Tuy nhiên, cho đến nay, ngành công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, Thái Nguyên vẫn là một trong những tỉnh nghèo, một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội còn thấp hơn mức bình
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VIỆT TIẾN
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Việt Tiến, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt qúa trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Công thương, Sở Kế hoạch và đầu tư đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp nguồn tư liệu hết sức cần thiết và quý giá trong quá trình hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau Đại học và các thầy -
cô giáo trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Khoa Công nghệ thông tin cùng bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các
số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và đảm bảo tính khoa học
Thái nguyên, tháng 9 năm 2010
Tác giả
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
7 GTSXCN Giá trị sản xuất công nghiệp
9 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
10 FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 TNG Công ty cổ phần may xuất khẩu Thái Nguyên
13 TDMNPB Trung du, miền núi phía Bắc
14 UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
18 SXVLXD Sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
1 Bảng 2.1 Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2009 51
2 Bảng 2.2 Đóng góp của công nghiệp trong tổng GDP Thái Nguyên giai đoạn
2000 – 2008
53
3 Bảng 2.3 Các sản phẩm chủ yếu của ngành cơ khí Thái Nguyên năm 2008 63
4 Bảng 2.4 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai thác khoáng sản 65
5 Bảng 2.5 Sản lượng các sản phẩm chính của ngành sản xuất VLXD năm 2008 69
6 Bảng 2.6 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo địa bàn giai đoạn 2000 - 2008 80
7 Bảng 3.1 Danh mục các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đã được quy hoạch 106
8 Bảng 3.2 Quy hoạch các cụm công nghiệp Thái Nguyên đến năm 2020 107
9 Bảng 3.3 Quy hoạch các điểm công nghiệp Thái Nguyên đến năm 2020 108
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
2 Hình 2.2 Bản đồ phân bố khoáng sản Thái Nguyên năm 2009 35
4 Hình 2.2 GTSXCN Thái Nguyên phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 –
5 Hình 2.5 Bản đồ hiện trạng phát triển công nghiệp Thái Nguyên năm 2009 54
6 Hình 2.6 Cơ cấu kinh tế Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2009 55
7 Hình 2.7 Cơ cấu lao động theo nhóm ngành công nghiệp năm 2008 56
8 Hình 2.8 GTSX ngành công nghiệp luyện kim giai đoạn 1997 - 2009 58
9 Hình 2.9 GTSX ngành công nghiệp cơ khí giai đoạn 1997 - 2008 61
10 Hình 2.10 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành khai thác khoáng sản Thái Nguyên 66
11 Hình 2.11 GTSX ngành vật liệu xây dựng giai đoạn 1997 - 2008 68
12 Hình 2.12 GTSX ngành CB nông, lâm sản, thực phẩm, đồ uống giai đoạn 1997 - 2008 71
13 Hình 2.13 GTSXCN ngành dệt may, da giày giai đoạn 1997 - 2008 75
14 Hình 2.14 Giá trị ngành sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt giai đoạn 1997 - 2010 76
15 Hình 2.15 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp hóa chất giai đoạn 1997 - 2008 79
16 Hình 2.16 Cơ cấu GTSXCN Thái Nguyên theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 - 2009 85
17 Hình 3 Bản đồ định hướng phát triển công nghiệp Thái Nguyên 109
Trang 9MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu của đất nước ta là phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để hoàn thành mục tiêu đó, cần sự đóng góp nỗ lực không ngừng của tất cả các tỉnh thành trong phát triển kinh tế, trước hết là công nghiệp
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có lợi thế về tài nguyên để phát triển một nền kinh tế đa dạng, đặc biệt là công nghiệp Trong những năm qua, nhất là từ khi tái lập tỉnh Thái Nguyên (năm 1997), lãnh đạo Tỉnh đã nắm bắt kịp thời cơ, đề ra chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp đúng đắn nên đã đạt được một số kết qủa trong phát triển kinh
tế Cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên có sự chuyển dịch tích cực, theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong tổng sản phẩm GDP Trong cơ cấu kinh tế chung, công nghiệp là ngành có vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc làm thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuy nhiên, cho đến nay, ngành công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, Thái Nguyên vẫn là một trong những tỉnh nghèo, một
số chỉ tiêu kinh tế - xã hội còn thấp hơn mức bình quân của cả nước
Trong thực tiễn phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, phát triển công nghiệp và dịch vụ sẽ làm giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ nông thôn, thúc đẩy chế biến nông - lâm sản, làm cho kinh tế nông thôn phát triển, hướng tới xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của đất nước nói chung và của tỉnh nói riêng, Thái Nguyên phải nỗ lực hơn nữa nhằm phát huy tối đa những lợi thế, khắc phục khó khăn về chủ quan cũng như khách quan hiện nay để đẩy nhanh sự nghiệp CNH - HĐH
Trang 10Nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp của tỉnh là việc làm cần thiết, nhằm có được những định hướng và giải pháp đúng đắn cho việc phát triển công nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: đẩy mạnh nền công nghiệp của tỉnh phát triển tương xứng với tiềm năng để đến năm 2020, Thái Nguyên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại
Xuất phát từ đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tiềm năng, hiện trạng và định
hướng phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020"
2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển ngành công nghiệp
- Đánh giá các tiềm năng, phân tích thực trạng phát triển công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên
- Nêu định hướng và đề xuất các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên
2.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3 GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển công nghiệp tỉnh Thái
nguyên giai đoạn 2000 - 2009 và định hướng phát triển đến năm 2020
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về tiềm năng, thực trạng và giải
pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp Thái Nguyên
Trang 114 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
* Trên thế giới:
Nghiên cứu về sự phát triển công nghiệp không còn là vấn đề mới mẻ trên thế giới Vai trò, vị trí quan trọng của ngành công nghiệp đối với phát triển kinh tế cũng đã được khẳng định qua thực tiễn Vấn đề phát triển công nghiệp được nghiên cứu từ rất sớm trong nhiều tài liệu khác nhau:
- A Weber (1900), Bàn về vai trò của lý luận phân bố công nghiệp Lý thuyết của A
Weber đã đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp trên cơ sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận
- N.N Kôlôxôpxki (1947) đưa ra lý thuyết về chu trình sản xuất năng lượng dựa trên
nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, trong đó có chu trình của các kim loại đen dựa trên việc khai thác và sử dụng quặng sắt, mangan, crôm, kẽm…
- E.B Alaev (1987), Những vấn đề về tổ hợp sản xuất - lãnh thổ ở Liên Xô
- Junichi Mori - thành viên của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
(UNIDO) “Development of Supporting Industries for Vietnam’s Industrialization: Increasing Positive Vertical Externalities Through Collaboratve Training” (Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp hóa của Việt Nam)
- Kriengkrai Techakanont and Thamvit Terdudomtham(2004) “Historical Development of Supporting Industries: A Perspective from Thailand” (Lịch sử phát triển ngành công nghiệp: Một nhận thức từ Thái Lan)
* Trong nước:
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, phát triển công nghiệp là nhiệm vụ quan trọng Do vậy, nghiên cứu về ngành công nghiệp đã trở thành mối quan tâm chung của Nhà nước, của các địa phương, của nhiều nhà Kinh
tế học, nhà Địa lý học,… Vì thế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tình hình công nghiệp Việt Nam, nhất là trong thời kỳ CNH - HĐH như:
- Võ Đại Lược (1998), Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới, NXB Khoa học - xã hội
Trang 12- Nguyễn Đình Phan (2000), Giáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp, NXB Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
- Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (2000), Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam,
NXB Giáo dục, Hà Nội
- Bộ Công nghiệp (2001), Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, Viện nghiên cứu chiến lược, chính
sách công nghiệp, Hà Nội
- Nguyễn Minh Tú, Vũ Xuân Nguyệt Hồng (2001), Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp: kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học rút ra cho công nghiệp hóa Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội
- Trần Đình Thiên (2002), CNH, HĐH ở Việt Nam, phác thảo lộ trình, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Văn Thường (2005), Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội
- Bộ Công nghiệp (2006), Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, Viện nghiên
cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, Hà Nội
* Thái Nguyên: Đối với Thái Nguyên , việc nghiên cứu về ngành công nghiệp
cũng đã được đề cập trong một số tài liệu:
- Trịnh Trúc Lâm (1998), Địa lý tỉnh Thái Nguyên, Sở Giáo dục và đào tạo Thái Nguyên
- Sở Công thương Thái Nguyên (2008), Quy hoạch phát triển công nghiệp Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2020
Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, công nghiệp là ngành có vai trò vô cùng quan trọng Vì vậy, nghiên cứu về ngành là công việc cần thiết giúp mỗi quốc gia, mỗi địa phương thấy được tầm quan trọng cũng như việc đề ra các biện pháp, các chiến lược phát triển công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Các
Trang 13công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi về cơ sở lý luận, góp phần định hướng trong việc xây dựng và thực hiện đề tài
5 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm tổng hợp
Ngành công nghiệp phát triển được là dựa vào các nguồn lực Vì vậy, khi nghiên cứu thực trạng phát triển ngành công nghiệp, cần phải xem xét các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của ngành trong mối quan hệ chung với toàn bộ nền kinh tế của tỉnh
phát triển của ngành trong tương lai
Quan điểm thực tiễn
Thực tiễn là cơ sở để kiểm chứng các lý luận Dựa trên quan điểm này, khi nghiên cứu hiện trạng phát triển của ngành công nghiệp, phải thường xuyên gắn liền với thực tiễn để thấy được sự thay đổi của nó Những sự kiện có tính cập nhật sẽ
góp phần làm mới nguồn tài liệu đã có, làm cho đề tài có tính thuyết phục hơn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu thập, phân tích tài liệu đã công bố từ nhiều nguồn khác nhau như trong các sách báo, tạp chí,
Trang 14báo chí chuyên ngành, những báo cáo khoa học đã được công bố, các công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các số liệu từ Sở Công thương Thái Nguyên
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành thu thập các số liệu mới Đó là các số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức Nó phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các vấn đề khác có liên quan; thu thập từ các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các cá nhân, chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp
Phương pháp nghiên cứu thực địa
Để hoàn thiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực địa nhằm bổ sung tài liệu và kiểm chứng các kết quả nghiên cứu Việc khảo sát thực địa còn nhằm đối chiếu số liệu thu thập được và thực tế để rút ra những nhận xét, đánh giá
về tiềm năng và hiện trạng phát triển của ngành công nghiệp Thái Nguyên Các điểm thực địa bao gồm một số khu, cụm công nghiệp tại Thái Nguyên
Phương pháp phân tích số liệu thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lí, kiểm tra, đánh giá quy mô, tốc độ phát triển của ngành công nghiệp
Phương pháp so sánh
Sử dụng để so sánh điều kiện và hiện trạng phát triển của ngành công nghiệp Thái Nguyên với công nghiệp cả nước và một số tỉnh trong vùng Trung du, miền núi phía Bắc; đối chiếu các số liệu của ngành công nghiệp Thái Nguyên qua các giai đoạn khác nhau để thấy được sự phát triển của nó
Phương pháp biểu đồ, bản đồ
Dựa trên quan điểm hệ thống, phương pháp bản đồ được sử dụng trong việc
xử lý các thông tin để chọn chỉ tiêu, thử nghiệm xây dựng các bản đồ chuyên đề về hiện trạng và dự báo sự phát triển của các địa điểm công nghiệp trong khu vực nghiên cứu Ngoài ra, đề tài đã chuyển hóa nguồn số liệu thành các biểu đồ để trực quan hóa kết quả nghiên cứu
Trang 156 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Tổng quan có chọn lọc các nghiên cứu lí luận liên quan tới phát triển công nghiệp Đánh giá các tiềm năng phục vụ cho phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Phân tích hiện trạng về phát triển công nghiệp và những đóng góp của ngành đối sự với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên
Khái quát các định hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
Luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu để tham khảo trong dạy học địa lý, đặc biệt là địa lý địa phương
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển công nghiệp tỉnh Thái
Nguyên
Chương 2: Tiềm năng, thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên
đến năm 2020
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm về công nghiệp và công nghiệp hóa
1.1.1.1 Khái niệm về công nghiệp
Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, được định nghĩa theo nhiều trường phái, quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc: “công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm Hoạt động công nghiệp gồm cả 3 loại hình: công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất theo nó (dịch vụ sửa chữa, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ thông tin).”
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.”
Theo PGS - TS Nguyễn Đình Phan: “Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội’’ [13, Tr.5]
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghiệp, nhưng cách hiểu phổ biến và thông dụng hơn cả là theo quan niệm của Liên Hợp Quốc Khái niệm
đó cho thấy, công nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bao gồm 3 loại hình có quan hệ chặt chẽ với nhau: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất đi cùng Trong đó:
Trang 17Công nghiệp khai thác: gồm khai khoáng, khai thác nhiên liệu, khai thác tài nguyên nước, khai thác rừng, khai thác các sinh vật tự nhiên,…
Công nghiệp chế biến: chế biến các vật chất tự nhiên thành dạng vật chất có tính năng đáp ứng nhu cầu sản xuất của đời sống con người, biến vật chất thành của cải và tư liệu sản xuất cho các ngành khác
Dịch vụ sản xuất đi cùng: gồm các dịch vụ cung ứng vật tư, nguyên vật liệu, thiết kế mẫu mã, tư vấn phát triển và tiêu thụ, sửa chữa các sản phẩm công nghiệp…
1.1.1.2 Khái niệm về công nghiệp hóa
Có nhiều khái niệm khác nhau về CNH:
Theo Mazlish: “CNH là một quá trình được đánh dấu bằng một sự chuyển động
từ nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là công nghiệp”
Ladriere cho rằng: “CNH là một quá trình mà các xã hội ngày nay chuyển từ một kiểu kinh tế dựa trên nông nghiệp với đặc điểm năng suất thấp và tăng trưởng cực
kỳ thấp hay bằng không sang một kiểu kinh tế về cơ bản dựa trên công nghiệp với các đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương đối cao”
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO): “CNH
là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm cơ cấu kinh tế này có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới
sự tiến bộ về kinh tế - xã hội”
Như vậy, khái niệm của UNIDO đưa ra mang tính sâu sắc hơn vì đã chú trọng tới nội dung cơ bản của quá trình CNH là quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Từ khái niệm đó cho thấy:
- Mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa: đảm bảo nền kinh tế phát triển với
Trang 18- Nội dung của công nghiệp hóa: bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh
tế, xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành Vấn đề nâng cao trình độ kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại là nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa
Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của Việt Nam, công nghiệp hóa (theo nghĩa hẹp) được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp Như vậy, công nghiệp hóa là một quá trình biến đổi về chất của nền kinh tế, xã hội và nền văn minh Đó là quá trình tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia để chuyển từ nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển sang xã hội phát triển, văn minh
1.1.2 Vai trò của ngành công nghiệp
Từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới cho thấy: Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng và không thể thiếu được đối với bất kì quốc gia nào Trình độ phát triển công nghiệp nói lên trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó Sản xuất công nghiệp phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của tất cả các
ngành kinh tế và góp phần nâng cao trình độ văn minh của toàn xã hội
Theo E.F.SCHUMACHER: “Một lần nữa, về công nghiệp và chắc chắn công nghiệp là nhân tố quyết định bước đi của cuộc sống hiện đại” [8, Tr.29]
* Công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế
Công nghiệp có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, sản xuất ra khối lượng sản phẩm rất lớn cho xã hội Công nghiệp sản xuất ra máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất cho các ngành kinh tế mà không ngành nào có thể thay thế được, góp phần thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế Theo Mác - Ăng ghen: “Sự phân công lao động, việc sử dụng sức nước, nhất là sức của hơi nước, và việc ứng dụng máy móc, đó là ba đòn bẩy lớn nhờ đó nền công nghiệp từ giữa thế kỷ 18 đã làm lay chuyển nền tảng của thế giới” [6, Tr.346]
Trang 19* Công nghiệp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, dịch vụ
Công nghiệp có vai trò không thể thiếu đối với phát triển nông nghiệp bởi nó cung cấp cho sản xuất nông nghiệp những yếu tố đầu vào quan trọng như: phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc để cơ giới hóa, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nhờ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Công nghiệp còn có vai trò quan trọng trong xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp cũng như xây dựng nông thôn mới, phát triển công nghiệp nông thôn, đưa nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa
* Công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng phục vụ cho đời sống nhân dân
Sản xuất nông nghiệp cung cấp cho con người những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người, còn công nghiệp cung cấp cho chúng ta hầu hết các sản phẩm tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng
và phong phú, như cung cấp các sản phẩm dùng trong sinh hoạt phục vụ cho ăn uống,
đi lại, tiêu khiển và giải trí,
Ngoài ra, công nghiệp phát triển còn nảy sinh chức năng hướng dẫn tiêu dùng cho con người Bởi vì, công nghiệp ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm mới, nảy sinh nhu cầu tiêu dùng và xuất hiện những trào lưu mới trong tiêu dùng Đây là hệ quả tích cực mà công nghiệp mang lại cho văn minh nhân loại
* Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
Theo “mô hình hai khu vực” trong “Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa” của nhà kinh tế người Nhật Bản Harry T.Oshima, “nhờ sự đầu tư các máy
móc, thiết bị và áp dụng công nghệ sinh học mà nông nghiệp phát triển theo chiều sâu Vì vậy, một bộ phận lao động nhàn rỗi đã chuyển sang hoạt động công nghiệp nhưng vẫn không làm giảm sản lượng nông nghiệp” [11, Tr.106] Như vậy, công nghiệp làm tiết kiệm rất nhiều thời gian và sức lao động của người nông dân nhờ
Trang 20nâng cao năng suất lao động Điều đó đã làm nông dân có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế khác để nâng cao thu nhập
Theo Mác - Ăng ghen: “Công nghiệp, nhờ có những phát minh về sau mỗi năm một hoàn thiện ấy, lao động bằng máy móc đã thắng lao động bằng chân tay trong các ngành công nghiệp” [6, Tr.331] Điều đó cho thấy, không chỉ thu hút lao động trong nông nghiệp mà công nghiệp còn có vai trò quan trọng, giải quyết những vấn đề có tính chiến lược của nền kinh tế, xã hội như: tăng thu nhập dân cư và ổn định xã hội, giải quyết việc làm, xóa bỏ sự cách biệt giữa miền xuôi với miền núi
* Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất
Công nghiệp góp phần đắc lực vào việc thay đổi phương pháp tổ chức, quản
lý sản xuất của xã hội, vì công nghiệp không chỉ sử dụng trang thiết bị hiện đại mà còn cần có phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ thông qua sản xuất dây chuyền Từ đó, bản thân người lao động sẽ được rèn luyện tác phong công nghiệp, tính tổ chức kỷ luật trong lao động Do đó, công nghiệp là thước đo trình độ phát triển, biểu thị sự vững mạnh của nền kinh tế quốc dân Trong quá trình hội nhập và cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu hiện nay, công nghiệp hóa là con đường tất yếu mà tất cả các quốc gia đều phải trải qua nếu muốn hướng tới sự phát triển Đặc biệt, đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường ngắn nhất để đẩy lùi đói nghèo, giảm sự chênh lệch so với các nước phát triển trên thế giới
1.1.3 Phân loại công nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế quốc dân, người ta chia phát triển kinh tế thành 3 ngành khác nhau: ngành công nghiệp (bao gồm cả xây dựng); ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và ngành dịch vụ Đối với công nghiệp, dựa trên các tiêu chí khác nhau mà có các cách phân chia khác nhau
1.1.3.1 Phân loại công nghiệp dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm
Trang 21Đây là cách phân loại quan trọng và được sử dụng rộng rãi trên thế giới trước đây, nói lên tác dụng của sản phẩm công nghiệp trong sản xuất và tiêu dùng cũng như mối quan hệ giữa chúng trong qúa trình tái sản xuất mở rộng Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm, người ta chia công nghiệp thành các ngành sản xuất tư liệu sản xuất (nhóm A - công nghiệp nặng) và các ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng (nhóm B - công nghiệp nhẹ) Ngành công nghiệp nặng gồm tổng hợp của các đơn vị sản xuất kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm làm tư liệu sản xuất là chủ yếu, đặc biệt là tư liệu lao động, còn ngành công nghiệp nhẹ gồm tổng hợp các đơn vị sản xuất kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm làm tư liệu tiêu dùng trong sinh hoạt là chủ yếu Căn cứ của sự phân loại này dựa vào phương hướng sản xuất, kinh doanh chủ yếu và tỉ trọng sản phẩm được sản xuất là tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng
Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng quy luật tái sản xuất mở rộng để xây dựng mô hình cơ cấu công nghiệp phù hợp cho mỗi nước, trong mỗi thời kì phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, cho đến nay, cách phân loại này ít được sử dụng bởi nó khá đơn giản vì chỉ quan tâm đến công dụng kinh tế của sản phẩm mà không xem xét cách thức để tạo ra sản phẩm đó
1.1.3.2 Theo tính chất tác động đến đối tượng lao động
Đây là cách phân loại khá phổ biến hiện nay, là cơ sở để đánh giá trình độ phát triển nền công nghiệp của một quốc gia Theo cách phân loại này, công nghiệp được phân ra làm 3 bộ phận:
- Công nghiệp khai thác: bao gồm: Khai thác các nguồn năng lượng như dầu
mỏ, khí đốt, than; khai thác các quặng kim loại; khai thác các quặng phi kim loại (chủ yếu là vật liệu xây dựng); khai thác các quặng đặc biệt (uran, thori ); khai thác vật liệu xây dựng Trong đó, con người tác động trực tiếp vào tự nhiên để tạo ra nguyên, nhiên liệu
- Công nghiệp chế biến: Sản xuất và chế biến các sản phẩm phục vụ nhu cầu
tiêu dùng của con người Theo nguyên tắc phân ngành kinh tế quốc dân, công nghiệp chế biến bao gồm ba ngành công nghiệp chủ yếu:
Trang 22+ Công nghiệp chế tạo công cụ sản xuất: bao gồm ngành cơ khí, chế tạo máy, các ngành kỹ thuật và điện tử, cung cấp toàn bộ tư liệu sản xuất cho nền kinh tế + Công nghiệp sản xuất đối tượng lao động như công nghiệp hóa chất, công nghiệp luyện kim, hóa dầu, sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp yếu tố đầu vào cho các ngành khác
+ Công nghiệp chế biến thực phẩm và các vật phẩm phục vụ tiêu dùng hàng ngày như công nghiệp sản xuất gỗ, giấy, sành sứ, thủy tinh, may mặc và da giầy, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của con người
- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, gas: vừa sản xuất, vừa phân
phối điện, nước, gas cho hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt
1.1.3.3 Theo tiêu chí mức độ tiến bộ trong quy trình sản xuất, trình độ trang thiết bị
kỹ thuật cũng như giá trị sản phẩm làm ra cuối cùng
Nhóm ngành công nghiệp thuộc “thế hệ thứ nhất”: là những ngành sử dụng
chủ yếu là lao động và tài nguyên thiên nhiên, nhu cầu vốn nhỏ, tính sáng tạo và giá trị gia tăng thấp Thuộc nhóm này chủ yếu là các sản phẩm thô hoặc các sản phẩm sơ chế phụ thuộc vào lao động thủ công, khai thác tài nguyên, gia công, lắp ráp theo công nghệ ngoại nhập Do đó, nhóm này bao gồm các ngành: công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt may, da giày, Những ngành này hiện đang rất phổ biến ở Việt Nam
Nhóm ngành công nghiệp thuộc “thế hệ thứ hai”: là những ngành công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin Đây là ngành đòi hỏi cao hơn về công nghệ, xây dựng trên cơ sở những ngành công nghiệp thuộc “thế hệ thứ nhất”, có tác dụng lan tỏa và nâng cao năng suất lao động của nhiều ngành công nghiệp
Nhóm ngành công nghiệp thuộc “thế hệ thứ ba”: bao gồm công nghiệp hóa
dầu, hóa dược, cơ khí chế tạo chính xác Đây là những ngành chứa nhiều chất xám,
có giá trị cao, tạo ra bước đột phá mang tính dẫn đầu trong một số ngành công nghiệp
Trang 231.1.3.4 Theo tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh trên thị trường và vai trò quan trọng của từng ngành công nghiệp trong mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển kinh tế (ở các nước phát triển)
Theo cách phân loại này, người ta chia công nghiệp ra 3 nhóm ngành:
Nhóm ngành công nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh: gồm công nghiệp sản
xuất hàng dệt may, da giày, công nghiệp nhựa, tiểu thủ công nghiệp, đồ gỗ, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm , phát triển trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa do tận dụng được tiềm năng tự nhiên và đòi hỏi ít vốn, khoa học - công nghệ không cao
Nhóm ngành công nghiệp là cơ sở hạ tầng quan trọng: gồm công nghiệp thép,
công nghiệp khai thác, chế biến, công nghiệp hóa chất
Nhóm ngành công nghiệp tiềm năng: gồm công nghiệp cơ khí, chế tạo, công
nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin, công nghiệp có sản phẩm từ công nghệ mới (nano, gen, bionic ) là những ngành công nghiệp hiện đại và có sức cạnh tranh, đóng vai trò chủ đạo
1.1.3.5 Theo các tiêu chí khác
Theo trình độ trang bị kỹ thuật: công nghiệp được chia thành công nghiệp
hiện đại và tiểu thủ công nghiệp
Theo tính đồng nhất của công dụng sản phẩm hay theo tính chất chung của nguyên liệu được sử dụng hoặc dựa vào các tính chất không giống nhau của công
nghệ chia ra: công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp gia công kim loại, công nghiệp chế biến gỗ, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm
Theo quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: gồm công nghiệp trong nước (công
nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài nhà nước), công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Theo cấp quản lý: gồm công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương
Trang 241.1.4 Đặc điểm của hoạt động sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp mang những đặc trưng riêng biệt khác với các ngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp
1.1.4.1 Sản xuất công nghiệp ít bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên
Do đối tượng của sản xuất công nghiệp là những vật vô sinh nên nó ít chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên Các điều kiện tự nhiên không thuận lợi đối với sản xuất công nghiệp có thể khắc phục bằng các biện pháp kỹ thuật
1.1.4.2 Quá trình sản xuất công nghiệp thường chia làm 2 giai đoạn
Sản xuất công nghiệp chia làm hai giai đoạn: giai đoạn tác động vào đối tượng lao động để tạo ra nguyên liệu, giai đoạn chế biến nguyên liệu thành tư liệu sản xuất Mỗi giai đoạn này lại bao gồm nhiều công đoạn nhỏ hơn, phức tạp và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo ra sản phẩm hoàn thiện và có giá trị sử dụng
Tính chất hai giai đoạn của qúa trình sản xuất công nghiệp do đối tượng lao động quy định, đó là các vật thể vô tri vô giác (như các khoáng sản), không phải sinh vật sống như đối tượng của ngành nông nghiệp Do đó, con người phải khai thác chúng
để tạo ra nguyên liệu rồi chế biến nguyên liệu đó để tạo thành sản phẩm Song các giai đoạn không nhất thiết phải tiến hành tuần tự, bắt buộc như sản xuất nông nghiệp mà có thể tiến hành đồng thời, thậm chí cách xa nhau về mặt không gian và
có thể nhảy vọt vì các hoạt động công nghiệp là các hoạt động lí hóa, cơ học tác động trực tiếp vào tự nhiên để lấy nguyên liệu và biến đổi chúng thành các sản phẩm cụ thể
1.1.4.3 Sản xuất công nghiệp mang tính tập trung cao độ
Tính tập trung của sản xuất công nghiệp (trừ khai khoáng, khai thác gỗ và đánh cá) thể hiện ở việc tập trung tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, vốn), tập trung nhân công (đặc biệt là các ngành công nghiệp nhẹ) và tập trung sản phẩm Trên một diện tích không rộng có thể xây dựng nhiều nhà máy thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau với hàng vạn công nhân, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn và năng
Trang 25suất lao động cao hơn gấp nhiều lần so với nông nghiệp Do đó, khi xây dựng xí nghiệp công nghiệp, phải lựa chọn địa điểm phù hợp sao cho tiết kiệm được chi phí sản xuất bằng cách tạo ra mối liên hệ về kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm với các xí nghiệp khác, tận dụng tối đa chi phí cơ hội để nâng cao hiệu quả sản xuất
1.1.4.4 Sản xuất công nghiệp gồm nhiều phân ngành phức tạp, nhưng có sự phân công tỉ mỉ và phối hợp chặt chẽ với nhau để tạo ra sản phẩm cuối cùng
Công nghiệp gồm tập hợp các phân ngành như khai khoáng, luyện kim, cơ khí, hóa chất, Các phân ngành này không tách rời nhau mà có liên quan với nhau
để tạo ra sản phẩm Quá trình sản xuất trong mỗi phân ngành có sự phân công rất tỉ
mỉ và chặt chẽ Vì thế, chuyên môn hóa, hợp tác hóa và liên hợp hóa là những biện pháp tổ chức hiệu quả trong sản xuất công nghiệp
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp
1.1.5.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế và vị trí chính trị Trong đó, vị trí kinh tế là một nhân tố cần được xem xét đầu tiên khi xác định cơ cấu công nghiệp Trong kinh doanh, vị trí đóng vai trò cực kỳ quan trọng Đó là một yếu tố không thể thiếu trong qúa trình xây dựng nền kinh tế mở, tăng cường và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập với khu vực và thế giới
1.1.5.2 Nhóm nhân tố tự nhiên
Đó là nhân tố tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản và nguồn nước Những nhân tố này rất quan trọng vì nó chi phối trực tiếp tới cơ cấu sản xuất công nghiệp của mỗi địa phương Điều kiện tự nhiên cho ta thấy được những lợi thế tự nhiên của một vùng, một lãnh thổ về nguồn nguyên, nhiên vật liệu, về giao thông vận tải,
Đó là những lợi thế sẵn có mà con người không thể tự tạo ra được Điều kiện tự nhiên thuận lợi mở ra cho vùng những khả năng sản xuất mới, tạo ra lợi thế khác biệt so với các vùng khác, đơn giản như một địa phương khó có thể phát triển được ngành công nghiệp đóng tàu nếu không có biển
Trang 26Điều kiện tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đối với việc lựa chọn cơ cấu sản xuất, vì nó cho biết những nguồn lực và lợi thế so sánh của vùng, của địa phương, quyết định tới việc lựa chọn những ngành chuyên môn hóa cũng như các ngành công nghiệp bổ trợ Một nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú, trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi sẽ cho phép phát triển công nghiệp gồm nhiều ngành với nền tảng vững chắc Ngượi lại, những nơi điều kiện tự nhiên không thuận lợi, ở góc độ nào đó sẽ kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp
1.1.5.3 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
- Nhân tố lao động
Lao động là nhân tố đặc biệt nhất, góp phần quyết định tới sự phát triển của ngành công nghiệp Số lượng và chất lượng nguồn lao động đều có ảnh hưởng tới
qúa trình phát triển công nghiệp
Dân số và mức sống dân cư tạo ra thị trường nội địa to lớn mà các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phải phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu Hơn nữa, trình độ dân trí, khả năng tiếp thu kĩ thuật mới của lao động là cơ sở quan trọng để phát triển những ngành công nghiệp đòi hỏi kĩ thuật cao Cuối cùng, các ngành nghề truyền thống của từng vùng là nơi thu hút lao động, cần được bảo tồn
và phát huy trong qúa trình hoạch định và thực thi chiến lược chuyển dịch cơ cấu công nghiệp
Trong nhóm nhân tố này, nếu chúng ta hiểu rộng ra thì không thể không nhắc đến nhân tố con người Bởi vì, mọi sự phát triển cuối cùng đều nhằm phục vụ cho con người Con người là chủ thể định ra các hướng đi, đề ra các giải pháp, thực hiện những sự tác động để các mục tiêu đi theo đúng hướng đã định Con người giữ vai trò chính trong việc hoạch định chính sách, đưa ra các giải pháp cho phát triển công nghiệp Trình độ con người quyết định tới việc sử dụng và phối hợp các yếu tố nguồn lực, tiếp thu những công nghệ mới
Việt Nam là một nước có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, nên giai đoạn đầu của quá trình phát triển công nghiệp cần tranh thủ lợi thế về lao động
Trang 27phong phú, giá nhân công rẻ để phát triển những ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động (như dệt may, da giày), vốn đầu tư thấp, khắc phục được tình trạng thiếu vốn và
dư thừa lao động
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vững chắc là một trong những điều kiện cơ bản để thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và đặc biệt là phát triển các ngành công nghiệp Hiện nay, các khu công nghiệp, đặc biệt là những khu công nghiệp có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tốt đang thu hút được rất nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước
Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp Các nhà đầu tư nước ngoài mang đến nguồn vốn và những công nghệ mới,
cơ hội phát triển những ngành công nghiệp hiện đại mà hiện nay chúng ta chưa có
đủ điều kiện để khai thác và phát triển
tố vốn hàm chứa trong đó cả những yếu tố khác như khoa học, công nghệ, cơ sở hạ tầng cho sự phát triển… Do đó, cần đẩy mạnh tích tụ và tập trung vốn cả trong và ngoài nước cho phát triển công nghiệp Trong nhân tố này, vốn đầu tư nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) là nguồn vốn quan trọng Nguồn vốn đó cho phép thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, giúp chuyển giao công nghệ, đào tạo kĩ thuật, tìm kiếm những thị trường tiêu thụ mới, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần tham gia vào việc phân công lao động quốc tế
Trang 28Để xây dựng cơ sở công nghiệp hiện đại, kĩ thuật công nghệ cao, tạo ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh mạnh, tạo sức bật cho công nghiệp thì nhất thiết phải cần đến nguồn vốn đầu tư lớn Kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển đã cho thấy rất rõ điều đó Tuy nhiên, cần chú ý tới hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả đầu
tư và cơ chế quản lí vốn tốt
- Nhân tố khoa học - công nghệ
Đây là nhân tố có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển công nghiệp của một nước, một địa phương Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ đã tạo ra rất nhiều ngành nghề mới và nó cho phép khắc phục những mặt hạn chế của yếu tố
tự nhiên, làm tăng năng suất lao động, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của các ngành Chẳng hạn, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa dầu sẽ tạo ra loại nguyên liệu phong phú, bổ sung cho sự khan hiếm tài nguyên của đất nước Thực tiễn cho thấy, có rất nhiều quốc gia tuy không được ưu đãi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ biết áp dụng những thành tựu khoa học - kĩ thuật, những tiến
bộ công nghệ nên đã đạt được sự thần kì mà Nhật Bản là một điển hình
Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh nhịp độ phát triển một số ngành và làm tăng tỉ trọng của chúng trong cơ cấu công nghiệp mà còn tạo ra những nhu cầu mới Chính những nhu cầu mới này lại đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ ở một số ngành khác, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp mới
Sự ảnh hưởng của nhân tố khoa học, công nghệ đến phát triển công nghiệp phụ thuộc vào chính sách khoa học, công nghệ của mỗi một quốc gia Việc thực hiện chính sách này là là điều kiện vận dụng nhân tố tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc thúc đẩy cải tiến kĩ thuật sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, đẩy mạnh phát triển công nghiệp
- Nhân tố thị trường và quảng bá thương hiệu
Thị trường là nhân tố cực kì quan trọng, có tính chất quyết định đầu tiên đối với việc phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập Thị trường tác động trực
Trang 29tiếp đến việc hình thành và phát triển các ngành công nghiệp của mỗi nước Quy luật cạnh tranh của thị trường là quy luật cơ bản điều tiết những yếu tố sản xuất, chi phối trực tiếp tới cơ cấu sản xuất
Hạt nhân cơ bản của nền công nghiệp là các doanh nghiệp công nghiệp Mỗi doanh nghiệp cần phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung - cầu hàng hóa
và dịch vụ của thị trường để hoạch định chương trình kinh doanh Thị trường tác động đến cả đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp Việc sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp tất yếu phải bám sát thị trường, lấy thị trường làm căn cứ Sự hình thành và biến đổi nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp để thích ứng với các điều kiện của thị trường được tổng hợp lại tạo thành cơ cấu công nghiệp của đất nước
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thị trường không hoàn toàn tác động trực tiếp và tự phát đến kinh doanh công nghiệp Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô Nhà nước tạo điều kiện hình thành đồng
bộ các loại thị trường, điều tiết thị trường và tạo môi trường, điều kiện cho thị trường
và cho các hoạt động kinh doanh thông qua các chính sách vĩ mô như: chính sách tài chính, tiền tệ…
Ngày nay, chúng ta không thể chỉ cung cấp cho thị trường những cái chúng ta
có mà phải cung cấp những cái mà thị trường đòi hỏi Vì vậy, cần phải có công tác tiếp cận thị trường và quảng bá thương hiệu để sản phẩm làm ra được mọi người biết đến và
sử dụng Từ đó sẽ kích thích sản xuất phát triển
- Yếu tố chính trị, xã hội và môi trường thể chế
Sự ổn định về mặt chính trị, xã hội là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng
Các chủ trương, đường lối, chính sách có ảnh hưởng rất mạnh tới sự phát triển kinh tế của mỗi vùng, mỗi địa phương Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định Một chiến lược đúng đắn, hợp lý sẽ đưa công nghiệp phát triển nhanh, có hiệu quả và
Trang 30ra những áp lực nhất định để các nhà đầu tư trong và ngoài nước vận động theo hướng đã định
Trong yếu tố chính trị và thể chế, các chính sách là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới phát triển công nghiệp Chính sách công nghiệp là những chính sách liên quan đến việc khuyến khích và tổ chức lại các ngành công nghiệp Thông qua chính sách công nghiệp sẽ định hướng các ngành công nghiệp cần được ưu tiên phát triển trong những giai đoạn nhất định Chính sách công nghiệp sẽ kết hợp với các chính sách kinh tế khác để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội
- Quan hệ kinh tế đối ngoại
Trong xu thế hội nhập và mở cửa hiện nay, đa số các quốc gia đều lựa chọn phát triển nền kinh tế theo xu hướng mở, đây đang được xem như đòn bẩy của quá trình phát triển công nghiệp Các quan hệ kinh tế đối ngoại tạo điều kiện khai thác
và sử dụng tốt nhất các nguồn lực tự nhiên, tìm ra được các ngành có lợi thế so sánh
so với những vùng khác, đó là cơ sở để tạo ra các ngành kinh tế có vai trò như các cực tăng trưởng Hơn nữa, việc phát triển nền kinh tế theo xu hướng mở còn là động lực thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ Tính cạnh tranh sẽ giúp cho các ngành hoạt động hiệu quả hơn, ngành nào không có khả năng cạnh tranh sẽ tự bị đào thải, ngành nào cạnh tranh tốt thì có ưu thế vươn lên mạnh mẽ Chính điều này sẽ dẫn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn, năng động hơn
Quan hệ kinh tế đối ngoại mở rộng và thuận lợi sẽ tạo điều kiện để thu hút vốn từ nước ngoài (ODA và FDI), tìm kiếm được những thị trường mới, những nhu cầu mới để có điều kiện mở rộng sản xuất, giúp tăng quy mô công nghiệp tới mức tối ưu, phát triển những ngành công nghiệp mới
Hiện nay, thương mại quốc tế đang được xem như là một phương tiện cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình phát triển công nghiệp Vì vậy, nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng và trình độ sản xuất công nghiệp của địa phương
Qua sự phân tích trên có thể nhận thấy những nhân tố tác động tới phát triển
công nghiệp gồm cả những nhân tố chủ quan và những nhân tố khách quan Vì thế,
Trang 31việc phát triển công nghiệp không phải tự nó vận động mà tất yếu cần đến sự chủ động tác động của con người nhằm đưa công nghiệp phát triển nhanh và đúng hướng Sự chủ động tác động bằng các công cụ chính sách sẽ phần nào hạn chế được những mặt bất lợi của mỗi nhân tố, phát huy được nhiều nhất những ưu điểm của các nhân tố đó
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành công nghiệp
a Giá trị sản xuất ngành công nghiệp
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp là giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước được tính theo phương pháp công xưởng, bao gồm:
- Doanh thu công nghiệp: doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ công nghiệp, bán phế liệu, phế phẩm và doanh thu cho thuê máy móc, thiết bị có kèm theo người điều khiển
- Chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, sản phẩm dở dang
b Năng suất công nghiệp
Năng suất công nghiệp được tính bằng giá trị sản xuất công nghiệp/1 lao động công nghiệp
c Sản lượng công nghiệp
Sản lượng công nghiệp là tổng số sản phẩm chính được tạo ra trong toàn bộ đơn vị trong từng năm
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình phát triển công nghiệp Việt Nam
Trước năm 1954, nền công nghiệp Việt Nam phát triển chậm chạp, lại bị chi phối bởi chính sách kinh tế của thực dân Pháp Công nghiệp Việt Nam thời kỳ đó chỉ
là một bộ phận của công nghiệp Pháp, thiết bị máy móc, công nghệ nhập từ Pháp Nền công nghiệp nước ta thời kỳ này chủ yếu là khai thác tài nguyên, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quá nhỏ bé, công nghiệp hầu như
Trang 32không gắn với nông nghiệp và phục vụ phát triển nông nghiệp, quy mô sản xuất nhỏ, trình
độ thủ công, cơ cấu giữa các ngành chưa hợp lý, mất cân đối, trình độ về công nghệ sản xuất lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường
Giai đoạn 1954 - 1975, công nghiệp của Việt Nam phát triển trong điều kiện đất nước có chiến tranh và bị chia cắt thành 2 miền Công nghiệp miền Bắc nước ta trước năm 1954 phát triển trong bối cảnh bị cô lập, chưa có quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa Sau năm 1954, công nghiệp miền Bắc được khôi phục và phát triển, tuy nhiên, các ngành công nghiệp then chốt còn nhỏ bé, thiếu đồng bộ Miền Nam
đã hình thành một số ngành công nghiệp nhưng tốc độ phát triển không ổn định, cơ cấu ngành chưa hợp lý, chủ yếu là công nghiệp chế biến thực phẩm và gia công hàng tiêu dùng với nguồn nguyên liệu nhập từ nước ngoài
Từ năm 1975 cho đến giữa thập niên 80, công nghiệp vẫn hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp, điều kiện phát triển rất khó khăn do hậu quả của chiến tranh
để lại Vì thế, sản xuất công nghiệp tuy vẫn phát triển, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân thất thường: 0,6% (thời kỳ 1976 - 1980), 9,5% (thời kỳ 1981 - 1985) Sản xuất công nghiệp nhìn chung kém hiệu quả, chất lượng sản phẩm thấp và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường
Từ nửa sau thập niên 80, đặc biệt là từ đầu thập niên 90 đến nay, nền công nghiệp nước ta có sự chuyển biến quan trọng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp nông thôn Công nghiệp phát triển với nhiều loại hình sở hữu khác nhau như quốc doanh, tư bản nhà nước, tập thể, tư nhân và cá thể Trong đó, công nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, hệ thống doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt trong kinh tế quốc doanh, là lực lượng quan trọng để thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô Đồng thời, nâng cao trình độ tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành một số đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô lớn, tạo tiền đề ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, xây dựng nền kinh tế mở, kết hợp một cách hợp lý chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu với
Trang 33chiến lược đẩy mạnh sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta tương đối đa dạng và có khá đầy đủ các ngành công nghiệp Cơ cấu lãnh thổ có sự chuyển dịch theo hướng ngày càng hợp lý hơn Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 (theo giá so sánh) đạt 647231,7 tỷ đồng, tăng 113,9% so với năm
2007 Trong đó, thành phần kinh tế Nhà nước chiếm 163120,3 tỷ đồng, kinh tế ngoài Nhà nước: 222269,1 tỷ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 261842,3 tỷ đồng
Theo PGS, TS Nguyễn Cúc: “qua nghiên cứu số liệu từ năm 1991 đến nay, Công nghiệp của Việt Nam có những thành tựu đáng kể, góp phần vào tăng trưởng nhanh nền kinh tế, phát huy được những lợi thế so sánh về khai thác tài nguyên và
sử dụng nguồn lao động dư thừa ở nước ta.”
Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp nước ta so với các nước trong khu vực và trên thị trường thế giới còn kém cả về chất lượng và giá cả, về dịch vụ giao hàng và sau bán hàng, tốc độ đổi mới công nghệ chậm Khả năng chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư nước ngoài của tỉnh chưa nhiều, chưa gắn được nghiên cứu khoa học với sản xuất Các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa thực sự phát triển Vấn đề ô nhiễm môi trường nảy sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp còn phổ biến Do đó, chưa tạo ra được sự phát triển bền vững trong công nghiệp
1.2.2 Phát triển công nghiệp ở một số tỉnh trong vùng Trung du, miền núi phía Bắc
Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ là địa bàn cực kỳ quan trọng về kinh tế -
xã hội cũng như môi trường và an ninh quốc phòng đối với cả nước Trong vùng ẩn chứa nguồn tài nguyên phong phú, bao gồm tài nguyên rừng, nguồn tài nguyên nước dồi dào và thủy năng to lớn, hàng triệu ha đất đai các loại, nhiều khoáng sản quý hiếm và có trữ lượng lớn Đặc biệt, vùng có nhiều cửa khẩu quốc tế quan trọng với Lào và Trung Quốc Trong vùng đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp lớn, như Công ty Giấy Bãi Bằng (Phú Thọ), Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (Thái Nguyên), Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc (Bắc Giang) Vùng còn có những công trình thủy điện lớn mang tầm cỡ khu vực
Trang 34và thế giới như: nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên Bái), nhà máy Thủy điện Hòa Bình (công suất 1.920 MW), nhà máy Thủy điện Sơn La (công suất 2.400 MW) Trong tương lai, vùng Trung du và miền núi Bắc bộ sẽ là nơi cung cấp điện chủ yếu cho cả nước Vùng có mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 9 - 10% (giai đoạn 2006 - 2010), chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH với tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 34% trong tổng GDP của vùng
Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp toàn vùng đạt 22690,2 tỷ đồng (theo giá
so sánh), chỉ chiếm 3,5% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước
- Thái Nguyên : Là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Nguyên đạt 12,46% (năm 2008 đạt 11,47%), tỉ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 39,78% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh (năm 2008) GDP bình quân theo đầu người năm 2008 của tỉnh đạt 11,70 triệu đồng Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân đầu người năm 2008 đạt 7,55 triệu đồng Năm 2008, GTSXCN (giá so sánh) đạt 8749,5 tỷ đồng Trong quá trình phát triển, tỉnh đã xác định 6 nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn là công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản; công nghiệp chế biến nông - lâm sản, thực phẩm, đồ uống; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp dệt may, da giầy ; công nghiệp luyện kim ; công nghiệp cơ khí Trong đó, lợi thế so sánh nổi bật của tỉnh so với vùng và cả nước là gang thép Thái Nguyên
- Tuyên Quang là tỉnh miền núi, có nền kinh tế với xuất phát điểm thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế Tỉnh không có được nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển công nghiệp, không phải là một trung tâm đào tạo công nhân bậc cao như Thái Nguyên, song họ đã có nhiều cố gắng để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế là 13,80%, GDP bình quân theo đầu người đạt 8,50 triệu đồng (năm 2008) Tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân 2001 - 2005 là 12,58%/năm Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp bình quân đầu người đạt 2,05 triệu đồng, giá trị sản xuất
công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 là 844,1 tỷ đồng, tỉ trọng ngành công
nghiệp và xây dựng chiếm 28,79% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
Trang 35- Bắc Giang cũng là tỉnh trung du, miền núi như Thái Nguyên, tuy có ít tài nguyên khoáng sản, lại không phải là trung tâm đào tạo lớn như Thái Nguyên, song họ
đã khai thác và tận dụng được lợi thế so sánh của mình để đạt được mức độ phát triển công nghiệp tương đối khá Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 là 2145,6 tỷ đồng Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân đầu người đạt 1,66 triệu đồng, tỉ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 30,06% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Các ngành công nghiệp chủ yếu phát triển ở Bắc Giang là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và công nghiệp sản xuất phân bón, hoá chất; sản xuất vật liệu xây dựng; may mặc, gia công hàng xuất khẩu; cơ khí, điện dân dụng, điện tử, in; khai thác khoáng sản Công nghiệp của tỉnh chủ yếu phân bố ở thành phố Bắc Giang
- Phú Thọ là tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi để phát triển nhiều ngành công nghiệp như chế biến nông, lâm sản, thực phẩm; khai khoáng, hóa chất, phân bón; sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp sản xuất hàng may mặc, hàng tiêu dùng So với các tỉnh vùng Đông Bắc, Phú Thọ có nền công nghiệp phát triển tương đối sớm (từ những năm 1960) Tỉnh có nhiều nhà máy lớn, nhiều khu công nghiệp tập trung Các nhà máy chè đen ở Cẩm Khê, super phốt phát ở Lâm Thao, nhà máy giấy Bãi Bằng Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 của tỉnh đạt 10,70%, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) đạt 7827,1 tỷ đồng Tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 38,7% trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh
- Bắc Kạn là tỉnh vùng núi cao, có địa hình phức tạp, cơ sở vật chất và kinh tế chưa phát triển Tỉnh có thế mạnh phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 là 180,9 tỷ đồng, giá trị sản xuất công nghiệp bình quân đầu người năm
2008 đạt 0,56 triệu đồng , tỉ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 16,63% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
- Lạng Sơn là tỉnh biên giới, có nhiều thuận lợi trong giao lưu, phát triển kinh
tế Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản ở Lạng Sơn chủ yếu là đá vôi, đất sét, cát, đá
Trang 36cuội, sỏi Ngành kinh tế chính của Lạng Sơn là thương mại - dịch vụ (chiếm tới trên 65% tỉ trọng trong cơ cấu GDP của tỉnh) Ngành công nghiệp Lạng Sơn có giá trị sản xuất thấp Năm 2008, GTSXCN toàn tỉnh theo giá so sánh chỉ đạt 541,3 tỷ đồng, đứng thứ 9 trong vùng Hầu hết các cơ sở sản xuất trong tỉnh đều có quy mô nhỏ bé (trừ một số ít các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoà i), trang thiết bị , công nghệ còn lạc hậu , tiêu hao nguyên liệu lớn , sản phẩm làm ra thiếu sức cạnh tranh Do vậy, các doanh nghiệp luôn gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm Trong
cơ cấu các ngành công nghiệp , công nghiệp khai khoá ng giữ vị trí hàng đầu , giá trị sản xuất chiếm 55% - 60% tỉ trọng công nghiệp của tỉnh Sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 20% - 30% giá trị sản xuất ngành công nghiệp, trong đó sản phẩm chính là xi măng, gạch ngói, đá vôi Công nghiệp chế biến nông - lâm sản - thực phẩm tuy có nhiều tiềm năng , lợi thế, nhưng quy mô sản xuất của các xí nghiệp còn nhỏ Công nghiệp sản xuất , lắp rá p thiết bị , cơ khí , điện chủ yếu do các đơn vị ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện , là ngành mới hình thành trong một vài năm gần đây
Như vậy , so với các tỉnh trong vùng, đặc biệt là các tỉnh nằm ở vị trí tiếp giáp, Thái nguyên có nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp, đặc biệt là khoáng sản Thực tế, giá trị sản xuất của ngành công nghiệp của Thái Nguyên đã đạt được mức phát triển cao hơn so với các tỉnh liền kề trong vùng như Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Kạn và các tỉnh khác còn lại Vì thế, hiện nay, Thái Nguyên được coi là trung tâm công nghiệp quan trọng của vùng Đông Bắc nói riêng và của cả vùng Trung du, miền núi phía Bắc nói chung
Trang 37Tiểu kết chương 1
Ngành công nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Vì vậy, việc nắm được các khái niệm, vai trò, đặc điểm cũng như các nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành là việc làm cần thiết Từ đó sẽ tạo ra cách nhìn tổng quan trong việc đánh giá sự phát triển của ngành, giúp ta có được sự nhìn nhận đúng đắn trong việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp cũng như việc
đề xuất các giải pháp hợp lý để đưa ngành công nghiệp có những bước phát triển cao hơn Trong nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố công nghiệp, điều kiện kinh tế - xã hội đóng vai trò quyết định, còn điều kiện tự nhiên đóng vai trò quan trọng nhưng không thể thiếu được bởi trong điều kiện hiện nay, việc có được nguồn khoáng sản dồi dào là thuận lợi cơ bản để Thái Nguyên đẩy mạnh hoạt động công nghiệp Nhờ có khoáng sản đã tạo ra lợi thế so sánh của Thái Nguyên so với các tỉnh trong vùng và cả nước Vì vậy, đây là nguồn lực quan trọng, góp phần đưa nền công nghiệp của Thái Nguyên phát triển, xứng đáng là trung tâm công nghiệp quan trọng của vùng Trung du, miền núi phía Bắc và cả nước
Trang 38CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Từ, Phú Lương, Định Hóa, Phú Bình, Phổ Yên), 1 thị xã (Sông Công) và 1 thành phố (Thái Nguyên), với tổng số 180 xã, phường và thị trấn, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du
Thái Nguyên nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, có tọa độ địa lý:
21028’B - 22003’B và 105028’Đ - 1060
14’Đ Thái Nguyên tiếp giáp với các tỉnh: phía Bắc giáp Bắc Kạn; phía Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ
Với vị trí địa lý trên, Thái Nguyên được coi là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của Việt Bắc nói riêng và của vùng trung du, miền núi phía Bắc nói chung Thái Nguyên cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Việt - Trung 200km, cách trung tâm Hà Nội 75km và cảng Hải Phòng 200km, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du và miền núi phía Bắc với đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu này được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên được coi là đầu nút quan trọng Trong đó:
Đường quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng, cắt dọc toàn bộ tỉnh, chạy qua thành phố Thái Nguyên Đây được coi là cửa ngõ phía Nam nối Thái Nguyên với
Hà Nội, các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và với các tỉnh khác trong cả nước Đồng thời, đây còn là cửa ngõ phía Bắc, qua tỉnh Bắc Kạn lên Cao Bằng, thông sang biên giới Trung Quốc
Trang 40Các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những tuyến đường huyết mạch quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh Tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều là mối giao lưu quan trọng giữa vùng đồng bằng với các khu công nghiệp Sông Công, Gang Thép và thành phố Thái Nguyên
Ngoài ra, Thái Nguyên còn có quốc lộ 1A đi Lạng Sơn, quốc lộ 37 đi Bắc Ninh, Bắc Giang và hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải Phòng, đường sắt Thái Nguyên - Hà Nội - Lạng Sơn Hơn nữa, tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên nằm trong quy hoạch đang được xây dựng sẽ là tuyến đường hướng tâm, giúp sự giao lưu giữa tỉnh với các tỉnh lân cận được tiến hành thuận tiện
Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là căn cứ địa cách mạng trong những năm kháng chiến, có truyền thống cách mạng và nền văn hóa mang đậm đà bản sắc của các dân tộc miền núi phía Bắc Với hệ thống 6 trường đại học hiện
có, Thái Nguyên còn được coi là trung tâm đào tạo khoa học và giáo dục cho các tỉnh miền núi phía Bắc, đây là thuận lợi cơ bản về nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế của tỉnh nói riêng và miền Bắc nói chung
Vị trí địa lí của tỉnh đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong vùng, trong cả nước cũng như với nước ngoài, đưa Thái Nguyên nhanh chóng trở thành một trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng trung du, miền núi phía Bắc không chỉ hiện nay mà cả trong tương lai
2.1.2 Tiềm năng tự nhiên
2.1.2.1 Khoáng sản
Khoáng sản là nguồn tài nguyên có ý nghĩa hàng đầu đối với việc phát triển kinh tế xã - hội, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp Số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng và sự kết hợp các loại khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối đến quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, lòng đất có tiềm năng rất lớn về tài nguyên khoáng sản Thái Nguyên có khá đầy đủ các loại khoáng sản với 4 nhóm khoáng sản chính: nhóm khoáng sản nhiên liệu,