1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu thuyết về nông thôn sau đổi mới (qua mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn khắc trường và dòng sông của đào thắng)

116 815 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 655,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Các bài viết có liên quan đến tác phẩm Với Mảnh đất lắm người nhiều ma, tác phẩm đã vinh dự được nhận giải thưởng của Hội nhà văn, một dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp viết văn của

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

……………………

NGUYỄN VIỆT ANH

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI

(Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng

sông mía của Đào Thắng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN - 2010

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

……………………

NGUYỄN VIỆT ANH

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI

(Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

và Dòng sông mía của Đào Thắng)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỜN DẪN KHOA HỌC:

NGUYỄN VIỆT ANH

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI

(Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

và Dòng sông mía của Đào Thắng)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỜN DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRỊNH BÁ ĐĨNH

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Trịnh

Bá Đĩnh- người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học- Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Với trình độ và kiến thức hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót Kính mong nhận được sự lượng thứ và góp

ý chân thành của các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm đến vấn đề được tìm hiểu trong luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái nguyên, tháng 9 năm 2010

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Anh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọ đề tài

1.1 Nông thôn là một trong những mảng đề tài lớn được chú ý của văn học

Việt Nam Kinh tế Việt Nam cho đến nay phần lớn vẫn là nền kinh tế nông nghiệp cuộc sống đa phần là cuộc sống nông thôn nên đề tài nông thôn càng chiếm vị trí quan trọng, thu hút được sự chú ý của các nhà văn có tài và tâm huyết với nghề Với

sự phản ánh hiện thực nông thôn, từ lâu các nhà văn đã thể hiện được phần quan trọng cuộc sống, con người Việt Nam qua các chặng đường phát triển của dân tộc Tuy nhiên ở mỗi thời kì cũng có những ràng buộc lịch sử nhất định

1.2 Từ đổi mới năm 86, với tinh thần tự do- dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật,

nói đúng sự thật đã mang đến cho văn học một không khí hoàn toàn khác hẳn Nó như nguồn động viên, cổ vũ tinh thần lớn lao cho các nhà văn, giúp họ được thoải mái hơn trong cách nhìn nhận, đánh giá theo cách riêng của bản thân mình Văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng viết về nông thôn vì thế cũng có những bước chuyển biến quan trọng trong việc đổi mới tư duy và nghệ thuật biểu hiện Đào sâu vào vấn đề nhận thức và đánh giá lại lịch sử dân tộc, với cái nhìn thế sự, con người (người nông dân) đã xuất hiện trên trang văn với đầy đủ những cung bậc tình cảm, tâm trạng Cùng với đó là cuộc sống riêng tư, số phận con người được quan tâm- chú ý trong nhiều chiều đã tạo ra ấn tượng tốt, được độc giả tích cực đón nhận với thái độ trân trọng và chia sẻ

1.3 Mảnh đất lắm người nhiều ma (1991) của Nguyễn Khắc Trường và Dòng

sông mía (2004) của Đào Thắng là hai tiểu thuyết viết về nông thôn xuất sắc của văn học Việt Nam sau đổi mới Mảnh đất lắm người nhiều ma là tiểu thuyết đặt ra

một cách sáng rõ cái nhìn mới về nông thôn trong sự soi chiếu nhiều chiều, còn

Dòng sông mía đã đưa đến cho người đọc thấy rõ một nông thôn vừa đằm thắm-

vạm vỡ, vừa đầy ắp thế sự với biết bao xung đột diễn ra trong sinh hoạt làng xã, cộng đồng dân cư Như vậy, có thể thấy hai tiểu thuyết này đã là tiêu biểu cho văn xuôi viết về nông thôn sau đổi mới, đưa đến cho người đọc những khám phá, trải

nghiệm riêng rất đáng ghi nhận

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những cái nhìn khái quát

Sau Đại hội Đảng VI (1986), văn học Việt Nam từ đó cho đến nay được coi

là thời kỳ có nhiều biến động Do vậy, để đưa ra được một cách nhìn nhận bao quát, đánh giá một cách toàn diện và hệ thống là vấn đề không hề đơn giản Ở đây, chúng tôi chỉ xin lược qua hai bộ phận nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Sự đổi mới tiểu thuyết và đề tài nông thôn trong tiểu thuyết Xét trên phương diện đổi mới trong văn xuôi, nhất là ở lĩnh vực tiểu thuyết đã có nhiều bài viết, đề cập đến các phương diện

và khía cạnh khác nhau Có thể kể đến:

- Nguyễn Đăng Mạnh: Về một xu hướng tiểu thuyết đang phát triển (Nhân

dân, Ngày 26/10/1985) đã đưa đến cho người đọc thấy rõ đặc điểm của một xu hướng tiểu thuyết đang nổi lên trong đời sống văn học những năm 80 Đó là những tiểu thuyết nhà văn- qua tác phẩm- tham gia vào cuộc sống như một nhà tư tưởng, trong đó nội dung triết luận chiếm một vị trí quan trọng

- Bùi Việt Thắng: Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975

Tác giả đã chỉ ra kỹ hơn đổi mới nghệ thuật ở một thể loại tiêu biểu là tiểu thuyết từ

phương diện cấu trúc lịch sử- sự kiện sang cấu trúc lịch sử- tâm hồn Tác giả cho

rằng, ký ức là một yếu tố quan trọng được nhà văn dùng để tổ chức tác phẩm và bước đầu đặt ra vấn đề xác định ảnh hưởng của loại hình nghệ thuật khác đối với cấu trúc thể loại tiểu thuyết

- Bích Thu với Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới (Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội, 2001) đã chú

ý đến ba phương diện: Cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ

- Nguyễn Thị Bình với Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975 (Tạp chí văn học số 4- 2003), khẳng định sự đổi mới của

văn xuôi “từ hiện thực của các sự kiện, biến cố, hiện thực của lịch sử đến hiện thực của con người”, tác giả đi đên nhận định: trong tính phong phú nhiều chiều, con người “thiên về tính cá biệt hơn tính điển hình”

Trang 5

Qua đây, ta có thể nhận thấy rằng: mỗi tác giả có cách nhìn, cách đánh giá khác nhau, song tất cả đều thống nhất ở mục tiêu chỉ ra chỉ ra sự đổi mới trong cách tân tiểu thuyết, thể hiện nỗ lực đáng kể trong sáng tạo của các cây bút văn xuôi Việt Nam trong thời kỳ mới

* Với đề tài trong nông thôn có thể kể đến:

+ Mấy suy nghĩ về việc tìm hiểu hiện thực ở nông thôn và viết về đề tài nông thôn - Tác giả Xuân Tình

+ Văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 80- Tác giả Trần

Qua bài viết “Văn xuôi viết về nông thôn nửa nửa sau những năm 80” của tác giả Trần Cương đã nhận định, đã có hai sự chuyển biến của văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 86 so với những năm trước đó là “sự chuyển biến trong chủ đề” và “sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thực” Theo tác giả dường như “Lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con người mà trước kia chưa có

Đó là chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá nhân” Ở phạm vi phản ánh hiện thực, tác giả cũng đưa ra nhận xét rằng “các nhân vật như đã nhìn nhận và

Trang 6

phản ánh hiện thực nông thôn kĩ càng Họ thấy những gì ở tầng sâu, mạnh ngầm của đời sống nông thôn”

Như vậy, với các ý kiến- nhận xét trên có thể nhận thấy, mảng đề tài viết về nông thôn là mảng đề tài hấp dẫn, thu hút các bài nghiên cứu, nhận xét của các nhà phê bình Nó tỏ rõ sự hoan nghênh, tán dương của các tác giả đối với các nhà văn khi tiếp cận với hiện thực nông thôn trong muôn mặt của cuộc sống này

2.2 Về hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía 2.2.1 Về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc

Trường)

* Vài nét về tác giả

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 06/07/1946 tại Đồng Hỷ- Thái Nguyên Nguyễn Khăc Trường gia nhập quân đội từ 1965 ở quân chủng Phòng không- Không quân Sau 1975, học trường viết văn Nguyễn Du Học xong về công tác tại tạp chí văn nghệ quân đội Từ 1983, về công tác ở tổ văn xuôi tuần báo Văn Nghệ Hiện nay là phó tổng biên tập báo Văn Nghệ

Cho đến nay, Nguyên Khắc Trường đã cho ra đời các tác phẩm:

+ Cửa khẩu (Truyện vừa, 1972)

+ Thác rừng (Tập truyện, 1972)

+ Miền đất mặt trời (Tập truyện, 1982)

+ Mảnh đất lắm người nhiều ma (Tiểu thuyết, 1990)

* Các bài viết có liên quan đến tác phẩm

Với Mảnh đất lắm người nhiều ma, tác phẩm đã vinh dự được nhận giải

thưởng của Hội nhà văn, một dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp viết văn của Nguyễn Khắc Trường thì đã có nhiều ý kiến, bài viết khác nhau:

Trước hết , với thành công mà cuốn tiểu thuyết này đem lại, đã đưa đến cuộc thảo luận do báo Văn Nghệ tổ chức ngày 25-01-1991, sau đó được tập trung in trên

tờ báo Văn Nghệ số 11, ngày 16-03-1991 Nổi bật trong cuộc thảo luận này là các ý

kiến:

Trang 7

+ Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: theo ông nông thôn được Nguyễn Khắc

Trường nói đến là “nông thôn với cách nhìn chân thực, chủ động”, với “nhiều chuyển động, xáo trộn, đấu tranh giữa cái tốt, cái xấu, tranh chấp nhau giữa các thế lực” Nông thôn theo cách nhìn nhận của tác giả “không cuộn lên trong các phong trào đấu tranh yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi lên từ những nguyên nhân bên trong, những chuyện làng xóm”

+ Với Giáo sư Phong Lê, ông đã thể hiện sự quan sát khá tỉ mỉ và tinh tường khi nhận ra cái gây được ấn tượng ở đây là “là các vấn đề chìm và nổi, ở bề mặt và

bề sâu trong sự đan xen đó Không chỉ là chất thơ, mà còn là bi kịch, và là những bi kịch gọi nhau Không chỉ là những con người nhân danh đủ dạng trong thế bài trừ

tiêu diệt lẫn nhau mà còn là đủ những dạng “dị dạng” bị đẩy ra hoặc bị vào những

cuộc giao tranh quyết liệt đó”

+ Bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã chỉ ra chỗ thành công

của tác giả “là tạo được một không khí riêng cho tác phẩm, một không khí âm dương lẫn lộn, có nhân vật thật khó tách bạch đâu là phần quỷ, đâu là phần người” + Trong cuộc hội thảo này, Giáo sư Trần Đình Sử đã đã tỏ rõ sự thích thú, đam

mê của mình khi đọc tiểu thuyết này, bởi ở đấy có sức lôi cuốn đặc biệt từ đầu đến cuối Qua tác phẩm, ông nhận ra “một hiện tượng xã hội nghiêm trọng, đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay là ý thức dòng họ, gia tộc đang gây trở ngại cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nông thôn” Và ý thức dòng họ đã được tác giả khắc hoạ “như một hiện tượng chìm sâu, ngấm ngầm, dai dẳng nhưng

Trang 8

Cũng trong cuộc hội thảo này, ý kiến của Nguyễn Khắc Trường, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma đã góp phần giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về quá trình ra

đời của tác phẩm Đó là “nhằm truy tìm tận gốc rễ sự xuống cấp, sự tha hoá về đạo đức của nông thôn chúng ta…Tôi thấy, một trong những nguyên nhân sâu xa ấy là vấn đề dòng họ…Đây là cái nhân của mỗi một làng từ ngày khai thiên lập địa, từ thời mở đất, thường là mỗi dòng họ lập nên một làng”

Bên cạnh những ý kiến đóng góp trong cuộc hội thảo, là các ý kiến của một số cây bút xuất hiện trên một số các bài báo, chuyên luận khác Trong đó phải kể đến:

+ Lê Thành Nghị với Đọc mảnh đất lắm người nhiều ma (Tác phẩm mới, Hà

Nội, số 8, tháng 8, 1991) đã nhận ra vấn đề bao quát của tác phẩm là “Vấn đề nhận dạng bộ mặt tinh thần nông thôn” Theo tác giả, thực chất làm nên bộ mặt nông thôn hôm nay, cũng như từ ngàn xưa là sự chi phối “khá triệt để về ý thức của các dòng họ” Chính điều này đã chi phối hết thảy ý nghĩ, hành động của con người, ngay cả với người có vị trí cao nhất- Bí thư đảng uỷ Trịnh Bá Thủ thì mọi hành động của hắn đều bị xô lệch đi qua từ “trường” ý thức dòng họ

+ Hồng Diệu với Mảnh đất lắm người nhiều ma (Văn nghệ Quân đội, Hà Nội

số 8, tháng 8, 1991) đã khẳng định rõ đây là một tác phẩm “nổi bật lên một dáng vẻ rất riêng trong những quyển sách viết về nông thôn ta dưới chế độ đổi mới” Cũng trong bài viết này, tác giả khẳng định, trong tiểu thuyết này không chỉ mang giọng điệu hài hước mà còn có một giọng điệu khác “chìm ở tầng dưới, đó là giọng bi thảm” Đây có coi là một phát hiện rất mới mẻ của tác giả Hồng Diệu

+ Bài viết của tác giả Ngọc Anh (trong báo Giáo dục và thời đại, 27-5-1991)

đã khẳng định rõ những thành công về mặt nghệ thuật của Nguyễn Khắc Trường, đó

là việc tác giả đã tỏ rõ sự vững vàng từ “việc dựng truyện, xây dựng nhân vật, đến

sử dụng ngôn ngữ” Tác giả Ngọc Anh đã nhấn mạnh tính chỉnh thể và kết cấu của tác phẩm “sự việc nọ nối tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo theo bi kịch khác” Nhiều

sự việc diễn ra dối dắm, phức tạp, nhưng tác giả đã nhìn sâu vào bản chất của sự việc, giải quyết thấu đáo cứ như “sự việc nó đúng phải xảy ra như thế”

Trang 9

+ Lê Nguyên Cẩn với Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ cái nhìn văn hoá (Tạp chí khoa học số 5, 2005, Trường

ĐHSP Hà Nội) Đây là một bài viết có chiều sâu, thể hiện sự chuyên sâu trong tìm hiểu các vấn đề trong tác phẩm có gắn với cái nhìn văn hoá Trước hết tác giả chỉ

rõ, cái tạo ra giá trị của tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với một thời kỳ khó khăn mà đất nước ta phải trải qua còn là “Thế giới kỳ ảo mà tác giả đã dụng công xây dựng với các yếu tố kỳ ảo rất đặc trưng, đó là môtíp cái chết đi liền với môtíp

ma hiện hồn” Ta nhận thấy văn hoá tâm linh được các thế lực trong làng triệt để lợi dụng Đi liền với đó, tác giả bài viết cũng đã chỉ ra các biểu hiện khác nhau của văn hóa cũng lần lượt xuất hiện Đó là “Văn hóa lịch sử”; “Văn hoá ẩm thực”; “Văn hoá cưới xin tang lễ” Đây có thể coi là bài viết hay, hấp dẫn vì đã có tiếp cận tác phẩm theo hướng văn hoá học

2.2.2 Về tiểu thuyết Dòng sông mía (Đào Thắng)

* Vài nét về tiểu sử

Đào Thắng tên thật là Đào Đình Thắng, sinh ngày 10-08-1946, quê ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Ông từng là chiến sỹ pháo cao xạ chiến đấu ở khu IV tuyến lửa những năm tháng chống Mỹ Ông tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa I,

và công tác tại xưởng phim quân đội, từng là chuyên viên Cục tư tưởng- Văn hóa Hiện ông là chánh văn phòng Hội nhà văn

Cho đến nay, Đào Thắng đã xuất bản các tác phẩm:

+ Điểm cao thành phố (Tiểu thuyết, 1982)

+ Nước mắt (Tiểu thuyết, 1991)

+ Dòng sông mía (Tiểu thuyết, 2004)

+ Đất xanh (2006)

+ Ngàn năm (2006)

* Các bài viết có liên quan đến tác phẩm

Trong sự nghiệp sáng tác của tác giả, có thể coi Dòng sông mía là tác phẩm

gắn liền với tên tuổi của nhà văn Đây là một trong bốn tiểu thuyết đoạt giải A giải

Trang 10

thưởng cao nhất của Hội nhà văn Việt Nam trao cho các tác phẩm suất sắc Theo đánh giá của nhà thơ Hữu Thỉnh- Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam thì “Các tác phẩm trao giải là gương mặt, là bước đi của tiểu thuyết Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” Xoay quanh tiểu thuyết này, cũng đã có những ý kiến đánh giá, trong

đó có thể kể đến:

+ Việt Chiến ở chuyên mục Văn học thứ Bảy (27-08-2005) trên trang điện tử

Thanh niên thì tác giả Đào Thắng “khá sung sức và thành công trong việc miêu tả đời sống nông thôn trong nhiều thập kỷ qua của đất nước” Nông thôn được phản

ánh trong Dòng sông mía vừa “vạm vỡ- đằm thắm, vừa đầy ắp thế sự với biết bao

thế sự xung đột xung quanh một gia đình, một dòng tộc” Và cũng theo ghi nhận của tác giả bài báo này thì “chỗ chênh vênh lại chính là sự thành công của Đào Thắng khi tác giả này không rơi vào chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa khách quan lạnh lùng ngay cả khi miêu tả những tình huống tồi tệ, bi đát nhất của cuộc sống”

+ Bài báo của tác giả Ngô Thị Kim Cúc trên trang Việt Báo nhận định:

“Quyển sách cuốn hút người đọc từ những trang đầu tiên, không phải vì hành văn hay cấu trúc mà ở sức sống ngồn ngộn tỏa ra từ trang sách, tràn đầy sức mạnh tâm linh của một vùng đất, được thức dậy bằng tất cả niềm yêu thương, đau đớn” Theo

ý kiến của tác giả bài viết thì có thể xem tác phẩm này như “gia phả của một dòng

họ ưu tú ở nông thôn, lịch sử của một ngôi làng bên bề sông Châu đậm chất văn hóa dân gian, bi kịch của những thế hệ đàn bà nông thôn, số phận mỏng manh, trải qua bao trầm luân, mất mát ”

+ Gần đây nhất, phải kể đến ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến với

nhan đề “Trên đất nước có bao nhiêu làng mía” Qua bài viết này, tác giả Hoàng

Ngọc Hiến đã đề cập đến “đời sống tính dục của những con người làng mía, đặt ra nhiều vấn đè xung quanh cái dâm: dâm và đấu tranh giai cấp, dâm và cải cách ruộng đất, dâm trong quan hệ gia đình- họ hàng, dâm trong cộng đồng làng xã Dâm trong

Dòng sông mía thường là bản năng thô bạo”, nhưng theo tác giả, nó cũng có cái

“lý” của nó Và yếu tố này, chắc chắn sẽ tạo sự hứng thú, hấp dẫn, gây ra nhiều ý kiến trái chiều từ độc giả

Trang 11

Bên cạnh những bài viết trên, là những ý kiến của các tác giả khác có liên

quan đến tác phẩm này Trong đó có thể kể đến bài của Trần Mạnh Hảo với Dòng sông mía của Đào Thắng hay tiếng nấc của dòng Châu Giang (Tạp chí nhà văn số

7, 2005) hay bài của tác giả Văn Chính: Cha, con và dòng sông mía (đăng trên trang

Phongdiep.net)

Như vậy, qua các bài viết và các công trình nghiên cứu trên, ta nhận thấy mặc

dù các bài viết được trình bày, thể hiện ở các khía cạnh- bình diện khác nhau, nhưng tất cả đều đã thể hiện sự quan tâm của giới nghiên cứu- phê bình đối với thể loại tiểu thuyết nói chung và vấn đề nông thôn nói riêng Tuy nhiên có thể nhận thấy,

chưa có một bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về Nông thôn trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lăm người nhiều ma và Dòng sông mía Vì thế,

chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề mới mẻ và có ý nghĩa còn chờ đợi sự khám phá của người nghiên cứu

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

- Khẳng định Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng là các tác giả tiêu biểu khi viết về đề tài nông thôn sau đổi mới (Hai nhà văn đã nhận giải thưởng của Hội nhà văn)

- Qua sáng tác của hai tác giả, có cách nhìn nhận toàn diện, đánh giá văn học viết về nông thôn sau thời kỳ đổi mới, nhất là loại văn xuôi lớn như tiểu thuyết

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề con người nông thôn qua hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) và Dòng sông mía (Đào Thắng)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung khảo sát hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) và Dòng sông mía (Đào Thắng) trong tương quan so sánh

với các tác phẩm viết về nông thôn trước và sau đổi mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp khái quát tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn tập trung tìm hiểu cách tiếp cận nông thôn qua hai tác phẩm một cách toàn diện và hệ thống

- Khẳng định cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng qua việc phản ánh nông thôn sau đổi mới

- Thông qua những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai tiểu thuyết, nhấn mạnh tài năng của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng

Hy vọng, thông qua luận văn này sẽ góp phần bỏ sung thêm cho bức tranh toàn cảnh về nông thôn đươc hoàn chỉnh hơn

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn được triển khai thành ba chương:

- Chương 1: Nông thôn sau đổi mới trong văn xuôi

- Chương 2: Triết lý mới về nông thôn qua việc thể hiện con người trong hai

tiểu thuyết

- Chương 3: Ngôn ngữ mới của tiểu thuyết viết về nông thôn trong hai tiểu

thuyết

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

VĂN XUÔI VỀ NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI

Văn học viết về nông thôn ở ta có một quá trình dài, có thể nói là một truyền thống khá vững chắc Ở mỗi thời kỳ lại có những đặc điểm khác nhau Để làm nổi bật đặc sắc văn xuôi thời kỳ sau đổi mới, chúng tôi cho rằng cũng cần phác qua đặc

điểm văn xuôi viết về đề tài nông thôn trước đây

1.1 Văn xuôi viết về nông thôn trước đổi mới (1986)

1.1.1 Thời kỳ 1930- 1945

Xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này đã có sự biến đổi to lớn, từ chế

độ thuần nhất phong kiến đã chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến Nghĩa là

có sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp, nhưng riêng ở nông thôn Việt Nam thì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quan hệ sản xuất phong kiến gắn liền với sự tồn tại của giai cấp địa chủ và nông dân về cơ bản vẫn là như

trước Điều đáng nói là sự áp bức giai cấp ở đây (cụ thể giữa địa chủ và nông dân),

ngày một gay gắt hơn, căng thẳng hơn Bức tranh này chúng ta có thể nhận thấy rõ qua nhiều tác phẩm kí sự, truyện ngắn, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng

của các tác giả tiêu biểu thuộc trào lưu hiện thực phê phán như : Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan); Tắt đèn (Ngô Tát Tố); Chí Phèo (Nam Cao)….Tập hợp lại,

đó là một toàn cảnh tiêu biểu, bao quát được thực trạng của nông thôn Việt Nam xảy ra trước Cách mạnh tháng Tám 1945

Trong Bước Đường cùng (Nguyễn Công Hoan), tác giả đã thành công trong

việc vạch trần bản chất xấu xa, đầy tội lỗi của bộ mặt cai trị nông thôn và dựng lên nhân vật Nghị Lại- một nhân vật điển hình khá toàn diện về giai cấp điạ chủ thối nát, phản động với tính cách xảo quyệt, thủ đoạn đầy mưu mô Tác giả tập trung vạch trần dục vọng cướp ruộng đất của bọn địa chủ, chủ yếu bằng thủ đoạn cho vay

Trang 14

cắt cổ Chính đây là nguyên nhân đã đẩy gia đình anh Pha vào cảnh nhà nát cửa tan,

tới cảnh bước đường cùng

Với Tắt đèn (Ngô Tất Tố), tác giả cũng tỏ ra xuất sắc trong việc chỉ ra hệ

thống chính quyền thống trị ở nông thôn Bọn cường hào nắm quyền ở làng Đông

Xá đúng là những con người xấu xa và hung ác Trong vụ sưu thuế, khi làm theo lệnh của bọn thống trị cấp trên và theo bản chất của giai cấp, chúng đã cùm trói, đánh đập anh Dậu một cách dã man vì nghèo mà không có tiền nộp sưu thuế bởi sưu cao thuế nặng, bởi phải nộp thêm thứ thuế có tên hết sức vô lí: là thuế cho

người cho người đã mất (anh Dậu phải nộp thuế thân cho người em trai đã mất)

Vì lý do này mà chị Dậu đã phải bán cả con lẫn chó Qua đấy, bản chất bóc lột tàn bạo, dã man của giai cấp địa chủ như càng được bộc lộ một cách tăng tiến Qua lời nói của hai vợ chồng nhà Nghị Quế, người đọc đã đã thấy rõ nhân phẩm, phẩm giá

của con người (cụ thể là cái Tý ) ở đây bị đối xử, bị coi như súc vật, thậm chí có khi

còn không bằng súc vật Lời nói của nhân vật Nghị Quế đã cho thấy rõ điều đó:

“Tôi nuôi chó để nó coi nhà Nuôi chó còn hơn nuôi đứa ở”[54,72]; hay qua lời diếc móc của mụ vợ tên đại địa chủ: “ Mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu Con chó nhà bà còn được mấy chục, con người như mày, bà chỉ mua có một đồng đấy thôi”.[54,73]

Đến với truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, bộ mặt của bọn cường hào, ác

bá hiện lên trong làng quê Vũ Đại cũng thật là ghê gớm Trước hết là cảnh “Quần ngư tranh thực” giữa hai phe cánh cha con Bá Kiến và phe cánh Đội Tảo, nhưng nổi

lên rõ nét hơn vẫn là những tội ác của chúng với người nông dân Đặc biệt, với tác

phẩm Chí Phèo, tác giả đã phát hiện tội ác dã man nhất của bọn cường hào nông thôn lúc bấy giờ là đẩy người nông dân (cụ thể là Chí Phèo) từ một cố nông với bản

chất hiền lành, chân chất, chịu khó làm ăn đến chỗ bị lưu manh hoá mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, có muốn trở thành người lương thiện cũng không thể

Bức tranh toàn cảnh nông thôn của các nhà văn hiện thực như những đàn chim én báo hiệu mùa xuân cách mạng sắp tới gần Ở những tác phẩm này, ngoài giá trị hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc Đó là những đòi hỏi

Trang 15

về quyền sống, quyền làm người Đó là sự quan tâm đến số phận của những kiếp người bé nhỏ, đầy bất hạnh Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị dồn vào những bước đường không còn lối thoát

1.1.2 Thời kỳ 1945- 1954

Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam Với thắng lợi này, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hoà, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà Và một điều mà chúng ta dễ nhận thấy là bộ mặt của nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi to lớn Thành công của cuộc Cách mạng đã đem đến cho người nông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới Giờ đây ruộng đất đã được trao tận tay với quyền làm chủ và họ bắt đầu quá trình xây dựng và kiến thiết cuộc sống mới Nhưng cũng trong giai đoạn này, người nông dân lại phải tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đất nước Chính vì vậy, trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầu như không tách riêng ra thành một mảnh rõ rệt với văn xuôi nói chung Đề tài nông thôn

cũng nằm trong đề tài kháng chiến, hoà quện trong một cái tên chung là văn xuôi kháng chiến

Gần 90% dân số nước ta trong giai đoạn này là giai cấp nông dân, bởi vậy phần lớn những chiến sĩ cách mạng xuất thân từ các làng quê, từ những người nông dân được nhắc tới trong bài Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của tác giả Nguyên Đình Chiểu vốn là những người:

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen;

Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó

Thì đến nay:

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

Trang 16

giờ đây những người nông dân này đã chuyển sang cầm súng đạn, sẵn sàng bảo vệ

Tổ quốc Các làng quê giờ đây trở thành hậu phương vững chắc, tiếp sức cho tiền tuyến, đảm bảo thắng lợi cả về vật chất lẫn tinh thần Những bà mẹ hậu phương trở thành mẹ chung, sẵn sàng chở che, nuôi dấu chiến sĩ bồ đội; những người phụ nữ- người vợ đảm đang vừa lo tăng gia sản xuất, vừa lo chiến đấu; những lớp trai trẻ bừng bừng khí thế ra trận Tất cả những gương sáng đó đều có mặt trong một thể

loại văn học mang đậm tính thời sự- đó là thể ký Có thể kể đến Truyện và ký (Trần Đăng); Nhật ký ở rừng (Nam Cao); Ký sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng); Tuỳ bút kháng chiến (Nguyễn Tuân) Đây đều là những tác phẩm tiêu biểu của thể loại ký

trong giai đoạn văn học này

Ngoài ra trong giai đoạn văn học này, văn xuôi lấy bối cảnh trực tiếp là nông

thôn còn có các truyện ngắn Thư nhà (Hồ Phương); Làng (Kim Lân); Con Trâu

(Nguyễn Văn Bổng) đều là những sáng tác tiêu biểu có giá trị

1.1.3 Thời kỳ 1954- 1960

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, Đảng ta đã chủ trương chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Trước khi bắt đầu những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc phải bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế-xã hội do

bị tàn phá nặng nề Một số vấn đề lớn được đặt ra là làm sao đáp ứng được những nhu cầu của con người sau những năm tháng chiến tranh, đồng thời vẫn phải củng

cố, giữ vững mục tiêu của Đảng của cách mạng

Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn này nổi bật lên hai sự kiện quan trọng:

đó là Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp Hai sự kiện này

thể hiện rất rõ trong văn học Văn xuôi viết về nông thôn trong cải cách ruộng đất

có các sáng tác: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng); Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan); Ông lão hàng xóm (Kim Lân) Đây là những tác phẩm của các tác giả

có quá trình và có thành tựu sáng tác từ trước cách mạng

Văn xuôi viết về phong trào hợp tác xã nông nghiệp cũng có những sáng tác

tiêu biểu của các tác giả như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm; Vũ Thị

Trang 17

Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác; Nguyên Khải với Tầm nhìn xa, Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa, Gia đình lớn; Nguyễn Kiên với Đồng tháng năm và Vụ mùa chưa gặt…

Trong Cái sân gạch của Đào Vũ, không khí nông thôn trong những ngày đầu

xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đã được tác giả miêu tả nổi bật Với nhân vật chính là lão Am, tác giả đã dựng lên được hình tượng một người nông dân tương đối sắc nét với những toan tính , nghĩ suy xung quanh sự kiện vào hợp tác xã Đến

với các tác phẩm của Nguyễn Khải như Tầm nhìn xa, Gia đình lớn lại xoay quanh

những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và tập thể xã hội Những nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm này là những mẫu người tiêu biểu, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng

tư, bé nhỏ của mình để xây dựng tập thể lớn, cống hiến cho công việc chung của

toàn xã hội Qua Tầm nhìn xa, Nguyễn Khải được đánh giá là đã phát hiện và thể

hiện thành công sự biến tướng của bản chất tư hữu ở người nông dân ở những điều kiện và hoàn cảnh mới qua nhân vật Tuy Kiền

1.1.4 Thời kỳ 1964- 1975

Giai đoạn này cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ Nông thôn vừa là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam tiền tuyến vừa sẵn sàng chiến đấu giữ vững nền độc lập, bởi vậy văn xuôi viết về nông thôn trong giai đoạn chống Mỹ

ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng Đây là thời kỳ văn xuôi viết về nông thôn có được nhiều thành tựu cả về tác phẩm lẫn đội ngũ sáng tác, có thể kể đến: Nguyễn

Thị Ngọc Tú với Đất lành, Buổi sáng; Chu Văn với Bão Biển, Đất mặn; Nguyễn Khải với Chủ tịch huyện; Nguyễn Minh Châu với Cửa sông…Nhìn chung, qua các

tác phẩm trên đã phản ánh được hiện thực nông thôn sống động với nhiều sự kiện

và chi tiết tiêu biểu, nêu được những tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng và khí thế chống Mỹ cứu nước của hậu phương Đặc biệt qua các tác phẩm của Chu

Văn (Bảo biển) hay Nguyễn Khải (Chủ tịch huyện) đã có cái nhìn sâu sắc, toàn diện

hơn về người nông dân

Với cuốn tiểu thuyết Bão biển, tác giả đã lấy bối cảnh là nông thôn trước thời

chống Mỹ Khó khăn lúc này là làm sao động viên người nông dân mang nặng tư

Trang 18

tưởng tư hữu đưa tài sản của mình vào hợp tác xã, việc thay đổi tập quán canh tác,

áp dụng kỹ thuật mới của thuỷ lợi, của khẩn hoang…Tất cả những khó khăn ấy đều

đổ lên vai người cán bộ cơ sở Họ vừa phải đưa ra chủ trương, phải làm tốt công tác

tư tưởng, vừa phải hiện thực hoá những chủ trương ấy Đó là những thế hệ người trẻ tuổi có văn hoá, có tư tưởng tiến bộ xông xáo nhiệt tình như Tiệp, Thất Bên cạnh

đó, trong hàng ngũ của cán bộ lãnh đạo lại có những người sa ngã, tha hoá bởi những đòi hỏi của lợi ích cá nhân như Hối (chủ nhiệm hợp tác xã Sa Bình); Thản (uỷ viên quản trị hợp tác xã Giang Ninh) Chính điều này đã gây ra những dư luận không tốt trong nhân dân, làm cho lòng tin của quần chúng nhân dân với cán bộ đảng viên bị giảm sút

Với Chủ tịch huyện, tác giả đã đặt ra cách nhìn trực diện về người lãnh đạo

các cấp, cùng với đó là các vấn đề quan trọng không chỉ có ý nghĩa thời sự lúc bấy giờ, mà ý nghĩa và tầm quan trọng của nó cho đến nay vẫn có tác dụng đối với con người và cuộc sống Đó là vấn đề cách nghĩ, cách sống của con người trong quan hệ sản xuất mới; vấn đề về sự trau dồi tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực của những cán bộ quản lý nông thôn; vấn đề đấu tranh bản thân, đấu tranh nội bộ; vấn

đề xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với chính quyền; giữa cá nhân với tập thể Qua truyện ngắn này, Nguyễn Khải đặt vấn đề về người cán bộ ở nông thôn trong việc đáp ứng những yêu cầu mới của hoàn cảnh Để có thể nắm bắt tâm

tư, tình cảm, nguyện vọng sâu kín của quần chúng, để có tầm nhìn bao quát sâu rộng, và có phản ứng nhanh nhạy trước những biến chuyển không ngừng của đời sống…ngoài việc giữ gìn và trau dồi những phẩm chất đạo đức cách mạng, người cán bộ lãnh đạo còn phải năng động, xông xáo, phải đi tìm hiểu cặn kẽ tình hình thực tế và không bao giờ được chủ quan chỉ nhìn nhận đánh giá con người và cuộc sống ở những biểu hiện bề ngoài

1.1.5 Thời kỳ 1975- 1985

Văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn này đã bắt đầu chuyển động với các

tiểu thuyết Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên); Bí thư cấp huyện (Đào Vũ) Đây là

Trang 19

chọn đưa vào thời điểm đó thực sự là những vấn đề xã hội bức thiết: đó là hiện tượng ô dù, tham ô được nhắc tới để mọi người cùng nhận thức và tìm cách loại bỏ

(Nhìn dưới mặt trời); đó còn là nỗi khổ cực của người nông dân do cách thức làm

ăn ở hợp tác cũ khi chưa có khoán được đề cập khá quyết liệt (Bí thư cấp huyện )

Với cuốn tiểu thuyết Cù lao tràm xuất hiện năm 1985 của Nguyễn Mạnh

Tuấn có thể nhận thấy, văn xuôi viết về nông thôn đã chuyển lên một bình diện mới Trong tác phẩm này, tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề phẩm chất và năng lực của người cán bộ nông thôn và vấn đề xác định một đường lối, chính sách thích hợp

trong cải tạo, xây dựng nông thôn Nam Bộ Với Cù lao tràm Nguyễn Mạnh Tuấn đã

“bước đầu chạm đúng vào thời điểm nóng nhất của hiện thực, của mọi mối quan tâm” Nó “đã thở được hơi thở nóng hổi của nông thôn Nam Bộ”[25]

1.2 Chủ đề nông thôn sau đổi mới qua các truyện ngắn và tiểu thuyết 1.2.1 Vài nét về hoàn cảnh

Với chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 đã đưa nước ta đi đến thống nhất hoàn toàn, khép lại một trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Giờ đây cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn chồng chất Dẫu cho cuộc chiến đã lùi xa, tiếng súng đã chấm dứt những hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh đã làm cho cuộc sống thời kỳ sau chiến tranh vốn đã khó khăn lại càng thêm khó khăn gấp bội Công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết cả trong nhận thức và trong thực tiến Có thể thấy, đó là thời

kỳ mà nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng Cơ chế quản lý bao cấp

tỏ ra bất lực Do vậy, cùng với sự thay đổi mọi mặt trong đời sống xã hội đã kéo theo sự thay đổi trong nhận thức và tâm lý ở mỗi người Nếu như trước kia mọi người cùng đồng lòng chung sức cho chiến thắng của dân tộc thì ngày nay con người phải đối mặt với bao lo toan cá nhân, cho cuộc sống thường ngày Với muôn vàn khó khăn xuất hiện, bỗng làm lay động mọi suy nghĩ và niềm tin của cá nhân

mỗi người Như nhà văn Nguyễn Khãi đã nhận xét: “Chiến tranh ồn ào, náo động

mà lại có cái yên tĩnh, giản dị của nó Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong Nhiều người không thể chết

Trang 20

trong nhà tù, trên trận địa, trong chiến tranh mà lại chết trong “ao tù trưởng giả” khi cả nước đã dành được độc lập và tự do”[26]

Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, để giải quyết khó khăn trước mắt, nhằm xây dựng và phát triển đất nước thì đổi mới là một lựa chọn khẩn thiết, dứt khoát và tất yếu, là cái đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, cũng là nỗi khát khao cháy bỏng của toàn dân tộc nhằm thoát khỏi những khó khăn, thử thách của một đât nước mà cuộc chiến tranh kéo dài vừa mới qua đi

Dưới ánh sánh của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986)

đã diễn ra với hai khẩu hiệu: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Hai khẩu hiệu trên như một luồng gió mới thổi vào

đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống văn học nghệ thuật, mở ra một thời kỳ mới cho văn học Việt Nam Và một điểm cốt yếu của cuộc đổi mới này chính là chính là việc đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, cách nghĩ cho đúng, làm cho đúng những quy luật khách quan vốn có của nó Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh:

“Ai cũng nói đổi mới nhưng đổi mới thật sự là gì? Theo tôi, đổi mới là nghĩ đúng, làm đúng quy luật khách quan, là tôn trọng tinh thần khoa học”[38]

Nói về vấn đề này, Giáo sư Phan Cư Đệ đã đưa ra một quan niệm mới có cơ

sở lý luận và thực tiễn như sau: “Đổi mới tư duy là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nhưng đồng thời cũng là một công việc lâu dài, phải tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc…Trong quá trình đổi mới tư duy, tất nhiên không chỉ có phê phán mà chủ yếu là phải suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, cá nhân và tập thể cùng đổi mới và sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI”[10]

Cũng nhìn nhận về vấn đề trên, nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường trong lời

kết thúc cuộc toạ đàm Văn học đổi mới và phát triển đã có phần thoả đáng khi nhìn nhận công cuộc đổi mới văn học: “Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn Đề tài, nhân vật, phong cách cá tính không là cái gì nếu không có cái nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được một cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức

Trang 21

trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình Không có những cái đó thì không có đổi mới” [56, 49-50]

Như vậy, với những ý kiến nhận xét, đánh giá trên đã cho thấy những chuyển động trong đời sống xã hội nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ VI, là sự đổi mới mang tính tất yếu của đời sống xã hội Việt Nam, là tiền đề đổi mới trong đời sống văn học nghệ thuật nói chung và là sự đổi mới trong đề tài viết về nông thôn nói riêng

1.2.2 Chủ đề có tính thế sự trong văn xuôi về nông thôn

Sau thời kỳ đổi mới, sự chuyển biến rõ nét nhất của văn xuôi nói chung và

văn xuôi viết về nông thôn nói riêng thực sự đã đã nghiêng về các vấn đề thể tài thế

sự - những vấn đề của cuộc sống hằng ngày Khác với văn xuôi viết về nông thôn

giai đoạn chống Mĩ có tính sử thi: xây dựng chủ nghĩa xã hội, hợp tác hoá, hậu

phương lớn và tiền tuyến lớn như: Đất làng của Nguyễn Thị Ngọc Tú; Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ… Yêu cầu của hiện thực mới đòi hỏi người nghệ sĩ

phải thay đổi cách nhìn nhận, cách tiếp cận đời sống Trước đây, ở thời kỳ chiến tranh, mọi sự vật đều được nhận thức trên cơ sở sự phân biệt tốt- xấu, trắng - đen, đúng - sai Việc xem xét đánh giá con người chỉ cần thông qua những chuẩn mực

có tính toàn dân Giờ đây, chiến tranh đã qua đi, con người trở về với cuộc sống thường nhật với biết bao vấn đề mới nảy sinh Lúc này không thể áp dụng những chuẩn mực cũ được nữa khi đánh giá con người Bản chất của con người luôn có sự

song hành giữa phần “con” và phần “người”, giữa cái thiện với cái ác Có một thời,

ta chỉ dám nói đến phần thiện, phần người, viết theo kiểu noi gương người tốt- việc tốt thì giờ đây con người được tiếp cận khám ở nhiều chiều, nhiều hướng, được nhìn nhận một cách khách quan như bản chất vốn có của nó Ngay cả những nhân vật tính cực cũng không còn được nhìn nhận theo hướng lý tưởng như trước Trong cuộc sống, họ cũng như bao con người bình thường khác, cũng có những sai lầm, cần phải nhìn nhận lại Bắt đầu xuất hiện trong các trang viết những cái ác, cái xấu

có khi lạnh lùng, tàn nhẫn khiến người ta phải giật mình như Lưu Minh Hiếu trong

tiểu thuyết Truyện làng cuội của Lê Lựu là một con người tàn nhẫn, quỷ quyệt, vô

tình ngay cả với mẹ của mình miễn leo lên được chức lãnh đạo Đó còn là nhân vật

Trang 22

Ngô Quất trong Bóng đêm và mặt trời của Ngô Ngọc Bội đã sẵn sàng chỉ thẳng tay vào mặt bố mình gọi mày xưng tao và hơn nữa “ơn huệ” của ông địa chủ Cam trước

khi chết chính là được dùng bằng phương pháp gầu sòng- chuyên dùng đề xử tội bọn tội phạm thì giờ được áp dụng cho bố hắn

Điều đó cho thấy, phát hiện và phản ánh con người không phải là điều dễ dàng Đó là một quá trình đòi hỏi sự nhanh nhạy, sắc sảo và chiêm nghiệm của nhà văn bởi bản thân con người là một khối chứa đầy mâu thuẫn, phức tạp, hoà trộn cả mặt tốt và mặt xấu Nét đổi mới của các truyện ngắn và tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ này là đã dám đi vào phản ánh những mặt chưa hoàn thiện trong con người Tuy nhiên, đó không phải là cái nhìn bi quan, tiêu cực mà đó chính là cách giúp cho người đọc có được cái nhìn chân xác đầy đủ hơn về con người và cuộc sống trong thời đại dân chủ

Một sự đổi mới đáng ghi nhận nữa của văn xuôi viết về nông thôn sau 1986

là các nhà văn đã có sự quan tâm mạnh mẽ đến số phận con người (như trong

Phiên chợ Giáp của Nguyễn Minh Châu, Bến không chồng của Dương Hướng) và

hạnh phúc cá nhân (như trong Thời xa vắng của Lê Lựu) Chính sự thay đổi này đã

góp phần tạo nên sức hút hấp dẫn trong lòng bạn đọc bởi tính chất hợp lý- mới mẻ, đáp ứng những đòi hỏi tất yếu và có tính thời cuộc

Ở thời kỳ trước, hầu như không có sự tồn tại của cá nhân bởi nó đã bị hoà tan trong cộng đồng Ngay cả những mối quan hệ trong gia đình hầu như đều có bàn tay tập thể chi phối, nhiều khi cũng có sự thiếu dân chủ, thiếu công bằng nhưng không

ai dám một mình chống chọi lại số đông, nhất là với chính quyền- đoàn thể Mọi tiêu chí đánh giá, nhận xét con người cũng dựa trên quan điểm lập trường giai cấp Bởi vậy, văn chương hầu như chỉ phản ánh bề nổi, ít đi sâu chú trọng vào những tâm tư, tình cảm của con ngưòi Nhưng bước vào gíai đoạn này, cái nhìn của nhà văn đã khác Nhà văn đứng trên phương diện của con người để nhìn nhận, đánh giá cảm thông với con người Chính vì vậy, đã xuất hiện rất nhiều nhân vật với số phận bất hạnh, đầy bi kịch Từ quan niệm con người cộng đồng đã chuyển sang con người thế sự, con người số phận

Trang 23

Trong tiểu thuyết Bến không chồng, nhân vật Hạnh hiện lên phẩm chất của

một con người với sự nhiệt tình và lòng vị tha Đây là nhân vật sống hết mình với tình yêu, nhưng hạnh phúc thất trớ trêu Hạnh phải chấp nhận rời bỏ ngôi nhà và tình yêu của mình để trở về nhà mẹ đẻ, sống vật vờ như một cái bóng Sự lựa chọn

ấy đã nói lên số phận của Hạnh và đồng thời tố cáo những định kiến nặng nề và tình trạng mâu thuẫn giữa các dòng họ diễn ra nhiều nơi trong nông thôn Cũng trong tác phẩm này, nhân vật Nguyễn Vạn lại được đề cập ở một khía cạnh khác Là một thương binh giải ngũ về làng, Vạn sống nhiệt tình với công việc chung, nhân cách trong sáng- đúng mực Nhưng cũng chính điều này mà tự anh đã tạo ra những hàng rào định kiến, ràng buộc chính mình Vạn đã không dám dũng cảm đến với Nhân,

bỏ qua tình cảm đẹp, rồi đến khi sau phút giây không tự chủ lầm lỡ với Hạnh, Vạn

đã phải chọn cho mình cái chết đầy đau đớn và xót xa Bi kịch của Vạn là bi kịch của sự nhận thức ẫu trĩ, sai lầm bởi những việc do Hạnh gây ra đã đưa lại cho anh nỗi lo sợ với những dự cảm tội lỗi từ quan niệm sai trái- Vạn đã tự tạo đau khổ cho chính mình Từ đấy, có thể nhận thấy để hiểu về nội tâm của con người là điều không phải đơn giản

Vấn đề hạnh phúc cá nhân được thể hiện khá tập trung và nổi bật trong tiểu thuyết Thời xa vắng (Lê Lựu) Giang Minh Sài là minh chứng cho kiểu nhân vật có

cuộc sống mà hạnh phúc không khi nào trọn vẹn Cả cuộc đời Sài phải sống theo sự sắp đặt, ý muốn của người khác Thói quen chịu đựng của người nông dân đã tạo cho Sài sự chấp nhận Sài không dám sống cuộc sống của riêng mình Ở cơ quan thì Sài phải nghe theo sự sắp xếp của đoàn thể- của lãnh đạo; về nhà thì phải nghe cha mẹ- họ hàng Sài yêu nhưng không giữ nổi tình yêu cho mình Cũng có lúc Sài muốn vùng lên, giải thoát cho bản thân nhưng mỗi lần như thế, những ràng buộc lại càng thít chặt hơn và với thói quen thụ động, chấp nhận cố hữu trong Sài lại ghìm

anh xuống Để rồi, đến khi mất tất cả, Sài mới thốt lên muộn màng, chua xót “Giá như ngày ấy em cứ sống với tình cảm của chính mình, mình có thế nào thì cứ sống như thế, không sợ ai, không chiều theo ý ai, sống hộ cho ý định người khác, cốt để cho đẹp mặt mọi người chứ không phải cho hạnh phúc của mình”[36,424]

Trang 24

Như vậy, với việc quan tâm đến đời sống riêng tư, hạnh phúc cá nhân các tác phẩm văn xuôi viết về nông thôn sau đổi mới đã mở ra những hướng khám phá mới

mẻ trong sự tiếp cận và phản ánh con người Đứng từ góc độ con người để đánh giá con người, nhìn nhận con người ở phương diện cá nhân, thế sự, văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn này đã bước ra khỏi lối mòn cũ kỹ một thời, đạt được chiều sâu

và đáp ứng được những nhu cầu của cuộc sống hiện tại Góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển của văn học dân tộc sau này

1.2.3 Xu hướng tìm hiểu văn hoá, một chủ đề đặc trưng của văn xuôi về nông thôn

Xu hướng tìm hiểu văn hoá thông qua các sáng tác văn xuôi, đặc biệt là các truyện ngắn và tiểu thuyết là một xu hướng mới mẻ thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà văn Trong đó, có thể kể đến các sáng tác của các nhà văn như

Nguyễn Minh Châu với Khách ở quê ra; Lê Lựu với Thời xa vắng; Nguyễn Huy Thiệp với Những bài học nông thôn…Thông qua những sáng tác này, người đọc có

thể nhận thấy những nét văn hoá nông thôn một thời được tái hiện lại một cách chân

thực, sinh động và sắc nét Ở đây, luận văn chú ý đến hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng Văn

hóa nông thôn dưới góc nhìn của các tác giả được thể hiện trên các phương diện:

1.2.3.1 Tang ma

Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, tác giả đã đặc tả hai đám

tang : một của cụ cố Đại, một của cô Son mà thông qua mỗi đám, tác giả với vốn hiểu biết văn hoá của mình đã đem đến cho người đọc có được những trải nghiệm, những hiểu biết mới về những tập tục văn hoá thời kỳ trước

Với đám tang của cụ cố Đại, là người đứng đầu dòng họ Vũ Đình, một dòng

họ có tiếng ở làng Giếng Chùa, tác giả đã dựng lại nguyên vẹn văn hoá ngày đám để đưa người đọc như hoà mình vào không khí đưa tiễn của gia chủ Qua lời miêu tả của tác giả, từng chi tiết trong đám tang như được hiện lên rõ nét và sinh động Trước tiên ta thấy, tác giả miêu tả quan tài dùng để đưa tiễn cụ Cố là chiếc quan tài

để mộc không sơn, chỉ bào nhẵn, màu gỗ dổi vàng ươm trông còn nổi hơn cả sơn,

Trang 25

kê dọc theo chiều nhà Trên ván thiên, một bình hương to khói um tùm Tàn hương rơi lả tả trên quả trứng luộc và bát cơm đóng theo hình quả oản để cạnh Tiếp đó là

lời dặn của ông trưởng phường bát âm: Để cụ đi được thanh thản, trong lúc chào cụ lần cuối không ai được khóc Sau khi mọi người đã được nhìn mặt cụ rồi, ông

trưởng phường bát âm cúi xuống như nói riêng với cụ cố điều gì, rồi ông rút trong túi áo ra chiếc bùa xoắn bằng giấy bồi, lùa vào miệng cụ cố mà theo như cách lý giải của họ thì đây chính là Giấy thông hành của cụ cố để sang thế giới âm ti được hanh thông Quả thực trong quan niệm của những người đang sống kia thì trần sao

âm vậy Mong muốn những điều may mắn sẽ đến với người đã khuất ở thế giới bên kia địa phủ

Tiếp đó lễ cầu hồn của cụ Cố đã được diễn ra ngay trong đêm Trưởng phường bát âm mang một chiếc thuyền bằng chiếc diều sáo của trẻ con Đó là chiếc thuyền đưa linh hồn của người mới khuất về nơi chín suối Tất cả chiếc thuyền được dán bằng giấy đỏ Đó là màu biểu hiện của điềm lành, điềm phúc của đạo Phật Một sợi dây buộc vào mũi thuyền, và thằng cháu đích tôn- tức con trai của ông Phúc cầm dây kéo thuyền đi trước Trưởng phường bát âm cầm một cây gậy cuộn giấy đỏ, ngang người ông thắt thêm một sợi dây cũng màu đỏ Chiếc gậy ấy là sào chèo thuyền Một đầu sào chống phía sau cạnh thuyền Sau đó, ông đu nửa người trên, hai tay làm động tác khoát nước bát thuyền, miệng đọc bài dặn dò của người đang sống với linh hồn người đã khuất

Tiếp đó, ông Vũ Đình Phúc Phúc đốt một nén nhang và bỏ tờ bạc một trăm vào chiếc thuyền thằng cháu đích tôn đang kéo Lần lượt những người ngồi vòng quanh phía sau đứng lên thi nhau bỏ tiền vào thuyền và xếp hàng tiếp phía sau ông Phúc Hàng nối càng dài thì tiền bỏ ra càng nhiều Đây là tiền của người đang sống chứ không phải tiền âm phủ Đây là cách thưởng của tang chủ đối với đội kèn Trưởng phường bát âm càng nhiều bài cầu lâm ly thì tiền của con cháu tang chủ bỏ vào thuyền càng nhiều Hoá ra cái chết vốn gắn liền với quan niệm về văn hoá tâm linh, vốn rất thiêng liêng nhưng ở đây cái chết này với một lễ trang trọng thể với đội

Trang 26

kèn đám ma cũng biết lợi dụng cơ hội để kiếm chác thêm tiền trên sự đau khổ, mất mát của những người thân quyến kia

Đúng ba giờ chiều ngày hôm sau, là giờ thanh long, giờ mà cô Thống Biệu

đã bấm cho ông Phúc để tiến hành tang lễ cụ Cố Cả đại gia đình chi họ Vũ đã đứng thành một hàng gồm dâu rể, nội ngoại cùng ngồi thụp nhìn vào lưng nhau, đầu khăn trên trắng xoá trông như một vạch vôi thẳng từ bờ hè ra đến tận cổng Theo tập tục

đó là chiếc cầu con cháu đưa tiễn người quá cố là bậc trên của mình ra đi được xuôi trèo mát mái, gặp nhiều may mắn Lời của hội trưởng hội bảo thọ như đánh thức

mọi người: “Chú ý, sau ba tiếng trống, đầu nâng trước, chân nâng sau Đầu xuôi, đuôi lọt” Sau ba tiếng đánh dài, tám thanh niên trong đội đô tuỳ chia làm hai, đứng

hai bên áo quan đã lom khom cúi sẵn sàng Tiếng trống thứ ba vừa dứt, chiếc áo quan được nâng bật dậy Đầu nâng cao ra trước Theo những bước chân sâu đo, chiếc áo quan từ từ trôi trên mái đầu quấn khăn trắng xoá, nối nhau ngồi phủ phục

Cụ Cố đang đi trên cái cầu cuối cùng của tình máu mủ nơi trần thế để sang thế giới bên kia Tiếng khèn, tiếng nhị, tiếng trống cùng âm vang Người vòng trong vòng ngoài đầy sân Linh cữu đi tới đâu, cuốn theo những người chít khăn trắng trôi đi đến đấy Cuối cùng khi nấm mộ cụ cố đã đắp xong ông trưởng phường bát âm lại chống cây gập dán giấy đỏ, theo động tác chèo thuyền, cùng con cháu cụ Cố rồng rắn đi vòng quanh ngôi mộ một lượt hát bài tiễn biệt

Như vậy, với việc đặc tả đám ma cụ cố Đại, tác giả đã phần nào giúp cho người đọc hình dung ra được văn hoá đám hiếu một thời đã từng tồn tại trong đời sống của nhân dân ta Được tổ chức rất trọng thể, với đầy đủ các nghi thức thể hiện tình máu mủ xót thương, thể hiện sự nuối tiếc với người đã khuất, một lòng thành kính mong mỏi người thân ở dưới chốn âm ti sẽ được hưởng niềm may mắn, có cuộc sống thanh thản

1.2.3.2 Hôn nhân

Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường đã chú trọng đặc

biệt việc miêu tả cảnh đám cưới của cô Son và Trịnh Bá Hàm Đám cưới này được diễn ra với tình yêu đơn phương mà Hàm dành cho Son Son đến với Hàm trong

Trang 27

tình thế bị Vũ Đình Phúc cự tuyệt, bị gia đình mắng mỏ trì triết Ngày cưới được diễn ra theo đúng những dự tính của Hàm Không khí của đám cưới này đã phần nào cho ta thấy đây là một đám cưới lớn ở trong làng, được tổ chức một cách linh đình và long trọng “với cỗ bàn dàn dạt từ bên trong ra tít ngoài sân Người ăn hết lớp này đến lớp khác rào rào từ sáng đến chiều tà như tằm ăn rỗi”[79] Nghi thức diễn ra cũng rất trang trọng, để lại ấn tượng trong lòng độc giả Trước giờ thành thân của của hai vợ chồng, ông bố chồng- tức Trịnh Bá Hoành khăn áo tề chỉnh, thắp ba nén hương trước bàn thờ, ông đứng trước, vợ chồng Hàm đứng sau Ông sịt soạt khấn lầm rầm Đó là giới thiệu đôi vợ chồng trẻ với gia tiên, giới thiệu một người khác họ về nhập tịch làm dâu con chi họ Trịnh Bá Vợ chồng Hàm quỳ lạy ba lạy rồi lui Và một điều mà người đọc cảm thấy ấn tượng mạnh và sâu sắc chính là việc trong những đám cưới như này, luôn chọn ra một người trải giường mà được tiếng mát vía về đường con cái để giúp cho đôi trẻ có được cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn Hơn nữa, người trải giường này còn lấy mảnh vải xô trắng lót dưới giường như để minh chứng cho sự trinh tiết của người con gái trong đêm tân hôn cũng là một nét văn hoá đẹp bởi nó đề cao sự trong trắng tinh khiết của ngươi con gái Nét văn hoá này, thiết nghĩ trong xã hội hiện đại ngày này dường như đã không còn bởi không phải ngày nay chúng ta không còn đề cao trinh tiết, giá trị của người phụ nữ

mà do sự hội nhập, phát triển của văn hoá phương Tây đã khiến cho việc làm này không thực sư trở nên cần thiết

1.2.3.3 Văn hoá tính dục

Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, vào thập niên 60 chủ đề tính dục nổi lên mạnh mẽ trên hầu khắp thế giới ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như văn học, hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh Trên thực tế, tính dục là mối quan tâm muôn thuở của con người bởi lẽ nó là thứ cảm giác tồn tại từ trong bản thể Nỗi xấu hổ của Adam và Eva sau khi ăn trái cấm là nỗi xấu hổ tính dục, cảm giác giới tính và bản sắc Nhưng đồng thời nỗi xấu hổ ấy lại trở thành tội tổ tông theo Kinh thánh bởi từ đây con người sẽ không thể nào thoát khỏi khát khao dục vọng mù quáng, nỗi ám ảnh về nó với tư cách một cá nhân Chưa bao giờ trong lịch sử khoa học, văn hoá, tư

Trang 28

tưởng, đề tài tính dục lại không được bàn tới như là hạt nhân của ý thức hệ Phạm

trù "tính dục" (sexuality) tồn tại ở tầng vỉa sâu nhất của đời sống và trong nó luôn luôn lưu chảy những dòng diễn ngôn sôi động, nhộn nhịp Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, tác giả đã thể hiện tính dục thông qua các mối quan hệ giữa Hàm

với Son - giữa Hàm với người đàn bà làm thuê; và mối tình giữa trung tá Chỉnh với

cô Lạc Nhưng tiêu biểu và tập trung hơn cả là mối quan hệ giữa xoay quanh nhân vật Trịnh Bá Hàm

Với mối tình của Hàm và Son, người đọc nhận thấy đây là một cuộc tình đơn phương mà Hàm dành cho Son Bởi vậy, ngay trong đêm tân hôn, khi mà các thủ túc cần thiết của một đám hỉ được hoàn tất, đã diễn ra cuộc tra hỏi mà Hàm giành cho Son Bởi lúc này đây, cơn ghen tuông kia khiến cho Hàm không làm chủ được

mình, nổi cơn thịnh lộ lôi đình vì Hàm biết rõ rằng mình chỉ là kẻ đến sau bởi cái trái cấm kia đã có kẻ bóc trước rồi Hàm đã đánh Son và sỉ nhục Son Chắc chắn

nếu không có lời nói phản kháng lại của Son “Anh im lặng thì tôi nguyện làm con hầu con hạ cho anh suốt đời Rồi tôi sẽ báo oán, sẽ vật anh chết theo” thì hẳn Hàm

đã không dừng lại Sau lời nói của Son đã dẫn đến hành động điên cuồng của Hàm

“nhảy tới nằm phủ lên người Son như phủ một con mồi Tình yêu của kẻ ghen tột cùng đến thành rồ dại” Tác giả đã khai thác chiều sâu trong tâm lí của Son, là người không hề yêu Hàm, do đó cuộc hành lạc kia chỉ như là sự cam chịu, chấp nhận hơn là sự đem lại khoái cảm trong hạnh phúc lứa đôi Ở đây cuộc hôn nhân này là kết quả một chiều do Hàm chủ động, chủ ý quyết tâm lấy Son cho bằng được

Lẽ ra đêm động phòng sẽ diễn ra xuôi chiều mát mái, diễn ra một cách thuận lợi nếu

không có cơn ghen của Hàm, bởi lẽ về lúc này danh chính ngôn thuận giờ Hàm đã

là chồng của Son và việc Son thực hiện trách nhiệm của người làm vợ là điều đương nhiên và quyền lợi được hưởng niềm hạnh phúc ân ái vợ chồng sẽ càng thêm trọn vẹn Vì vậy, không khó hiểu khi đêm tân hôn ấy đã in sâu trong kí ức của Son bởi vì

nó mà cô phải chịu nhiều sự sỉ vả và đánh đập

Với vợ chồng Hàm Son, thấm thoát thời gian cũng trôi qua đi Đi liền với đó là những đứa con được sinh ra như sự minh chứng của cuộc hôn nhân này Đời sống

Trang 29

tính dục của hai vợ chồng này được thể hiện qua cái nhìn của tác giả “Theo lệ ngầm giữa hai người từ rất lâu rồi, từ ngày con cái đã khôn lớn, vợ chồng bà không ngủ chung giường Nhưng hễ đang ngủ, bà Son bỗng thấy có bàn tay rờ rờ lần tìm, rồi hai ngón tay thô giáp bấu vào cổ chân mình, lay lay, thế là bà biết bóng người lờ mờ đang lẹt xẹt đi ra giường ngoài kia là ai, và đang cần gì ở bà”[220] Chi tiết này quả thực đem lại sự lý thú trong lòng người đọc, giúp cho người đọc hiểu rõ hơn phần nào trong quan hệ tính dục ở thời kỳ trước, khi mà điều kiện vật chất còn nhiều khó khăn, khi các con trong gia đình đã lớn khôn đã nhận thức được về giới tính thì cách thức ông Hàm gọi bà Son cũng là một trong những cách thức hữu hiệu và tế nhị mà nhiều người áp dụng giúp cho đời sống tính dục của vợ chồng mình được đáp ứng

và thoả mãn Với ông Hàm, với tất cả những lần gọi bà Son, ông “luôn hăm hở mà vẫn lặng lẽ không một lời mơn trớn, tấm thân to ngang rắn chắc của ông đã phủ lên người bà”[221] Và trong lần này, sau khi bà Son nghe lời Trịnh Bá Thủ, em trai ông Hàm đến gặp Vũ Đình Phúc, đã giúp ông Hàm được giải nguy, tránh cho họ nhà Trịnh Bá bị mất danh dự, đổi lại bà Son chỉ nhận được những lời tra hỏi, đi liền với đó là sự nhiếc móc thậm tệ đã khiến bà Son phải nước mắt tuôn rơi lã tã, cùng với đó là sự mệt mỏi, uất ức ở trong lòng nên bà đã đi về buồng để nghỉ Ngay trong đêm ấy lại là những ngón tay chuối mắn hình như ươn ướt mồ hôi, lại nắm vào cổ chân bà giật giật, biết chắc bà đã tỉnh, cái người lê chân kia mới lệt xệt lê dẹp ra ngoài Hành động này, bà hiểu nó có ý nghĩa như thế nào, nhưng trong lần này, khi

mà sự hi sinh của bà đã đổi lại được sự an toàn cho chồng bà, giữ được danh dự cho dòng họ Trịnh Bá thì bà luôn tự nhủ và hy vọng rằng, hành động đêm nay phải chăng là có ý nghĩa “Muốn an ủi con người mà duyên phận đã buộc chặt vào đời mình, bị đau khổ dằn vặt mấy hôm nay, muốn chia sẻ những đau khổ chất chứa trong lòng mà bà đang một mình phải âm thầm chụi đựng”, nhưng trái với suy nghĩ

đó, hành động lần này của ông Hàm không khác so với những lần trước bởi nó vẫn diễn ra với “những động tác rất ít, rất tiết kiệm, nhưng dứt khoát như cưa như đục từ những ngón tay hay đổ mồ hôi trộm Ông Hàm chỉ chỉ ậm ẹ trong cổ rồi cả sức nặng đã trùm lên tấm thân nóng hôi hổi, phập phồng phía dưới Hai bàn chân ông

Trang 30

ngón cái và ngón trỏ quắp lấy hai ngón chân cái của bà, chắc như ông vẫn bắt vít ! Những đợt sóng từ trên co dội xuống, từng đợt”[224], đã khiến cho ba Son chỉ còn biết nằm đơ ra chịu trận, lặng lẽ khóc

Như vậy, có thể nhận thấy tính dục dưới góc nhìn văn hoá đã thể hiện thông qua mối quan hệ vợ chồng Son- Hàm được phản ảnh khá rõ nét Ta có thể chắc chắn rằng, trong cuộc hôn nhân này, bà Son không hề hạnh phúc, cho dù về mặt đời sống vật chất, bà có thể sung sướng hơn nhiều phụ nữ khác ở cùng làng, nhưng về phương diện đời sống vợ chồng- tức về biểu hiện tính dục thì chưa bao giờ bà được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn- hoan lạc theo đúng nghĩa Bao giờ cũng là sự cam chịu và nhẫn nhịn, bao giờ cũng là sự phục tùng và làm theo, mặc dù trong rất nhiều lần không muốn, bà vẫn phải đáp ứng, thoả mãn dục tính của ông Hàm Điều này giúp ta gợi nhớ đến tính dục trong xã hội phong kiến xưa, khi mà người đàn ông

luôn là người làm chủ, luôn là người chủ động mà không cần chú ý đến “đối tác”

của mình đang ẩn chứa những tâm tư, tình cảm nghĩ suy gì Vì vậy người phụ nữ trong những trường hợp đó dù dưới danh nghĩa địa vị nào cũng luôn phải cắn răng chịu dựng, cung phụng, chiều chuộng người chồng mặc dù trong những lần quan hệ

đó mình dù không thích hay thoải mái thì vẫn phải đáp ứng

Trong tiểu thuyết này, tính dục không chỉ thể hiện trong mối qua hệ giữa hai

vợ chồng ông Hàm mà nó còn được thể hiện giữa ông Hàm với người đàn bà làm thuê trong nhà Đây là người đã xuất hiện trong đoạn đầu của truyện, với cái đói lan rộng khắp các làng xã, đã khiến cho đứa con duy nhất của chị ta bị chết Và giữa lúc cái đói với lưỡi hái tử thần đang tìm đến chị, thì một sự tình cờ và may mắn chị đã được bà Son nhận về thuê làm người giúp việc trong nhà Với tính cách thô mộc cùng những cử chỉ lấy lòng ông Hàm nên chị ta đã không mấy gây chút thiện ý gì với con gái cả của ông Hàm là Đào, vì lẽ đó nguy cơ bị Đào đuổi ra khỏi nhà luôn thường trực Bởi vậy, ngay sau sự ra đi của bà Son ở bờ sông chỗ Vai Cày, người đàn bà này đã dùng mưu bị nhập đồng- nhập vào giả làm bà Son để căn dặn mọi ngươi, hòng chiếm được một vị trí chắc chắn ở trong nhà- buộc Đào có muốn cũng không dám đuổi bà ta đi Sự việc này đã không qua được sự soi xét của ông Hàm,

Trang 31

bởi vậy ngay tối hôm ấy ông Hàm đã đi xuống buồng nơi người phụ nữ làm thuê

đang ngủ và nói cho chị ta biết một sự thật rằng Đồng nhập chỉ nhập vào những người cùng huyết thống Buộc chị ta phải thừa nhận hành động giả dối của mình

Đứng trước tình thế này, người phụ nữ kia đã nói rõ mục đích của việc đồng nhập là

“muốn được ở lại hầu hạ ông, nên cháu mới dại dột nghĩ ra như thế nên cháu phải đội lốt ma, đội lốt bà nhà để gia đình đừng đuổi cháu đi”[290] Không dừng lại ở lời nói, nhận thấy ông Hàm đã siêu lòng, cùng với ý thức phải tồn tại, bằng mọi giá phải ở lại đây nếu không sẽ đối mặt với cái đói đang treo lơ lửng trên đầu, chị ta đã chủ động “nhoai người lên ôm chặt lấy thắt lưng ông Hàm Tức thì cả nửa người trên của người đàn bà ép chặt vào lòng ông, cọ sát vào những giác quan nhạy bén đang nóng ran trên da thịt ông Chị ta đang ép trên bụng ông Toàn thân chị ta đã trần trụi không còn một mảnh vải ! Hai bầu vú nở căng, ấm mềm trùm kín cả mặt ông Hàm Bàn tay chị ta rối rít lần tìm trên bụng ông”

Tính dục mãnh mẽ của người đàn bà đã trở nên cuồng nhiệt và mạnh bạo

Ngay cả đến ông Hàm một người được coi là đấng mày râu cường dương tráng khí

là thế, con người mà cái thần cái cốt đầy cường tráng của nòi nhà mã mà ông cầm tinh đã thấm vào từng mao mạch của ông thì trong cái đêm này ông đã bị người đàn

bà kia hiếp

Lúc này đây, có thể nói người phụ nữ này đã chắc chắn có được một vị trí ở trong nhà ông Hàm Và từ cái đêm đó trở đi, giữa hai người đã có một ngầm định riêng, hễ nghe tiếng lạch cạch mở chốt cửa ngách nhà ngang là chị sẽ đứng sẵn để đón ông Hàm vào phòng của mình Và cũng như thường lệ “với hai cánh tay săn chắc, quen làm những việc thổ mộc, chị bế sốc ông đặt vào long sàng của chị nồng

ấm mùi chăn gối Chị vừa cọ bộ ngực với hai quả dưa căng mọng vào tảng ngực săn chắc của ông, vừa vuốt ve ông, vừa rên se sẽ lẫn tiếng khóc rấm rứt vì sung sướng Tay chị nhanh chóng chút bỏ xống áo trên người ông, nâng ông lên, “giúp ông” làm tròn phận sự”[366]

Như vậy, có thể nhận thấy, tính dục được thể hiện trong mối quan hệ giữa ông Hàm với Son và giữa ông Hàm với người phụ nữ làm thuê là hoàn toàn trái

Trang 32

ngược nhau Nếu như trong quan hệ gia đình giữa Hàm và Son là mối quan hệ vợ chồng thì theo lẽ thường, tính giao giữa hai người phải thoả mãn, người này đem lại hạnh phúc sung sướng và niềm hoan lạc ái ân cho người kia và ngược lại Nhưng ở đây, ông Hàm dường như chỉ chiếm được phần xác mà không chiếm được phần hồn, chỉ chiếm được phần con mà không chiếm được phần người vì những lần ái ân đều là do ông chủ động và bà Son dù không thích nhưng nhiều lần vẫn phải hoàn thành trách nhiệm của một người làm vợ Bởi vậy, sự khoái lạc của hai vợ chồng đem lại cho nhau chỉ như là trách nhiệm mà không hề có chút cảm xúc, có sự rung động nào Đối lập với mối quan hệ trên, là quan hệ của ông Hàm với người phụ nữ làm thuê Trên phương diện xã hội, thì ông là chủ, có quyền, tiếng nói có trọng lượng với người làm thuê, nhưng trong mối quan hệ ái tình này, phần chủ động lại thiên về người đàn bà làm thuê Cả phần chủ động lẫn tư thế đều do chị ta làm chủ,

ở đấy ông Hàm “cứ nằm đườn người một cách cao giá và tỏ ra thích thú khi được chị nâng nui hướng dẫn kiểu của một gã trai tơ lọt vào tay một ả nạ dòng” Điều này làm ta nhớ đến tác động của những cuộc cách mạng nữ quyền trong xã hội hiện đại, đòi quyền lợi cho người phụ nữ, giúp họ có quyền tự chủ, có quyền chủ động ngay

cả trong việc chăn gối như để minh chứng một cách chắc chắn rằng những gì người

đàn ông có thể làm thì người phụ nữ cũng có thể làm Trong mối quan hệ ái tình này, quả thực với sự chủ động của người phụ nữ làm thuê đã giúp cho ông Hàm có được những cảm xúc, những khoái lạc thăng hoa mà với bà Son ông chưa từng được biết đến hay nếu có được cũng chỉ là những ảo giác do chính ông tự mình đem lại

Trong tiểu thuyết Dòng sông mía của Đào Thắng, văn hoá tính dục được tác

giả đã tập trung thể hiện thông qua mối quan hệ giữa bà Mến với ông Quí Nhất và

giữa chị cả Thuần với đội trưởng Đồi

Việc ông Chép phải đánh đổi cả tính mạng vì hành động ngông cuồng đi bắt

cá thần đã khiến cho bà Mến rất đau đớn và tủi hổ cho kiếp sống cô độc của bà, bởi hai người ăn ở đã lâu với nhau nhưng chưa có mụn con nào Bà lo sợ sẽ trở thành gái già cô độc, sợ người đời xa lánh hắt hủi Đêm hôm đó, bà cảm thấy mệt mỏi giã

Trang 33

giời và lòng lặng trĩu nỗi hờn tủi bà đã ngủ thiếp đi “Bà đã mơ thấy một con cá phủ lên người bà Một cái gì đấy to lớn, nóng bỏng, dội lên trong con người bà Bà rên lên mơ màng mở mắt, hình như ông Quĩ Nhất hay lão Bếp Rỗ đang nằm trên người

bà Nhưng chỉ hình như thế thôi, bà lại mê đi trong cơn khoái lạc”[64] Người đàn

bà đang tuổi hồi xuân, khát khao bỏng rát cả ruột gan Bà ôm xiết lấy con cá hiếp bóng bà…bà ôm xiết lấy tâm lưng lực lưỡng, đang làm công việc của đàn ông mạnh

mẽ một cách ghê gớm Đến đây, người đọc nhận thấy ra một sự thực rằng: ngay trong cái đêm ông Chép mất, bà Mến và ông Quĩ Nhất đã ngủ với nhau

Với sự việc này, xét trên phương diện phạm trù đạo đức là một sự xúc phạm ghê gớm với người vừa khuất, bà đã thất tiết với chồng ngay trong đêm chồng bà ra

đi, bởi vậy không ai có thể đồng tình, khoan lượng với hành động này của bà Mến Sau này nhớ lại sự việc trên bà đã thầm nhủ: “Sống nén lòng, làm gái goá, chiên lành phải như thế Nghĩ lại có mấy người sống trọn đời được như vậy Làm người đàn bà như bà, như bao người khác sống với đất cát, cỏ cây, sống chưa hết tuổi xuân luôn bị thôi thúc, bị xúi giục bởi sự khao khát được sống, được thoả mãn như bao người đàn bà có chồng khác thì làm sao mà sống tươi mưởi, hớn hở được, thế là phải sinh ra vụng trộm, mà vụng trộm tất dẫn đến cái sự oái oăm khác”[179] Với suy nghĩ này của bà Mến, đã hé mở ra một điều rằng: thực khó khăn biết bao khi phải sống cảnh gái goá bụa, khi mà chồng chết sau mấy chục năm chung sống mà giữa hai người lại không có lấy một đứa con để làm chỗ dựa tinh thần, an ủi lúc tuổi già Khi đó đổi lại chỉ có những lời rè bủi, nguyền rủa của người đời dành cho bà

mà thôi; hơn nữa, xét dưới góc độ tính dục, khi con người ta đang ở độ tuổi hồi xuân thì những khao khát đòi hỏi đôi khi còn mãnh liệt, cháy bỏng hơn rất nhiều so với thời còn xuân sắc Cộng thêm trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, khi bà Mến đang chập chờn giữa cảnh say với cảnh tỉnh bởi quá mệt mỏi, khi mà ý thức mãnh liệt muốn có một đứa con thôi thúc hơn lúc nào hết tưởng như đã không còn hy vọng nữa khiến bà cứ nói ra trong cơn mê, cùng với đó là sự có mặt của ông Quĩ, vốn rất gần gũi với bà Mến, vẫn luôn ngưỡng mộ bà Mến- một người phụ nữ nổi tiếng ở xã Thanh Khê với những đức tính tốt đẹp- hiền hậu luôn khiến ông Quĩ muốn có cảm

Trang 34

giác được chiếm đoạt bà Mến Tất cả những điều đó cộng hưởng lại xuất hiện trong một thời điểm thuận lợi là lúc đêm khuya đã dẫn đến kết quả của mối tình đó là thằng Lẹp được ra đời Với bà Mến, cũng chỉ là một người phụ nữ bình thường, bởi vậy ở bà cũng có những khát khao đời thường, cũng có những mong ước rất đỗi bình dị là mong sao có được một đứa con- để thể hiện thiên chức làm mẹ mà chúa trời đã ban phát cho những người phụ nữ như bà Đây là một nguyện ước chính đáng, và soi dưới góc độ tính dục thì bà xứng đáng được hưởng thụ, bởi vậy chúng

ta cần có cái nhìn đích đáng, tránh chủ quan, cảm thông chia sẻ hơn là thái độ trách

cứ bà Mến Tuy nhiên chỉ có một điều đáng tiếc là giá như thời điểm thằng Lẹp được sinh ra không đúng vào cái đêm ông Chép mất thì có lẽ thái độ cảm thông, chia sẻ ở người đọc sẽ được nhiều hơn

Trong tiểu thuyết này, tác giả ngoài việc miêu tả tính dục được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa bà Mến với ông Quĩ còn được thể hiện giữa chị cả Thuần với đội trưởng Đồi

Sau lần trở về cắt tóc cho Bê Lớn theo lời nhờ của Lẹp, bà Cả Thuần đã trở nên điên dại, tinh thần bất ổn Biết bao hồi ức năm xưa chợt trở lại nguyên vẹn trong tâm trí bà Hồi ức khiến bà định khi chết đem theo xuống mồ chôn nhưng cuối cùng bà cũng phải nói sự thật cho con trai cả là anh Khuê được biết rõ Ngày ấy, khi

mà giữa chị với anh cả Thuần đã có với nhau hai đứa con là thằng Khuê và con Vân, khi chiến tranh vẫn còn liên miên thì anh cả Thuần được ông Đồi đại đội trưởng cùng những người trong đơn vị đưa về nhà để cứu chữa Nhưng do bệnh tình quá nặng cùng với chứng nhiễm trùng cấp tính đã cướp đi tính mạng của anh Trong lời trăn trối, anh có dặn chị “Tôi không ngờ lại bỏ mình, bỏ con mà đi sớm thế này Khi tôi chết rồi, mình tìm ai yêu thương thật lòng, thì cứ đi bước nữa ở với họ, chỉ xin mình đừng bỏ con bơ vơ tội nghiệp chúng nó”[344], khiến chị càng thêm xót xa cho số phận gái goá của mình Chiến tranh ngày càng ác liệt, trong một lần anh Đồi đại đội trưởng bị thương khi đang chiến đấu chống lại trận càn của giặc đã được ông Quĩ đưa về nhà chị Thuần để nhờ tĩnh dưỡng Ngay trong đêm hôm ấy, anh đại đội trưởng đã mò xuống giường nơi chị và các con đang ngủ Khi nhận ra đấy là ai thì

Trang 35

chị sợ quá, cứng đờ chân tay, líu cả lưỡi Tiếp đó là hành động của Đồi “hai cánh tay to khoẻ, ngón bỗng mềm như vòi bạch tuộc, luồn xuống dưới cổ và khoeo chân, nhấc bổng chị lên”, khi chị định kêu lên thì anh ta đưa những ngón tay to lớn bịt miệng chị lại cùng với một loạt hành động “hôn chị, vuốt khẽ hai má rồi vuốt tóc, tránh không đụng chạm đến những chỗ mà chị biết người đàn ông lính tráng xa nhà như anh ta đang thèm khát”[349] Và sau những lời nói dụi dàng, đánh trúng vào điểm yếu tâm lý của chị, anh ta nhẹ nhàng đặt chị xuống cái giường mà trước đây trước khi chết anh cả Thuần đã nằm, để chiếm lấy chị một cách nhã nhặn, dụi dàng

mà thật ghê gớm Sự bùng nổ của người đàn ông từng trải, thâm trầm, sự mãnh liệt

ẩn dấu nơi tầng sâu đã đánh thức trong chị nỗi thèm khát cháy bỏng Khi cuộc tình

đã xong, chị Thuần đã rất ân hận về việc này, chị tự trách bản thân mình, cảm thấy nhục nhã, đáng khinh đến vạn lần, chị đã thất tiết với chồng ngay khi anh mới chết, ngay trên cái giường này mà không biết rõ vì bị cưỡng ép hay một sự đồng loã thối tha nào Chị định tìm đến cái chết, ngay khi cắn lưỡi tự tử thì đội trưởng Đồi lại ngăn cản, không cho chị chết Đội trưởng Đồi “khẽ lật chị lên, lặng lẽ hôn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt, miệt mài hôn khắp người chị, hôn cả vào cái chỗ mà người chồng chị có đặt tay vào cũng rất vội vàng”[352] Và cứ thế cuộc tình lại diễn

ra, càng về sau càng đằm thắm hơn và cũng cuồng dại hơn

Với cuộc tình này, chúng ta nhận thấy, chị Cả Thuần là một người phụ nữ luôn có ý thức giữ gìn danh tiết của mình Điều này chúng ta có thể nhận thấy khi cuộc tình lần thứ nhất diễn ra mà chị là người bị động, chị đã quyết định tìm đến cái chết như một sự minh chứng để bảo toàn danh dự, phẩm tiết của mình Nhưng không kịp để chị Cả Thuần thực hiện được hành động đó, Đồi đã đến và cuộc tình lần thứ 2 lại diễn ra mà chị không sao cưỡng lại được bởi sự tình trải, dày dặn của đội trưởng Đồi Dưới góc độ tính dục học, thì giữa chị với anh cả Thuận, mặc dù giữa hai người đã có chung với nhau hai đứa con nhưng xét dưới chiều hướng anh Thuần đem lại sự hứng khởi, khoái lạc thực sự cho chị trong những lần ái ân thì quả thực là chưa lần nào được trọn vẹn, bởi vậy khi cuộc tình giữa chị với Đồi diễn ra,

nó đã đánh trúng tiềm thức sâu sa, đánh trúng cái khoái lạc trong con người chị mà

Trang 36

trước đây chị chưa hề được biết đến, khiến chị cả Thuần dù có ý thức được việc làm kia là sai trái cũng không sao cưỡng lại được, bởi chính chị sau này cũng đã phải

thừa nhận rằng: “Thật cay đắng, phút giây phá tan đức hạnh của chị lại khiến cho chị sung sướng, hạnh phúc nhất trong kiếp người”

Với Dòng sông mía của Đào Thắng, tác giả đã có những đoạn miêu tả tính

dục gợi lên biết bao suy nghĩ trong lòng người đọc, mà mỗi đoạn gắn liền với số phận của những người phụ nữ: đó là bà Mến; đó là chị cả Thuần, mà với mỗi người phụ nữ tác giả lại để cho họ thể hiện thiên tính nữ của mình khác nhau khi vượt qua những dào cản, những định kiến của xã hội trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau Với bà Mến hoàn cảnh thực tại của bà giúp bà vượt qua rào cản đến với ông Quĩ chính là việc sau bao nhiêu năm chung sống với ông Chép nhưng giờ đây bà vẫn chưa có một mụn con nào, hơn nữa sự hồi xuân trong tuổi tác của bà đang đỏi hỏi những khát khao cháy bỏng cần được đáp ứng, thoả mãn hơn lúc nào hết Chính điều này nhận được sự chia sẻ từ phía người đọc Còn với chị cả Thuần, một người phụ nữ đã có chồng và so với bà Mến, chị có tài sản lớn hơn là hai đứa con- là chỗ dựa tinh thần vững chắc khi tuổi già đến Vì vậy, việc chị và đội trưởng Đồi quan hệ với nhau là điều khó chấp nhận, khoan thứ Nhưng ở đây, có một điều mà người đọc cần có thái độ, cách nhìn khác với cả Thuần là khi nhìn nhận dưới góc độ tính dục học, việc có hai đứa con không đồng nghĩa với việc chị được đáp ứng, được thoả mãn trong đời sống tính dục, thêm nữa chị vẫn còn đang ở độ tuổi xuân sắc, những đòi hỏi về tính dục luôn cần phải đáp ứng Bởi vậy, khi gặp Đồi, gặp phải sự từng trải, sự lão luyện trong đời sống tính dục kia như một mũi tiêm đánh trúng vào chỗ hiểm yếu của chị, khiến chị không sao cưỡng lại được Bởi vậy với cả Thuần, cần nhận được thái độ đáng cảm thông hơn là đáng trách cứ Có chăng, nên trách là trách anh đại đội trưởng Đồi kia, đã lợi dụng đúng điểm yếu của người phụ nữ, khiến cho người ta không sao phản kháng được Cũng phải nhìn nhận rằng, sự ra đời của tác phẩm trong tinh thần dân chủ, đổi mới và hội nhập, nên những vấn đề

tác giả đưa vào đôi chút có hơi mới mẻ với người đọc, nhưng đó là sự cần thiết, bởi

nhờ có sự thẳng thắn, dũng cảm của tác giả, những sự thật về một thời người ta từng

Trang 37

che dấu, không dám công khai thì giờ đây đã được người đọc tiếp nhận và biết đến như một khoảng tối mà văn học thời kỳ trước không dám nhắc tới

Trang 38

Chương 2:

TRIẾT LÝ MỚI VỀ NÔNG THÔN QUA VIỆC THỂ HIỆN

CON NGƯỜI TRONG HAI TIỂU THUYẾT

Đã từ lâu, con người là đối tượng nghiên cứu, khám phá của nhiều ngành,

nhiều bộ môn khoa học Sự khác biệt về không gian văn hoá (phương Đông- phương Tây), thời gian lịch sử (cổ điển - hiện đại) đã đem lại tính phong phú cho

quan niệm về con người

Nhà văn Nga M.Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học” Thật vậy, xét từ

thủa sơ khai cho đến ngày nay, con người vừa là điểm xuất phát, vừa là cái đích cuối cùng mà văn học hướng tới Phạm vi biểu hiện rộng lớn ấy đã góp phần tạo nên những quan niệm hết sức đa dạng về con người trong văn học Mỗi nhà văn khi sáng tác đều xuất phát từ một cảm nhận, một biểu hiện nhất định về con người và sử dụng các phương tiện, phương thức nghệ thuật tương ứng để miêu tả, thể hiện con người theo cảm nhận, hiểu biết ấy Theo Giáo sư Trần Đình Sử thì “Quan niệm về nghệ thuật con người là sự ký giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [46,55]

Vì vậy, với ý nghĩa là “hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật”[44,275], quan niệm nghệ thuật về con người là hạt nhân của tư duy nghệ thuật Chỉ khi nào quan niệm về nghệ thuật của con người thay đổi thì một thời kỳ văn hoá mới được ra đời Ở đấy, con người mới có thể là con người ra đờì trong hoàn cảnh lịch sử mới, có thể là con người được đổi mới từ các góc độ nhìn nhận là lý giải khác nhau như là sự biểu hiện sự kết tinh của những quan hệ người trong đó Trong tác phẩm, con người như vậy trở thành hạt nhân làm nên những sự biến đổi trong cấu trúc nội tại của văn học Vì thế,

Trang 39

xét ở mọi khía cạnh, lịch sử văn học có thế xem là lịch sử của những quan niệm khác nhau về con người

2.1 Con người trong xung đột văn hoá: qua bi kịch gia tộc, dòng họ

Có lẽ, không một làng quê nào ở Việt Nam lại không tồn tại những dấu ấn của

sự phát triển những tộc họ Điều này, có thể bắt nguồn từ thời điểm nền kinh tế

nông nghiệp (đặc trưng lúa nước) còn ở dạng tiểu nông và xã hội đang ở trong giai

đoạn xã hội thị tộc Trong thời kỳ này, con người muốn tồn tại và củng cố được vị trí của mình thì phải tập hợp được những cá nhân đồng lòng, đồng sức, biết dựa vào nhau để chống lại các thế lực khác Mà không gì dễ ràng buộc, gắn kết hơn là những người có cùng huyết thống, cùng dòng họ Trên cơ sở đó, tộc họ ra đời trở thành một yếu tố cấu thành quan trọng tạo nên cộng đồng làng xã Việt Nam Tuy nhiên, đây cũng chính là một trở ngại lớn nhất của nông thôn trên con đường phát triển tiến bộ Bởi đồng thời với việc tập hợp, đoàn kết con người tạo nên sức mạnh tập thể thì tộc họ cũng dễ biến cái tập thể ấy trở nên cục bộ trước cái tập thể khác lớn hơn: đó là cộng đồng làng xã, thậm chí lớn hơn là dân tộc, là đất nước Ý thức cao

về dòng họ của mình dễ làm nảy sinh trong con người thói ganh ghét, thù hận với sự lớn mạnh của những dòng họ khác Trong làng xã, ai cũng muốn dòng họ của mình nắm quyền cao nhất, từ đó mà rất dễ xảy ra những mâu thuẫn tranh chấp Và một điều chắc chắn rằng, mỗi tộc họ đều có những lịch sử phát triển lâu dài, quá khứ của tộc họ được truyền từ đời này sang đời khác Hoà bình thì ít, thù hận thì nhiều Có những mối thù từ trong quá khứ vẫn luôn hiện hữu, có khi lại càng bị khoét sâu hơn

ở những thế hệ sau Con người không lúc nào thanh thản, thù hận giữa các tộc họ, phe phái làm cho tình làng nghĩa xóm, tình yêu, tình cảm vợ chồng…cũng trở nên không mấy ý nghĩa Mọi cách sống, nếp nghĩ đều phải làm sao hướng về dòng họ, không làm xấu mặt tổ tiên, dòng họ Làng quê đã đói nghèo lại càng thêm tăm tối, biết bao số phận con người đã trở thành nạn nhân trong cái vòng xoáy tranh chấp quyền lực ấy

Trang 40

2.1.1 Qua các nhân vật chính của tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều

ma

Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), độc giả nhận

thấy hiện lên nổi bật ở đây là một hiện thực nông thôn rùng rợn, xung quanh mối

hận thù giữa hai dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình Nó hết sức sâu sắc, quyết liệt, dữ

dội và dai dẳng Ý thức dòng họ đã chi phối hết thảy ý nghĩ và hành động của từng con người trong hai dòng họ này, nhất là hai nhân vật Trịnh Bá Hàm và Trịnh Bá Thủ

Người xưa đã từng nói: Hôn nhân- điền thổ: vạn cố chi thù quả thực rất đúng

và chính xác Nó chính xác hơn cả khi ta nhìn vào mối thâm thù giữa hai dòng họ này Nếu như đời của các cụ cố là chuyện đất cát, chuyện chức tước thì đến đời

Trịnh Bá Hàm lại là chuyện tình Như một sự sắp đặt trớ trêu của tạo hoá “hai dòng

họ này cứ lừa miếng nhau không biết mệt” Khi đó, con trưởng của dòng họ Trịnh là

Trịnh Bá Hàm đã đem lòng thương nhớ và yêu đơn phương cô Son- một cô gái xinh đẹp có tiếng ở trong làng Nhưng cô Son lại đem lòng yêu người con trưởng của dòng họ Vũ là Vũ Đình Phúc Lúc này Phúc đã có vợ và có một đứa con Vì là người có tính ganh đua và hiếu thắng nên Trịnh Bá Hàm vẫn một mực quyết định lấy Son về làm vợ ngay cả khi phát hiện, chứng kiến tận mắt cảnh Son và Phúc

“tình cảm” bên nhau chỗ Vai Cày ngoài bờ sông Và trong cái đêm động phòng của mình, Hàm tự thấy mình thật đau khổ bởi là kẻ chậm chân, bởi “cái trái cấm kia đã

có kẻ bóc trước” nỗi ghen tức trong lòng Hàm đã bùng cháy lên như ngọn lửa bắt

dầu Đêm động phòng có mùi vị địa ngục ấy đã gần bốn mươi năm nay Bây giờ, những chuyện này lại sống dậy trong Hàm Hàm thấy lúc này đây là thời cơ tốt nhất

để ra tay theo cách riêng của mình Chỉ ra tay một lần mà đối phương phải lụi tàn từ gốc đến ngọn

Hàm đã quyết định bàn bạc với Thủ (là em ruột- Bí thư Đảng uỷ xã) cách trả thù dòng họ Vũ Đình bằng việc đào mả cụ cố Đại mới chôn: “Đào lên, lấy ván, lật sấp bố nó xuống! còn cỗ dổi tôi sẽ đóng một bộ sa lông thật mốt, rồi tìm cách bán cho chính anh em họ hàng nhà nó.”[67] Đây quả thực là một việc làm táng tận

Ngày đăng: 04/10/2014, 00:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), Đổi mới văn học vì sự phát triển, Tạp chí văn hoc số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Lại Nguyên Ân (2002), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
3. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí văn học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
4. Ngô ngọc bội (1990), Ác mộng, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ác mộng
Tác giả: Ngô ngọc bội
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 1990
5. Ngô Thị Kim Cúc (2004), Đắng như dòng sông mía, http://Vietbao.vn pots lại trên http://Thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đắng như dòng sông mía
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Năm: 2004
6. Văn Chính, Cha, con và dòng sông mía, http://Phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha, con và dòng sông mía
Tác giả: Văn Chính
7. Việt Chiến (2005), Cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004: Nhìn sâu hơn về lịch sử đất nước và dân tộc, http://Vietbao.vn pots lại trên http://Thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004: Nhìn sâu hơn về lịch sử đất nước và dân tộc
Tác giả: Việt Chiến
Năm: 2005
8. Thành Duy, Vấn đề văn học phản ánh nông thôn hợp tác hoá, Tạp chí văn học, Số 6- 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn học phản ánh nông thôn hợp tác hoá
9. Thành Duy, Văn học và những chuyển biến mới của nông thôn miền Bắc, Tạp chí văn học số 6- 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và những chuyển biến mới của nông thôn miền Bắc
10. Phan Cự Đệ (1978), Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học, Văn nghệ quân đội, số 12, Tr 108- 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1978
11. Phan Cư Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập1,2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cư Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1974
12. Nhiều tác giả (1980), Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
13. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
14. Trần Mạnh Hảo (2005), Dòng sông mía của Đào Thắng hay tiếng nấc của sông Châu Giang, Tạp chí nhà văn số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng sông mía của Đào Thắng hay tiếng nấc của sông Châu Giang
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Năm: 2005
15. Hoàng Ngọc Hiến (2009), Trên đất nước có bao nhiêu làng mía, trên http://Tạp chí sông Hương.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đất nước có bao nhiêu làng mía
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 2009
16. Nguyễn Công Hoan (1997), Bước đường cùng, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đường cùng
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
17. Lê Thanh Hùng (2006), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (giai đoạn 1980-1989)- ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (giai đoạn 1980-1989)
Tác giả: Lê Thanh Hùng
Nhà XB: ĐHSP Thái Nguyên
Năm: 2006
18. Mai Hương(1970) Nguyễn Minh Châu toàn tập (tập 3), Nxb Văn học, Hà Nội 19. Dương Hướng (1980), Bến không chồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập (tập 3)
Tác giả: Mai Hương
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1970
20. Dương Hướng (2005), Bóng đêm và mặt trời, Bến không chồng, Nxb công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đêm và mặt trời, Bến không chồng
Tác giả: Dương Hướng
Nhà XB: Nxb công an nhân dân
Năm: 2005
21. Ma Văn Kháng (1995), Đám cưới không có giấy giá thú, Nxb VH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đám cưới không có giấy giá thú
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb VH
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w