Hàm lượng N tổng số trong nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí bằng thực vật thủy sinh.... Ưu thế của việc xử lí nước thải bằng biện pháp sinh học là đơn giản, tiết kiệm, tận dụng được
Trang 1- -
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Tên đề tài:
Thực trạng ô nhiễm nước thải chăn nuôi tại thành phố
Thái Nguyên và biện pháp xử lí bằng thực vật thủy sinh
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60 85 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hựng
TS Vũ Thị Thanh Thuỷ
THÁI NGUYấN - 2011
Trang 2Trong quá trình học tập tại khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi đã được các thầy cô giáo truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất để có thể đem những kiến thức đã được học ở trường góp một phần công sức của mình vào xây dựng đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, khoa Sau Đại học và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thế Hùng và TS Vũ Thị Thanh Thuỷ đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành bản khoá luận này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, PGS.TS Nguyễn Thế Hùng và
TS Vũ Thị Thanh Thuỷ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khuyến khích
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản khoá luận
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo các cơ quan phối hợp: Viện Khoa học
Sự Sống - Đại học Thái Nguyên, Chi cục môi trường - Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Kkhí tượng thuỷ văn Thành phố Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Tổng cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp thực hiện, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và các bạn học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên ngày 08 tháng 9 năm 2011
Học viên
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 31 BOD5 Nhu cầu ôxi sinh hoá
3 ĐHNLTN Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
4 TN&MT Tài nguyên và Môi trường
5 TVTS Thực vật thủy sinh
6 TTTHTN Trung tâm thực hành thực nghiệm
8 TCCP Tiêu chuẩn cho phép
10 TSS Tổng chất rắn lơ lửng
11 BVMT Bảo vệ môi trường
12 TPTN Thành phố Thái Nguyên
14 ÔNMT Ô nhiễm môi trường
15 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 4Trang
Bảng 2.1 Các thông số đánh giá chất lượng nước thải 5
Bảng 2.2 Số trang trại phân theo địa phương 7
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động 8
Bảng 2.4 Số lượng gia súc, gia cầm của Việt Nam 9
Bảng 2.5 Qui mô chăn nuôi lợn nái của Việt Nam năm 2003 11
Bảng 2.6 Qui mô chăn nuôi lợn thịt của Việt Nam năm 2003 12
Bảng 2.7 Tổng số lượng lợn qua các năm 13
Bảng 2.8 Số trang trại phân theo huyện, thành phố, thị xã, tỉnh Thái Nguyên 14
Bảng 2.9 Số lượng thịt lợn hơi xuất chuồng phân theo huyện, thành phố, thị xã tỉnh Thái Nguyên 18
Bảng 2.10 Một số thủy sinh thực vật tiêu biểu 20
Bảng 2.11 Nhiệm vụ của thuỷ sinh thực vật trong các hệ thống xử lí 20
Bảng 3.1 Các phương pháp bảo quản mẫu trước khi đem phân tích 46
Bảng 3.2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hoá học trong nước thải 46
Bảng 4.1 Nhiệt độ và độ ẩm trung bình tháng trong năm 2010 tại thành phố Thái Nguyên 50
Bảng 4.2 Số lượng lợn phân theo huyện, thành phố, thị xã tỉnh Thái Nguyên 59
Bảng 4.3 Số trang trại chăn nuôi phân theo đầu lợn tại thành phố Thái Nguyên 61
Bảng 4.4 Số trang trại và số lượng lợn phân theo phường/ xã tại thành phố Thái Nguyên năm 2010 62
Bảng 4.5 Tình hình ứng dụng các phương pháp xử lí chất thải tại các trang trại ở thành phố Thái Nguyên năm 2010 64
Bảng 4.6 Thực trạng môi trường và xử lí nước thải tại các trang trại chăn nuôi tại thành phố Thái Nguyên năm 2011 66
Trang 5Bảng 4.8 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước thải tại một số trang trại ở
thành phố Thái Nguyên năm 2010 70 Bảng 4.9 Sinh trưởng của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm 72 Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu của nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí bằng thực
vật thuỷ sinh 74 Bảng 4.11 Một số chỉ tiêu của nước thải chăn nuôi sau 6 tuần xử lí bằng thực
vật thuỷ sinh 77
Trang 6Trang
Hình 2.1 Sơ đồ tổng quát xử lý nước thải giàu chất hữu cơ sinh học 25 Hình 4.1 Biểu đồ tỉ lệ số đầu lợn qua các năm của thành phố Thái Nguyên so
với các huyện 60 Hình 4.2 Biểu đồ số trang trại chăn nuôi phân theo số đầu lợn tại thành phố
Thái Nguyên 61 Hình 4.3 Biểu đồ tỉ lệ số lượng trang trại lợn phân theo phường, xã tại thành
phố Thái Nguyên năm 2010 63 Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ ứng dụng các phương pháp xử lí chất thải tại các trang
trại ở thành phố Thái Nguyên năm 2010 65 Hình 4.5 Hàm lượng P tổng số trong nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí bằng
thực vật thuỷ sinh 76 Hình 4.6 Hàm lượng N tổng số trong nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí
bằng thực vật thủy sinh 76 Hình 4.7 Hàm lượng N tổng số của nước thải chăn nuôi sau 6 tuần xử lí bằng
thực vật thủy sinh 79 Hình 4.8 Hàm lượng Coliform trong nước thải chăn nuôi sau 6 tuần xử lí bằng
thực vật thủy sinh 79 Hình 4.9 Mô hình đề xuất ứng dụng sử dụng thực vật thuỷ sinh vào xử lý nước
thải chăn nuôi lợn 81
Trang 7PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học về chăn nuôi trang trại 4
2.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại 4
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn nuôi 4
2.1.3 Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi 5
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 6
2.2.1 Tình hình ô nhiễm môi trường chất thải chăn nuôi tại Việt Nam 6
2.2.2 Tình hình ô nhiễm môi trường trong các trại chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên 13
2.3 Các loài thực vật thuỷ sinh chính 19
2.3.1 Bèo tây 21
2.3.2 Bèo cái 21
2.3.3 Rau ngổ 22
2.3.4 Rau muống 23
2.4 Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về xử lý nước thải chăn nuôi 23
2.4.1 Các nước trên thế giới 24
2.4.2 Ở Việt Nam 25
2.4.3 Các phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi lợn 26
2.5 Khả năng và cơ chế xử lý nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 33
2.6 Một số nghiên cứu sử dụng thực vật thủy sinh trong xử lí nước thải 36
2.7 Cơ sở pháp lý có liên quan 41
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 43
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 43
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 43
3.1.3 Địa điểm thực hiện của đề tài 43
3.1.4 Thời gian tiến hành 43
3.2 Nội dung 43
Trang 8chăn nuôi khu vực Thành phố Thái Nguyên 43
3.2.3 Nghiên cứu phương pháp xử lí ô nhiễm nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 43
3.3 Phương pháp nghiên cứu 44
3.3.1 Đánh giá hiện trạng ô nhiễm trong nước thải của một số trang trại chăn nuôi khu vực Thành phố Thái Nguyên 44
3.3.2 Nghiên cứu phương pháp xử lí ô nhiễm nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 44
3.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích 45
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên 47
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 52
4.2 Thực trạng xử lí nước thải chăn nuôi lợn tập trung tại thành phố Thái Nguyên 59
4.2.1 Thực trạng chăn nuôi lợn tại thành phố Thái Nguyên 59
4.2.2 Thực trạng xử lí nước thải chăn nuôi lợn tại thành phố Thái Nguyên 63
4.2.3 Thực trạng ô nhiễm nước thải chăn nuôi lợn của một số trang trại tại thành phố Thái Nguyên 65
4.3 Nghiên cứu khả năng xử lí nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 72
4.3.1 Khả năng sinh trưởng của thực vật thủy sinh trong nước thải chăn nuôi 72
4.3.2 Khả năng xử lí nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 73
4.3.3 Những thuận lợi và khó khăn khi xử lí nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 80
4.3.4 Đề xuất giải pháp áp dụng vào thực tiễn 81
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 9Ngành Nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi, chủ yếu là gia súc, gia cầm đã và đang thải ra môi trường một lượng lớn nước thải Năm 2008 cả nước có tổng 120.699 trang trại, đến năm 2009 đã tăng lên 135.437 trang trại.Nguồn nước thải chăn nuôi là một nguồn nước thải có chứa nhiều hợp chất hữu cơ, virus, vi trùng, trứng giun sán… Nguồn nước này có nguy cơ gây ô nhiễm các tầng nước mặt, nước ngầm và trở thành nguyên nhân trực tiếp phát sinh dịch bệnh cho đàn gia súc Đồng thời nó có thể lây lan một số bệnh cho con người và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh vì nước thải chăn nuôi còn chứa nhiều mầm bệnh như: Samonella, Leptospira, Clostridium tetani,… nếu không xử lý kịp thời Bên cạnh đó còn có nhiều loại khí được tạo ra bởi hoạt động của vi sinh vật như NH3, CO2, CH4, H2S, Các loại khí này có thể gây nhiễm độc không khí Chất ô nhiễm trong nước thải chủ yếu là nitrat (NO3-)
và photphoris (PO4
-) các chất này trong nước thải chăn nuôi thường ở dạng hoà
Trang 10tan nên rất khó tách chúng khỏi nước thải Các chỉ số đại diện chất hữu cơ như BOD, COD, các chỉ số Ecoli, Coliform trong nước thải chăn nuôi đa số đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần làm ảnh hưởng đến đời sống con người và hệ sinh thái Chính vì vậy mà việc thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho các trại chăn nuôi lợn là một hoạt động hết sức cần thiết.
Tỉnh Thái Nguyên đã và đang có sự phát triển vượt bậc trong sản xuất, giáo dục, kinh tế và văn hoá xã hội Tuy nhiên, bên cạnh quá trình phát triển kinh tế, tỉnh Thái Nguyên cũng là nơi tập trung rất nhiều trang trại chăn nuôi có qui mô lớn Vì thế lượng nước thải thải ra cũng rất lớn gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm đất…
Để hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường từ nước thải chăn nuôi, một số giải pháp được đưa ra như xây dựng hầm khí sinh học bioga….Tuy nhiên phương pháp này khá tốn kém đối với những hộ gia đình chưa có điều kiện về mặt kinh tế, đồng thời sẽ là nguy hiểm với những hộ gia đình chưa có những hiểu biết đầy đủ về qui trình sử dụng hầm bioga
Ở một số nước phát triển, các nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng thành công các phương pháp hiếu khí, kị khí và sử dụng thực vật thủy sinh
Ưu thế của việc xử lí nước thải bằng biện pháp sinh học là đơn giản, tiết kiệm, tận dụng được nguồn sinh vật sẵn có trong môi trường và hạn chế đến mức tối
đa các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường trong quá trình xử lí
Đã từ lâu, thực vật thủy sinh đã rất quen thuộc với nhân dân ta vì chúng được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi cũng như làm phân bón Từ những năm 1970, điển hình là bèo tây và bèo cái đã được một số nước trên thế giới nghiên cứu sử dụng cho quá trình xử lí nước thải sinh hoạt cũng như nước thải công nghiệp và đã mang lại những kết quả khả quan Trong hệ thống này, vai trò của thực vật thủy sinh không chỉ tham gia làm giảm thiểu ô nhiễm hữu
cơ mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu nitơ và phôtpho trong nước thải mà các phương pháp khác khó thực hiện được hoặc rất tốn kém
Trang 11Để đánh giá vai trò của thực vật thủy sinh trong xử lí nước thải chăn nuôi cũng như khả năng sử dụng các loài thực vật thủy sinh trong thực tiễn như một giải pháp thân thiện với môi trường, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Sau Đại học, Đại học Thái Nguyên, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Thực trạng ô nhiễm nước thải chăn nuôi tại thành phố Thái
Nguyên và biện pháp xử lí bằng thực vật thủy sinh”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Điều tra, đánh giá thực trạng ô nhiễm từ nước thải chăn nuôi lợn ở một
số trang trại chăn nuôi tại thành phố Thái Nguyên
- Nghiên cứu, xây dựng giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải chăn nuôi bằng thực vật thuỷ sinh
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm chắc quy chuẩn Việt Nam QCVN 24:2009/BTNMT- Quy chuẩn
kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp
- Nắm chắc QCVN 01 - 15:2010/BNNPTNT- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia điều kiện đảm bảo trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học
- Nắm chắc phương pháp điều tra, phỏng vấn, đánh giá, tổng hợp số liệu
- Nắm chắc phương pháp lấy mẫu nước thải
- Nắm chắc qui trình làm thí nghiệm với các loại thực vật thuỷ sinh
- Đề xuất phương án giảm thiểu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Qua khảo sát, tìm hiểu thực tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm ở các trại chăn nuôi, những khó khăn, thách thức mà các trang trại chăn nuôi đang gặp phải với những vấn đề xử lí nước thải cũng như xử lí ô nhiễm môi trường Từ đó có thể đánh giá được hiện trạng môi trường ở các trang trại chăn nuôi tại thành phố Thái Nguyên và nghiên cứu biện pháp xử lí bằng thực vật thuỷ sinh cho nước thải chăn nuôi nhằm tiết kiệm tối đa biện pháp xử lí, đồng thời làm giảm thiểu mức độ ô nhiễm nước thải trong hoạt động chăn nuôi Nhằm mục tiêu đưa nghành chăn nuôi của nước ta phát triển một cách bền vững
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học về chăn nuôi trang trại
2.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại
Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại là sự thay đổi bất lợi môi trường không khí, môi trường đất và môi trường nước hoàn toàn hay đại bộ phận do hoạt động chăn nuôi, các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của con người tạo nên Những hoạt động này gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến
sự thay đổi về mặt năng lượng, mức độ bức xạ, về thành phần hoá học, tính chất vật lí, Những thay đổi đó do tác động có hại đến con người và sinh vật
trên trái đất (Nguyễn Thiện, Trần Đình Miện, 2001) [21]
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn nuôi
- Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn nuôi chủ yếu được gây ra do nước thải trong khi rửa chuồng, nước tiểu lợn, ô nhiễm chất thải rắn là do phân, thức ăn thừa của lợn vương vãi ra nền chuồng mà không được thu gom kịp thời Các chất này đều là những chất dễ phân huỷ sinh học: Carbonhydrate, protein, chất béo dẫn đến các vi sinh vật phân huỷ làm phát tán mùi hôi thối ra môi trường Đây là các chất gây ô nhiễm nặng nhất và thường
thấy nhất trong các trại chăn nuôi tập trung (Phạm Thị Phương Lan, 2007) [10].
- Mức độ ô nhiễm nguồn nước từ hoạt động chăn nuôi là nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào lượng thải ngoài môi trường là bao nhiêu và phụ thuộc vào việc xử lí hay không xử lí lượng nước thải trước khi thải ra ngoài môi trường
Hiện nay, cả nước có khoảng 135.437 trang trại chăn nuôi, tỷ trọng
chăn nuôi trang trại và công nghiệp chiếm 37% Với lượng thải của một con
bò từ 10 - 15kg phân/ngày, một con lợn là 2,5 - 3,5 kg phân/ngày và gia cầm
là 90 gram phân/ ngày thì tổng số lượng chất thải chăn nuôi khoảng 73.090.133 tấn/năm
Trang 13Theo số liệu thống kê có 12% số trang trại có hệ thống xử lý chất thải, còn lại toàn bộ chất thải được thải trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, đất nghiêm trọng
Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp không đúng kỹ thuật Kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gà tại Hà Nội cho thấy, tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30 - 40 lần so với không khí bên ngoài
- Ta có bảng đưa ra các thông số đánh giá chất lượng nước thải:
Bảng 2.1 Các thông số đánh giá chất lượng nước thải
2.1.3 Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi
Nước thải chăn nuôi là một trong những loại nước thải rất đặc trưng, có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao bằng hàm lượng chất hữu cơ, cặn lơ lửng, N, P và sinh vật gây bệnh Nó nhất thiết phải được xử lý trước khi thải
ra ngoài môi trường Lựa chọn một quy trình xử lý nước thải cho một cơ sở chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào thành phần tính chất nước thải, bao gồm:
Trang 14a Cá chất hữu cơ và vô cơ
Trong nước thải chăn nuôi, hợp chất hữu cơ chiếm 70–80% gồm cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidratcarbon và các dẫn xuất của chúng có trong phân, thức ăn thừa Hầu hết các chất hữu cơ dễ phân hủy Các chất vô cơ chiếm 20–30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO4
c Vi sinh vật gây bệnh
Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
2.2.1 Tình hình ô nhiễm môi trường chất thải chăn nuôi tại Việt Nam
Hiện nay trên cả nước hiện có 135.437 trang trại chăn nuôi, tăng gấp 5 lần
so với năm 2001, trong đó miền Nam chiếm 64,4% và miền Bắc là 35,6% Chăn nuôi trang trại phát triển nhanh về cả số lượng, chủng loại và quy mô đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá đảm bảo nâng cao khả năng cạnh tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới
Chăn nuôi trang trại chủ yếu tập trung ở một số vùng trọng điểm như Đồng bằng Sông Cửu Long: 57.483 trang trại (TT), Đồng bằng Sông Hồng: 17.318 TT, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: 18.202 TT, Đông Nam bộ: 13.792 TT Các địa phương có số lượng TT nhiều là TP Hồ Chí Minh: 2.631, Đồng Nai: 1.264, Bình Định: 834, Thanh Hóa: 815, Trà Vinh: 789, Gia Lai: 787, Ninh Thuận: 690, Bình Thuận: 676, Hà Tây: 641,…Trong đó chủ yếu các trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm với các giống công nghiệp cao sản
và mang tính chất đầu tư thâm canh (Lê Viết Ly, 2009) [12]
Trang 15Bảng 2.2 Số trang trại phân theo địa phương
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009)[15]
Theo tổ chức FAO: Động vật nuôi thải ra 9% lượng khí CO2 toàn cầu, 37% lượng khí Methane (CH4) – khí có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần khí
CO2 Điều này có nghĩa là chăn nuôi gia súc đã được khẳng định là một tác nhân chính làm tăng hiệu ứng nhà kính Chăn nuôi gia súc còn đóng góp tới 64% khí Amoniac (NH3) – thủ phạm của những trận mưa axit Ngoài ra, nhu cầu thức ăn, nước uống, tập tính bầy đàn, nhu cầu bãi chăn thả của gia súc cũng đang được coi là một trong những tác nhân chính gây thoái hóa đất nông
nghiệp, ô nhiễm nguồn nước và mất cân bằng hệ sinh thái
Nguyên nhân được FAO nhận định là do nhu cầu thịt và sữa của con người đang ngày một tăng cao và đa dạng trong khi việc quy hoạch chăn nuôi lại tùy tiện, việc xử lý chất thải chăn nuôi không đồng bộ và yếu kém Tại Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra đang ngày một ở mức báo động Xã Trực Thái (Nam Định) có 91,13% hộ nuôi Kết quả mà cơ quan chức năng thu được là mức khi độc NH3, H2S cao hơn mức cho phép 4,7 lần, mức nhiễm khuẩn không khí trong chuồng nuôi trung bình là 18.675 vi sinh vật (cao hơn tiêu chuẩn của Nga 12 lần), nước thải nhiễm E.Coli và 25% số mẫu nhiễm trứng giun với mật độ 4.025 trứng/500ml nước thải Hàm lượng COD là 3.916 mg/L trong khi TCVN quy định mức COD trong chất thải chỉ
được phép từ 100 – 400 mg/lít
Trang 16Bảng 2.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế
phân theo ngành hoạt động
(Niên giám thống kê, 2009)[15]
Ô nhiễm do chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi lợn thì không chỉ làm hôi tanh không khí mà còn ảnh hưởng nặng nề tới nguồn nước và tài nguyên đất Dịch bệnh chưa khống chế, chăn thả tràn lan, chăn nuôi nhỏ lẻ và hầu như không có công nghệ chế biến chất thải là các nguyên nhân làm chăn nuôi là
ngành gây ô nhiễm môi trường lớn ở nước ta
Báo Nông nghiệp Việt Nam số 200, ngày 6/10/2006 đã có một bài phản
ánh nỗi niềm bức xúc của nông dân ở Hưng Nguyên – Nghệ An vì đàn bò và các gia súc của họ lâu nay vẫn béo mượt thì nay rụng lông, toét mắt, ghẻ lở, bán rẻ mấy cũng chẳng ai mua Nguyên nhân là do nguồn nước thải của Công ty cổ phần Giấy Sông Lam, ba cống thải ngày đêm hoạt động hết công suất đẩy dòng nước thải độc hại ấy thẩm thấu hết vào làng
Quy hoạch chăn nuôi còn lúng túng, việc xử lý hậu quả của các trang trại trước đây trót nằm trong khu dân cư như thế nào, hướng dẫn chăn nuôi nhỏ lẻ an toàn, xác định vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, bãi chăn thả, còn hết sức nan giải
Trang 17Bảng 2.4 Số lƣợng gia súc, gia cầm của Việt Nam Năm Trâu Bò Lợn Ngựa Dê, cừu Gia cầm
(Niên giám thống kê, 2009) [15]
- Tại Hà Nội, hiện nay phát triển chăn nuôi của thành phố chiếm trên 50% tỷ trọng trong nông nghiệp và đang trên đà tăng trưởng khá, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của bà con nông dân Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động chăn nuôi, giết mổ đã và đang gây ra ô nhiễm, ảnh hưởng đến môid trường sống, sức khỏe của cộng đồng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Hà Nội, hiện tại trên địa bàn thành phố có 1.223 trang trại chăn nuôi, nhưng chủ yếu là chăn nuôi tự phát, tận dụng, phân tán, nhỏ lẻ Trong đó, đến 80% cơ sở chăn nuôi xây dựng chuồng trại ngay trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm và con người Tuy nhiên, hiện nay việc đáng lo ngại nhất là dù chăn nuôi ở quy mô nhỏ hay lớn các loại chất thải trong chăn nuôi đa phần vẫn chưa được xử lý Chất thải trong chăn nuôi được phân ra làm 3 loại: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí bao
Trang 18gồm CO2, NH3… đều là những loại khí chính gây hiệu ứng nhà kính; trong khi đó ước tính ở Hà Nội có khoảng 1 triệu tấn/năm chất thải rắn được thải ra môi trường Chỉ một phần nhỏ của chất thải rắn được ủ để làm phân bón, một phần được dùng trực tiếp tưới cho hoa màu và nuôi cá Chất thải lỏng bao gồm nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng đa phần đều chảy trực tiếp ra hệ thống cống thoát nước chung trong khu dân cư
Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Phó phòng NN&PTNT huyện Thanh Oai cho biết, chăn nuôi ở Thanh Oai phát triển mạnh ở các xã Tân Ước, Thanh Mai, Thanh Cao Tuy nhiên, hiện tượng chuồng gia súc, gia cầm nằm ngay cạnh khuôn viên nhà ở, chen chúc trong khu dân cư không phải là điều hiếm gặp ở đây vì chăn nuôi hộ gia đình là cách người dân tận dụng các sản phẩm
dư thừa hằng ngày Tuy nhiên, chỉ cần một gia đình nuôi 5-10 con lợn không
vệ sinh chuồng trại, xử lý phân không hợp lý thì tất cả các hộ xung quanh phải cùng chịu hậu quả: nguồn nước, không khí bị ô nhiễm và nguy hiểm hơn là việc lây lan dịch bệnh rất nhanh Không chỉ có chăn nuôi nhỏ lẻ mà chăn nuôi quy mô lớn cũng không được cải thiện nhiều, tuy các trang trại này đã nằm tách biệt với khu dân cư nhưng công nghệ xử lý chất thải phần lớn vẫn là chôn lấp do thiếu kinh phí và công nghệ Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về các quy định pháp luật bảo vệ môi trường trong chăn nuôi còn rất hạn chế
- Tại Đồng Nai, theo ước tính của ngành môi trường, mỗi ngày có khoảng 5 tấn phân lợn, phân gà và 12.000 m3
nước thải chăn nuôi trên địa bàn thành phố Biên Hoà được thải trực tiếp ra sông Đồng Nai Các trại không có
hệ thống xử lí nước thải và tất cả đều được đổ ra dòng suối Săn Máu đã và đang dần giết chết dòng sông này, những bao phân tươi được đặt ngay trên đường đi, khiến cho môi trường không chỉ trong các khu chăn nuôi bị ô nhiễm nặng nề, mà còn gây mùi hôi thối nồng nặc ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân vùng lân cận Theo số liệu thống kê Biên Hoà hiện có khoảng 140.000 đầu lợn và 1 triệu con gia cầm được nuôi trong hơn 8000 hộ chăn nuôi qui mô lớn ở Tân Hoà, Tân Biên, Tân Phong nhưng trong đó chỉ có khoảng 15% số
Trang 19hộ sử dụng hầm Bioga để tận dụng chất thải làm nguồn năng lượng chất đốt,
còn lại đều thải vô tư ra môi trường xung quanh (Phương Liễu, 2008) [11]
- Tại thành phố Hồ Chí Minh theo Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), chất thải từ hệ thống chăn nuôi tập trung đang ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khoẻ con người Cụ thể, với chất thải rắn, tổng lượng phân tươi lưu trữ là 26%, sử dụng làm hầm Bioga 21%, thải ra đất và nguồn nước 19%, ủ 10% còn đối với chất thải lỏng, có tới 60% được thải trực tiếp ra đất hoặc nguồn nước, 12% là chất trực tiếp vào ao cá, trong khi đó chất thải chăn nuôi sử dụng làm phân bón cây trồng đang có chiều hướng giảm Do vậy, một nghiên cứu mới đây cho thấy, chất thải chăn nuôi có mức BOD cao hơn tiêu chuẩn cho phép 500mg/l, có chứa số lượng vi khuẩn E.coli và trứng ký sinh trùng ở mức cao không thể chấp nhận được Lượng vi khuẩn tăng nhanh trong nước ngầm , 100% mẫu rau xanh có sử dụng chất thải chăn nuôi làm phân bón đều có E.coli Kiểm tra thịt tại các chợ ở thành phố Hồ Chí Minh cho
thấy 2,2% mẫu bị nhiễm Salmonella và nhiễm E.coli (Lê Hằng, 2007) [6]
Quy mô chăn nuôi lợn nái và chăn nuôi lợn thịt được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.5 Qui mô chăn nuôi lợn nái của Việt Nam năm 2003
STT Quy mô (con) Số trang trại Tỉ lệ (%)
Trang 20Vùng có quy mô chăn nuôi lợn nái lớn nhất là Đông Nam Bộ có 20 TT với quy mô 250 - 500 con/TT và 16 TT với quy mô trên 500 con/TT; tiếp đến
là Đồng bằng sông Hồng có 10 TT với quy mô 250-500 con/TT và 11 TT với quy mô trên 500 con/TT; Đồng bằng sông Cửu Long có 5 TT với quy mô 250-500 con/TT
Bảng 2.6 Qui mô chăn nuôi lợn thịt của Việt Nam năm 2003
STT Quy mô (con) Số trang trại Tỉ lệ (%)
Quy mô lợn thịt phổ biến từ 100-200 con/TT, chiếm 75,5% đã cho thấy
về cơ bản chăn nuôi lợn TT còn ở quy mô nhỏ, TT hộ gia đình là chính Số
TT quy mô lớn hàng trăm nái hoặc hàng ngàn lợn thịt/TT còn rất ít Vùng có quy mô TT lớn nhất vẫn là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng
Với những số lượng trang trại như vậy nên hiện nay Việt Nam đang đứng trước một thực trạng đó là ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi từ các trang trại tập trung gây ra Chủ yếu là chất thải trong chăn nuôi lợn bao gồm phân, nuớc tiểu, chất độn chuồng, thức ăn rơi vãi và nước làm vệ sinh chuồng trại Không giống như phân bò hay phân của gia cầm khác, việc quản lí chất thải
trong chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn (Hồ Thị Kim Thoa và cs, 2002) [20]
Trang 212.2.2 Tình hình ô nhiễm môi trường trong các trại chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên
- Thái Nguyên hiện có 638 trang trại trên địa bàn tỉnh, tăng hơn 250 trang trại so với năm 2001, tập trung chủ yếu ở T.P Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình Trong đó có 9 trang trại trồng cây hằng năm, 53 trang trại trồng cây lâu năm, 234 trang trại chăn nuôi, 56 trang trại lâm nghiệp, 22
trang trại nuôi trồng thuỷ sản và 264 trang trại tổng hợp (Cục thống kê tỉnh
Thái Nguyên, 2009) [3]
- Tại nhiều địa phương, tình trạng ô nhiễm môi trường do các trang trại chăn nuôi lợn đang phổ biến và đáng lo ngại Thái Nguyên cũng là một điển đình trong các tỉnh có nhiều trang trại chăn nuôi lớn tập trung Tỉnh Thái Nguyên có khoảng gần 400 trang trại, trong đó chủ yếu là chăn nuôi lợn với qui mô chăn nuôi phổ biến từ 100 đến 400 con lợn thịt, 20 đến 120 con lợn nái ngoại, bò, gia cầm với qui mô chủ yếu từ 500 đến 1000 con
Bảng 2.7 Tổng số lượng lợn qua các năm Năm
Số lượng
Tỉ lệ % (so với cả nước)
Tỉnh Thái Nguyên
(nghìn con)
Cả nước (triệu con)
Trang 22- Huyện Phú Bình là một trong những địa phương của tỉnh Thái Nguyên tập trung nhiều trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm với tổng số đàn lợn có khi lên tới 35- 40 ngàn con Với gần 50 trang trại chăn nuôi lợn đang hoạt động này tuy có diện tích rộng nhưng chất thải từ chăn nuôi vẫn ảnh hưởng đến sức khoẻ và môi trường xung quanh là khá lớn
- Tại thị xã Sông Công, có thể kể đến một số trang trại như: TT của bà Phạm Thị Xuyến (Cải Đạn), Chu Thị Duyên (Vinh Sơn), Dương Văn Khang (Tân Quang), Trung tâm chăn nuôi Thắng Lợi thuộc hợp tác xã dịch vụ và Sản xuất nông nghiệp Sông Công,….Các trang trại này chủ yếu cung cấp lợn giống thương phẩm cho các tỉnh như: Bắc Giang, Hà Nội, Thái Nguyên và một số tỉnh lân cận, đồng thời cung cấp lợn xuất khẩu
- Tại Phổ Yên, số trang trại chăn nuôi lợn hiện nay là khá lớn, với tổng số trang trại hiện có là 60 trang trại, số đầu lợn vào khoảng hơn 14.000 con Tuy nhiên các trang trại này chủ yếu là lợn sinh sản và lợn thịt, số đầu lợn không quá lớn, khoảng duới 200 con/1 trại nên sự ô nhiễm chưa phải quá lớn và nghiêm trọng
Bảng 2.8 Số trang trại phân theo huyện, thành phố,
thị xã, tỉnh Thái Nguyên Đơn vị hành chính
cấp huyện
Số trang trại Năm 2003 Năm 2006 Năm 2008 Năm 2010
Trang 23- Tại Định Hoá, ban đầu cả huyện chỉ có 20 trang trại chăn nuôi Các trang trại này chủ yếu trồng rừng, nuôi trâu, bò, lợn với qui mô nhỏ, thu nhập thấp Từ sau năm 2000, khi Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện có chủ trương khuyến khích người dân phát triển kinh tế trang trại ở các hộ gia đình Tuy nhiên phát triển kinh tế trang trại ở các hộ gia đình cũng bắt đầu phát sinh nhiều khó khăn như hầu hết là dịch bệnh, ÔNMT gây khó chịu cho nhiều hộ gia đình xung quanh
Từ khi huyện phát triển thêm hơn 10 trang trại với qui mô lớn hơn thì môi trường ở đây đang ngày càng bị đe dọa và xuống cấp nghiêm trọng, mặc
dù trong các trang trại cũng đã bước đầu có những biện pháp giảm thiểu như xây bể bioga để tận dụng chất thải rắn, nước thải rửa chuồng Song do thiếu kĩ thuật trong thiết kế, xây dựng thiếu kinh phí mà hầu hết các hầm xử lí đều không còn sử dụng được hoặc có sử dụng được thì cũng không đủ đáp ứng được với số đầu lợn của trại trong việc xử lí
- Tại Thành phố Thái Nguyên (TPTN): Chăn nuôi lợn trên địa bàn thành phố những năm qua đã có những phát triển mạnh mẽ Theo số liệu thống kê đến hết năm 2008, tổng đầu lợn lên tới 53.450 con, sản lượng thịt đạt hơn 3
nghìn tấn, với 32 trang trại nuôi lợn nái và lợn thịt Tuy nhiên vấn đề nước thải
của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn thành phố đang rất đáng lo ngại, theo điều tra cho thấy chỉ có 80% nước thải của các trang trại này được qua xử lý
bằng hầm ủ Biogar [30], nhưng chất lượng của các hầm ủ này kém, công suất
nhỏ nên nước thải ra môi trường có thể vẫn còn gây ô nhiễm
Trong những năm gần đây, sản xuất chăn nuôi trên địa bàn T.P Thái Nguyên đã có những phát triển rõ rệt Tuy nhiên, do dịch bệnh xảy ra thường xuyên cùng với biến động của thị trường, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao… nên ngành chăn nuôi của thành phố đã gặp không ít khó khăn…
Trong những năm qua, để đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt 31,35% năm 2010, UBND T.P đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm như: Chương trình cải tạo,
Trang 24nâng cao tầm vóc, lai tạo đàn bò theo hướng chăn nuôi bò thịt; hỗ trợ đầu tư xây dựng mới trang trại tập trung chăn nuôi lợn ngoại và gia cầm nhằm phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, hiệu quả, an toàn dịch bệnh và phát triển bền vững Nhờ đó, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 7,06%/năm; chất lượng con giống tiếp tục được cải thiện mang lại giá trị kinh
tế cao, tăng thu nhập, tạo việc làm cho khoảng 1.200 lao động, với mức thu nhập bình quân từ 1,5 đến 2 triệu đồng/người/tháng Kinh tế trang trại phát triển cả về số lượng và quy mô, từ 15 trang trại chăn nuôi năm 2005 tăng lên
59 trang trại năm 2010 Trong đó có 18 trang trại chăn nuôi lợn, quy mô từ
100 đến 2.000 con; 38 trang trại chăn nuôi gia cầm, quy mô từ 2.000 đến 16.000 con Tính đến nay, tổng đàn gia súc, gia cầm có khoảng 780 nghìn con, tăng 126 nghìn con so với năm 2005, trong đó lợn tăng 12.000 con; gia cầm trên 154.000 con; riêng đàn trâu, bò giảm 1 nghìn con
Mặc dù mang lại giá trị kinh tế cao, tạo việc làm cho nhiều lao động, song việc phát triển chăn nuôi, đặc biệt là phát triển các mô hình trang trại vẫn còn khá nhiều hạn chế Bởi, hiện nay hầu hết các hộ dân chăn nuôi theo hướng tự phát, phân tán, quy mô chăn nuôi nhỏ, hiệu quả và hệ số quay vòng chăn nuôi thấp Do việc triển khai thực hiện quy hoạch và chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung xa khu dân cư còn nhiều khó khăn, do vậy các trang trại hiện nay chủ yếu ở gần khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường Mặt khác, khi có hiệu quả kinh tế thì nhiều thành phần kinh tế tập trung đầu tư vào chăn nuôi dẫn đến dư thừa sản phẩm, cung vượt quá cầu Cùng với đó, con giống chưa được người chăn nuôi quan tâm đúng mức nên phần nhiều được người dân chọn là những giống gia súc, gia cầm có năng suất thấp, ngoại trừ một số trang trại tập trung… Thời gian qua, do ảnh hưởng của dịch bệnh tai xanh, cúm gia cầm xảy ra cùng với biến động của thị trường kéo theo giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao, trong khi đó giá bán sản phẩm chăn nuôi trên thị trường lại lên xuống thất thường khiến cho ngành chăn nuôi gặp không ít khó khăn
Trang 25Tìm hiểu về những khó khăn trong chăn nuôi, chúng tôi đến trang trại chăn nuôi lợn của gia đình chị Vũ Thị Hường, ở xóm Tung, xã Tích Lương (T.P Thái Nguyên) Chị Hường cho biết: “Ngoài 50 con lợn nái sinh sản, trong chuồng của gia đình tôi luôn nuôi dao động khoảng 400 đến 450 con lợn
thương phẩm Chăn nuôi lợn, nhất là chăn nuôi theo hình thức trang trại lớn
như gia đình tôi, có thời điểm gặp rất nhiều khó khăn như khi lợn chuẩn bị xuất chuồng thì giá lợn hơi trên thị trường lại đột ngột xuống thấp Nhiều lần phải chịu hòa vốn, thậm chí là thua lỗ khi giá cả xuống quá thấp Trong khi
đó, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm thời gian qua diễn biến khá phức tạp như dịch bệnh tai xanh ở lợn, cúm gia cầm… ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Khi có dịch bệnh xảy ra, các gia đình có gia súc, gia cầm chết thường ngừng hoạt động chăn nuôi do không có vốn để tiếp tục đầu tư mua con giống Nếu tiếp tục chăn nuôi thì lượng gia súc, gia cầm cũng giảm đi nhiều Hoặc có những hộ thường xuyên chú trọng phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm nhưng vì tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nên vẫn gặp cảnh “dở khóc, dở cười” khi lợn, gà lăn ra chết hoặc phải mang đi tiêu huỷ
Không chỉ vậy, việc cắt điện luân phiên cũng khiến cho nhiều trang trại chăn nuôi trên địa bàn rơi vào tình cảnh khó khăn Theo bà Nguyễn Thị Thảo,
ở xóm Đức Hòa (Thịnh Đức) - hiện đang nhận nuôi lợn gia công cho Công ty
cổ phần Chăn nuôi Việt Nam thì: nuôi theo hình thức công nghiệp, lợn chịu nóng kém, việc cắt điện luân phiên đã làm ảnh hưởng lớn đến hệ thống làm mát, cung cấp nước uống cho lợn Với quy mô nuôi 2.000 con/lứa, do đó mỗi ngày mất điện Công ty phải bỏ ra 400 đến 500 nghìn đồng mua dầu chạy máy phát điện Vì chỉ ngưng các hệ thống trong nửa ngày là lợn không chịu được nóng sẽ sinh bệnh và có thể chết hàng loạt
Khi nói về giải pháp, định hướng để ngành chăn nuôi của thành phố phát triển theo hướng bền vững, đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Trưởng phòng Kinh
tế (T.P Thái Nguyên) cho biết: Thành phố cũng như ngành chức năng tập trung
Trang 26chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án về chăn nuôi; chủ động nguồn con giống tốt, an toàn dịch bệnh; tiếp tục thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, nâng cao khả năng sinh sản của đàn gia súc, gia cầm, đặc biệt là chú trọng đến số lượng và quy mô chăn nuôi lợn siêu nạc và gia cầm; khuyến khích phát triển chăn nuôi ở những vùng ngoại thành còn nhiều quỹ đất để dần xóa bỏ chăn nuôi trong vùng nội thành; di dời các cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư… Cùng với đó, thực hiện các biện pháp tăng cường phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm Đẩy mạnh áp dụng các mô hình chăn nuôi an toàn và xử lý chất thải chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học Một vấn đề rất quan trọng nữa là phát triển chăn nuôi phải gắn với thị trường chế biến và tiêu thụ sản phẩm ổn định, bền vững…
Bảng 2.9 Số lƣợng thịt lợn hơi xuất chuồng phân theo huyện,
Tổng 38.751 42.329 48.287 49.508 50.432
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2010) [16]
Trang 272.3 Các loài thực vật thuỷ sinh chính
- Để đối phó với những vấn đề ô nhiễm nguồn nước, phương pháp sinh học đã được biết từ lâu song mãi đến thế kỉ XIX mới được chú ý và thực hiện
ở một số nước
Về nguyên lí của phương pháp lọc sinh học là dựa trên quá trình hoạt động của vi sinh vật ở màng sinh học, oxy hoá các chất bẩn hữu cơ trong
nước (Lương Đức Phẩm, 2000) [17]
“ Trong đó thuỷ sinh thực vật đóng vai trò rất quan trọng ảnh hưởng
đến khả năng lọc sinh học” (Lê Hoàng Việt, 1998) [27]
Thuỷ sinh thực vật là các loài thực vật sinh trưởng trong môi trường nước, nó có thể gây bất lợi cho con người do việc phát triển nhanh và phân bố rộng của chúng Tuy nhiên lợi dụng chúng để xử lí nước thải, làm phân compost, thức ăn cho người, gia súc có thể giảm thiểu bất lợi gây ra bởi chúng còn thu thêm nhiều lợi nhuận
Các loại thuỷ sinh chính:
Thuỷ thực vật sống chìm: Loài thực vật này phát triển dưới mặt nước và
chỉ có thể phát triển được ở nguồn nước có đủ ánh sáng Chúng gây nên tác hại như làm tăng độ đục của nguồn nước, ngăn cản sự khuyếch tán của ánh sáng vào nước Do đó các loài thủy sinh thực vật này không hiệu quả trog việc làm sạch các chất thải
Thuỷ thực vật sống trôi nổi: Rễ của loại thực vật này không bám vào đất mà
lơ lửng trên mặt nước Nó trôi nổi trên mặt nước theo gió và theo dòng nước Rễ của chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào để phân huỷ các chất thải
Thuỷ thực vật sống nổi: Loài thực vật này có rế bám vào đất nhưng thân
và lá phát triển trên mặt nước Loại này thường sống ở những nơi có chế độ thuỷ triều ổn định
Trang 28Bảng 2.10 Một số thủy sinh thực vật tiêu biểu Loại Tên thông thường Tên khoa học
Bèo tai tượng Pistia stratiotes Salvinia Salvinia spp
Thuỷ sinh thực vật
sống nổi
Bảng 2.11 Nhiệm vụ của thuỷ sinh thực vật trong các hệ thống xử lí Phần cơ thể Nhiệm vụ
Rễ và/ hoặc thân
Là giá bám cho vi khuẩn phát triển Lọc và hấp thu chất rắn
Thân và/ hoặc lá ở mặt nước
hoặc phía trên mặt nước
Hấp thu ánh sáng mặt trời do đó cản trở sự phát triển của tảo
Làm giảm ảnh hưởng của gió lên bề mặt xử lí Làm giảm sự trao đổi giữa nước và khí quyển Chuyển ôxi từ lá xuống rễ
(Nguồn: Lê Văn Bình, 2007) [4]
Trang 29Thành phần hoá học: Bèo tây có thành phần hoá học theo tỉ lệ %: Nước 92,6; protit 2,9; glucit 0,9; xơ 22; tro 1,4; can xi 40,8 mg%; phốt pho 0,8 mg%; caroten 0,66 mg% và vitamin C 20 mg%
Bèo tây được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, làm nấm rơm, làm phân chuồng, dùng bèo trong y học, trong thủ công nghiệp, Đặc biệt bèo tây chống ô nhiễm nguồn nước như: Bèo làm sạch nước nơi chúng mọc, có khả năng làm giảm bớt ô nhiễm môi trường Chỉ cần 1/3 ha bèo mỗi ngày đủ để lọc 2.225 tấn nước bị ô nhiễm các chất thải sinh học và các hoá chất Bèo này còn loại được các kim loại nặng độc như thuỷ ngân, chì, bạc, vàng,
Qua thực nghiệm của nước ngoài, 1 ha mặt nước thả lục bình trong 24 giờ nó có thể hút được 34 Kg Na; 22 kg Ca; 17 kg P; 4 kg Mn; 2,1 kg Phenol; 89g Hg; 104g Al; 297g Kềm; 321g Stronti… khả năng hút kẽm rất mạnh và còn có khả năng phân giải phenol và cyanua…
Trang 30có kích thước nhỏ được tạo ra sau khi hoa được thụ phấn Loài này có thế sinh sản vô tính, các cây mẹ và cây con liên kết với nhau bằng một thân bò ngắn, tạo ra các cụm bèo cái dày đặc
Thành phần hoá học: Bèo cái chứa 93,13% nước; 6,87% chất khô; 5,09% chất hữu cơ; 0,63% protit thô; 0,29% chất béo thô; 1,24% cellulos; 2,93% chất không chứa nitrogen; 1,78% tro; 0,185% phốt pho; 1,8% can xi Trong tro hầu hết là muối kali (75% kalichlorua, 25% kali sunfat) Toàn cây bèo cái có một chất gây ngứa tan trong nước
Bèo cái thông thường được sử dụng trong các ao nuôi cá ở trong các vùng nhiệt đới để tạo nơi trú ẩn cho cá bột và cá nhỏ Bèo cái cạnh tranh thức ăn với tảo trong nước vì thế nó có ích trong việc ngăn ngừa sự bùng
nổ của loài này
Một số tác giả cho rằng cây bèo cái có tác dụng hấp phụ các kim loại nặng và một số chất dinh dưỡng trong môi trường nó Vì thế họ cho rằng nó
có tính chất chống ô nhiễm nước đặc biệt quan trọng cho các vùng đô thị, vùng nông thôn, ở một số quốc gia đang phát triển có hệ thống dẫn và xử lí nước thải còn kém
2.3.3 Rau ngổ
Rau ngổ hay còn gọi là rau mò om, có tên khoa học là Limnophila aromatica, thuộc loại hoa mõm sói Scrophulariaceae Là cây cỏ, mọc bò, thân rỗng giòn, dài từ 20 đến 30 cm, có nhiều lông, mùi rất thơm, lá nhẵn, mọc bò, không cuống, hơi ôm thân, phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa, hoa mọc đơn độc ở nách lá
Thành phần hoá học: Nước 93% và protit 2,1%; glucid 1,2%; cellulose 2,1%; vitamin B 0,29% và một ít vitamin C, có ít tinh dầu
Rau ngổ được dùng như các loại rau gia vị, ăn uống, chế biến được nhiều món Theo Đông y, rau có tác dụng kháng viêm, lợi tiểu, tiêu độc, chữa băng huyết, trị bệnh ngoài da,…
Do thân có nhiều lông và thường mọc ở ao hồ bị nhiễm bẩn nên hấp thu nhiều vi khuẩn, trong đó có đến 90% là vi khuẩn đường ruột (coliforms) Thí
Trang 31nghiệm cho thấy sau khi rửa sạch tổng số vi khuẩn chỉ giảm được 10%, nồng
độ coliform giảm không dưới 5% Ngay cả khi ngâm chloramine nồng độ 0,3 mg/l, ngâm thuốc tím K2MnO4 với nồng độ 1mg/l trong 30 phút cũng chỉ hạ được nồng độ vi khuẩn xuống không quá 10% Do vậy rau ngổ có khả năng làm giảm bớt sự nhiễm bẩn của các chất trong nguồn nước thải hoặc nguồn nước đang bị ô nhiễm
Phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới ở Việt Nam, nó là một loại rau rất phổ thông, thường được dùng cho các món ăn
Phân loại:
- Rau muống ruộng
- Rau muống phao
- Rau muống bè
- Rau muống thúng
Thành phần hoá học: Rau muống có 92% nước; 3,2% protit; 2,5% gluxit; 1% xenluloza; 1,3% tro, hàm lượng muối khoáng cao: can xi, phốt pho, sắt Vitamin có caroten, vitamin C, vitamin B1; vitamin B2
2.4 Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về xử lý nước thải chăn nuôi
Trong những năm gần đây, các nước cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ
để cải thiện việc xử lý chất thải như: hỗ trợ kinh phí xây dựng hầm biogas; tận dụng nguồn chất thải để nuôi trùn quế; sử dụng chất thải chăn nuôi cho ngành trồng trọt… Một số biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi có thể được áp dụng như sau:
Trang 322.4.1 Các nước trên thế giới
Ở Châu Á, các nước như: Trung Quốc, Thái Lan,… là những nước có ngành chăn nuôi công nghiệp lớn trong khu vực nên rất quan tâm đến vấn đề
xử lý nước thải chăn nuôi
Nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tìm ra nhiều công nghệ xử lý nước thải thích hợp như là:
Ở Nga các nhà nghiên cứu cũng nghiên cứu xử lý nước thải phân lợn, phân bò dưới các điều kiện ưa lạnh và ưa nóng trong điều kiện khí hậu ở Nga
Một số tác giả Úc cho rằng chiến lược giải quyết vấn đề xử lý nước thải chăn nuôi lợn là sử dụng kỹ thuật SBR (sequencing batch reactor) Ở Ý đối với các loại nước thải giàu Nitơ và Phốt pho như nước thải chăn nuôi lợn thì các phương pháp xử lý thông thường không thể đạt được các tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng về Nitơ và phôtpho trong nước ra sau xử lý Công nghệ
xử lý nước thải chăn nuôi giàu chất hữu cơ ở Ý đưa ra là SBR có thể giảm trên 97% nồng độ COD, Nitơ, Phốt pho
Nhận xét chung về công nghệ xử lý nước thải giàu chất hữu cơ sinh học trên thế giới là áp dụng tổng thể và đồng bộ các thành tựu kỹ thuật lên men yếm khí, lên men hiếu khí và lên men thiếu khí, nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Trên cơ sở đó có thể đề xuất ra những giải pháp kỹ thuật phù hợp với từng điều kiện sản xuất cụ thể Sơ đồ khái quát sau đây là cơ sở lựa chọn mô hình xử lý thích hợp
Trang 33Hình 2.1 Sơ đồ tổng quát xử lý nước thải giàu chất hữu cơ sinh học
2.4.2 Ở Việt Nam
Ngành chăn nuôi ở nước ta những năm gần đây đã và đang phát triển nhanh chóng về cả chất lượng và quy mô Tuy nhiên, chăn nuôi hộ gia đình nhỏ lẻ cũng như trại chăn nuôi lớn việc quản lý và sử dụng các nguồn chất thải từ chăn nuôi còn nhiều bất cập Một số trang trại lớn đã có những biện pháp xử lý nguồn chất thải chăn nuôi Trong khi đó, việc xử lý chất thải ở một
số trang trại chưa được quan tâm Đặc biệt, chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình việc
xử lý chất thải hầu như còn bị thả nổi Một trong những nguyên nhân là do người chăn nuôi chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc xử lý nguồn chất thải; kinh phí phục vụ cho việc xử lý chất thải còn thấp; luật xử lý chất thải còn chưa đồng bộ và khó áp dụng; chăn nuôi nhỏ lẻ cũng là một trong những nguyên nhân làm việc quản lý và xử lý chất thải còn gặp nhiều khó khăn;…
Lọc hiếu khí
và thiếu khí
RBC Lọc hiếu khí AEROTANK
Hồ thực vật thủy sinh
2) 99% mầm bệnh bị
diệt 3)N,P,K còn nguyên
1) N, P, K và các loại yếu tố gây độc 2) Tiếp tục giảm COD và BOD
Trang 34Nhiều nguyên cứu trong lĩnh vực xử lý nước thải chăn nuôi lợn đang được hết sức quan tâm vì mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, đồng thời với việc tạo ra năng lượng mới Các nghiên cứu về xử lý nước thải chăn nuôi lợn ở Việt Nam đang tập trung vào hai hướng chính, hướng thứ nhất là sử dụng các thiết bị yếm khí tốc độ thấp như bể lên men tạo khí Biogas kiểu Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, hoặc dùng các túi PE Phương hướng thứ nhất nhằm mục đích xây dựng kỹ thuật xử lý yếm khí nước thải chăn nuôi lợn trong các hộ gia đình chăn nuôi lợn với số đầu lợn không nhiều Hướng thứ hai là xây dựng quy trình công nghệ và thiết bị tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ nhằm áp dụng trong các xí nghiệp chăn nuôi mang tính chất công nghiệp Trong các nghiên cứu về quy trình công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi lợn công nghiệp đã đưa ra một số kiến nghị sau:
Công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi công nghiệp có thể tiến hành như sau: (1) xử lý cơ học: lắng 1; (2) xử lý sinh học: bắt đầu bằng sinh học kị khí UASB, tiếp theo là sinh học hiếu khí (Aerotank hoặc hồ sinh học); (3) khử trùng trước khi thải ra ngoài môi trường
Nhìn chung những nghiên cứu của chúng ta đã đi đúng hướng, tiếp cận được công nghệ thế giới đang quan tâm nhiều Tuy nhiên số lượng nghiên cứu
và chất lượng các nghiên cứu của chúng ta còn cần được nâng cao hơn, nhằm nhanh chóng được áp dụng trong thực tế sản xuất
2.4.3 Các phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi lợn
Việc xử lý nước thải chăn nuôi lợn nhằm giảm nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải đến một nồng độ cho phép có thể xả vào nguồn tiếp nhận Việc lựa chọn phương pháp làm sạch và lựa chọn quy trình xử lý nước phụ thuộc vào các yếu tố như:
Các yêu cầu về công nghệ và vệ sinh nước
Lưu lượng nước thải
Các điều kiện của trại chăn nuôi
Hiệu quả xử lý
Trang 35Đối với nước thải chăn nuôi, có thể áp dụng các phương pháp sau :
Mục đích là tách chất rắn, cặn, phân ra khỏi hỗn hợp nước thải bằng cách thu gom, phân riêng Có thể dùng song chắn rác, bể lắng sơ bộ để loại bỏ cặn thô, dễ lắng tạo điều kiện thuận lợi và giảm khối tích của các công trình xử lý tiếp theo Ngoài ra có thể dùng phương pháp ly tâm hoặc lọc Hàm lượng cặn
lơ lửng trong nước thải chăn nuôi khá lớn (khoảng vài ngàn mg/L) và dễ lắng nên có thể lắng sơ bộ trước rồi đưa sang các công trình xử lý phía sau
Sau khi tách, nước thải được đưa sang các công trình phía sau, còn phần chất rắn được đem đi ủ để làm phân bón
Nước thải chăn nuôi còn chứa nhiều chất hữu cơ, chất vô cơ dạng hạt có kích thước nhỏ, khó lắng, khó có thể tách ra bằng các phương pháp cơ học thông thường vì tốn nhiều thời gian và hiệu quả không cao Ta có thể áp dụng phương pháp keo tụ để loại bỏ chúng Các chất keo tụ thường sử dụng là phèn nhôm, phèn sắt, phèn bùn,… kết hợp với polymer trợ keo tụ để tăng quá trình keo tụ
Nguyên tắc của phương pháp này là: cho vào trong nước thải các hạt keo mang điện tích trái dấu với các hạt lơ lửng có trong nước thải (các hạt có nguồn gốc silic và chất hữu cơ có trong nước thải mang điện tích âm, còn các hạt nhôm hidroxid và sắt hidroxi được đưa vào mang điện tích dương) Khi thế điện động của nước bị phá vỡ, các hạt mang điện trái dấu này sẽ liên kết lại thành các bông cặn có kích thước lớn hơn và dễ lắng hơn
Trang 36Theo nghiên cứu của Trương Thanh Cảnh (2001) tại trại chăn nuôi lợn 2/9: phương pháp keo tụ có thể tách được 80-90% hàm lượng chất lơ lửng có trong nước thải chăn nuôi lợn
Ngoài keo tụ còn loại bỏ được P tồn tại ở dạng PO4
do tạo thành kết tủa AlPO4 và FePO4
Phương pháp này loại bỏ được hầu hết các chất bẩn có trong nước thải chăn nuôi, tuy nhiên chi phí xử lý cao Áp dụng phương pháp này để xử lý nước thải chăn nuôi là không hiệu quả về mặt kinh tế
Ngoài ra, tuyển nổi cũng là một phương pháp để tách các hạt có khả năng lắng kém nhưng có thể kết dính vào các bọt khí nổi lên Tuy nhiên chi phí đầu tư, vận hành cho phương pháp này cao, cũng không hiệu quả về mặt kinh tế đối với các trại chăn nuôi
Phương pháp này dựa trên sự hoạt động của các vi sinh vật có khả năng phân hủy các chất hữu cơ Các vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng Tùy theo nhóm vi khuẩn sử dụng là hiếu khí hay kỵ khí mà người ta thiết kế các công trình khác nhau Và tùy theo khả năng về tài chính, diện tích đất mà người ta có thể dùng
hồ sinh học hoặc xây dựng các bể nhân tạo để xử lý
Trang 37* Phương pháp xử lý kỵ khí
Sử dụng vi sinh vật kỵ khí, hoạt động trong điều kiện yếm khí không hoặc
có lượng O2 hòa tan trong môi trường rất thấp, để phân hủy các chất hữu cơ
Bốn giai đoạn xảy ra đồng thời trong quá trình phân hủy kỵ khí :
- Thủy phân : Trong giai đoạn này, dưới tác dụng của enzyme do vi khuẩn tiết ra, các phức chất và các chất không tan (như polysaccharide, protein, lipid) chuyển hóa thành các phức chất đơn giản hơn hoặc chất hòa tan (như đường, các acid amin, acid béo)
- Acid hóa : Trong giai đoạn này, vi khuẩn lên men chuyển hóa các chất hòa tan thành chất đơn giản như acid béo dễ bay hơi, rượu, acid lactic, methanol, CO2, H2, NH3, H2S và sinh khối mới
- Acetic hóa : Vi khuẩn acetic chuyển hóa các sản phẩm của giai đoạn acid hóa thành acetat, H2, CO2 và sinh khối mới
- Methane hóa : Đây là giai đoạn cuối của quá trình phân hủy kỵ khí Acid acetic, H2, CO2, acid formic và methanol chuyển hóa thành methane,
CO2 và sinh khối mới
* Hồ sinh học
Người ta có thể ứng dụng các quy trình tự nhiên trong các ao, hồ để xử
lý nước thải Trong các hồ, hoạt động của vi sinh vật hiếu khí, kỵ khí, quá trình cộng sinh của vi khuẩn và tảo là các quá trình sinh học chủ đạo Các quá trình lý học, hóa học bao gồm các hiện tượng pha loãng, lắng, hấp phụ, kết tủa, các phản ứng hóa học … cũng diễn ra tại đây Việc sử dụng ao hồ để xử
lý nước thải có ưu điểm là ít tốn vốn đầu tư cho quá trình xây dựng, đơn giản trong vận hành và bảo trì Tuy nhiên, do các cơ chế xử lý diễn ra với tốc độ tự nhiên (chậm) do đó đòi hỏi diện tích đất rất lớn Hồ sinh học chỉ thích hợp với nước thải có mức độ ô nhiễm thấp Hiệu quả xử lý phụ thuộc sự phát triển của
vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí, tùy nghi, cộng với sự phát triển của các loại vi nấm, rêu, tảo và một số loài động vật khác nhau
Trang 38Được sử dụng đối với chất thải ở dạng lỏng Có thể kết hợp nuôi cá và dùng một số loại cây thủy sinh như bèo tây, rau muống…Các yếu tố này làm sạch nước thải chăn nuôi
Nước thải từ các trại chăn nuôi chứa rất nhiều nitơ, phốt pho và những hợp chất vô cơ có thể hoà tan được Rất khó tách những chất thải này khỏi nước bằng cách quét rửa hay lọc thông thường Tuy nhiên một số loại cây thủy sinh như bèo lục bình, cỏ muỗi nước có thể xử lý nước thải, vừa ít tốn kinh phí lại thân thiện với môi trường
- Cây muỗi nước (còn gọi cây cần tây nước) là loại bản địa của vùng Đông Nam Á, thân và lá của nó có thể ăn sống hoặc chín như một loại rau Nó sinh sản theo cách phân chia rễ và sinh trưởng tốt trong môi trường nước nông cho tới 20cm
- Cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) có nguồn gốc Nam Mỹ, sinh trưởng
và phát triển nhanh, khoẻ và nổi trên mặt nước
Nước thải từ các chuồng gia súc trước tiên cho chảy vào bể lắng, để chất thải rắn lắng xuống đáy Sau vài ngày cho nước thải trong chảy vào bể
mở có bèo lục bình hoặc cỏ muỗi nước Mặt nước trong bể được cây che phủ (mật độ khoảng 400 cây/bể) Nếu là bèo lục bình, bể có thể làm sâu tuỳ ý, đối với cỏ muỗi nước thì để nước nông một chút, độ sâu bể xử lý khoảng 30cm
Cỏ muỗi nước cần thời tiết mát mẻ, còn bèo lục bình phù hợp với thời tiết ấm Kích cỡ của bể tuỳ thuộc vào lượng nước thải cần được xử lý Ví dụ, chất thải của 10 con gia súc vào khoảng 456 lít, sẽ cần bể mỗi cạnh 6m, sâu 0,5m Bể phải
có tổng khối lượng 18m3
và diện tích bề mặt 36m2 Bể có thể chứa nước thải chuồng nuôi khoảng 30 ngày Nước thải được giữ trong bể xử lý 10 ngày Thời gian này, lượng phốt pho trong nước giảm khoảng 57 - 58%, trong khi 44% lượng nitơ được loại bỏ BOD5 (là phương pháp xác định mức độ vật chất hữu cơ trong nước) Trong thời gian giảm xử lý 10 ngày, BOD5 giảm khoảng 80 - 90% Những biện pháp xử lý nước thải theo cách này đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu Nước thải ra sông hồ, suối một cách an toàn mà không cần xử lý thêm
Trang 39Ngoài ra, các cây thuỷ sinh này có thể thu hoạch và dùng làm phân hữu
cơ Bản thân chúng có thể trực tiếp làm phân xanh hoặc phân trộn
Hệ hồ sinh học có thể phân loại như sau:
(1) Hồ hiếu khí (Aerobic Pond); (2)Hồ tùy nghi (Facultative Pond); (3)
Hồ kỵ khí (Anaerobic Pond); (4) Hồ xử lý bổ sung
Thực vật nước thuộc loài thảo mộc, thân mềm Quá trình quang hợp của các loài thủy sinh hoàn toàn giống các thực vật trên cạn Vật chất có trong nước
sẽ được chuyển qua hệ rễ của thực vật nước và đi lên lá Lá nhận ánh sáng mặt trời để tổng hợp thành vật chất hữu cơ Các chất hữu cơ này cùng với chất khác xây dựng nên tế bào và tạo ra sinh khối Thực vật chỉ tiêu thụ các chất vô cơ hòa tan Vi sinh vật sẽ phân hủy các hợp chất hữu cơ và chuyển chúng thành các chất và hợp chất vô cơ hòa tan để thực vật có thể sử dụng chúng để tiến hành trao đổi chất Quá trình vô cơ hóa bởi VSV và quá trình hấp thụ các chất
vô cơ hòa tan bởi thực vật nước tạo ra hiện tượng giảm vật chất có trong nước
Vì vậy người ta ứng dụng thực vật nước để xử lý nước thải
Vô cơ hóa Quang hợp
Các chất hữu cơ Các chất vô cơ hòa tan Sinh khối thực vật
Sinh khối vi sinh vật
f Các biện pháp khác
Các biện khác như đốt (rác, vật nuôi chết), làm lạnh (khí thải), pha
loãng để làm nước tưới, dùng hóa chất, men sinh học, dùng làm thức ăn cho các loại vật nuôi khác (nuôi trùn, …)
Đã có rất nhiều nghiên cứu, ứng dụng về xử lý ô nhiễm môi trường được thực hiện trên cả nước Làm sao để các biện pháp giải quyết đến được tay người dân, phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân nông thôn? Câu hỏi này đã được các nhà nghiên cứu khoa học giải quyết và đưa ra rất nhiều giải pháp
Trang 40Chế phẩm zeolite làm phụ gia thức ăn cho lợn và gà vì khi được trộn vào thức ăn chế phẩm sẽ hấp phụ các chất độc trong cơ thể vật nuôi, tăng khả năng kháng bệnh, kích thích tiêu hóa và tăng trưởng
+ Dung dịch điện hoạt hóa Anôlít:
Trong tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 vẫn tiếp tục có khả năng tái bùng phát trở lại, đe dọa phát sinh thành dịch bệnh ở người, Viện Công nghệ Môi trường phối hợp với Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cục Thú
y, Trung tâm kiểm tra vệ sinh Thú y TW1, Viện Chăn nuôi quốc gia đã nghiên cứu và khảo nghiệm thành công khả năng sử dụng dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít làm chất khử trùng trong chăn nuôi
Dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít đã được áp dụng tại nhiều nước tiên tiến như một chất khử trùng hiệu quả cao và "thân thiện với môi trường" Dung dịch này có khả năng khử trùng nước sinh hoạt, bảo quản nông sản, chế biến thủy sản, sản xuất tôm giống, khử trùng trong các cơ sở y tế, chăn nuôi
Kết quả khảo sát khả năng khử trùng các dụng cụ chăn nuôi, giết mổ gia cầm như máng uống nước, bàn giết mổ, thớt và rổ đựng của dung dịch Anôlít, cho thấy hiệu lực khử trùng cũng giống như các chất khử trùng phổ biến khác,