Thực tế sử dụng tiếng Việt của sinh viên TQ học chuyên ngành Tiếng Việt cho thấy, câu tiếng Việt mà các em viết còn mắc lỗi khá nhiều và khá đa dạng, như câu mắc lỗi chính tả, câu mắc lỗ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MÃ Á LỆ (MA YALI)
THỰC TRẠNG VIẾT CÂU TIẾNG VIỆT
MẮC LỖI CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC
CHUYÊN NGÀNH TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MÃ Á LỆ (MA YALI)
THỰC TRẠNG VIẾT CÂU TIẾNG VIỆT
MẮC LỖI CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC
CHUYÊN NGÀNH TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
khảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
Trang 4TÁC GIẢ
MÃ Á LỆ (MA YALI)
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 11
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1 Tổng quan lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ 11
1.1.1 Khái niệm về lỗi sử dụng ngoại ngữ, những quan niệm khác nhau về lỗi sử dụng ngoại ngữ 11
1.1.2 Các cách phân loại lỗi 26
1.2 Sơ lược về câu mắc lỗi, các loại câu mắc lỗi thường gặp 30
1.2.1 Sơ lược về câu mắc lỗi 30
1.2.2 Phân loại câu mắc lỗi 31
1.3 Tiểu kết 36
Chương 2 KHẢO SÁT CÂU TIẾNG VIỆT MẮC LỖI 37
TRONG MỘT SỐ BÀI THI VÀ KIỂM TRA CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC CHUYÊN NGÀNH TIẾNG VIỆT 37
2.1 Kết quả khảo sát trong một số bài thi và kiểm tra của sinh viên Trung Quốc tiếng Việt 37
2.1.1 Nhận xét chung 37
2.1.2 Kết quả số liệu điều tra 38
2.2 Phân loại và miêu tả các kiểu câu TV mắc lỗi đã thống kê 40
2.2.1 Các kiểu câu TV mắc lỗi được phân loại dựa vào tổng số lỗi xuất hiện trong một câu 41
Trang 62.2.2 Các câu TV mắc lỗi được phân loại theo đặc trưng của lỗi 46
2.3 Tiểu kết 68
Chương 3 NGUYÊN NHÂN SINH VIÊN TRUNG QUỐC VIẾT CÂU TIẾNG VIỆT MẮC LỖI, HƯỚNG SỬA LỖI 70
3.1 Nguyên nhân sinh viên Trung Quốc viết câu tiếng Việt mắc lỗi 70
3.1 1 Nguyên nhân thứ nhất: Do hiểu biết L2 của người học còn hạn chế 71
3.1.2 Nguyên nhân thứ hai: Do sự tương đồng hay khác biệt giữa L1 và L2 dẫn tới lỗi chuyển di tiêu cực từ L1 (ở đây là tiếng Hán) sang L2 (ở đây là tiếng Việt) hoặc chuyển di tiêu cực trong nội tại tiếng Việt 72
3.1.3 Lỗi do ý thức sử dụng ngôn ngữ của người học chưa tốt 73
3.2 Về vấn đề sửa câu mắc lỗi cho người học L2 73
3.2.1 Nguyên tắc sửa lỗi 74
3.2.2 Qui trình sửa lỗi 75
3.3 Tiểu kết 88
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu ngày một phát triển, việc giao lưu văn hoá giữa các nước cũng được mở rộng không ngừng Một điều dễ nhận thấy là trong mấy năm gần đây, sinh viên các nước theo học ngoại ngữ khá đông, trong đó có không ít sinh viên Việt Nam học Hán ngữ và ngược lại, con số sinh viên Trung Quốc(TQ) học tiếng Việt cũng không phải là nhỏ 1.2 Thực tế sử dụng tiếng Việt của sinh viên TQ học chuyên ngành Tiếng Việt cho thấy, câu tiếng Việt mà các em viết còn mắc lỗi khá nhiều và khá đa dạng, như câu mắc lỗi chính tả, câu mắc lỗi dùng từ, câu mắc lỗi cấu trúc, v.v…
Có thể nói, khi học ngoại ngữ, nếu lỗi bị vi phạm nhiều lần mà không được lưu ý, điều chỉnh thì người học (bản thân người mắc lỗi và cả những người không mắc lỗi trong lớp học) vô hình chung tự cho rằng nói, viết như thế là đúng và do vậy, những lỗi đó có nhiều nguy cơ trở thành cố tật Một khi lỗi biến thành cố tật thì không những khó sửa chữa mà còn trở thành nguyên nhân quan trọng cản trở sự thành công của người học ngoại ngữ nói chung trong đó có cả sinh viên TQ khi học tiếng Việt
Vì lẽ đó, người dạy và người học ngoại ngữ cần phải phát hiện ra các lỗi
sử dụng ngôn ngữ thứ hai với tư cách là một ngoại ngữ, biết tìm ra nguyên nhân cũng như cách khắc phục những lỗi đó
1.3 Chọn đề tài “ Thực trạng viết câu tiếng Việt mắc lỗi của sinh viên Trung Quốc chuyên ngành Tiếng Việt” để nghiên cứu, người viết hi vọng sẽ góp phần làm rõ thêm các kiểu câu mắc lỗi, xu hướng và nguyên nhân viết câu mắc lỗi trên bình diện lí luận, đồng thời luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh TQ khi dạy- học tiếng Việt
Trang 102 Lịch sử vấn đề
2.1 Về việc nghiên cứu lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 của người học ngoại ngữ
Trước khi ngành Phân tích đối chiếu (CA- Contrastive Analysis) ra đời
(khoảng giữa thế kỉ XIX), hướng nghiên cứu về lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 - ngoại ngữ (L2) của người học (NH) ngoại ngữ chưa được giới nghiên cứu
ngôn ngữ học quan tâm một cách thoả đáng
Ngành phân tích đối chiếu ra đời và đã lấy trường tâm lí hành vi luận
(behaviorism) làm căn cứ lí luận khi đưa ra quan điểm: lực cản duy nhất khiến người học ngoại ngữ không đạt kết quả như mong muốn là sự can thiệp không nên có của thói quen từ tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ thứ nhất (L1) của người học;
và tất cả lỗi trong quá trình học ngoại ngữ là do sự khác biệt giữa L1 và L2 Sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ (L1 và L2) chẳng những là nguyên nhân gây ra lỗi
mà còn là bức tường rào tạo ra những khó khăn cho người học Chính vì vậy, việc đối chiếu L1 và L2, chỉ ra được sự khác nhau giữa chúng sẽ là chìa khoá
giải quyết vấn đề phát hiện lỗi và sửa lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai
Quan điểm nói trên của lí thuyết ngành phân tích đối chiếu đã gây ra sự hoài nghi về nguyên nhân gây lỗi của người học L2 trong giới nghiên cứu ngôn ngữ và thúc đẩy hàng loạt các công trình nghiên cứu lỗi L2 của người học tiếng Anh ra đời vào đầu những năm 70, thế kỉ trước của các học giả nước ngoài
- Grauberg, W.(1971), “ An error analysis in the German of first-year
univesity students” in Perren and Trim (eds) 1971(“Phân tích lỗi trong tiếng
Đức của sinh viên năm thứ nhất” Perren, Trim (và 1 số tác giả), 1971)
- George, H (1972), Common errors in language learning: insights from English, Rowley mass: Newbury House(Lỗi thường gặp khi học ngôn ngữ:
những thấu hiểu khi học Tiếng Anh, Rowley Maass: Nhà xuất bản Newbury)
- Dulay, H and M Burt (1984), “ You can‟t learn without goofing, An
analysis of children‟s second language errors‟, in Error Analysis edited by
Trang 11Jack C Richards, London and New York: Longman, 95-123 (“Bạn không thể
học mà không mắc lỗi, phân tích lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai của trẻ‟, Phân tích lỗi, biên tập Jack C Richards, Nhà xuất bản Longman tại London và New
York, 95-123)
- Tran Thi Chau (1974), “Error analysis, contrastive analysis and students‟ perception: a study of difficulty in second language learning”,
International Review of applied Lingguistics 13, 43-119 (“Phân tích lỗi, so
sánh đối chiếu và nhận thức của người học: một nghiên cứu về những khó khăn khi học ngôn ngữ thứ hai” Tổng quan về Ngôn ngữ ứng dụng trên thế
Gần đây, hướng nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu đi vào tìm hiểu lỗi trong từng kĩ năng, nhất là kĩ năng viết của người học (trên cứ liệu nghiên cứu
lỗi của người học tiếng Anh)
Có thể dẫn ra một số tác giả tiêu biểu như:
- Cohen, A (1987), “Student processing of feedback on their compositions”
in Wendon, A and J Rubin (eds), Learner strategies in learning, 57-69, UK:
Prentice Hall International (“Cách xử lý của sinh viên đối với những nhận xét
bài luận của mình”, Chiến lược của người học trong học tập, 57-69, Nhà xuất
bản quốc tế Prentice Hall tại Anh)
- Cumming, A (1989), “Writing expertise and second language proficiency”,
Language learning, 39, 81-141 (“Viết tinh thông và sự thành thạo ngôn ngữ
Trang 12thứ hai”, Học ngôn ngữ, 39, 81-141)
- Ferris, D (1995), “Student reactions to teacher response in multiple-draft
comprosition classrooms”, TESOL quarterly, 31,315-339 (Những phản ứng
của sinh viên đối với những hồi đáp của giáo viên trong những lớp học viết
luận với phương pháp sửa bản thảo nhiều lần, TESOL hàng quý, 31,315-339)
- Sengupta, S (2000), “An investigation into the effects of revision
strategy instruction on L2 secondary school learners”, System 28, 97-113
(“Nghiên cứu hiệu quả của việc hướng dẫn học theo phương pháp ôn tập đối
với học sinh phổ thông học tiếng nước ngoài” System 28, 97-113)
- Myles, J (2002), “Second language writing and research: the writing
process and error analysis in student texts”, TESL-EJ 6(2), w w w.kyoto-su.ac,
retrieved on 6 October, 2005(“Viết ngôn ngữ thứ 2 và nghiên cứu: quá trình viết và phân tích lỗi trong các bài viết của sinh viên”, TESL-EJ6 (2),
Theo Johanne Myles, lỗi tỉ lệ thuận với mức độ phức tạp nội dung bài
viết và bốn nguyên nhân chính gây ra lỗi trong khi viết là: 1) Chuyển di L1 (tức chuyển di tiếng mẹ đẻ), 2) Áp dụng thái quá quy tắc, 3) Người học không chắc chắn về nội dung ý tưởng (tức không xác định rõ nội dung bài viết), và 4) Thiếu nhận thức về câu, cấu trúc văn bản
Ở Việt Nam, trong hơn chục năm trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu lỗi của người học ngoại ngữ (cũng dựa trên ngữ liệu lỗi của người
học tiếng Anh), như:
- Phạm Đăng Bình (2001), “Một số quan niệm khác nhau về lỗi trong
quá trình dạy và học tiếng nước ngoài”, Ngôn ngữ, số 14, 59-66
- Phạm Đăng Bình (2002), “Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá”,
Ngôn ngữ, số 9, 58-72
Trang 13- Phạm Đăng Bình (2003), “Khảo sát lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hoá
trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh”, Luận án TS Ngữ Văn
Ngoài những công trình của tác giả Phạm Đăng Bình vừa dẫn, còn một
số bài viết của một vài tác giả khác cũng bàn về lỗi của người Việt khi học
tiếng Anh, xin dẫn ra dưới đây:
- Cao Thị Thu (2004), “Phân biệt cách dùng một số động từ tiếng Anh thường bị mắc lỗi ở người Việt”, Ngôn ngữ, số 10, 72-77
- Trần Kim Phượng (2005), “ Những lỗi thường gặp về trật tự từ ở người Việt học tiếng Anh”, Ngôn ngữ & Đời sống, số 10, 28-29
- Hoàng Tuyết Minh (2005), “ Lỗi thường mắc của học viên người Việt khi sử dụng những động từ nhóm Become”, Hội thảo Quốc tế Ngôn ngữ học Liên Á VI, 444 - 451
- Đỗ Minh Hùng (2007), “Lỗi ngữ pháp tiếng Anh thường gặp của người Việt Nam”, Luận án TS Ngữ Văn, ĐHQG Tp HCM- 2007
Theo tác giả Phạm Đăng Bình, “… mặc dù việc học tiếng Anh ngoại ngữ
đã có từ lâu, (nhưng- chúng tôi thêm từ này- Mã Á Lệ) hoạt động nghiên cứu lỗi của người Việt học TA ngoại ngữ chưa nhiều, chưa có hệ thống, và cũng
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đăng Bình đã đánh dấu một bước tiến mới cần ghi nhận: tác giả đã phân tích lỗi của người học ngoại ngữ từ nhiều góc độ: Từ các lí thuyết của ngôn ngữ học cấu trúc hành vi luận, ngôn ngữ học chức năng, tâm lí học ngôn ngữ, ngôn ngữ học đối chiếu đến lí thuyết giao tiếp liên văn hoá đều được tác giả vận dụng để phân tích các kiểu lỗi Phải khẳng định rằng, đóng góp quan trọng dễ nhận thấy của tác giả là đã đề xuất cách phân loại lỗi từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá chung cho tất cả các đối tượng học ngoại ngữ, bất kể người học có ngôn ngữ
mẹ đẻ là gì
Trang 14Tác giả Lê Tuyết Ngọc, qua khảo sát lỗi tiếng Anh của 100 sinh viên ở trường ĐH Công nghệ Hà Nội, đã chia các lỗi này thành 7 loại và qui về 3 nguyên nhân gây lỗi, là: 1) Chương trình và tài liệu giảng dạy không hoàn toàn thích hợp; 2) Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn hoặc thiếu kinh nghiệm giảng dạy; và 3) Người học chưa được cung cấp đầy đủ kiến thức về ngữ pháp tiếng Anh và kĩ năng viết
Tác giả Đỗ Minh Hùng đã tập trung khảo sát ba bộ phận ngữ pháp thường mắc lỗi nhiều nhất trong sử dụng tiếng Anh của người học ngoại ngữ, cụ thể ở
đây là lỗi của người Việt về sử dụng giới từ, mạo từ và thì dựa trên lí thuyết phân tích lỗi, ngữ hệ trung gian và chiến lược học tiếng của người học L2
Tóm lại, việc nghiên cứu lỗi của người học ngoại ngữ đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm nhưng vẫn còn chưa hoàn toàn đồng nhất
về quan điểm nguyên nhân mắc lỗi của người học ngoại ngữ Các công trình chủ yếu là dành tìm hiểu những lỗi sử dụng L2 - ở đây là tiếng Anh - của người học Kết quả nghiên cứu về lỗi ngữ pháp tiếng Anh ở các nước nhìn chung đều thống nhất ở chỗ không cho ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ hay việc chuyển di tiêu cực của người học là nguyên nhân duy nhất gây ra lỗi sử dụng L2 Hơn nữa, mỗi công trình tuy đều cố gắng chỉ ra một vài kiểu lỗi với những góc nhìn khác nhau nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tổng kết các loại lỗi và các nguyên nhân gây lỗi một cách đầy đủ, toàn diện
2.2 Về tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng tiếng Việt
Có thể nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng tiếng Việt không đúng Đối tượng sử dụng tiếng Việt ở đây là những người dùng tiếng Việt nói chung: Đó có thể là người Việt Nam với tư cách là người sử dụng L1, có thể là người nước ngoài với tư cách là người sử dụng L2
Đã có những công trình in thành sách và dùng làm giáo trình thực hành ở một số trường Đại học, Cao đẳng, xin liệt kê một vài công trình tiêu biểu:
Trang 15(1) Diệp Quang Ban,1976, „Tìm cách giúp thêm cho học sinh viết đúng
câu tiếng Việt‟, Ngôn ngữ, số 3 - 1976;
(2) Nguyễn Đức Dân(1995), Tiếng Việt (thực hành), Tp Hồ Chí Minh:
Đại học Tổng hợp, TP HCM;
(3) Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang(1992, 1993), Câu sai và câu
mơ hồ, Nxb GD;
(4) Nguyễn Minh Thuyết(1974), Mấy gợi ý về việc phân tích và sửa lỗi
ngữ pháp cho học sinh, Ngôn ngữ, số 1 - 1975;
(5) Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp(1997), Tiếng Việt thực hành
Nxb ĐH Quốc Gia HN
Đến nay chúng tôi mới tìm thấy một số công trình nghiên cứu những lỗi sử dụng tiếng Việt của người Trung Quốc nói chung và của sinh viên Trung Quốc chuyên ngành Tiếng Việt nói riêng, xin dẫn một vài công trình tiêu biểu:
(1) Lê Xảo Bình (2004), Lỗi của người Trung Quốc tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hoá (xét về khía cạnh từ vựng), Luận văn Thạc sĩ
và Trung Quốc trong qua trình học tập văn hóa giao tiếp của sinh viên Trung
Phân tích sự giống nhau và khác nhau về từ Hán Việt và giảng dạy ngôn ngữ,
Tung hoành Đông Nam Á), NO 7, 71-73.
Trí Mẫn, Thảo luận nghiên cứu về phương pháp dạy - học tiếng Viêt trình độ
cơ sở, Học báo Kỹ thuật Chuyên nghiệp Nam Ninh), NO 1, 64-67.
bảo khiết, phân tích những chỗ khó học về tiếng Việt, Học báo Học viên Ngoại ngữ Giải phóng quân)NO.2, 61-63
Trang 16Tóm lại, các công trình vừa dẫn đều ít nhiều nhắc đến lỗi sử dụng tiếng Việt của người Việt hoặc người nước ngoài xong chưa có một công trình nào dành riêng nghiên cứu về việc viết câu tiếng Việt mắc lỗi một cách toàn diện
Có thể nói thêm, đến nay, vấn đề nghiên cứu thực trạng sinh viên Trung Quốc viết câu tiếng Việt mắc lỗi vẫn đang còn là vấn đề bỏ ngỏ, cần được quan tâm nghiên cứu
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những câu tiếng Việt mắc lỗi mà sinh viên Trung Quốc chuyên ngành tiếng Việt thường viết (dựa trên đối tượng
khảo sát là bài thi và bài kiểm tra của sinh viên học chuyên ngành Tiếng Việt, khoa Ngoại ngữ, Học viện Văn Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng khảo sát: Có thể khảo sát câu tiếng Việt mắc lỗi mà sinh
viên Trung Quốc thường viết trên nhiều kiểu văn bản, như bài thi, bài kiểm tra, đơn từ, bài văn nghị luận, v.v…nhưng như đã nói ở trên, luận văn này chỉ
khảo sát trong một số bài thi và bài kiểm tra thường kì của sinh viên học
chuyên ngành Tiếng Việt, khoa Ngoại ngữ, Học viện Văn sơn, Vân Nam, Trung Quốc
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu năm kiểu câu
tiếng Việt mắc lỗi mà sinh viên Trung Quốc thường mắc, đó là: 1) Câu mắc lỗi về chính tả; 2) Câu mắc lỗi dùng từ; 3) Câu mắc lỗi về ngữ nghĩa; 4) Câu mắc lỗi về cấu trúc, và 5) Câu mắc lỗi về liên kết
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm trả lời các câu hỏi sau:
(1) Những kiểu câu tiếng Việt mắc lỗi mà sinh viên Trung Quốc thường
Trang 17viết là gì?
(2) Nguyên nhân nào gây nên những kiểu câu mắc lỗi đó ở người viết (cụ thể là sinh viên TQ)?
(3) Việc sửa những câu mắc lỗi nên theo định hướng nào?
(4) Luận văn có thể được dùng vào việc gì?
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây: (1)Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết làm căn cứ lí luận cho việc xử lí đề tài;
(2) Khảo sát, thống kê những câu tiếng Việt mắc lỗi mà các em sinh viên thuộc đối tượng nói ở mục 3.1;
(3) Phân loại, miêu tả, phân tích và tổng kết các kiểu câu mắc lỗi theo từng tiêu chí đã định trước;
(4) Tìm nguyên nhân khiến các em viết câu tiếng Việt mắc lỗi, trên cơ sở
đó thử đề xuất một số phương hướng khắc phục
5 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê và phân loại những câu mắc lỗi trên bài kiểm tra của sinh viên TQ thuộc đối tượng đã nói ở mục 3.1
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp phân tích được dùng
để phân tích các câu mắc lỗi đã thống kê để tìm ra các loại lỗi
Phương pháp tổng hợp được dùng để tổng kết các kiểu câu mắc lỗi theo từng tiêu chí và kết luận những kết quả đã nghiên cứu được
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp so sánh, đối chiếu được dùng để
so sánh những điểm đồng nhất và khác biệt giữa L1 và L2 hay sự đồng nhất
Trang 18và khác biệt giữa 2 nền văn hoá để tìm ra nguyên nhân và cách sửa những câu mắc lỗi
6 Bố cục của luận văn:
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Khảo sát câu tiếng Việt mắc lỗi trên một số bài thi và bài
kiểm tra của sinh viên Trung Quốc chuyên ngành tiếng Việt
Chương 3: Nguyên nhân viết câu tiếng Việt mắc lỗi của sinh viên TQ
học chuyên ngành Tiếng Việt và hướng sửa lỗi
Kết Luận
Tài liệu tham khảo
Trang 19NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Để thực hiện đề tài này, luận văn đã tiếp thu có chọn lọc một số lí thuyết của các nhà nghiên cứu đi trước để làm căn cứ lí luận, đó là:
1 Lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ;
2 Lí thuyết về câu, quan điểm về lỗi câu, các kiểu lỗi câu;
1.1 Tổng quan lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ
1.1.1 Khái niệm về lỗi sử dụng ngoại ngữ, những quan niệm khác nhau về lỗi sử dụng ngoại ngữ
a) Khái niệm lỗi sử dụng ngoại ngữ
Đã có khá nhiều định nghĩa cũng như quan niệm về lỗi sử dụng ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ 2 - L2) Ở đây xin dẫn 2 định nghĩa được nhiều người nhắc đến: Theo tác giả Allwright, D.and K.M.Bailey, “Lỗi của người học ngoại ngữ
là tạo ra một sản phẩm hình thức ngôn ngữ đi lệch chuẩn của hình thức ngôn
Theo Brown, H.D, “ Lỗi là hiện tượng vi phạm quy tắc ngữ pháp của người
Luận văn này theo quan điểm của nhóm tác giả thứ nhất về khái niệm lỗi
sử dụng ngoại ngữ của người học
b) Những quan niệm khác nhau về lỗi người học sử dụng L2
b.1 Lỗi theo quan điểm hành vi luận:
Brown, H.D, Chomsky, N Ellis R là ba nhà ngôn ngữ học tiêu biểu theo quan điểm hành vi luận khi xem xét lỗi của người học ngoại ngữ
Theo thuyết hành vi, thói quen có hai đặc tính cơ bản:1) Thói quen thể hiện qua hành vi, cử chỉ, động tác và có thể quan sát được giống như những
sự vật hiện hữu trong thế giới khách quan; 2) Thói quen có tính tự động, máy
Trang 20móc Vì có tính tự động, máy móc cho nên một khi thói quen đã được xác lập thì nó rất khó bị tiêu diệt khi có môi trường tạo lập thói quen mới tương tự Các nhà tâm lí học hành vi luận cho rằng, việc tạo lập thói quen có thể thực hiện bằng hai cách: 1) Thông qua cơ chế bắt chước, mô phỏng; và 2) Thông qua cơ chế khuyến khích, tăng cường
Áp dụng hai nguyên lí này trong dạy - học ngoại ngữ, người dạy có thể giúp người học tạo lập kích thích, phản ứng cho đến khi trở thành tự động, Ví
dụ, dạy và luyện phát âm chẳng hạn, người học thực hiện phản ứng khi được nhận kích thích từ bên ngoài (chẳng hạn như nghe được âm nào đó do giáo viên phát ra), họ sẽ bắt chước đến khi âm được luyện trở thành kĩ năng, tức có thể phát ra như một thói quen khi cần
Lí thuyết hành vi là lí thuyết của việc học nói chung và học ngoại ngữ nói riêng Hành vi luận khẳng định rằng việc học ngoại ngữ (L2) là việc tạo lập những thói quen mới khi người học đã có sẵn những thói quen cũ của tiếng mẹ đẻ (L1) Vì vậy, quá trình hình thành thói quen mới khi sử dụng L2 tất yếu sẽ chịu sự tác động và ảnh hưởng của thói quen cũ từ L1 mà lí do đã nói ở trên (thói quen hay phản ứng cũ rất khó bị loại bỏ triệt để nếu trong quá trình tạo thói quen mới có điều kiện tương tự)
Từ cách nhìn này, các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm của lí thuyết hành vi luận đã cho nguyên nhân mắc lỗi của người học khi học ngoại ngữ
chính là do sự chuyển di thói quen trong sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ Một
điều cực đoan của các nhà hành vi luận là đã xem lỗi sử dụng L2 của người học là một cái xấu do người học thiếu tập trung, lơ đãng trong học tập và không biết ngăn ngừa sự can thiệp của thói quen cũ đã có khi sử dụng L1 Vì xem lỗi là một biểu hiện của thói xấu trong quá trình thụ đắc L2 nên các nhà hành vi luận nhấn mạnh tới việc phải giúp người học L2 sửa chữa, loại trừ lỗi trước khi nó trở thành thói quen
Trang 21b.2 Lỗi theo quan điểm phân tích, đối chiếu
Vì ra đời trên cơ sở của trường phái tâm lí hành vi luận nên cái nhìn của các nhà ngôn ngữ học đối chiếu về lỗi của người học ngoại ngữ tuy không hoàn toàn đồng nhất nhưng cũng có vài điểm cơ bản trùng với quan điểm của các nhà hành vi luận
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm phân tích, đối chiếu cho rằng, không nên mắc lỗi trong quá trình học ngoại ngữ Cần phải nghiêm khắc sửa chữa lỗi khi thụ đắc L2 Theo các nhà ngôn ngữ học phân tích đối chiếu, nguyên nhân chính gây ra lỗi của người học ngoại ngữ là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, tức khác biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ 2 - ngoại ngữ mà người học đang tiến hành thụ đắc Vì thế, khi dạy - học ngôn ngữ thứ hai, cần phải
so sánh, đối chiếu hai ngôn ngữ để tìm ra sự khác biệt giữa chúng, trên cơ sở
đó giải thích, dự đoán các lỗi mà người học đã hoặc có thể mắc phải Và một khi đã tìm ra nguyên nhân mắc lỗi của người học thì người dạy có thể tìm ra hướng khắc phục các lỗi cho họ
Tóm lại, khác với các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm hành vi luận hầu như chỉ quan tâm đến vai trò của thói quen khi phân tích nguyên nhân mắc lỗi của người học, các nhà ngôn ngữ học đối chiếu đã có cái nhìn rộng hơn khi xem xét lỗi của người học L2 Điều này thể hiện ở chỗ các nhà ngôn ngữ học đối chiếu đã đứng trên cả bình diện tâm lí (lỗi của người học một phần do thói quen) và bình diện ngôn ngữ (người học mắc lỗi một phần do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ) để xem xét lỗi Tuy nhiên, dường như các nhà ngôn ngữ học đối chiếu có vẻ nghiêng về lí do thứ hai hơn, khi họ khẳng định
“ Tài liệu hiệu quả nhất là các tài liệu xây dựng trên cơ sở miêu tả một cách khoa học ngôn ngữ đích (tức L2 – Mã Á Lệ), so sánh một cách chi tiết với hệ
Trang 22b.3 Lỗi theo quan điểm giao thoa văn hoá
Trước khi tìm hiểu lỗi trên quan điểm giao thoa văn hoá, cần hiểu khái
niệm Văn hoá
Cần phải nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về Văn hoá
đây một số định nghĩa tiêu biểu:
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngũ học, H 2000, khái niệm văn hoá được hiểu như sau:
- Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử;
- Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần- nói một cách tổng quát
- Tri thức kiến thức khoa học;
- Trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh;
- Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau
Tác giả Damen L đưa ra định nghĩa: Văn hoá (culture) là “ những kiểu
dạng hay mô hình sinh sống mà người học biết và cùng chia sẻ; những kiểu dạng, mô hình diễn ra hàng ngày trong tất cả các lĩnh vực tương tác xã hội;
Luận văn này tạm theo quan điểm của nhà nhân học người Anh, EB
Tylor Tác giả quan niệm: “Văn hoá hay văn minh hiểu theo nghĩa dân tộc bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một loại hình tương tác xã hội cơ bản nhất của con người Do đó, hoạt động ngôn ngữ tất yếu chịu sự chi phối của yếu tố
Trang 23văn hoá và ngược lại văn hoá cũng có tác động trở lại đối với ngôn ngữ Đúng như tác giả Lê Xảo Bình đã khẳng định: “Ngôn ngữ là sản phẩm tín hiệu phản ánh hoạt động của con người, vì thế hoạt động của con người ảnh hưởng đến mọi mặt của ngôn ngữ, kể cả cách quan niệm, tư duy, và diễn đạt ngôn
Luận văn này không nhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau giữa văn hoá và ngôn ngữ mà chỉ nhấn mạnh lỗi của người học ngoại ngữ theo quan điểm giao thoa văn hoá
Từ góc nhìn giao thoa văn hoá, tác giả Đỗ Minh Hùng cho rằng, “… người học ngoại ngữ có thể mắc lỗi không phải đơn thuần vì sự khác biệt về yếu tố bề mặt, yếu tố hình thức giữa L1 và L2, mà sự khác biệt về hai nền văn hoá, sự hiểu biết về văn hoá trong L2 cũng là một nguyên nhân chính khác dẫn
Không phải đến bây giờ các nhà nghiên cứu ngôn ngữ mới chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn đến lỗi sử dụng L2 của người học là sự khác biệt
về văn hoá mà ngay từ năm 1957, nhà ngôn ngữ học R Lado đã tính đến sự khác biệt về văn hoá khi so sánh các ngôn ngữ Tác giả đã có lí khi khẳng định rằng:
“ Nếu so sánh ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của người học, chỉ ra được sự giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ và hai nền văn hoá thì giáo viên sẽ ý thức được
Trung Quốc thường mắc do nguyên nhân khác biệt giữa văn hoá của người Việt và văn hoá của người Hán Đặc biệt, những lỗi dùng từ này được tác giả phân loại khá chi tiết theo tiêu chí từ loại, ví dụ như lỗi sử dụng đại từ xưng
hô, lỗi sử dụng một số động từ, lỗi sử dụng một số danh từ, lỗi sử dụng giới từ, lỗi sử dụng số từ, lỗi sử dụng cảm từ,…
Tóm lại, chỉ ra sự khác biệt về văn hoá và thấy được đây là một trong
Trang 24những nguyên nhân sâu xa dẫn đến lỗi sử dụng L2 của người học là một bước tiến của ngành ngôn ngữ học cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn Vì vậy, khi dạy ngoại ngữ không nên bỏ qua yếu tố văn hoá trong việc phát hiện và sửa lỗi cho người học
b.4 Lỗi theo quan điểm phương pháp giao tiếp
Nếu như quan điểm dạy tiếng theo phương pháp cổ điển (dựa trên lí thuyết cấu trúc luận) chỉ coi trọng việc dạy người học nắm hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ thì quan điểm dạy tiếng theo phương pháp giao tiếp lại vừa chú
ý tới việc dạy người học nắm hệ thống cấu trúc ngôn ngữ, vừa chú ý tới việc rèn luyện thực hành kĩ năng giao tiếp cho họ
Nội dung cốt lõi của phương pháp giao tiếp là: Giao tiếp hướng tới khả năng truyền đạt nghĩa của ngôn ngữ; giao tiếp được áp dụng trong cả bốn kĩ năng Nghe, nói , đọc, viết; và đặc biệt là bên cạnh tính chính xác trong hình thức thì tính chất phù hợp trong sử dụng ngôn ngữ cần được lưu ý xem xét Dưới cái nhìn của phương pháp giao tiếp, lỗi sử dụng L2 của người học không hoàn toàn là “thói xấu”, “cần phải kiên quyết loại bỏ ngay khi chưa thành thói quen” mà “lỗi của người học L2 là một tín hiệu tích cực của quá trình học tập Lỗi cho biết người học đang tự mình tạo lập câu, phát ngôn để trình bày ý muốn nói, chứ không hoàn toàn lặp lại chính xác những gì đã học
điểm phương pháp giao tiếp còn nhấn mạnh : “…vì đang trong quá trình học tập nên những gì người học nói, viết chưa phải là những sản phẩm hoàn hảo,
còn cho rằng, “ …không có lỗi tức là người học chưa học được gì mới và việc
ngu dốt, không cản trở hoạt năng trong học tập…, mà trái lại nó cho biết người học đang thực hiện công việc học tập – nghiên cứu đang trong giai
Trang 25đoạn trải nghiệm cách hiểu, cách tri nhận của mình về những đặc tính hệ thống L2 bằng cách vận dụng thử nghiệm những gì đã biết từ thực tế sử dụng
Chiến lược giao tiếp liên quan trực tiếp đến hiện tượng vi phạm lỗi có thể bao gồm hai trường hợp chủ yếu, đó là:1) Chuyển dịch tương ứng 1-1 giữa hai ngôn ngữ và 2) thay thế, giải thích
- Về chiến lược chuyển dịch tương ứng 1-1: Tương ứng 1-1 ở đây bao
gồm cả số lượng và trật tự từ Chiến lược chuyển dịch là chiến lược được sử dụng nhiều nhất trong học ngoại ngữ bởi nó không gây khó khăn cho người học Song, chiến lược này trên thực tế chỉ giúp người học không mắc lỗi khi hai ngôn ngữ (L1 và L2) có sự tương đồng trên cả ba bình diện: Kết học, nghĩa học và dụng học Điều đó cho ta thấy người TQ học tiếng Việt sử dụng chiến lược chuyển dịch có nhiều bất lợi vì sự khác biệt khá lớn giữa hai ngôn ngữ này, chẳng hạn như sự khác biệt về hệ thống ngữ âm, khác biệt về sự chia cắt hiện thực khách quan của khá nhiều từ ngữ hay sự khác biệt về trật tự các thành tố của câu…
- Về chiến lược thay thế / giải thích: Chiến lược này thường liên quan
đến vốn từ vựng của người học Vì muốn nói bằng L2 nhưng không có từ chính xác, người học phải chọn từ khác thay thế có nghĩa tương đương hoặc giải thích dài dòng Cả hai cách này đều sinh lỗi Ví dụ, vì không nắm vững
nghĩa và cách sử dụng của từ giặt, từ gội và từ rửa trong tiếng Việt là ba từ có
áo, giặt chiếu, giặt chăn màn,…rửa mặt, rửa rau, rửa bát,…gội đầu Cho nên
người Trung Quốc thường bị mắc lỗi khi dùng ba từ này Có em đã dùng từ
giặt thay vì phải dùng từ rửa, ví dụ một em sinh viên đã nói: cô V giặt mặt
(rửa mặt) rất cẩn thận Từ các ví dụ vừa dẫn có thể thấy rằng, chiến lược thay
Trang 26thế/giải thích lí giải vì sao người học phạm lỗi dùng sai hay thừa từ khi sử dụng L2
Tóm lại, theo quan điểm giao tiếp, lỗi sử dụng L2 của người học là một nhân tố tích cực trong quá trình dạy tiếng Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là do quá chú trọng đến chức năng giao tiếp nên một số nhà ngôn ngữ học theo quan điểm này chưa chỉ ra được đặc tính của các kiểu lỗi cũng như chưa giải đáp một cách thoả đáng cơ chế mắc lỗi của người học L2
b.5 Lỗi theo quan điểm phân tích lỗi và hệ ngữ trung gian
Hệ ngữ trung gian được hiểu là “ kiến thức ngoại ngữ của người học,
Nói cụ thể hơn, trong quá trình tiếp nhận và thụ đắc L2, người học sẽ lâm thời hình thành một hệ thống cấu trúc ngôn ngữ Hệ thống cấu trúc này không hoàn toàn giống L2 Nó được hình thành là bởi người học chưa thực sự làm chủ được L2 nên đã ghép các đơn vị của L2 theo những qui tắc chưa được nắm vững hay chưa áp dụng được Hệ thống cấu trúc ngôn ngữ - sản phẩm lâm thời do người học tạo ra này chính là hệ ngữ trung gian vừa nói ở
Do xuất phát điểm có khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố L1, kinh nghiệm học L2 cũng như đặc điểm về cách học mà tiến trình hệ ngữ trung gian của từng cá nhân người học không hoàn toàn đồng nhất Nhưng cũng cần phải thấy xu hướng chung của hệ ngữ trung gian là thay đổi theo chiều tiếp cận hệ thống L2 chuẩn Tính chất khả biến này được thể hiện qua việc người học tích luỹ thêm kiến thức L2 và người học giảm dần hiện tượng vi phạm lỗi Theo quan điểm phân tích lỗi và hệ ngữ trung gian, một số nhà nghiên cứu đã cho “lỗi là một bộ phận cấu thành hệ ngữ trung gian và nó mang tính
người học đang sử dụng ở một thời điểm nhất định trong quá trình học, mặc
Trang 27dù đó chưa phải là hệ thống đúng Lỗi của người học “là kết quả của các quá trình ngôn ngữ tâm lí của người học và nó cung cấp thông tin về trình độ, giai
Trên bình diện lí thuyết, lỗi có tính ngược chiều với hệ ngữ trung gian, tức nếu hệ ngữ trung gian càng gần với L2 thì lỗi càng giảm, và ngược lại Lỗi của người học L2 trong suốt tiến trình thụ đắc L2 có thể phân thành bốn giai đoạn: lỗi ngẫu nhiên, lỗi hình thành hệ thống, lỗi hệ thống và lỗi cố định Tóm lại, dưới góc nhìn của quan điểm phân tích lỗi và hệ ngữ trung gian, lỗi có ý nghĩa trên ba bình diện: 1) Thông qua phân tích lỗi, giáo viên có thể biết về tiến độ của người học; 2) Lỗi cung cấp cho người nghiên cứu những hiểu biết về bản chất của quá trình học tập hay thụ đắc ngôn ngữ, những quá trình hay hoạt động tâm lí ngôn ngữ nào đang được người học sử dụng; và 3) Lỗi là điều tất yếu đối với chính bản thân người học
Lỗi không chỉ là một bộ phận tất yếu của hệ thống ngôn ngữ được hình thành trong quá trình tiếp nhận kiến thức L2 mà nó còn có tính chất hệ thống,
là kết quả của các quá trình ngôn ngữ tâm lí của người học và nó cung cấp thông tin về trình độ, giai đoạn và mức độ thụ đắc hay năng lực giao tiếp L2 của người học
Trái với quan điểm của các nhà hành vi luận, các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm này không coi lỗi là một cái “tội” của người học “cần kiên quyết loại bỏ” mà “… lỗi là công cụ học tập, là cách để người học kiểm chứng những giả thuyết của mình về ngôn ngữ đang học” Tuy có đánh giá vai trò tích cực của lỗi nhưng các nhà nghiên cứu theo quan điểm phân tích lỗi và hệ ngữ trung gian cũng thấy hạn chế của lỗi là “ lỗi có thể biến thành cố tật và là nguyên
b.6 Lỗi theo quan điểm chiến lược học tiếng
Đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về chiến lược học tiếng, xin dẫn một
Trang 28vài định nghĩa tiêu biểu (23; tr.45, 46):
- Chiến lược học tiếng “ là một cố gắng để phát triển năng lực ngôn ngữ
và ngôn ngữ xã hội trong ngôn ngữ đích”
- Chiến lược học tiếng “là những hoạt động tư duy và giao tiếp được người học vận dụng để học và sử dụng ngôn ngữ”
- Chiến lược học tiếng “ là những hoạt động đặc thù được người học vận dụng để thúc đẩy việc học dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, lí thú hơn, hướng đích, có hiệu quả và thích ứng với tình huống mới hơn”
Tác giả R.L.Oxford đã nêu 12 thuộc tính của chiến lược học tiếng và đã
a góp phần đạt mục tiêu giao tiếp;
b mở rộng vai trò của người dạy;
c mang tính sử lí tình huống (giải quyết vấn đề);
d là những hành vi đặc thù của người học;
e giúp người học có định hướng rõ ràng hơn;
f liên quan đến nhiều bình diện của người học chứ không chỉ là tư duy;
g trực tiếp và/hoặc gián tiếp trợ lực cho việc học;
h không luôn luôn quan sát (nhìn thấy) được;
i thường là hữu thức;
j có thể chỉ dẫn (dạy cho người học) được;
k có tính linh hoạt;
l chịu tác động bởi nhiều yếu tố
đều ít nhiều sử dụng các chiến lược học tiếng, nhưng không hoàn toàn đồng nhất về số lượng chiến lược và mức độ hiệu quả” Việc lựa chọn chiến lược học tiếng có thể phụ thuộc vào tám yếu tố: 1) động cơ, 2) giới tính, 3) cơ sở văn hoá, 4) thái độ và niềm tin, 5) loại hình công việc, 6) tuổi tác và giai đoạn
Trang 29học, 7) cách thức học, và 8) khả năng chấp nhận sự mơ hồ
Điều cần nói ở đây là vấn đề quan hệ giữa các chiến lược học tiếng và lỗi của người học ngoại ngữ Theo tác giả Đỗ Minh Hùng, “ Có thể qui về hai nhóm chiến lược ít nhiều liên quan đến hiện tượng lỗi của người học là: 1) Chiến lược học tập / tri nhận, xử lí dữ liệu đầu vào và 2) Chiến lược giao tiếp,
cụ thể, tác giả đã phân tích khá kĩ những khả năng phạm lỗi của người học từ các chiến lược học tiếng (23, tr.50 – 59), như lỗi do nguyên nhân từ chiến lược học tập / tri nhận hay lỗi do nguyên nhân từ chiến lược giao tiếp
- Về lỗi nảy sinh từ chiến lược học tập / tri nhận: Trong chiến lược học
tập /tri nhận, tất cả người học đều phải thực hiện ba thao tác phổ biến, đó là: chuyển di, suy luận tương tự và ghi nhớ
+ Chuyển di là hiện tượng người học sử dụng những nền tảng, hiểu biết
của mình về tiếng mẹ đẻ (L1), về văn hoá của dân tộc để áp dụng vào việc dùng ngôn ngữ thứ hai (L2)
Nếu L1 và L2 có những nét tương đồng thì việc chuyển di này của người học sẽ thuận lợi và không hoặc ít vi phạm lỗi Ngược lại, nếu giữa L1 và L2
có sự khác biệt thì việc chuyển di thường gây ra lỗi vì sự chuyển di đó không được chấp nhận trong L2 Ví dụ, Người Trung Quốc khi dùng đại từ xưng hô của tiếng Việt thường hay mắc lỗi vì hệ thống đại từ xưng hô trong tiếng Hán
và tiếng Việt không hoàn toàn đồng nhất về số lượng và cách sử dụng của các đơn vị dùng để xưng hô Chẳng hạn, trong tiếng Hán, ngôi thứ nhất số nhiều
tôi, chúng tao , chúng tớ, chúng mình, bọn tao, bọn tớ, bọn mình Hơn nữa,
cách dùng của từ chúng ta ở tiếng Việt và tiếng Hán cũng không hoàn toàn
Trang 30ngôi thứ nhất số nhiều và cũng có thể dùng bao gộp cả ngôi thứ nhất và ngôi
thứ hai, còn ở tiếng Việt, từ chúng ta chỉ có thể dùng bao gộp cho cả ngôi thứ
nhất và ngôi thứ hai Sự khác biệt này khiến cho người TQ thường bị mắc lỗi
khi dùng từ chúng ta, chẳng hạn, một số em sinh viên TQ đã nói với cô giáo
những câu kiểu ví dụ 1 và 2 sau đây:
Ví dụ 1: - Cô ơi, chúng ta hôm nay bận rồi, ngày mai đi học viết chữ
được không?
Ví dụ 2: - Hết giờ học rồi, chúng ta chào cô nhé!
Cả hai trường hợp trên, từ chúng ta đều phải thay bằng từ chúng em
hoặc chúng tôi
Cần nói thêm rằng, sự chuyển di không chỉ lệ thuộc vào sự tương đồng hay khác biệt của hai ngôn ngữ (L1 và L2) mà còn bị chi phối bởi hai nền văn hoá vì ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn hoá dân tộc Cho nên, nói chuyển di ngôn ngữ là bao gồm cả chuyển di các yếu tố văn hoá dân tộc Sự khác biệt về hai nền văn hoá cũng dễ gây ra lỗi của người học khi dùng chiến lược chuyển di Chẳng hạn, tiếng Hán và tiếng Việt đều có cấu
trúc so sánh: A khoẻ như B, song người Việt không nói Bố em khoẻ như trâu
vì theo quan niệm của người Việt, lối so sánh này không đảm bảo sắc thái biểu cảm Ngược lại, người Hán có thể dùng như vậy mà không sợ ảnh hưởng tới sắc thái biểu cảm
Đây là hoạt động xuất hiện khi người học đã nắm được một số qui tắc của L2 Nói cụ thể hơn, khi nắm được một qui tắc nào đó của L2, gặp một trường hợp tương tự người học lập tức vận dụng qui tắc đó một cách máy móc mà không biết rằng qui tắc đó không phải là qui tắc đúng cho mọi trường hợp, ví dụ, trong tiếng Việt, kiểu câu có cấu trúc bị động không chứa từ “bị”, “được”
thường có mô hình khái quát là: Chủ ngữ bị động - Động từ ngoại động – Bổ
Trang 31ngữ, nhưng với điều kiện chủ ngữ phải là danh từ chỉ sự vật, kiểu như:
- Tóc cắt đã xong
- Nhà xây rồi
- Hàng trở đến bằng ô tô tải
Nếu trường hợp chủ ngữ của câu bị động là danh từ chỉ người hay động
vật thì ít dùng kiểu câu này (câu không chứa từ bị hay được) vì nó gây mơ hồ Chẳng hạn, người ta không nói: Hổ bắt rồi vì câu này có thể hiểu theo hai nghĩa: Hổ bắt ai / con gì rồi (hổ là chủ thể của động từ bắt) hoặc ai / con gì
bắt hổ rồi (hổ là đối thể của động từ bắt) Không nắm được điều này, người học sẽ mắc lỗi Đây là kiểu lỗi suy luận thái quá, tức suy luận vượt quá phạm
vi cho phép của một qui tắc nào đó trong L2 Gọi tắt là lỗi suy luận tương tự Quan điểm chiến lược học tiếng cho rằng, “…lỗi suy luận thái quá nếu được lưu ý, giải thích xác đáng của người dạy, thì lỗi do suy luận thái quá sẽ đóng vai trò tích cực giúp người học điều chỉnh cách hiểu của người học về
+ Ghi nhớ là một chiến lược học tiếng quan trọng Không có một người
học nào lại không sử dụng chiến lược này Trong giai đoạn đầu, người học thường nhớ máy móc các ngữ liệu L2, như nhớ các câu hỏi về quê quán, về tuổi, nghề nghiệp,… được học thông qua ngữ cảnh và ngữ nghĩa mà chưa nhất thiết phải biết tường tận kết cấu, ngữ nghĩa của từng đơn vị của L2 Vì có thể ghi nhớ máy móc các ngữ liệu nên ưu điểm của chiến lược ghi nhớ là giảm thiểu áp lực cho bộ nhớ của não nhưng cũng là nguyên nhân phạm lỗi của người học
Nguyên nhân phạm lỗi xuất phát từ chiến lược ghi nhớ có thể xảy ra ở ba trường hợp:
- Thứ nhất, do ghi nhớ máy móc nên người học có thể nhầm lẫn giữa từ
này với từ kia Chẳng hạn, khi được học đại từ xưng hô „tôi‟, một số em sinh
Trang 32viên Trung Quốc đã nhớ máy móc từ này là từ dùng để chỉ ngôi thứ nhất, số ít
và đem vận dụng nó vào tất cả mọi đối tượng giao tiếp Nói cụ thể hơn, với bạn bè hay với những người ở vị thế cao hơn như cô, dì, chú, bác, thầy cô
giáo, v.v…một số em vẫn xưng là tôi, ví dụ nhiều em sinh viên TQ đã chào cô
giáo: Chào cô, chúng tôi về nhé! Việc lựa chọn và sử dụng từ tự xưng này
không phù hợp với cách xưng hô của người Việt
Đối với người Việt Nam, khi giao tiếp với người ít tuổi hơn mình hay bạn bè, những người cùng lứa tuổi hoặc trong hoàn cảnh giao tiếp có tính chất nghi thức, thường dùng từ „tôi‟ để xưng, ví dụ:
Ví dụ 6: - Tôi chào bạn!
Ví dụ 7: - Hôm qua tôi đến nhà cậu nhưng vợ cậu bảo là cậu đã đi họp
từ lúc 7 giờ
Ví dụ 8: - (Trong một cuộc họp) Tôi xin phát biểu ý kiến…
Nhưng với đối tượng giao tiếp là thầy, cô giáo hoặc những người bề trên
thì không nên dùng „tôi‟ để xưng hô, ví dụ, không nên chào: (Chúng) tôi chào
thầy / cô giáo! (Từ „tôi‟ đã dùng sai lẽ thường do vị thế giao tiếp không ngang
nhau: học sinh ở vị thế thấp, cô giáo ở vị thế cao Người Việt chỉ xưng với cô giáo là „tôi‟ khi học sinh hơn cô giáo nhiều tuổi hay cả cô lẫn trò đã cao tuổi, hoặc học trò có vị thế xã hội cao hơn cô giáo nhưng những trường hợp này cũng dùng rất hạn chế)
Trong ví dụ trên, phải thay từ „tôi‟ bằng từ „em‟ cho phù hợp với văn hóa của người Việt
Một trường hợp mắc lỗi tương tự khác của người TQ do nhớ máy móc
đó là lỗi dùng từ thầy (giáo) và từ cô(giáo)
Trong tiếng Việt, hai từ này vốn là hai từ chỉ quan hệ thân tộc „Thầy‟là một trong số các từ chỉ người đàn ông sinh ra mình và từ „cô‟ là từ chỉ người
em gái của bố Hai từ này trong những ngữ cảnh nhất định đã được dùng để
Trang 33gọi những người làm nghề dạy học Từ „cô‟ được dùng để gọi những người nữ giới làm nghề dạy học, còn từ „thầy‟ được dùng để gọi những người nam giới làm nghề dạy học Cả hai từ này mới tương đương với từ 老师 „lao shi‟ trong tiếng Hán do đó các em sinh viên TQ thường mắc lỗi khi dùng chúng Các em chưa nắm được là từ „thầy‟ chỉ dùng cho cả hai đối tượng khi muốn nhấn mạnh đến nghề nghiệp chứ không phải để xưng hô Ví dụ, có thể nói:
“Tất cả chúng ta ở đây đều là những người làm thầy, cần phải sống gương mẫu cho các em noi theo” “Không thầy đố mày làm nên”
Một số em sinh viên TQ do nhớ máy móc từ thầy có thể dùng để gọi tất
cả những người làm nghề dạy học cho nên khi gặp cô giáo vẫn dùng từ thầy
để chào: Em chào thầy (lẽ ra phải dùng từ cô) ạ!
- Thứ hai, do không nắm thấu đáo một số cấu trúc nào đó, người học đã
nhớ và vận dụng chúng một cách máy móc nên dẫn đến lỗi Ví dụ, khi được học một cấu trúc thưa gửi dùng để mở đầu cho bài phát biểu hay khai mạc hội
nghị, kiểu như: Kính thưa các vị đại biểu!, người học đã nghĩ rằng trong cấu
trúc này luôn luôn phải có từ „Kính thưa‟ và từ „vị‟, đồng thời đi kèm sau nó
là một danh từ / cụm danh từ chỉ người cho nên gặp một số trường hợp không
nhất thiết phải có hai từ này, người học vẫn dùng và dẫn đến lỗi Ví dụ:
Ví dụ 8: - Kính thưa các em học sinh!
Ví dụ 9: - Kính thưa các vị thầy giáo, cô giáo! (Nguyễn Văn Trung)
- Thứ ba, do dữ liệu đầu vào hay yếu tố điều kiện, môi trường học, ví dụ
như chương trình, tài liệu, phương pháp dạy, trang thiết bị, trình độ của giáo viên, v.v…không chuẩn Vai trò của người thầy cũng có vai trò quan trọng trong mối tương tác giữa môi trường và người học Do vậy, nếu thầy có lỗi cố tật nào đó về kiến thức ngôn ngữ - văn hoá, về hành động ngôn ngữ như phát
âm không chuẩn, nói, viết không đúng kiểu dạng câu, cấu trúc văn bản…
Trang 34trong L2 thì sẽ có nhiều khả năng những lỗi này đi vào bộ nhớ của người học
và đương nhiên là người học sẽ mắc lỗi theo
1.1.2 Các cách phân loại lỗi
Tuỳ theo quan điểm và mục đích nghiên cứu, có thể chia lỗi học L2 theo các tiêu chí khác nhau Dưới đây là một vài cách phân loại của các nhà nghiên cứu:
a) Phân loại theo nguyên nhân mắc lỗi:
Đại biểu của quan điểm phân loại này trước tiên phải kể đến L.Selinker Theo tác giả này, dựa vào nguyên nhân mắc lỗi và quá trình tâm lí ngôn ngữ của người học, có thể chia lỗi thành 5 loại, đó là:
(1) Lỗi chuyển di ngôn ngữ;
(2) Lỗi chuyển di môi trường học;
(3) Lỗi do áp dụng thái quá quy tắc ngôn ngữ đích;
(4) Lỗi do chiến lược học ngôn ngữ đích;
(5) Lỗi do chiến lược giao tiếp ngôn ngữ đích
Hai tác giả là H.Dulay và M.Burt cũng dựa trên các quá trình tâm lí ngôn ngữ đã chia lỗi thành 4 kiểu, là:
(1) Lỗi có hình dạng chuyển di ngôn ngữ;
(2) Lỗi phát triển ngôn ngữ;
Trang 35các tác giả dẫn trên khi ông đã loại trừ yếu tố chuyển di ngôn ngữ, không phân biệt đặc điểm tiếng mẹ đẻ và cho rằng nguyên nhân chủ yếu khiến người học mắc lỗi sử dụng L2 là do cách tiếp cận lệch lạc các qui tắc ngữ pháp L2 Dựa vào nguyên nhân này, tác giả đã chia lỗi thành bốn loại, đó là:
(1) Lỗi do khái quát thái quá qui tắc;
(2) Lỗi do không chú ý đến giới hạn ứng dụng của qui tắc;
(3) Lỗi do ứng dụng sai các qui tắc;
(4) Lỗi do nhận định sai qui tắc
Có thể nói rằng, phân loại lỗi dựa trên các quá trình tâm lí ngôn ngữ là tìm về nguyên nhân mắc lỗi Cách phân loại này, nhìn từ góc độ tâm lí người dạy L2 là điều hữu ích bởi vì nó giúp cho người dạy hiểu được cơ chế, căn nguyên hình thành lỗi trong hệ ngữ trung gian của người học
Song, cũng cần phải thấy được rằng phân loại lỗi theo tiêu chí này sẽ không giúp ích được nhiều cho người học bởi vì điều họ quan tâm hàng đầu khi biết mình mắc lỗi không phải là làm thế nào để sửa lỗi
Tóm lại, việc phân loại lỗi theo nguyên nhân quá trình tâm lí tuy đã có thể tìm ra căn nguyên mắc lỗi nhưng chưa đưa ra được lời giải đáp về biện pháp sửa chữa lỗi một cách thoả đáng Hơn nữa, các quá trình tâm lí ngôn ngữ
là vô hình nên việc phân loại dựa vào đó sẽ không tránh khỏi khiên cưỡng vì không ai có thể thống kê hết toàn bộ quá trình tâm lí ngôn ngữ
b) Phân loại lỗi theo tính chất của lỗi
Dựa vào tính chất hệ thống của lỗi, nhiều tác giả đã phân lỗi thành các nhóm khác nhau
- Tác giả M.P.Jain đã phân lỗi thành hai loại là lỗi có hệ thống và lỗi bất
hệ thống
Lỗi có hệ thống phản ánh đặc trưng hệ thống ngôn ngữ của người học ở thời điểm đang xét Lỗi bất hệ thống là kiểu lỗi chưa đi vào ổn định trong
Trang 36nhiều ngữ cảnh khác nhau, có lúc thì xuất hiện, có lúc lại không Đây là cách phân loại có liên quan đến hệ ngữ trung gian của người học
- Tác giả M.Burt vaf C.Kiparshy lại căn cứ vào tính chất ảnh hưởng của
lỗi để chia chúng thành hai loại: lỗi cục bộ và lỗi tổng thể
Lỗi cục bộ chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận nào đó của câu hay phát ngôn Loại lỗi này không làm ảnh hưởng nhiều đến việc người nghe, người đọc hiểu nghĩa của toàn câu hay phát ngôn Chẳng hạn, có một em sinh viên TQ đã viết như sau:
Ví dụ 10: Từ núi chân(chân núi) đến núi đỉnh(đỉnh núi) đi mất khoảng
nửa giờ
(BTTN, SBD 1031)
Ví dụ 11: Nếu ngày mai trời mưa chúng ta thì sẽ đi vườn công (công viên)
(BTTN, SBD 1031)
Ngược lại, lỗi tổng thể là lỗi làm cho nghĩa của câu / phát ngôn trở nên
mơ hồ Người nghe / đọc không hiểu nghĩa của câu / phát ngôn, ví dụ:
Ví dụ 12: Đảo Hải Nam mỗi năm đều có trong ngoại người khách rất nhiều
(BTTN, SBD 1035)
Ví dụ 13: Anh của tôi con trẻ em là thứ hai cấp 1
(Trương Tiểu Song, K 2010)
Tóm lại, việc chia lỗi theo hướng lỗi cục bộ hay lỗi tổng thể có vẻ như đơn giản nhưng thực tế người học đa số là mắc lỗi cục bộ cho nên phân loại theo lỗi tổng thể hay cục bộ không có tác dụng cao
- Tác giả Phạm Đăng Bình cũng chia lỗi thành hai nhóm: lỗi phổ biến và lỗi đặc trưng
Lỗi phổ biến là lỗi chung cho tất cả mọi người học L2, không tính đến sự khác biệt về ngôn ngữ và đặc trưng văn hoá dân tộc Còn lỗi đặc trưng là lỗi
riêng cho từng nhóm người học có cùng chung một thứ tiếng mẹ đẻ và có
Trang 37chung một nền văn hoá
Với cách phân loại này, chúng ta có thể áp dụng cho tất cả mọi đối tượng người học, không kể họ có tiếng mẹ đẻ là gì Song cũng cần phải thấy hạn chế của cách phân loại này là người nghiên cứu phải nắm được tất cả ngôn ngữ L1 của người học hay các nhóm ngôn ngữ Bởi nếu không nắm được L1 hay nền văn hoá của người học, người nghiên cứu sẽ không thể tiến hành phân loại lỗi theo đặc điểm của từng ngôn ngữ và nền văn hoá được
- Tác giả S.P.Corder phân lỗi thành bốn kiểu, đó là: thiếu / bỏ qua, thừa / thêm vào, lựa chọn, và sai trật tự
Lỗi thiếu là lỗi bỏ qua một hay một số yếu tố từ vựng, ngữ pháp bắt buộc
nào đó trong L2, ví dụ như thiếu loại từ Một sinh viên TQ học chuyên ngành tiếng Việt đã viết như sau:
Ví dụ 14: Hôm qua tôi đã mua được một dao rất tốt
(Trương Siêu, K 2010)
Trong ví dụ này, cần phải thêm loại từ „con‟ vào giữa số từ và danh từ :
“Hôm qua một con dao rất tốt”
Lỗi thừa là lỗi thêm vào một yếu tố không cần thiết hoặc không được
chấp nhận trong hệ thống L2, ví dụ thêm loại từ trong trường hợp lẽ ra không
cần dùng, kiểu như trường hợp dùng từ „quả‟ sau đây:
Ví dụ 15: Hôm nay tôi đã mua hai cân quả đào
(Lỗ Hưng Phân, K 2010)
Lỗi lựa chọn (có người gọi là lỗi thế) là kiểu lỗi lấy yếu tố từ vựng, ngữ
pháp này thay vào chỗ yếu tố khác không đúng hoặc sai vị trí, chẳng hạn:
Ví dụ 16: a- Dạo này nhiệt độ bên ngoài cao ra
(Lỗ Hưng Phân, K 2010)
b - Phía đông Trung Quốc là hải
(Hồ Hồng Thái, K 2010)
Trang 38Trong ví dụ 16a, cần thay từ ra bằng từ lên, còn trong ví dụ 16b cần thay
từ hải bằng từ biển
Lỗi sai trật tự là kiểu lỗi dùng sai trật tự yếu tố nào đó trong cấu trúc của
L2 như ví dụ 17 dưới đây:
Ví dụ 17: Tôi đã có mới tài khoản ở ngân hàng
(La Quang Lan, K2010)
Vị trí của từ mới và từ tài khoản đã không đúng, cần phải đổi vị trí cho nhau
(Xin xem thêm kiểu lỗi này ở ví dụ 10) Bốn kiểu lỗi mà S.P.Corder đề xuất được luận văn vận dụng để phân loại các câu mắc lỗi đã khảo sát Ưu điểm của cách phân loại lỗi này là nó có thể ứng dụng cho các dạng lỗi, bất kể lỗi đó là gì và cho mọi đối tượng người học Đặc biệt, cách phân loại này sẽ định hướng cho người học biết cách sửa lỗi:
Nếu là thừa thì bỏ đi, nếu là thiếu thì thêm vào, thế sai thì chọn yếu tố khác thay thế, và đặt sai vị trí thì đổi lại cho đúng…
1.2 Sơ lược về câu mắc lỗi, các loại câu mắc lỗi thường gặp
1.2.1 Sơ lược về câu mắc lỗi
Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều quan niệm về câu mắc lỗi (tức câu sai theo cách gọi của một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn như cách gọi của các tác giả Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp)
Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, câu sai là những câu mắc những lỗi như sai chính tả, sai ngữ pháp, sai từ ngữ, sai lôgich, sai phong cách Ngoài ra, những câu viết không đúng dấu câu, không đúng qui tắc viết tắt… cũng là câu sai
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết và tác giả Nguyễn Văn Hiệp không đưa ra khái niệm câu sai là gì nhưng các tác giả đã nêu ra những trường hợp câu mắc lỗi thường gặp, đó là:
- Câu mắc lỗi về cấu tạo câu;
- Câu mắc lỗi về dấu câu;
Trang 39- Câu mắc lỗi về liên kết (câu)
Cần phải nói ngay rằng, nhìn nhận hiện tượng mắc lỗi nói chung hay câu mắc lỗi nói riêng không hề đơn giản Để tiện làm việc, luận văn này quan
niệm: Câu mắc lỗi là những câu vi phạm các qui tắc về chính tả, qui tắc ngữ pháp, sai về ngữ nghĩa, phong cách sử dụng, liên kết liên câu hay mơ hồ về nội dung hoặc hành vi ngôn ngữ
1.2.2 Phân loại câu mắc lỗi
a) Một số quan điểm phân loại câu mắc lỗi:
Tuỳ theo cách nhìn về hiện tượng mắc lỗi, các tác giả đã chia câu mắc lỗi (có tác giả gọi là câu sai) thành các kiểu khác nhau Luận văn này xin giới thiệu hai quan điểm tiêu biểu về phân loại câu mắc lỗi, đó là quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Dân và quan điểm của hai tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
và Nguyễn Văn Hiệp
- Tác giả Nguyễn Đức Dân đã bản chất của lỗi để chia câu mắc lỗi thành
sáu kiểu, đó là:
+ Câu sai chính tả: “Câu sai chính tả là câu viết không đúng chính tả,
nghĩa là viết không đúng theo qui định về phụ âm đầu, về vần, về thanh điệu,
và về cách bỏ dấu thanh điệu” (14; tr.17) Hai câu dưới đây đều là câu sai chính tả do bỏ dấu thanh hay viết hoa tên riêng không đúng đã được tác giả dẫn ra làm ví dụ:
(1) Trần thị Hoà (Câu này là câu sai chính tả do viết hoa tên riêng
không đúng)
Hoà không đúng)
+ Câu sai ngữ pháp: Câu sai ngữ pháp là câu viết “không đúng qui tắc
đã sai qui tắc tạo câu của tiếng Việt:
Trang 40Ví dụ 18: “Theo đồng chí chủ tịch UBND cho biết số người đến tuổi lao động ở địa phương là 1200” (Câu này sai vì thiếu chủ ngữ)
để minh hoạ:
Ví dụ 19: Nhà trường đã tổ chức 10 giải thưởng Lê Quí Đôn hằng năm
để khuyến khích các học sinh xuất sắc
Câu trên sai vì đã dùng từ tổ chức không đúng Từ này phải thay bằng
từ trao
+ Câu sai lôgich: “Câu sai lôgich là câu viết không đúng qui tắc lôgich
Ví dụ 20: Họ úp cái nón lên mặt, nằm xuống ngủ một giấc cho đến chiều
Câu trên sai lôgich vì đã phản ánh sai thứ tự của hành động: Chỉ sau khi nằm xuống mới úp nón lên mặt
+ Câu sai phong cách: Câu sai phong cách là kiểu câu “ viết không
Ví dụ 21: “Ngoài Bớc – Sét mà tôi quen ở Việt Nam, tôi còn được giới thiệu với hai nhà báo Pháp đã nổi tiếng là Mađơlen Riphô và Giăng Lacutuya Một hôm, trước ngày chia tay, Bộ trưởng Hâu Xeng tổ chức một cuộc họp thân
Cặp từ mày- tao dùng không đúng phong cách Đoạn văn này viết về
cuộc thoại với cách xưng hô thân mật giữa những người có cương vị cao trong giới báo chí Song, trong tình huống này, người Việt không dùng cặp từ
mày- tao mà dùng cặp từ cậu - tớ để xưng hô
+ Câu sai tri thức: Câu sai tri thức là “câu viết một điều không đúng với
Tác giả Nguyễn Đức Dân đã đưa ra một ví dụ về câu sai tri thức:
“Nghi Tàm, quê hương của bà Đoàn Thị Điểm, thi nhân nổi tiếng thế kỉ