ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀO THỊ THU HÀ THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “QUANG HÌNH HỌC” SGK VẬT LÝ 11 CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC C
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO THỊ THU HÀ
THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “QUANG HÌNH HỌC” SGK VẬT LÝ 11 CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA
HỌC SINH TRONG HỌC TẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO THỊ THU HÀ
THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “QUANG HÌNH HỌC” SGK VẬT LÝ 11 CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA
HỌC SINH TRONG HỌC TẬP
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔ VĂN BÌNH
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào khác
Thái nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả
Đào Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học PGS
TS Tô Văn Bình đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Đối với tôi thầy luôn là tấm gương sáng về tinh thần làm việc không mệt mỏi, lòng hăng say với khoa học, lòng nhiệt tình quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa sau đại học, khoa Vật
lí, các thầy cô giáo giảng dạy cùng toàn thể các bạn học viên lớp cao học K.17 trường ĐHSP - ĐHTN đã tận tình giảng dạy, góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo của các trường THPT Chuyên Thái Nguyên, THPT Đồng Hỷ, THPT Dương Tự Minh, THPT Ngô Quyền đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Thái nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả
Đào Thị Thu Hà
Trang 5NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
THPT : Trung học phổ thông
TTC : Tính tích cực
TNSP : Thực nghiệm sư phạm
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu 3
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
IV Giả thuyết khoa học 3
V Nhiệm vụ nghiên cứu 3
VI Phương pháp nghiên cứu 4
VII Giới hạn của đề tài 4
VIII Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP 5
1.1 Dạy học hướng vào học sinh 5
1.1.1 Nguồn gốc của dạy học hướng vào học sinh 5
1.1.2 Bản chất của dạy học hướng vào học sinh 7
1.1.3 Đặc điểm của dạy học hướng vào học sinh 7
1.1.3.1 Về mục tiêu dạy học 7
1.1.3.2 Về nội dung dạy học 8
1.1.3.3 Về phương pháp dạy học 8
1.1.3.4 Về phương tiện và hình thức tổ chức dạy học 9
1.1.3.5 Về đánh giá quá trình dạy học 10
1.2 Phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh 11
1.2.1 Sự cần thiết phải phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh 11
1.2.1.1 Tính tích cực trong học tập vật lý của học sinh 11
1.2.1.2 Tính tự lực trong học tập vật lý của học sinh 13
Trang 71.2.2 Biểu hiện của tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh 14
1.2.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh 15
1.2.3.1 Xây dựng nhóm học tập và tinh thần đồng đội cho học sinh 15
1.2.3.2 Thiết kế các loại phiếu học tập 15
1.2.3.3 Tạo bầu không khí học tập thích hợp 16
1.2.3.4 Kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức 17
1.2.3.5 Lựa chọn phương pháp và thủ thuật giảng giải 19
1.2.3.6 Sử dụng sách giáo khoa 20
1.2.3.7 Sử dụng thí nghiệm vật lý 22
1.2.3.8 Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý 24
1.2.3.9 Giải bài tập vật lý 26
1.2.3.10 Kiểm tra đánh giá sự lĩnh hội 29
1.2.3.11 Hướng dẫn cách xây dựng câu trả lời 31
1.2.3.12 Thực hiện công việc ở nhà 32
1.3 Các bước thiết kế tiến trình hoạt động dạy học kiến thức theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực hoạt động nhận thức của học sinh 34
1.3.1 Xác định mục tiêu yêu cầu của tiết học 34
1.3.2 Xác định cấu trúc nội dung và logic xây dựng kiến thức 36
1.3.3 Xác định các hoạt động dạy và hoạt động học 36
1.3.4 Thiết kế các phương tiện giảng dạy - học tập và học liệu 37
1.3.5 Thiết kế tổng kết và hướng dẫn học tập 38
1.3.6 Thiết kế môi trường học tập 38
1.3.7 Xác định tiến trình hoạt động DH cụ thể 39
1.4 Thiết kế tiến trình dạy học một bài học vật lý 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
Trang 8Chương 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI
HỌC PHẦN "QUANG HÌNH HỌC” LỚP 11 CƠ BẢN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ
LỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP 44
2.1 Phân tích cấu trúc nội dung của phần "quang hình học” lớp 11 cơ bản 44
2.1.1 Nội dung của phần "Quang hình học" lớp 11 Cơ bản 44
2.1.2 Phân tích cấu trúc của phần "Quang hình học" lớp 11 Cơ bản 44
2.2 Điều tra thực trạng dạy học phần"quang hình học” lớp 11 cơ bản THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong học tập 47
2.2.1 Mục đích điều tra 47
2.2.2 Kết quả điều tra 47
2.3.1 Tiến trình dạy học bài"Khúc xạ ánh sáng” 50
2.3.1.1 Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức hiện tượng "khúc xạ”, "định luật khúc xạ” và khái niệm "chiết suất” 50
2.3.1.2 Xác định mục tiêu dạy học bài "Khúc xạ ánh sáng” 54
2.3.1.3 Xác định các công việc cần chuẩn bị nhằm hỗ trợ việc dạy bài "Khúc xạ ánh sáng” 54
2.3.1.4 Xây dựng các tình huống vật lý dạy học bài"Khúc xạ ánh sáng” 55
2.3.1.5 Tổ chức hoạt động dạy học bài"Khúc xạ ánh sáng” 56
2.3.2 Tiến trình dạy học bài "Phản xạ toàn phần” 64
2.3.2.1 Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức hiện tượng "phản xạ toàn phần”, "điều kiện xảy ra phản xạ toàn phần”, " cách tính góc giới hạn phản xạ toàn phần” 64
2.3.2.2 Xác định mục tiêu dạy học bài "Phản xạ toàn phần” 66
2.3.2.3 Xác định các công việc cần chuẩn bị nhằm hỗ trợ việc dạy học bài "Phản xạ toàn phần” 66
2.3.2.4 Xây dựng các tình huống vật lý dạy học bài"Phản xạ toàn phần” 66
2.3.2.5 Tổ chức hoạt động dạy học bài "Phản xạ toàn phần” 67
Trang 92.3.3 Tiến trình dạy học bài "Thấu kính” 74
2.3.3.1 Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức "Thấu kính” 74
2.3.3.2 Xác định mục tiêu dạy học bài "Thấu kính” 79
2.3.3.3 Xác định các công việc cần chuẩn bị để hỗ trợ việc dạy học bài "Thấu kính” 79
2.3.3.4 Xây dựng các tình huống vật lý dạy học bài"Thấu kính” 80
2.3.3.5 Tổ chức hoạt động dạy học bài "Thấu kính” 82
2.3.4 Tiến trình dạy học bài "Kính lúp” 86
2.3.4.1 Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức "Kính lúp” 86
2.3.4.2 Xác định mục tiêu dạy học bài "Kính lúp” 88
2.3.4.3 Xác định các công việc cần chuẩn bị nhằm hỗ trợ việc dạy học bài "Kính lúp” 89
2.3.4.4 Xây dựng các tình huống vật lý dạy học bài"Kính lúp” 89
2.3.4.5 Tổ chức họat động dạy học bài "Kính lúp” 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 96
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 98
3.1 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp của thực nghiệm sư phạm (TNSP) 98
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 98
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 98
3.1.3 Đối tượng và cơ sở TNSP 98
3.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 100
3.1.5 Ước lượng các đại lượng đặc trưng cho TNSP 100
3.1.5.1 Đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh qua các biểu hiện trong quá trình hoạt động nhận thức 100
3.1.5.2 Đánh giá TTC, tự lực của HS qua kết quả các bài kiểm tra 101
Trang 103.2 Tiến hành thực nghiệm 102
3.2.1 Chuẩn bị 102
3.2.2 Tiến hành hoạt động trên lớp 103
3.3 Kết quả và xử lý kết quả TNSP 104
3.3.1 Các kết quả của việc phát triển tính tích cực và tính tự lực học tập của học sinh trong quá trình hoạt động nhận thức 104
3.3.2 Các kết quả của việc phát triển tính tích cực và tính tự lực học tập của học sinh qua các bài kiểm tra 105
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109
KẾT LUẬN 110
KIẾN NGHỊ 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Chất lượng học tập của các nhóm TN và ĐC 99
Bảng 3.2: Kết quả bài kiểm tra 105
Bảng 3.3: Bảng thống kê các điểm số (Xi) của bài kiểm tra 105
Bảng 3.4 Xếp loại bài kiểm tra 106
Bảng 3.5 Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra 106
Bảng 3.6 Các tham số thống kê của bài kiểm tra 108
Trang 12Để đáp ứng những yêu cầu đó, ngành GD&ĐT đã và đang từng bước đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp dạy học, trong đó đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy và học nhằm đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Hội nghị lần thứ hai BCH TW Đảng
CSVN khoá VIII đã nêu ra: "Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là
nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi " Hội nghị cũng đã chỉ rõ:"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học " Tuy nhiên trong
thực tế giảng dạy ở trường phổ thông trong những năm qua vẫn còn chậm đổi mới Phương pháp dạy học vẫn xoay quanh, thầy đọc - trò ghi có xen kẽ vấn đáp, giải thích, minh hoạ là chính GV không cố gắng tổ chức cho HS hoạt động nhận thức Các tiết dạy ít sử dụng thí nghiệm vì sợ không thành công và mất nhiều thời gian để chuẩn bị cũng như thực hiện Kiểu dạy học như vậy không phát huy được TTC của học sinh, làm cho khả năng tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu của học sinh bị hạn chế
Trang 13Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và để góp phần khắc phục những tồn tại về phương pháp dạy học như nêu trên, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực, tự chủ của học sinh trong dạy học Vật lý Về nghiên cứu lý luận có:
"Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý ở
trường phổ thông" Nguyễn Đức Thâm - Nguyễn Ngọc Hưng (1999)
"Chiến lược dạy học giải quyết vấn đề Tổ chức, định hướng hoạt động
tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề và tư duy khoa học cho học sinh" Phạm
Hữu Tòng (2001)
"Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động
học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học" Phạm Hữu Tòng (2004)
Về nghiên cứu vận dụng lý luận dạy học ở phổ thông có:
"Thiết kế nội dung và tiến trình hoạt động dạy học chương - Động học
chất điểm - Vật lý lớp 10- THPT theo định hướng phát triển hoạt động nhận
thức tích cực tự chủ của học sinh" Thân Thị Ngọc Tâm - ĐHSPHN (2006)
"Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học một số kiến thức về lực ma sát
theo SGK Vật lý lớp 10 thí điểm ban KHTN nhằm phát huy tính tích cực, tự
chủ của học sinh trong học tập" Nguyễn Thị Hương - ĐHSPHN (2004)
"Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THPT với sự hỗ trợ
của máy vi tính và phần mềm dạy học" Nguyễn Thị Nga- ĐHSPTN (2002)
Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu thiết kế tiến trình dạy học (một số kiến thức) thuộc chương" Quang hình học" SGK Vật lý 11 cơ bản
Nghiên cứu SGK vật lý lớp 11cơ bản, chúng tôi nhận thấy chương" Quang hình học" có nội dung kiến thức phong phú và tương đối trừu tượng với học sinh, vì vậy cũng gây nhiều khó khăn cho việc dạy và học Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học
vật lý chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến
thức chương"Quang hình học" SGK Vật Lý 11 cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập"
Trang 14II Mục đích nghiên cứu
Tìm giải pháp xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức thuộc chương "Quang hình học" (Vật lý 11 cơ bản THPT) nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức
III Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học ở GV và HS trong giờ vật lý
Nội dung một số kiến thức thuộc chương"Quang hình học" theo SGK Vật lý 11 cơ bản
IV Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học một cách phù hợp trên cơ sở vận
dụng sáng tạo các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập và
rèn luyện kỹ năng liên hệ thực tế của học sinh thì sẽ phát huy tính tích cực,
tự lực học tập của học sinh
V Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học nhằm phát huy tính tích cực,
tự lực của học sinh trong học tập để từ đó lựa chọn phương pháp, hình thức
tổ chức quá trình dạy học một số bài học phần:"Quang hình học” lớp 11 ban Cơ bản
- Nghiên cứu cấu trúc logic về nội dung kiến thức trong phần:"Quang hình học” lớp 11 ban Cơ bản cùng mối liên hệ của nó với các phần khác
- Tìm hiểu thực tế dạy học các kiến thức phần:"Quang hình học” lớp 11 ban Cơ bản ở một số trường THPT trong Thành phố, từ đó tìm ra những khó khăn cũng như những sai lầm mà học sinh thường gặp phải
- Sọan thảo tiến trình dạy học một số bài học phần:" Quang hình học” lớp 11 ban Cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập
- Thực hiện thực nghiệm sư phạm ở 3 trường THPT trong Thành phố
để xác định mức độ phù hợp, tính khả thi, phạm vi áp dụng của đề tài
- Nhận xét và một số ý kiến đề xuất thêm
Trang 15VI Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận
Điều tra khảo sát thực tế, tổng kết kinh nghiệm
Thực nghiệm SP (sử dụng PP thống kê toán học để xử lý, phân tich các
số liệu thực nghiệm, từ đó rút ra kết luận)
VII Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu, đề xuất việc thiết kế tiến trình dạy học phù hợp với nội dung bài học, điều kiện, cơ sở vật chất, khả năng nhận thức của học sinh theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, của học sinh trong học tập
VIII Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động học tập tích cực, tự lực của học sinh qua việc tổ chức dạy học vật lí ở trường THPT
Kết quả nghiên cứu của đề tài nói chung và các bài dạy có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên phổ thông
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lí luận của việc thiết kế tiến trình dạy học nhằm phát
huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập
Chương II: Thiết kế tiến trình dạy học một số bài học phần" Quang hình
học” lớp 11 cơ bản theo hướng phát huy TTC, tự lực của HS trong học tập
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC
CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP
1.1 DẠY HỌC HƯỚNG VÀO HỌC SINH
1.1.1 Nguồn gốc của dạy học hướng vào học sinh
Chúng ta đều biết quá trình dạy học luôn gồm hai mặt quan hệ chặt chẽ với nhau: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Chính vì điều đó mà đã có khá nhiều quan niệm khác nhau về vai trò của giáo viên và học sinh nhưng nhìn chung cũng chỉ là hai hướng: hoặc tập trung vào vai trò của GV tức là lấy giáo viên làm trung tâm hoặc tập trung vào vai trò của người học sinh tức là hướng vào học sinh
Những năm gần đây trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã và đang chuyển dần từ kiểu dạy học truyền thống, giáo viên làm trung tâm sang kiểu dạy học mới, hướng vào học sinh Đây cũng là một quá trình chuyển biến tất yếu của lịch sử giáo dục
Từ xa xưa, ở xã hội nông nghiệp hay tiền nông nghiệp, thời gian do chu kỳ mặt trăng hay mặt trời quyết định; quá khứ đi vào hiện tại và tự nó lặp lại trong tương lai; việc chuẩn bị cho một đứa trẻ vào đời là trang bị cho chúng những kỹ xão, những bí quyết mang tính cha truyền con nối, kiến thức được truyền một cách thụ động thông qua gia đình hoặc các thể chế tôn giáo…Trong thời kỳ này người đóng vai trò thầy giáo luôn là sự chú ý của mọi học trò, thầy giáo chi phối toàn bộ quá trình dạy học, áp đặt hoặc nhồi nhét những giá trị đạo đức, kiến thức hay kỹ xão như là lời kinh thánh hay lời giáo huấn; trò chỉ việc công nhận, học thuộc lòng rồi lặp lại lời thầy
Trang 17Riêng ở Việt Nam ta, tiếp theo đó là kiểu dạy học theo nhóm nhỏ với nhiều lứa tuổi và trình độ khác nhau, có thể là những đứa bé mới bắt đầu học cũng có thể là những môn sinh học để đi thi tú tài hay cử nhân… Thầy giáo bấy giờ là những ông đồ Nho, rất coi trọng trình độ, năng lực, tính cách của mỗi học trò và tìm cách thích hợp để chỉ dạy những đứa học trò đó Với kiểu làm này vai trò chủ động tích cực của học trò được đề cao, tuy nhiên hiệu suất thấp vì không có hệ thống, tổ chức và quản lý
Thời đại cơ khí hình thành và phát triển đã làm biến đổi tất cả những điều nói trên, bởi vì lúc này xã hội đòi hỏi những người mới phải thích ứng với thế giới mới, thế giới của ống khói xăng dầu và tiếng ồn (do sự xuất hiện của nhiều nhà máy, xí nghiệp, công trình,…); thế giới của lao động với máy móc, điều kiện sống chật hẹp; thế giới mà thời gian do tiếng còi nhà máy và đồng hồ quyết định và được gọi là thế giới công nghiệp… Từ đó một cấu trúc giáo dục mới mô phỏng thế giới công nghiệp ra đời: số người học đông hơn, có thầy giáo, có trường lớp, có chuông hay trống báo hết giờ, học sinh trong cùng một lớp có cùng lứa tuổi và trình độ ngang nhau Trong giờ học thầy giáo và học sinh mặt đối mặt với nhau…, đây chính là mô hình nhà trường cổ truyền Nhưng cũng bắt đầu từ đây giáo viên (thầy giáo) khó có điều kiện chăm lo hay giảng dạy cặn kẽ cho từng học sinh Do vậy mà hình thành nên kiểu dạy học thông báo - đồng lọat Với kiểu dạy này giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mình là truyền đạt cho hết nội dung chương trình và sách giáo khoa theo đúng qui định, cố gắng làm cho mọi học sinh trong lớp hiểu và nhớ những gì thầy giáo giảng Kết quả
là kiểu học tập một cách thụ động của học sinh dần được hình thành, học sinh thiên về nhiệm vụ là ghi nhớ hơn là phải suy nghĩ Tình trạng này ngày một phổ biến làm hạn chế chất lượng cũng như hiệu quả giảng dạy, đặc biệt là không đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với một loại sản phẩm đặc biệt - sản phẩm giáo dục của nhà trường
Trang 18Để khắc phục tình trạng này người ta thấy cần phải phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập, cần quan tâm đến nhu cầu và lợi ích của mỗi học sinh hơn Phương pháp dạy học tích cực hướng vào người học (học sinh) đã ra đời trong bối cảnh đó
1.1.2 Bản chất của dạy học hướng vào học sinh
Có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà giáo dục về kiểu dạy học này, nhưng điểm chung của các quan niệm cũng có thể được xem như là bản chất của dạy học này là dạy học hướng vào người học, nhấn mạnh hoạt động và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học, giáo viên không phải là người quyết định toàn bộ quá trình dạy học mà chủ yếu là đóng vai trò người
tổ chức, cố vấn, hỗ trợ học sinh, học sinh mới là người đóng vai trò chủ động, quyết định phần lớn đến công việc học tập của mình Theo quan điểm này thì giáo viên phải quan tâm đặc điểm cá nhân của mỗi học sinh, cố gắng tạo
cơ hội cho tất cả học sinh trong học tập và rèn luyện Học sinh người đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học:
- Học phải tự lực, học để khám phá và làm giàu kiến thức
- Học phải tăng cường sự trao đổi giữa giáo viên và các học sinh khác
- Học phải tích cực, chủ động tham gia vào quá trình tìm tòi và khám phá tri thức
- Phải mạnh dạn trình bày những ý tưởng và kinh nghiệm mới mẻ
- Phải được tạo cơ hội và được rèn luyện kỹ năng liên hệ kiến thức được học với thực tế cuộc sống và khoa học kỹ thuật
1.1.3 Đặc điểm của dạy học hướng vào học sinh
1.1.3.1 Về mục tiêu dạy học
Dạy học hướng vào học sinh ngoài việc hướng tới mục đích phát triển
cá nhân mỗi học sinh ở các mức độ khác nhau còn phải hướng học sinh chuẩn
bị thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập vào cộng đồng đang phát triển như
Trang 19vũ bão về mọi mặt Muốn thế học sinh phải luôn được đặt trước những tình huống thực tế, cụ thể của cuộc sống Để làm được điều đó, người giáo viên phải định hướng, cố vấn cho học sinh tự mình khám phá tri thức cũng như cách để tìm ra tri thức đó
1.1.3.2 Về nội dung dạy học
Do dạy học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn học sinh cách tìm ra tri thức, cách liên hệ những tri thức đó với thực tế cuộc sống và khoa học kỹ thuật Vì thế nội dung và chương trình giảng dạy phải hướng vào việc cho từng cá nhân học sinh tham gia vào quá trình dạy học Muốn thế, cần phải đặt học sinh trước những tình huống thực tế, cụ thể của cuộc sống, trú trọng khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức lý thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn Ngoài ra, cũng cần hết sức chú ý rằng nội dung dạy học còn phải tôn trọng nhu cầu, phù hợp khả năng, kích thích hứng thú, phục vụ lợi ích cho người học
1.1.3.3 Về phương pháp dạy học
Xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh: sự bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão Do vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên không thể nhồi nhét vào đầu học sinh một khối lượng kiến thức ngày càng nhiều đó mà phải quan tâm đến việc dạy học sinh phương pháp học sao cho học sinh có thể lần lượt khám phá lại những kiến thức đó Công việc này đòi hỏi phải có một quá trình rèn luyện Vì thế, nó phải được bắt đầu ngay từ bậc tiểu học và càng lên cao càng phải được chú trong
Mặt khác, xuất phát từ quan điểm dạy học hướng vào học sinh, coi những học sinh khác nhau với đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, phương pháp dạy học phải được lựa chọn sao cho từng học sinh có thể phát triển tốt nhất (phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh)
Trang 20Dựa trên quan điểm đó, phương pháp dạy học chủ yếu là hướng dẫn
tổ chức cho học sinh họat động độc lập hoặc theo nhóm (có thể là thảo luận, làm thí nghiệm hoặc quan sát thực tế,…) Thông qua đó học sinh vừa tự lực nắm được tri thức, kỹ năng mới đồng thời rèn luyện được phương pháp tự học, cũng như tập dượt phương pháp nghiên cứu sau này Với phương pháp này thì bước cuối cùng luôn là việc giáo viên góp ý nhằm hòan thiện một tri thức hay kỹ năng và khẳng định những tri thức khoa học đó
Giáo án lên lớp chủ yếu tập trung vào hoạt động của học sinh, cách tổ chức các hoạt động cũng như diễn biến và những khả năng xảy ra các hoạt động của học sinh Mặt khác giáo án phải linh hoạt và có thể điều chỉnh cho phù hơp với hoạt động dạy, với từng đối tượng học sinh khác nhau Đồng thời qua đó tạo điều kiện để học sinh bộc lộ những khuyết điểm cũng như những năng lực riêng của mình
1.1.3.4 Về phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học phải thật linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, thời tiết, đối tượng học sinh,…
Phương tiện dạy học có thể là tranh ảnh (ảnh tĩnh, ảnh động,…), là dụng
cụ thí nghiệm,… và lớp học cũng được xem là một trong những phương tiện phục vụ đắc lực cho hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh
Ngày nay, máy vi tính và các phần mềm dạy học là những phương tiện dạy học được xem là hiện đại với những đóng góp to lớn trong việc phát huy tính tích cực và tự lực của học sinh trong học tập
Do vậy lớp học không nhất thiết phải là những dãy bàn học sinh được
kê ngay ngắn và hướng về phía trước có bảng đen và bàn ghế giáo viên, mà lớp học có thể xếp theo hình tròn, hình chữ U, lớp học cũng có thể là phòng thí nghiệm, sân trường, là viện bảo tàng hay một góc của một nhà máy đang sản xuất, một công trình đang họat động… Đặc biệt lớp học còn phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn: đó là thực tiễn xã hội của hôm nay và cả ngày mai của học sinh ngay trong nhà trường
Trang 21Mặt khác, trong hoạt động học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động học tập độc lập của từng học sinh, mà môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các học sinh trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong lớp học, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, kiểm định, rồi tán thành hoặc bác bỏ Nhờ đó học sinh nâng mình lên một trình độ mới mà vẫn duy trì học hỏi vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của thầy giáo
1.1.3.5 Về đánh giá quá trình dạy học
● Đối với học sinh: Trong quá trình tự mình tìm ra tri thức hay kỹ
năng, sản phẩm đầu tay của học sinh bao giờ cũng chưa hoàn chỉnh nên chưa được gọi là tri thức khoa học Sau khi trao đổi, hợp tác cùng bạn bè với sự cố vấn cũng như hỗ trợ khi cần thiết cùng với khẳng định cuối cùng của giáo viên, một tri thức khoa học được hình thành Lúc này học sinh bắt đầu tự đánh giá lại sản phẩm ban đầu của mình: nội dung sai sót, tại sao sai sót? không hợp lý, tại sao không hợp lý? thiếu tính chính xác, tại sao? từ đó rút
ra cho mình những kinh nghiệm cần thiết về cách học, cách giải quyết một vấn đề; để rồi tự sửa chữa và điều chỉnh mình sao cho hoàn thiện và phải ngày càng tiến bộ hơn Đối với học sinh việc tự đánh giá là năng lực cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống sau này, và việc đánh giá lẫn nhau sẽ giúp
cả hai cùng trưởng thành hơn
● Đối với giáo viên
- Ngày nay với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật hiện đại, việc kiểm tra đánh giá không còn là công việc nặng nhọc nữa, kết quả của công việc này giúp giáo viên có nhiều thông tin hơn để kịp thời và linh động hơn điều chỉnh việc chỉ đạo hoạt động học của học sinh
Trang 22- Do mỗi học sinh có sự phát triển cá nhân khác nhau nên cách thức đánh giá cho từng học sinh cũng khác nhau, không sử dụng kiểu đánh giá chung chung mà có thể đánh giá theo nhóm dựa trên báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm mà nhóm trưởng đang chịu trách nhiệm
- Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực, để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá cần được chú ý và xem trọng Giáo viên không thể chỉ yêu cầu học sinh dừng lại ở việc tái hiện các kiến thức cũ và lặp lại các kỹ năng đã học mà phải kích thích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực
tế, đặc biệt phải đánh giá cao những biểu hiện tư duy độc lập cá nhân
1.2 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC TRONG HỌC TẬP VẬT LÝ CỦA HỌC SINH
1.2.1 Sự cần thiết phải phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập vật
lý của học sinh
1.2.1.1 Tính tích cực trong học tập vật lý của học sinh
Tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Bởi vì, để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến tự nhiên môi trường xã hội.Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực trong học tập của học sinh là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo ra những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng
Trong quá trình dạy học, tính tích cực trong học tập của học sinh thực chất là tích cực nhận thức, biểu hiện ở khát vọng hiểu biết, cố gắng về trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng sẽ tạo hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và sự tự giác lại tạo nên tính tích cực Ngoài ra, tính tích cực nhận thức còn tạo ra
Trang 23nếp tư duy độc lập Suy nghĩ (tư duy) độc lập là mầm mống của sự sáng tạo Ngược lại phong cách học tập độc lập, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập
Theo kết quả nghiên cứu tâm sinh lý của học sinh và điều hoà xã hội học gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta: thanh thiếu niên có những thay đổi trong sự phát triển tâm sinh- lý, đó là sự thay đổi có gia tốc Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin đa dạng từ nhiều mặt của cuộc sống, hiểu biết nhiều hơn và thực tế hơn Do đó, trong quá trình dạy học, học sinh không bằng lòng với vai trò là người tiếp thu một cách thụ động những giải pháp có sẵn được đưa ra, mà chiếm lĩnh tri thức một cách độc lập là cái đích mà học sinh muốn đạt đến Vì vậy, phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh ngoài việc sẽ giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách độc lập, linh hoạt, còn là nhằm rèn luyện và phát triển kỹ năng: phê bình, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề,…
Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nỗ của khoa học công nghệ nhất là trong lĩnh vực vật lý, thể hiện ở sự ra đời của nhiều thuyết, thành tựu mới cũng như khả năng ứng dụng chúng vào thực tế cuộc sống cao và nhanh Mặt khác, việc dạy vật lý ở nhà trường phổ thông không thể thâu tóm hết mọi tri thức đó, do đó đòi hỏi những học sinh thời kỳ phát triển này không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ những tri thức dưới dạng có sẵn, mà còn phải biết cách tìm ra con đường đi đến các tri thức, có năng lực chiếm lĩnh các tri thức một cách độc lập và cuối cùng là phải biết cách sử dụng những tri thức đó bằng cách vận dụng chúng vào thực tế cuộc sống hay khoa học kỹ thuật Vì vậy, phát huy tính tích cực trong học tập vật lý của học sinh là nhiệm vụ của mỗi giáo viên trong quá trình dạy - học, nhằm góp phần vào quá trình chuẩn bị một nguồn nhân lực với những đức tính: độc lập, sáng tạo, linh hoạt,… cho đất nước trong giai đoạn hội nhập
Trang 241.2.1.2 Tính tự lực trong học tập vật lý của học sinh
Tự lực là không dựa dẫm, không ỷ lại vào người khác Vì vậy, tự lực là phẩm chất rất cần thiết phải có của con người mới
Xã hội đang phát triển, điều kiện môi trường xung quanh luôn tác động đến mỗi con người Bởi thế cho nên, nếu mỗi con người không tự nỗ lực bản thân, tự lực để biến đổi, điều chỉnh và làm phong phú mình hơn lên đến mức cần thiết nhằm thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh, thì hoặc là con người đó sẽ bị tụt hậu hoặc trở thành nỗi bận tâm của toàn xã hội
Tự lực học tập là tự lực thu lượm kiến thức được xây dựng bằng trí nhớ, tư duy và sự phát triển trí tuệ của học sinh Tự lực học tập sẽ giúp học sinh hiểu thấu đáo nội dung một kiến thức nào đó, là cơ hội thuận tiện để học sinh phát huy tính sáng tạo
Tự lực học tập tuy là khả năng riêng của mỗi học sinh nhưng nó sẽ càng được phát huy hơn nếu có thêm động cơ học tập đúng đắn nhằm tạo hứng thú học tập Hứng thú sẽ giúp học sinh kiên trì và tự lực để khám phá
ra một chân lý mới, một tri thức mới
Trên thực tế, trong quá trình dạy học nói chung, dạy học vật lý nói riêng, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học dưới sự hướng dẫn của giáo viên người học phải luôn tích cực chủ động để cải biến chính bản thân mình về kiến thức,
kỹ năng, thái độ và hoàn thiện nhân cách Vì thế nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tập tốt thì hiệu quả của hoạt động dạy học sẽ bị kéo theo xuống mức thấp nhất Ngược lại, nếu giáo viên rèn luyện cho học sinh có được những phương pháp học tập đúng, kỹ năng, thói quen, ý chí tự lực trong học tập sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, nhờ đó kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội
Trang 25Mặt khác theo qui luật phát triển của sự vật hiện tượng, ngoại lực dù có quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện; nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của những sự vật, hiện tượng đó và sự phát triển này sẽ đạt tới đỉnh điểm cao nhất nếu như có sự cộng hưởng giữa nội lực và ngoại lực
1.2.2 Biểu hiện của tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh
Chúng ta đều biết tính tích cực, tự lực trong học tập của học sinh biểu hiện ở sự nỗ lực của từng học sinh trong khi tương tác với các học sinh khác hoặc với giáo viên; ở sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, những biểu hiện tâm lý (hứng thú, chú ý, kiên trì,…);…
Biểu hiện của tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh có thể thông qua những việc sau:
+ Có chuẩn bị bài cũ không? (học và làm bài tập về nhà theo yêu cầu của giáo viên) Tới mức độ nào?
+ Có tìm hiểu trước nội dung bài mới không? (đọc trước nội dung bài học mới ở sách giáo khoa và tìm ra mối liên hệ giữa nội dung mới và những nội dung cũ đã biết) Tới mức độ nào?
+ Có chú ý trong giờ học không? (lắng nghe và thực hiện tốt các công việc mà giáo viên yêu cầu)
+ Có hăng hái tham gia xây dựng bài học mới không? (hăng hái phát biểu, ghi chép bài, độc lập suy nghĩ và sáng tạo, đánh giá lẫn nhau….)
+ Có ghi nhớ và hiểu bài tốt không? (trả lời được các câu hỏi và giải được những bài tập nhỏ trong lúc giáo viên củng cố bài)
+ Có thể tự trình bày lại nội dung chính của bài theo ngôn ngữ riêng không? Tới mức độ nào?
+ Có biết vận dụng và liên hệ kiến thức mới vào thực tế được không? Tới mức độ nào? Mức độ sáng tạo ra sao?
+ Có quyết tâm vượt khó thông qua việc có kiên trì hoàn thành các bài tập khó, không nản trước những tình huống phức tạp không?
Trang 261.2.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh
1.2.3.1 Xây dựng nhóm học tập và tinh thần đồng đội cho học sinh
Nhóm học tập là tập hợp các cá nhân có liên đới với nhau, có những kỹ năng, hiểu biết có thể bổ sung cho nhau, cùng quyết tâm và chia sẽ một mục đích chung
Nhóm có cách làm việc chung, mang tính hợp tác; các thành viên trong nhóm có vai trò và trách nhiệm rõ ràng, đồng thời phải chịu trách nhiệm với nhau về công việc của nhóm mà mình được giao
Nhóm học tập hiệu quả sẽ thể hiện sự tự tin, lòng nhiệt tình trong công việc và lòng ham muốn hoàn thiện cách làm việc
Với những đặc điểm trên, nhóm học tập đòi hỏi từng thành viên trong nhóm phải tích cực, tự lực hơn trong học tập, chuẩn bị và nghiên cứu, nhằm hoàn thành công việc được giao; nhờ đó học sinh trở nên có trách nhiệm hơn, ít nhất là trách nhiệm của từng cá nhân đối với một nhóm nhỏ Khi công việc được giao chưa thể hoàn thành thì nhờ những hiểu biết và kỹ năng của các thành viên khác sẽ bổ sung cho những thiếu sót của mình, qua
đó tinh thần đồng đội được rèn luyện thêm
1.2.3.2 Thiết kế các loại phiếu học tập
Trang 27thường thì không học sinh nào dám mang một phiếu học tập còn trống rỗng đến lớp Tuy nhiên, không yêu cầu học sinh phải hiểu biết hết tất cả những nội dung trong đó Khi tự nghiên cứu, học sinh có thể gặp nhiều vấn đề khó khăn hoặc chưa hiểu, lúc đó học sinh có thể mang đến lớp để cùng các bạn thảo luận
b Phiếu học tập trên lớp
Các phiếu học tập trên lớp nhằm hướng tới mục tiêu chính của bài học, được thực hiện bằng hình thức hợp tác, thảo luận để thống nhất ý kiến Vì thế, phiếu học tập trên lớp phải được thiết kế sao cho nhiệm vụ học tập phải được sắp xếp một cách có lôgic theo sự phát triển của bài học; học sinh từng bước
mở rộng vốn hiểu biết, rèn luyện được kỹ năng; đồng thời phải phát huy cao nhất tính tích cực, tự lực trong học tập vật lý của học sinh
Ngoài ra, khi thiết kế phiếu học tập trên lớp cần đan xen việc thực hiện nhiệm vụ học tập lĩnh hội kiến thức mới với nhiệm vụ liên hệ lý thuyết với thực tế Có như thế, học sinh sẽ rất hứng thú và tích cực tham gia
1.2.3.3 Tạo bầu không khí học tập thích hợp
Không khí học tập bao gồm: môi trường xung quanh, điều kiện, sự quan tâm, tinh thần hợp tác giúp đỡ của giáo viên và các bạn cùng lớp, … Môi trường, điều kiện học tập thuận lợi (thời tiết mát mẽ, không gian yên tĩnh, điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ), sự quan tâm và tôn trọng của giáo viên (sự chú ý theo dõi hay lắng nghe phần trình bày, tiến lại gần, khích lệ và động viên sự cố gắng của học sinh) sẽ làm cho học sinh cảm thấy thoải mái,
an tâm, tự tin hơn nhờ đó mà các em sẽ tích cực nhiều hơn trong hoạt động học tập của mình
Sự quan tâm của các bạn cùng lớp thể hiện ở sự phân công và tin tưởng lẫn nhau khi tổ chức họat động theo nhóm, sẽ giúp từng cá nhân trong nhóm tích cực và tự lực tìm tòi sáng tạo để hoàn thành công việc được giao.Và rồi sự hợp tác với nhau để đi đến thống nhất chung cho công việc của nhóm như "một loại thức ăn ngon” góp phần làm cho bàn tiệc thêm thịnh soạn
Trang 28Tạo bầu không khí thoải mái, nhẹ nhàng trong giờ học bằng thái độ vui
vẻ, hài hước bằng việc cho học sinh những tự do nhất định trong việc nêu ra những ý nghĩ riêng và có quyền trao đổi với các bạn hoặc giáo viên về những vấn đề còn chưa rõ; nếu không vượt quá những nguyên tắc và nội quy cho phép sẽ tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn hơn và có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của mình
Tạo bầu không khí học tập thích hợp còn thể hiện ở việc nghe và lắng nghe học sinh, chọn lọc những gì đã nghe và đồng cảm với những gì nghe được Nhờ vậy, học sinh sẽ có một niềm tin vào giáo viên, từ đó thúc đẩy
và động viên học sinh tích cực đưa ra những ý kiến riêng của mình Chính vì thế mà tính tích cực, tự lực trong học tập của học sinh được nâng lên
1.2.3.4 Kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức
Tính tích cực của học sinh sẽ được kích thích khi họ tin rằng nhiệm vụ
mà họ đang thực hiện liên quan đến mục tiêu cá nhân của họ[18, tr 4] Do vậy giáo viên cần phải biết tạo mối liên hệ giữa mục tiêu chung của quá trình giảng dạy với mục tiêu riêng của học sinh để thực hiện việc xây dựng nhiệm
Trong vật lý học, có những kiến thức khi mới chỉ trình bày trong sách giáo khoa hay tài liệu học tập đã bộc lộ ra được tính hấp dẫn của nó và tự nó
đã có thể kích thích hứng thú cũng như sự chú ý của học sinh mà giáo viên
Trang 29không cần thiết phải gia công thêm hay tìm kiếm cách thức trình bày nào gây tác dụng tích cực đến học sinh Ngược lại, có những kiến thức mà sự mới
mẻ của nó không hề gây ra một cảm giác thích thú nào đối với học sinh, khi
đó giáo viên cần phân tích rõ nội dung kiến thức mới để học sinh thấy được mối liên hệ của nó với thực tế Đôi lúc lại có trường hợp những kiến thức đó học sinh đã thấy, biết và hiểu nó thông qua thực tế cuộc sống hay từ các nguồn thông tin khác, vì thế mà những kiến thức này không cuốn hút được sự tập trung chú ý của học sinh Trong những trường hợp này bắt đầu cần đến thủ thuật riêng của mỗi giáo viên, phải làm thế nào vạch ra cho học sinh thấy sự khác biệt giữa những nội dung kiến thức đã biết với những nội dung kiến thức mới nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào kiến thức mới đó
Nhưng vấn đề lại là ở chỗ, hầu hết các kiến thức vật lý mới lại nằm giữa hai thái cực này Do vậy để có thể kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức vật lý mới có thể bắt đầu với các công việc sau:
+ Lựa chọn từ ngữ để chuyển ý từ đề tài này sang đề tài khác dựa trên mối liên hệ giữa các đề tài với nhau; phải đánh bật lợi ích, tính mới lạ, sự cần thiết phải bổ sung và phát triển đề tài mới so với cũ
+ Tạo tình huống có vấn đề, nghĩa là phải đưa ra cho học sinh thấy được những lợi ích và sự cần thiết khi vấn đề đặt ra được giải quyết nhưng đồng thời cũng cho thấy sự bế tắc và cần phải được bổ sung thêm những hiểu biết của học sinh về vấn đề này bằng những nỗ lực cá nhân Tình huống có vấn đề thường xuất hiện dưới dạng những hiện tượng, sự kiện vật lý bất thường, những điều có vẽ nghịch lý và có thể không thể xảy ra được
+ Đưa ra mục tiêu và tìm cách đạt được mục tiêu đó Nhờ đó hình thành phương hướng cho hoạt động học tập đồng thời rèn luyện thói quen làm việc hết mình của học sinh
Trang 30+ Cần kết hợp nội dung giảng dạy với các phương tiện dạy học hiện đại (các dụng cụ thí nghiệm, âm thanh, hình ảnh tĩnh hay động, các phầm mềm hỗ trợ…)
+ Phải thường xuyên kiểm tra và đánh giá sự lĩnh hội kiến thức của học sinh (bao gồm việc tiếp nhận kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức mới)
1.2.3.5 Lựa chọn phương pháp và thủ thuật giảng giải
Với học sinh, khi đứng trước một kiến thức hay một bài tập vật lý cho dù các em đã được giáo viên giảng giải cặn kẽ và các em cũng đã thực sự hiểu hết những lời giảng này nhưng học sinh cũng khó có thể khắc sâu được chúng nếu như học sinh không tích cực, tự lực khám phá ra nó dưới sự chỉ dẫn của giáo viên Việc làm này của học sinh ngoài việc thỏa mãn tính tò mò hay tìm hiểu của lứa tuổi nó còn có tác dụng lâu dài và tích cực hơn là làm tăng hứng thú để tiếp tục tìm hiểu những kiến thức khác, qua đó còn rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy độc lập - một kỹ năng cần thiết cho việc nghiên cứu cũng như làm việc sau này, đồng thời rèn luyện được các giác quan và bộ
óc của học sinh trong việc phát hiện những liên hệ và các quy luật vật lý Để giúp học sinh trong việc này, ngoài việc thực hiện mục tiêu chung, mỗi giáo viên cần phải lựa chọn một phương pháp và thủ thuật giảng dạy tốt nhất phù hợp với nội dung kiến thức và điều kiện
Một phương pháp và thủ thuật giảng giải được xem là hiệu quả nhất khi với thời gian ngắn nhất, điều kiện tối thiểu nhất mà vẫn đảm bảo cho học sinh đồng thời vừa nắm sâu các kiến thức vật lý vừa phát triển được khả năng nhận thức của mình lại vừa biết liên hệ thực tế từ các kiến thức đã biết Chính vì thế mà việc lựa chọn phương pháp và thủ thuật giảng giải là một nghệ thuật, là nét riêng của mỗi giáo viên
Với mỗi giáo viên, việc làm này đòi hỏi phải có một sự đầu tư tìm hiểu
từ nội dung bài giảng đến những kiến thức vật lý và khoa học khác có liên quan, phải có những hiểu biết nhất định về cuộc sống về những hiện tượng
Trang 31xảy ra trong tự nhiên, phải có một kế hoạch ngay từ đầu: từ việc sắp xếp thời gian hợp lý đôi khi phải có chút mạo hiểm (do không đủ thời gian), thêm vào
đó là một ít khôi hài nhằm tránh sự đơn điệu, tẻ nhạt của giờ học và nhất định
là phải có một trình độ nhất định
Cùng với những sự chuẩn bị trên, ở lớp cần tránh để tình trạng giáo viên
cố dùng lời lẽ để giảng giải còn học sinh thì thụ động nghe và tiếp thu Mà hãy khơi gợi cho học sinh con đường đi đến kiến thức đó Chẳng hạn hãy đặt học sinh trước một tình huống có vấn đề cần được giải quyết, hoặc đặt ra những câu hỏi có tính khơi gợi bộ óc tò mò nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và tư duy lôgic ở học sinh Công việc này dễ dàng được giải quyết nếu như biết áp dụng một cách linh hoạt, cách tổ chức hoạt động theo nhóm, thí nghiệm biểu diễn, chứng minh,… nhưng hay hơn cả vẫn là cách đặt học sinh trước nhiều dụng cụ thí nghiệm cần thiết và định hướng để học sinh suy nghĩ, tìm tòi phương án thí nghiệm nhằm giải quyết vấn đề được nêu lên Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc nhiều vào mức độ khó hay dễ của kiến thức, trình độ học sinh, phương tiện phục vụ giảng dạy,…
Qua đó cho thấy không có phương pháp dạy học nào là duy nhất là vạn năng mà phải có sự phối hợp cùng lúc nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức môt giờ dạy Cũng như không nhất định phải trình bày theo thứ
tự của sách giáo khoa hay tài liệu học tập nhưng lại cần chú ý không nên phá vỡ trật tự lôgic của kiến thức đó
1.2.3.6 Sử dụng sách giáo khoa
Sách giáo khoa hay tài liệu học tập nếu xét về nội dung thì nó chứa đựng một kho tàng kiến thức về nhiều mặt, nếu xét về mặt chức năng thì tự bản thân nó đã kích thích hứng thú, khả năng tư duy độc lập của học sinh Tuy nhiên việc sử dụng sách giáo khoa ngày nay chủ yếu là dùng để chuẩn bị bao gồm: chuẩn bị bài trước khi đến lớp, làm bài tập khi về nhà, tra cứu các hằng số vật lý, quan sát các hình vẽ hay sơ đồ
Trang 32Sách giáo khoa vật lý phân ban hiện nay đã có một sự thay đổi đáng kể
so với sách giáo khoa cải cách giáo dục trước đây: ở mỗi đầu chương hay đầu mỗi bài học thường đưa ra những tình huống có vấn đề, những hiện tượng thường thấy trong tự nhiên, những ứng dụng trong khoa học kỹ thuật và đời sống liên quan với nội dung sắp trình bày, vì thế sách giáo khoa hiện nay góp phần kích thích trí tò mò hay tìm hiểu hay khám phá của học sinh nếu như học sinh được đọc chúng, nhờ đó phát huy được tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập vật lý
Thêm vào đó, sách giáo khoa vật lý hiện nay có phần trình bày thêm những nội dung, những bài đọc thêm, những thí nghiệm, những định luật không đủ điều kiện thực hiện (vì cấu tạo và cách thức hoạt động của các lọai thiết bị khá phức tạp) Cho học sinh đọc những phần này sẽ giúp đào sâu hoặc mở rộng tầm hiểu biết về một kiến thức vật lý nào đó cho học sinh Ngoài ra sách giáo khoa còn đề ra các hoạt động cho học sinh, vì vậy nếu giáo viên có cách tổ chức cho học sinh họat động cá nhân hoặc hoạt động nhóm (tùy trường hợp) một cách phù hợp sẽ làm tăng cường tính tích cực, tự lực tìm tòi khám phá của học sinh, nhờ vậy học sinh sẽ trưởng thành cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ và cả về phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu khoa học
Hơn hết là việc sách giáo khoa vật lý hiện nay với nhiều tranh ảnh rõ nét, màu sắc thực, những bảng số liệu cụ thể giúp học sinh dễ quan sát và theo dõi khi kết hợp với việc nghe lời giảng của giáo viên, qua đó giúp luyện thêm các giác quan cho học sinh (thị giác và thính giác)
Trong quá trình dạy học đôi khi việc hạn chế những giảng giải của giáo viên là rất cần thiết, thay vào đó là hình thức cho học sinh đọc thầm một nội dung trong sách giáo khoa Đó thường là những nội dung khá dài với nhiều biến đổi cũng như lập luận phức tạp mà trong thời gian rất ngắn giáo viên thường chưa tinh lọc được câu cú, từ ngữ khi diễn đạt, hoặc trình bày một cách ngắn gọn, sẽ làm học sinh khó tiếp thu hơn
Trang 33Trong vật lý, một bài tập đưa ra thường phải diễn đạt sao cho thể hiện được nội dung những kiến thức đã học hoặc những hiện tượng hay những ứng dụng thường gặp có liên quan đến nội dung kiến thức đó Do vậy một đề bài tập dù là bài tập giáo khoa hay bài tóan thì nội dung của chúng cũng thường khá dài Vì thế việc sử dụng các đề bài tập được in sẵn trong sách giáo khoa sẽ tiết kiệm được thời gian đồng thời tạo điều kiện phát huy được tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh
Ngoài ra sách giáo khoa còn có những tác dụng tích cực đối với học sinh khi sử dụng ở nhà Bởi vì, khi ở nhà học sinh sẽ có nhiều thời gian hơn
để đọc nó nhằm chuẩn bị bài mới hoặc củng cố, đào sâu thêm những kiến thức được học trên lớp thông qua những ví dụ hay bài đọc thêm
Tuy nhiên để việc sử dụng sách giáo khoa ở nhà đạt hiệu quả cao cần
có sự hỗ trợ của giáo viên, mà cụ thể là giáo viên nên giao công việc cho từng
cá nhân hoặc từng nhóm nhỏ dưới dạng nhiệm vụ học tập: chẳng hạn như trả lời các câu hỏi nhằm phục vụ cho việc xây dựng bài học mới hay kiến thức mới, nhờ đó kích thích học sinh phải làm việc với sách giáo khoa: từ việc tìm kiếm thông tin đến việc tiếp nhận thông tin và cuối cùng là chế biến
nó theo suy nghĩ riêng để thực hiện nhiệm vụ học tập được giao; hoặc có thể giáo viên chỉ dẫn để học sinh có thể sử dụng sách giáo khoa như một tài liệu cho việc định hướng học sinh thực hiện một bài tổng kết chương hay tổng kết một phần nào đó theo suy nghĩ riêng của từng học sinh
1.2.3.7 Sử dụng thí nghiệm vật lý
Trong dạy học vật lý, thí nghiệm vật lý không chỉ để minh họa bài giảng mà còn được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học, dưới mọi hình thức đa dạng và phong phú như: đặt vấn đề bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề bằng thí nghiệm; hình thành kiến thức mới thông qua khảo sát, minh họa hay kiểm tra các giả thuyết đã đưa ra; củng cố và vận dụng các
Trang 34kiến thức đã học mà cụ thể là đề cập đến những ứng dụng của kiến thức vật lý
đó vào trong sản xuất và đời sống; hay là dùng để kiểm tra, đánh giá sự lĩnh hội về kiến thức, kỹ năng của học sinh;…
+ Sử dụng thí nghiệm vật lý tạo tình huống có vấn đề:
Vật lý vốn là bộ môn khoa học thực nghiệm, vì vậy cần khai thác triệt để các thí nghiệm vật lý nhằm tạo ra những tình huống có vấn đề hoặc lựa chọn sự khởi đầu phù hợp Nhờ đó kích thích hứng thú muốn tìm hiểu, khám phá, khởi đầu cho những dự đoán, sáng tạo của học sinh trong quá trình nhận thức
+ Sử dụng thí nghiệm vật lý nhằm khảo sát, minh hoạ, hay kiểm tra giả thuyết:
Việc sự dụng lọai thí nghiệm này phải phù hợp với hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Thí nghiệm này thường được dùng
để đưa ra những mô hình hay giả thuyết, hoặc dùng để kiểm tra những mô hình hay giả thuyết được học sinh hoặc giáo viên gợi ý đưa ra Nhờ những thí nghiệm này mà học sinh có thể thu thập được những thông tin cần thiết
và liên quan với đối tượng cần nghiên cứu, nhất là có thể kiểm tra được những dự đoán của học sinh Nếu kết quả thí nghiệm trùng khớp với dự đoán ban đầu sẽ làm cho học sinh phấn khởi, tự tin hơn đồng thời khắc phục tâm lý tự ti thường gặp ở học sinh khi học vật lý, từ đó học sinh trở nên thích thú và tích cực hơn trong học tập vật lý
+ Sử dụng thí nghiệm vật lý để kiểm tra, đánh giá sự lĩnh hội về kiến thức, kỹ năng của học sinh:
Từ thí nghiệm chứng minh, giáo viên có thể mở rộng bằng cách thay đổi điều kiện, đặt tình huống mới, và yêu cầu học sinh dùng suy luận logic hay thực hiện lại các thí nghiệm theo những điều kiện và tình huống này… qua đó có thể kiểm tra, đánh giá sự lĩnh hội kiến thức cũng như các thao tác,
kỹ năng thí nghiệm của học sinh
Trang 35Qua đó thấy rằng việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lý góp phần vào việc phát triển toàn diện, giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh Nhờ thí nghiệm vật lý mà học sinh hiểu sâu hơn bản chất vật lý của các hiện tượng, quá trình, định luật,… Do vậy khả năng liên hệ kiến thức vật lý với thực tế của học sinh sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn
Mặt khác, đây còn là cơ hội rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, góp phần thiết thực vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh, tránh những bỡ ngỡ khi tiếp xúc hay sử dụng những dụng cụ tương tự ngoài thực tế cuộc sống hay trong công việc sau khi rời khỏi ghế nhà trường
1.2.3.8 Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý
Theo quan điểm thông tin, học là quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin Vì thế, trong quá trình dạy học, người giáo viên phải tìm cách làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh, nhiều và hiệu quả hơn
Trong dạy học vật lý, việc mô tả, minh hoạ, chứng minh,… những hiện tượng, định luật, khái niệm hay những ứng dụng của vật lý trong đời sống và khoa học kỹ thuật là điều không thể thiếu Bởi vì, những điều đó sẽ góp phần gây sự chú ý, hứng thú, nhất là giúp học sinh có một niềm tin tuyệt đối vào lượng thông tin nhận được Đó là khởi đầu cho hàng loạt những hoạt động tích cực khác của học sinh
Để thực hiện tốt những công việc đó, ngoài việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học thì ngày nay việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
đã phổ biến hơn và có những đóng góp tích cực hơn
a Máy vi tính và các phần mềm dạy học vật lý:
Máy vi tính với chức năng lưu trữ, hiển thị lại một lượng lớn thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh; chọn lọc, sắp xếp, phóng to, thu nhỏ, chuyển hướng, liên kết,…Vì vậy, nó được dùng như một máy soạn thảo văn
Trang 36bản tuyệt vời Người giáo viên có thể dùng nó để chuẩn bị bài giảng, chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật thông tin cho bài giảng luôn mới, luôn phong phú và sinh động Máy vi tính cũng được dùng tạo ra những bảng tính với những công thức hoặc chương trình cài đặt sẵn và do đó có thể giúp người học trong việc điều tra, nghiên cứu,…và máy tính có thể hỗ trợ tốt cho những người học khác nhau từ người có tài đến người khuyết tật Các chương trình dạy học trên máy tính còn tạo điều kiện cho học sinh tự củng cố những kiến thức mà mình chưa nắm vững, tạo nên khả năng cá thể hoá trong học tập của học sinh,… Máy vi tính nếu được cài đặt thêm những phần mềm hỗ trợ sẽ giúp mô phỏng được những hiện tượng vật lý diễn ra trong thực tế, mà việc thực hiện thí nghiệm vật lý này là không thể hoặc không nên để diễn ra trong nhà trường Việc mô phỏng có thể tránh được những thí nghiệm nguy hiểm, vượt quá những hạn chế về thời gian, không gian và kinh phí; giúp liên kết đối tượng này với đối tượng khác nhờ đó học sinh dễ dàng trong việc so sánh hoặc hình thành mối liên hệ chặt chẽ hoặc rút ra một kiến thức vật lý mới từ sự tương tự giữa hai đối tượng đó Ngoài ra, máy vi tính với những phần mềm hỗ trợ dạy học vật lý giúp đưa ra những hình ảnh chân thật (có cả
âm thanh, chuyển động,…) nhờ đó mà học sinh dễ dàng đưa ra những dự đóan hay kết luận quan trọng Với một số tính năng trên, máy vi tính phần nào góp phần làm cho hoạt động nhận thức của học sinh được dễ dàng hơn, nhanh hơn, đồng thời giúp học sinh phát huy tính tích cực trong học tập của mình qua việc học, củng cố kiến thức cũng như việc chuẩn bi bài ở nhà
Qua đó cho thấy: với khả năng hỗ trợ của máy vi tính và các phần mềm dạy học vật lý, ngăn cách giữa nhà trường và tự nhiên được xóa bỏ, là cơ
sở cho việc tích cực, tự lực hoá quá trình học tập vật lý của học sinh
Trang 37b Các bài giảng điện tử:
Bài giảng điện tử là tập hợp những tài nguyên số dưới hình thức các đối tượng học tập, xâu chuỗi với nhau theo một cấu trúc nội dung, định hướng theo chiến lược giáo dục của nhà thiết kế
Bài giảng điện tử có thể thay thế được một số công việc của giáo viên khi đứng lớp như: vẽ hình, lập sơ đồ, tiến hành trắc nghiệm, kiểm tra đánh giá
sự lĩnh hội ngay trong giờ học,… do đó chất lượng bài giảng cao và hiệu quả
sử dụng giờ giảng cũng rất cao
Bài giảng điện tử nếu được liên kết với những phần mềm hỗ trợ sẽ làm bài học thêm sinh động, học sinh thích thú, dễ dàng tiếp thu kiến thức được truyền đạt
c Các web - site:
Việc tổ chức xây dựng và sử dụng web - site hỗ trợ rất nhiều cho quá trình dạy học vật lý: hướng dẫn học sinh giải quyết nhiệm vụ học tập ở nhà, tìm hiểu hoặc mở rông thêm những hiểu biết về một kiến thức nào đó,
…nhờ đó làm phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập, tạo điều kiện cho khả năng sáng tạo của học sinh được thể hiện
Các web-site sau khi đã xây dựng có thể truyền tải trên mạng diện rộng, ngoài việc hỗ trợ rất nhiều trong việc trao đổi, bổ sung kiến thức cho nhau nó còn giúp học sinh có thể tự kiểm tra và đánh giá quá trình lĩnh hội kiến thức của mình,…
1.2.3.9 Giải bài tập vật lý
Giải bài tập là một họat động trí óc gồm những thao tác đa dạng phức tạp nhưng xét cho cùng thì luôn là sự đối chiếu các điều kiện với các yêu cầu của bài, phân tích lý giải nhằm tìm ra mối liên hệ đã có để giải quyết mâu thuẩn giữa điều kiện và yêu cầu [18, tr 4]
Trang 38Vật lý là bộ môn khoa học gắn liền với cuộc sống, chính vì điều đó mà giải bài tập vật lý không chỉ là những công việc trên mà còn là tìm ra mối liên
hệ giữa lý thuyết và thực tế Do vậy giáo viên chúng ta cần hiểu rằng việc giải các bài tập vật lý không phải là mục đích của dạy học, mà mục đích chính của công việc này là giúp học sinh hiểu rõ hơn nội dung kiến thức vừa học, biết cách ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn qua đó rèn luyện kỹ năng phân tích tổng hợp, đào sâu mở rộng một kiến thức đã biết, kỹ năng suy luận tính tóan, đồng thời phát huy cách làm việc tự lực, tính kiên trì vượt khó và đặc biệt là phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh
Đối với học sinh, cần loại ra khỏi suy nghĩ của chúng việc giải bài tập
là đi lựa chọn một cách máy móc những công thức có chứa các đại lượng
đã cho hoặc những đại lượng cần tìm, cũng như tránh để cho những con
số và các phép tính toán trong khi giải làm che khuất hoặc lu mờ đi việc tìm hiểu ý nghĩa quan trong trong một bài tập vật lý
Nhưng một thực tế thường thấy, việc giải một bài tập vật lý ở trường phổ thông hiện nay thường thực hiện theo các bước sau:
● Đọc đề bài
● Giáo viên phân tích hướng dẫn trình tự làm bài
● Yêu cầu một học sinh lên bảng giải, các học sinh khác ngồi tại chỗ giải Với cách làm này, với những học sinh chưa ý thức được vai trò của việc giải bài tập vật lý sẽ không tích cực, tự lực suy nghĩ về ý nghĩa bài tập
đó mà hầu như chỉ tập trung vào các phép tính toán dựa trên một trình tự đã được bày sẵn giống như việc đi chép lại ý tưởng của giáo viên hay của một vài bạn tích cực nào đó trong lớp Nhưng phải làm sao đây hay chỉ còn cách trông chờ vào ý thức tự giác của mỗi học sinh Dưới đây sẽ là những gợi ý nhỏ giúp giáo viên và cả học sinh đạt kết quả như ý muốn với công việc giải bài tập vật lý
Trang 39● Về nội dung bài tập vật lý:
+ Trước hết bài tập phải được xây dựng một cách có hệ thống, từ dễ đến khó; từ biết, hiểu, vận dụng, rồi phân tích tổng hợp,…; lọai bài tập vận dụng cũng phải chú ý nội dung của nó phải đi từ những hiện tượng rất gần gũi với cuộc sống xung quanh đến những vận dụng có tính khoa học và phức tạp hơn, để học sinh dễ hình dung và tưởng tượng
+ Bài tập sau phải nhằm giải quyết một bế tắc ở bài tập trước hoặc một tình huống mới mà bài tập trước chưa nhắc đến nhằm kích thích hứng thú
và tính tò mò của học sinh tạo ra động cơ học tập tốt
+ Bài tập định tính nên xếp trước vì thông thường các bài tập loại này hay là việc giải thích một hiện tượng hay một lý do xảy ra hiện tượng Do vậy học sinh chỉ cần hiểu và thêm vào một tí kỹ năng vận dụng là đã làm được các bài toán đơn giản
+ Bài tập thí nghiệm thường được đưa ra sau cùng vì đôi khi để giải được loại bài tập loại này đòi hỏi học sinh phải có một quá trình tích cực nghiên cứu, suy nghĩ để thiết kế một thí nghiệm ở nhà hoặc ở phòng thí nghiệm mới hy vọng giải được nó
+ Bài tập định lượng: đây là loại bài tập mà học sinh có vẽ thích thú nhất vì nó cụ thể, rõ ràng thông qua những con số Do vậy cần phải khai thác triệt để tính tích cực, tự lực và khả năng tư duy của học sinh thông qua loại bài tập này
● Về phương pháp tiến hành giải bài tập vật lý:
+ Hãy giao việc về nhà trước đó cho học sinh, có như thế học sinh mới tích cực chuẩn bị sẵn những hiểu biết về kiến thức đó trước khi đến giờ học
+ Hãy thường xuyên rèn luyện cho học sinh việc nhận ra ý đồ của bài tập đó nhằm tìm ra mối liên hệ giữa các đại lượng vật lý thông qua những hàm số hay công thức vật lý
Trang 40+ Hãy cho học sinh bàn luận về nội dung bài tập đó, về việc chọn lựa chọn đơn vị của các đại lượng vật lý sao cho phù hợp
+ Hãy chịu khó lắng nghe học sinh trình bày những hiểu biết cùng với phương án giải quyết bài tập đó rồi phân tích đúng sai và sửa chữa cho hoàn chỉnh Làm như thế học sinh sẽ cảm thấy mình được coi trọng nên sẽ tích cực hơn ở các lần sau, đồng thời qua đó giáo viên cũng biết được khả năng tiếp thu, mức độ hiểu và vận dụng của học sinh
+ Cuối cùng hãy tổ chức để từng nhóm nhỏ học sinh có thể tự đặt ra một bài tập có liên quan đến những kiến thức vừa và đã từng học trước đó
1.2.3.10 Kiểm tra đánh giá sự lĩnh hội
Trong quá trình giảng dạy, để kiểm tra sự lĩnh hội cũng như sự tiến bộ
về nhận thức; kỹ năng; kỹ xảo của học sinh thì kiểm tra và đánh giá là việc làm hết sức cần thiết
Đối với giáo viên: thông qua kết quả kiểm tra có thể đánh giá được hiệu quả việc truyền đạt và tổ chức quá trình giảng dạy trước đó, từ đó mà điều chỉnh sao cho phù hợp với điều kiện, với đối tượng học sinh
Đối với học sinh: kiểm tra và đánh giá là việc làm nhằm kích thích hoạt động học tập (tích cực, tự lực,…), có trách nhiệm với kết quả hay ý kiến
do chính mình đưa ra
Chính vì vậy, mà việc kiểm tra và đánh giá trong giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay đã được thực hiện một cách hệ thống và thường xuyên, dưới nhiều hình thức: kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành thí nghiệm,…
+ Kiểm tra vấn đáp: thường được sử dụng trong suốt cả giờ học, bắt đầu từ việc ôn lại kiến thức cũ đến việc vận dụng nó vào quá trình xây dựng kiến thức mới và cuối cùng là để củng cố lại nội dung kiến thức vừa học Với hình thức này, giáo viên có thể biết ngay mức độ lĩnh hội, tiến bộ trong nhận thức hay suy luận lôgic của học sinh và kịp thời chỉnh sửa nhằm tránh sự tồn