32 m3

/giây Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25km2, chứa 175 triệu m3

nước có thể điều hoà dòng chảy và chủ động tưới tiêu cho 12.000 ha lúa, 6.900ha cây công nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công Là nhánh lớn nhất chảy vào sông Cầu với lượng nước chiếm khoảng 40% lượng nước sông Cầu Sông Cầu và sông Công là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước sản xuất cho công nghiệp và nước tưới cho đồng ruộng

Ngoài ra, thành phố Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn tuy nhiên, việc khai thác sử dụng còn hạn chế

- Tài nguyên đất:

Trang 37

Tình hình sử dụng đất được phản ánh qua bảng 4.2 [14]

Trong tổng diện tích 18.630,56 ha đất tự nhiên thì có đến 65,84 % là diện tích dành cho sản xuất nông nghiệp, 5.992,86 ha đất phi nông nghiệp chiếm 32,17% so với tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố, trong diện tích đất phi nông nghiệp chủ yếu là đất chuyên dùng chiếm 52,75% so với tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng chiếm 1,99% so với tổng diện tích đất tự nhiên

So với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35ha, chiếm 17,65% so với tổng diện tích tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, glây yếu

có 100,19 ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu

ở phường Phú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có 379,84ha, chiếm 2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất (Pcb1) bạc màu phát triển trên phù sa có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ 271,3ha, chiếm 1,53%; đất (Pcb2) bạc màu phát triển trên phù sa có sản lượng feralit trên nền

cơ giới nặng có 545,6ha, chiếm 3,08%

Bảng 4.2 Tình hình sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên năm 2010

(ha)

Cơ cấu (%)

1 Tổng diện tích đất nông nghiệp 12.266,51 65,84

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 9.021,64 73,55 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 5.017,50 55,62 1.1.1.1 Đất trồng lúa 3.661,23 72,97 1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 17,57 0,35 1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 1.338,70 26,68 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 4.004,14 44,38

1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 329,94 2,69 1.4 Đất nông nghiệp khác 3,41 0,03

2.1.1 Đất ở nông thôn 556,20 35,81

2.2 Đất chuyên dùng 3.161,16 52,75

Trang 38

2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 13,54 0,23 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 115,40 1,93 2.5 Đất sông suối và mặt nước CD 1146,24 19,13

3.1 Đất bằng chưa sử dụng 282,96 76,23 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 88,23 23,77

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường TPTN)

- Tài nguyên nước [12]:

Ngoài 2 con sông Cầu và sông Công kể trên, thành phố Thái Nguyên còn có 93 hồ, ao vừa và nhỏ tập trung ở 25 xã, phường, là nơi dự trữ nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tạo cảnh quan, cân bằng sinh thái

Nguồn nước ngầm ở khu vực xã Đồng Bẩm, phường Túc Duyên có trữ lượng lớn Nước ngầm ở đây có hàm lượng cặn nhỏ, hàm lượng sắt từ 5 đến

10 mg/lít, độ PH 5,5 đến 6

- Tài nguyên rừng: rừng ở thành phố Thái Nguyên chủ yếu là rừng

nhân tạo và rừng trồng theo chương trình PAM và chương trình 327

- Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và

sông Công), do đó cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố Mỏ than Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng tương đối lớn

- Di tích, danh thắng, các công trình văn hóa: Thành phố Thái

Nguyên có 95 điểm di tích lịch sử - văn hóa, nổi bật là những di tích về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (Dinh Công Sứ, Trại lính khố xanh, Nhà lao Thái Nguyên, đền thờ Đội Cấn…), đền Xương rồng, chùa Phủ Liễn, Khu tưởng niệm thanh niên xung phong… Trên địa bàn thành phố còn có nhiều công trình văn hóa, thể thao như: Bảo tàng lực lượng vũ trang Việt Bắc – Quân khu

I, Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam…

4.1.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội thành phố Thái Nguyên

Năm 2009 Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính với tổng diện tích 18.970,48 ha; dân số 279.710 người, cụ thể tại Bảng 4.3

Trang 39

Các phường nội thành bao gồm: Tân Long, Quan Triều, Quang Vinh, Hoàng Văn Thụ, Túc Duyên, Đồng Quang, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Trưng Vương, Gia Sàng, Cam Giá, Hương Sơn, Tân Thành, Trung Thành, Tân Lập, Phú Xá, Tân Thịnh, Thịnh Đán, Tích Lương Các xã ngoại thành bao gồm: Lương Sơn, Thịnh Đức, Quyết Thắng, Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Phúc Hà, Cao Ngạn và Đồng Bẩm

Bảng 4.3 Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính TP Thái Nguyên

Trang 40

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và môi trường TPTN)

- Về cơ cấu kinh tế

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Theo quy luật phát triển chung của nhân loại, tất cả các ngành lĩnh vực đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, thay đổi từng ngày từng giờ Hòa chung với sự phát triển của đất nước trong những năm qua, thành phố Thái Nguyên đã có những bước phát triển kinh tế khá vững chắc và ổn định, từng bước góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Để thấy được điều đó chúng ta cần có những chỉ tiêu để đánh giá cụ thể Và tốc

độ tăng trưởng kinh tế chính là một trong số các chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, một vùng miền lãnh thổ hay một ngành nào đó

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Thái Nguyên từ năm 2006 -

2009 luôn duy trì cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn tỉnh và vùng trung

du miền núi Bắc Bộ Đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 14%, đạt kế hoạch đề ra Trong đó: Công nghiệp - Xây dựng ước đạt 1.903 tỷ đồng, tăng 13,5% so với năm 2009, dịch vụ ước đạt 1.507,5 tỷ đồng, tăng 15,53% so với năm 2009, nông nghiệp ước đạt 134,5 tỷ đồng, tăng 4,72% so năm 2009

Sản lượng lương thực có hạt đạt 30.780 tấn, bằng 106,1% so với kế hoạch, tăng 3,1% so với năm 2009; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt đạt 32,38 triệu đồng bằng 104,6% kế hoạch, giá trị sản phẩm trên 1

ha chè và cây ăn quả đạt 54 triệu đồng (vượt 12 triệu đồng/ha) bằng 116,6%

kế hoạch

Ngày đăng: 04/10/2014, 03:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008), Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp”,tập 3, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2008
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI”, NXB Chính trị Quốc Gia, tr.35, 78, 136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2011
4. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2011), “Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2011
5. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2011), “Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2011
11. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đất đai
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2007
12. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên (2009), Địa chí Thái Nguyên, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thái Nguyên
Tác giả: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2009
13. UBND tỉnh Thái Nguyên (2011), Báo cáo thuyết minh số liệu thống kê đất đai năm 2010 tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuyết minh số liệu thống kê đất đai năm 2010
Tác giả: UBND tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2011
2. Dương Hà, Đất nông nghiệp bị thu hẹp: Mối lo về an ninh lương thực,http://www.doctin.vn/dat-nong-nghiep-bi-thu-hep-moi-lo-ve-an-ninh-luong-thuc-539289.aspx, ngày 9/11/2010 Link
6. Lê Thái Bạt (2007), Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, http://tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2007/76/Su-dung-dat-tiet-kiem-hieu-qua-va-ben-vung.aspx, ngày 1/8/2007 Link
7. Lê Huệ (2008), Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp còn nhiều bất cập, http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=4&id=49900&code=XMAUN49900, ngày 08/ 09 / 2008 Link
8. Lê Văn Khoa (2001), Giáo trình Tài nguyên đất môi trường Khác
9. Sở Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 134/CT-TTg ngày 20/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ Khác
14. UBND thành phố Thái Nguyên (2010), Báo cáo thuyết minh kiểm kê đất đai năm 2010 Khác
15. UBND thành phố Thái Nguyên (2001), Báo cáo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2000- 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên  Thứ tự  MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT  Mã  Diện tích - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.1. Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên Thứ tự MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT Mã Diện tích (Trang 26)
Hình 4.1. Bản đồ địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Hình 4.1. Bản đồ địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên (Trang 34)
Bảng 4.2. Tình hình sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên năm 2010 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.2. Tình hình sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên năm 2010 (Trang 37)
Bảng 4.3. Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính TP Thái Nguyên - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.3. Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính TP Thái Nguyên (Trang 39)
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất  của thành phố Thái Nguyên giai đoạn  2006 – 2010 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 47)
Bảng 4.5. Tổng hợp kết quả cho thuê đất  năm 2006 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.5. Tổng hợp kết quả cho thuê đất năm 2006 (Trang 50)
Bảng 4.6. Tổng hợp kết quả cho thuê đất  năm 2007 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.6. Tổng hợp kết quả cho thuê đất năm 2007 (Trang 51)
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả cho thuê đất  năm 2008 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả cho thuê đất năm 2008 (Trang 52)
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả cho thuê đất năm 2010 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả cho thuê đất năm 2010 (Trang 54)
Bảng 4.10. Tổng hợp kết quả cho thuê đất giai đoạn 2006 - 2010 - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.10. Tổng hợp kết quả cho thuê đất giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 57)
Bảng 4.11. Tình hình vi phạm của các tổ chức kinh tế   trong việc sử dụng đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.11. Tình hình vi phạm của các tổ chức kinh tế trong việc sử dụng đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên (Trang 61)
Bảng 4.12.  Tình hình vi phạm nghĩa vụ tài chính của các tổ chức kinh tế  được Nhà nước cho thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.12. Tình hình vi phạm nghĩa vụ tài chính của các tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên (Trang 63)
Bảng 4.13. Kết quả xử lý vi phạm các tổ chức kinh tế thuê đất trên  địa bàn thành phố Thái Nguyên - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.13. Kết quả xử lý vi phạm các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên (Trang 64)
Bảng 4.14. Tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường - thực trạng và giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với diện tích đất đã giao cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 4.14. Tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w