BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI VŨ THỊ XIM NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LÚA THUẦN MỚI CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO, THỜI GIAN SINH TRƯỞNG PHÙ HỢP
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VŨ THỊ XIM
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LÚA THUẦN MỚI CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO, THỜI GIAN SINH TRƯỞNG PHÙ HỢP CHO VỤ MÙA
VÀ VỤ XUÂN TẠI HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VŨ THỊ XIM
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LÚA THUẦN MỚI CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO, THỜI GIAN SINH TRƯỞNG PHÙ HỢP CHO VỤ MÙA
VÀ VỤ XUÂN TẠI HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ TRÂM
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Vũ Thị Xim
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu ựề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình từ rất nhiều ựơn vị và cá nhân trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân ựã dành cho tôi sự giúp ựỡ quý báu ựó
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kắnh trọng sự giúp ựỡ nhiệt tình của Cô giáo Ờ PGS TS Nguyễn Thị Trâm là người trực tiếp hướng dẫn và giúp ựỡ tôi về mọi mặt ựể tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến ựóng góp quý báu của các thầy, cô trong khoa Nông học, các thầy cô trong Viện đào tạo Sau ựại học Tôi xin cảm ơn sự giúp ựỡ của tập thể cán bộ Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng Hải Dương
Cảm ơn sự cổ vũ, ựộng viên và giúp ựỡ của gia ựình, người thân, bạn
bè trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày Ầ tháng Ầ năm 2013
Tác giả luận văn
Vũ Thị Xim
Trang 5MỤC LỤC
1.3.7 Các chỉ tiêu ñánh giá và tình hình nghiên cứu chất lượng lúa gạo 21
Trang 6Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 điều kiện ựất ựai của Hải Dương trong sản xuất nông nghiệp 49
3.2 Thời gian qua các giai ựoạn sinh trưởng của các giống lúa khảo
3.3 Một số ựặc ựiểm sinh trưởng và phát triển của các giống lúa thắ
3.3.1 động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa 56
3.3.2 động thái ựẻ nhánh của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 61
3.4 Một số ựặc ựiểm hình thái, nông sinh học của các giống tham gia
3.4.1 đặc ựiểm nông sinh học của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 65
3.4.2 đặc ựiểm hình thái của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 68
3.4.3 đặc ựiểm lá ựòng và bông của các giống tham gia thắ nghiệm 70
3.5 Mức ựộ nhiễm sâu bệnh của các giống tham gia thắ nghiệm vụ
3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa
3.7 Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 81
3.8 đánh giá phẩm chất cơm của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 85
3.9 Các giống có triển vọng ựược tuyển chọn cho vụ Mùa và vụ Xuân 86
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo giai ñoạn 2007-2011 của thế giới 3
2.3 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của nước ta giai ñoạn
2.4 Tình hình sản xuất lúa gạo ở ðồng bằng Sông Hồng những năm
2.5 Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Hải Dương những năm gần ñây 10
3.1 ðiều kiện thời tiết vụ Mùa 2012 và Xuân 2013 tại ñiểm thí nghiệm 51
3.2a Thời gian các giai ñoạn sinh trưởng của các giống trong vụ
3.2b Thời gian các giai ñoạn sinh trưởng của các giống trong vụ
3.3a Tốc ñộ tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa vụ Mùa 2012 59
3.3b Tốc ñộ tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa vụ Xuân 2013 60
3.4a Tốc ñộ ñẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Mùa
3.6 ðặc ñiểm hình thái của các giống lúa tham gia thí nghiệm 69
3.7 ðặc ñiểm lá ñòng và bông của các giống tham gia thí nghiệm 72
3.8a Mức ñộ nhiễm sâu bệnh của các giống tham gia thí nghiệm trong
Trang 93.8b Mức ựộ nhiễm sâu bệnh của các giống tham gia thắ nghiệm trong
3.9a Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa thắ
3.9b Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa thắ
3.10 Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 82
3.11 đánh giá phẩm chất cơm của các giống lúa tham gia thắ nghiệm 85
3.12 đặc ựiểm cơ bản của các giống ựược tuyển chọn so với ựối chứng 87
3.13 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của giống VS5 và BT7 88
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa vụ Mùa 2012 57
3.2 ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa vụ Xuân 2013 59
Trang 11MỞ ðẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là loại cây lương thực chính, lâu ñời của
nhân dân ta và nhiều dân tộc trên thế giới, ñặc biệt là các dân tộc ở Châu Á Trên thế giới có khoảng 40% dân số lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính
và 110 quốc gia có sản xuất, tiêu thụ gạo [7] Châu Á là vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu chiếm 90% về sản lượng cũng như diện tích, là nơi có nền nông nghiệp cổ xưa nhất gắn liền với canh tác lúa nước.[1]
Từ bao ñời nay cây lúa ñã gắn liền với ñời sống dân tộc, với lịch sử dựng nước và giữ nước Nông dân ta rất giàu kinh nghiệm và giỏi nghề trồng lúa Việt Nam cũng là một trong những trung tâm phát sinh cây lúa
và nghề trồng lúa của loài người [1] Nhưng thực sự chỉ sang những năm thập kỷ 90, nhờ những tiến bộ khoa học về giống, kỹ thuật canh tác, cơ chế quản lý, nước ta mới thoát khỏi cảnh thiếu lương thực và dư thừa cho xuất khẩu ðến nay, Việt Nam ñã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới (chỉ sau Thái Lan) [3]
Tuy nhiên, trong những năm gần ñây do chất lượng cuộc sống nâng cao không chỉ nhu cầu sử dụng trong nước mà cả nhu cầu xuất khẩu cũng tập trung theo xu hướng tăng loại gạo chất lượng cao Sử dụng lúa ưu thế lai (F1), gây ñột biến, công nghệ gen… là những nỗ lực theo hướng gia tăng năng suất và nâng cao chất lượng hạt lúa trong thập niên 90 Sang ñầu thế kỷ
21 do sự bùng phát của dịch hại trên lúa, ñặc biệt là rầy nâu và các bệnh do virus truyền từ rầy ñã làm thiệt hại nghiêm trọng và phức tạp trên diện rộng, việc cải thiện hơn nữa phẩm chất hạt kết hợp tăng cường tính chống chịu ñã trở thành mục tiêu của thời kỳ này [7] Theo nhận ñịnh của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tại cuộc họp giao ban xuất khẩu gạo ngày 7/9/2012 ở
TP Hồ Chí Minh, thì trong 8 tháng vừa qua gạo chất lượng cao chiếm 62%
Trang 12tổng lượng gạo xuất khẩu, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2011.[35]
Hải Dương là một trong những tỉnh sản xuất lúa trọng ñiểm của ðồng bằng Sông Hồng, nông dân giàu kinh nghiệm thâm canh ðể ñảm bảo an ninh lương thực và phát triển cây lúa, UBND tỉnh vừa phê duyệt Quy hoạch "Diện tích ñất trồ ng lúa bảo ñảm an ninh lương thực tỉnh Hải Dương ñến năm 2020
và ñịnh hướng tới năm 2030" Theo ñó, duy trì diện tích ñất lúa 58 nghìn ha vào năm 2020, giữ diện tích ñến năm 2030 ñạt 55 nghìn ha Sản lượng lương thực năm 2020 ñạt khoảng 741 nghìn tấn thóc, trong ñó 86,5% sản lượng phục
vụ tiêu dùng trong tỉnh và 13,5% cho dự trữ quốc gia và thị trường ngoài tỉnh Năng suất lúa năm 2020 phải ñạt 63 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm 2010.[36]
Xuất phát từ thực tế trên, ñể góp phần vào việc hoàn thiện cơ cấu các giống lúa trong tỉnh, chúng tôi tiến hành ñề tài:
“Nghiên cứu tuyển chọn một số dòng, giống lúa thuần mới có năng suất, chất lượng cao, thời gian sinh trưởng phù hợp cho vụ Mùa và vụ Xuân tại Hải Dương”
2 Mục ñích và yêu cầu
2.1 Mục ñích
- Tuyển chọn ñược một vài giống lúa thuần mới ngắn ngày năng suất
khá, chất lượng cao phù hợp cho vụ Mùa và vụ Xuân tại Hải Dương
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa là một trong những cây lương thực quan trọng ñối với ñời sống của con người nên nó ñược trồng và phân bố rộng khắp thế giới Nó ñã
và ñang ñóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp Bằng chứng
là diện tích và sản lượng lúa gạo của thế giới ñang tăng lên theo từng năm (số liệu thống kê ở bảng 2.1)
ðến năm 2011 (FAO, 2013) [38] thì tổng diện tích trồng lúa trên thế giới ñã lên ñến xấp xỉ 164 triệu ha với năng suất trung bình 44 tạ/ha, tương ñương với tổng sản lượng của toàn thế giới năm 2012 ñạt khoảng 723 triệu tấn
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo giai ñoạn 2007-2011 của thế giới Chỉ tiêu
Mặc dù có nhiều sự thay ñổi nhưng nhìn chung trong giai ñoạn từ năm
2007 – 2011, sản lượng lúa thế giới có xu hướng tăng dần nhưng chậm Không những chỉ tăng về diện tích (năm 2007 khoảng155 triệu ha, năm 2011 khoảng 164 triệu ha), mà còn tăng về năng suất (trung bình năm 2007 là 4,24
Trang 14tạ/ha thì ñến năm 2011 là 4,40 tạ/ha) Từ ñó dẫ ñến tổng sản lượng tăng lên, năm 2007 là xấp xỉ 657 triệu tấn, ñến năm 2011 thì tổng sản lượng ñã tăng lên ñến 723 triệu tấn, trong ñó Châu Á ñạt 653 triệu tấn ( chiếm 90,4%) Có thể nói, sản lượng lúa gạo toàn thế giới tăng trong thời gian qua chủ yếu là do tăng năng suất, diện tích và sản lượng của Châu Á
Theo thống kê thì tính ñến nay có khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới sản xuất lúa gạo Trong ñó chủ yếu tập trung nhiều tại các nước Châu Á
và 85% sản lượng lúa của thế giới phụ thuộc vào 8 nước ở Châu Á là Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn ðộ, Indonexia, Banglades, Myanmar và Nhật Bản
Hiện nay nước dẫn ñầu về diện tích là Ấn ðộ với 44.100 nghìn ha (năm 2011) Nhưng Trung Quốc lại là nước có sản lượng cao nhất thế giới ñạt 202.667 nghìn tấn (năm 2011) Nhóm các nước sản xuất lúa gạo dẫn ñầu thế giới có năng suất cao trung bình khoảng 30-40 tạ/ha, trong ñó nước có năng suất cao nhất là Trung Quốc (6,69 tấn/ha), sau ñó ñến Việt Nam (5,53tấn/ha), Nhật Bản (5,33tấn/ha) Tuy Thái Lan là nước xuất khẩu gạo dẫn ñầu thế giới trong những năm trước ñây nhưng lại là nước có năng suất thấp nhất trong nhóm chỉ ñạt 2,97 tấn/ha (năm 2011).(bảng 2.2)
Nếu so với tốc ñộ tăng trưởng dân số như hiện nay thì tốc ñộ tăng sản lượng lúa của thế giới vẫn còn rất thấp, không cung cấp ñủ nhu cầu tiêu thụ Chính vì vậy vấn ñề ñặt ra hiện nay ñối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng ñảm bảo an ninh lương thực
Trang 15Bảng 2.2 Sản xuất lúa gạo của 10 nước ñứng ñầu thế giới
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 161.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực đông Nam Á, có khắ hậu nhiệt ựới gió mùa ẩm, ựặc biệt là lượng bức xạ mặt trời cao - rất thắch hợp và thuận lợi cho
sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa Nước ta có thể là cái nôi hình thành cây lúa nước, từ lâu nó ựã trở thành cây lương thực chắnh, có ý nghĩa quan trọng trong ựời sống cũng như nền kinh tế nước nhà
Nhờ chắnh sách ựổi mới của đảng và nhà nước, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật như việc sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao, thay ựổi cơ cấu mùa vụ, xây dựng hệ thống thủy lợiẦ ựã ựưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới Trong giai ựoạn hiện nay chúng ta cũng không ngừng nỗ lực nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo, số liệu bảng 2.3 cho thấy năng suất năm 2005 ựạt mức 48,9 tạ/ha ựã tăng lên 55,3 tạ/ha vào năm 2011, tương ựương sản lượng tăng từ 35,83 triệu tấn lên 42,32 triệu tấn
Năm 2012, do ựiều khắ hậu thời tiết thuận lợi nên nhìn chung tình hình sản xuất lúa gạo của nước ta ựạt kết quả khá cao Cụ thể là diện tắch gieo cấy ước ựạt 7.753 nghìn ha (tăng 101,8 nghìn ha ), năng suất ước ựạt xấp xỉ 56,3 tạ/ha (tăng khoảng 1tạ/ha) dẫn ựến sản lượng lúa toàn quốc tăng 3,25 % so với cùng kỳ năm trước (43,70 triệu tấn) Trong ựó:
- Lúa ựông xuân: ựạt gần 20,30 triệu tấn, tăng 510,40 nghìn tấn so với
vụ ựông xuân năm trước do diện tắch tăng 27,60 nghìn ha và năng suất tăng 1,1 tạ/ha
- Lúa hè thu: Sản lượng lúa hè thu ựạt 14 triệu tấn, tăng 573,30 nghìn tấn do diện tắch ựạt 2.660 nghìn ha, tăng 70,30 nghìn ha (Riêng diện tắch lúa thu ựông tại các tỉnh ựồng bằng sông Cửu Long tăng 31,30 nghìn ha); năng suất ựạt 5,25 tấn/ha (tăng 0,07 tấn/ha)
- Lúa mùa: Sản lượng lúa mùa ước tắnh ựạt gần 9,4 triệu tấn, tăng 179,60 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất tăng 0,09 tấn/ha
Trang 17Từ ñó không chỉ cung cấp ñủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ñem lại nguồn doanh thu ñáng kể cho nền kinh tế quốc doanh Cũng theo số liệu thống kê của trung tâm tư liệu thống kê – tổng cục thống kê [37], thì tính ñến hết năm 2012 nước ta ñã xuất khẩu gạo ñược một số lượng kỷ lục là khoảng 8,1 triệu tấn, thu về 3,7 triệu USD (tăng 13,9% về lượng và 2,1% về giá trị so cùng kỳ năm 2011) Mức xuất khẩu này vượt xa dự báo của Tổ chức Lương-nông Liên Hợp Quốc (FAO) hồi tháng 5/2012 rằng năm 2012 Việt Nam xuất khẩu mức 7,2 triệu tấn gạo (bảng 2.3)
Hiện nay, nước ta ñã xuất khẩu gạo sang hơn 85 nước trên thế giới, nhưng thị trường tiêu thụ gạo chủ yếu của nước ta là Châu Á và Châu Mỹ ðặc biệt năm 2012, thị trường xuất khẩu gạo có nhiều thay ñổi, trong ñó thị trường Trung Quốc tăng mạnh gấp 6,4 lần về lượng và 5,4 lần về giá trị Trung Quốc trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2012 Ngược lại nhiều thị trường lớn khác lại sụt giảm vả về lượng và giá trị như Indnesia, Singapore, Senegal và Philippines
ðồng thời cũng phải nhìn nhận một vấn ñề lớn là tuy mừng về kỷ lục lượng xuất khẩu nhưng lại bị giảm về giá trị so với 2011, do nguồn cung dồi dào, nhu cầu giảm, lượng hàng tồn lớn…dẫn ñến các nước xuất khẩu như Thái Lan, Ấn ðộ, Myanmar, Pakistan… cạnh tranh quyết liệt khiến giá thành giảm Bên cạnh ñó theo như Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, giá gạo Việt Nam hiện ñang ñược bán với giá thấp hơn so với gạo cùng phẩm cấp của các nước xuất khẩu gạo chủ lực trong khu vực khoảng
40 – 50 USD/tấn
Cụ thể gạo 5% tấm của Việt Nam chỉ có 395 USD/tấn trong khi giá gạo cùng loại của Ấn ðộ bán với giá 430 USD/tấn, Pakistan 445 USD/tấn Với mức giá này, có ý kiến nhận ñịnh giá gạo xuất khẩu quý I/2013 của Việt Nam thấp nhất thế giới, giảm từ mức bình quân 505 USD/tấn năm 2011 xuống còn 432 USD/tấn năm 2012
Trang 18Theo một số chuyên gia, nguyên nhân là do trong khi các hợp ñồng nhập khẩu gạo ít, các thị trường khác chưa ñẩy mạnh mua thì doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào thị trường Trung Quốc và ñây có thể là nguyên nhân khiến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp ñi trong thời gian qua
Chính vì vậy cần có những chính sách, chiến lược kinh doanh thích hợp ñể nâng cao giá trị của lúa gạo Việt Nam trên thương trường quốc tế, góp phần thúc ñẩy sản xuất, cải thiện ñời sống người dân
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của nước ta
giai ñoạn 2005-2011
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Xuất khẩu (triệu tấn)
Trị giá (triệu USD)
mô nhỏ lẻ, manh mún… nên lượng lúa gạo xuất khẩu của ñồng bằng sông Hồng là rất nhỏ
Trang 19Trong ñó, những năm gần ñây thành phố Hà Nội có diện tích và sản lượng cao nhất khu vực với 204 nghìn ha; 1.217 nghìn tấn trong năm 2011 (do sự sát nhập của tỉnh Hà Tây cũ) Nhưng Thái Bình lại là tỉnh dẫn ñầu khu vực nói riêng và cả nước nói chung về năng suất, trung bình ñạt 6,59 tấn/ha (bảng 2.4)
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất lúa gạo ở ðồng bằng Sông Hồng
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
1.1.3Tình hình sản xuất của tỉnh Hải Dương
Qua số liệu của tổng cục thống kê cho thấy, Hải Dương cũng là một trong những tỉnh có năng suất, sản lượng lúa gạo khá cao ñứng thứ 5 toàn quốc ñạt 6,19 tấn/ha ( xấp xỉ 112,5 % năng suất trung bình của cả nước) và 782,2 nghìn tấn (năm 2012)
Trang 20Bảng 2.5 Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Hải Dương
những năm gần ñây
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Năm 2012, theo báo cáo “Tình hình thực hiện nhiệm vụ 9 tháng và nhiệm
vụ 3 tháng cuối năm 2012” của Sở nông nghiệp tỉnh Hải Dương, diện tích lúa cả năm ñạt 126.410 ha ( = 100,07% kế hoạch năm), giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước Tổng diện tích lúa lai và lúa chất lượng cả năm chiếm 53,06% tổng diện tích gieo cấy lúa, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước Năng suất lúa cả năm ước ñạt 61,03 tạ/ha, giảm 1,0 % (-0,62 tạ/ha) so với năm 2011
Sang vụ xuân năm 2013, toàn tỉnh gieo cấy 63.399 ha, giảm 277ha so với năm 2012 Trong ñó trà sớm 7.705,7 ha (12,2%), trà muộn 55.633 ha (87,8%) Tổng diện tích lúa lai và lúa chất lượng 35.817,3 ha (56,5%), trong ñó diện tích lúa lai o5.467,3 ha (8,6%), lúa chất lượng 30,350 ha (47,9%), lúa thường 27.521,7 ha (43,5%)
Vụ mùa 2013, toàn tỉnh gieo cấy ñược 62.550 ha, ñạt 100,1% so với kế hoạch, giảm 244ha so với cùng kỳ năm trước , nguyên nhân chủ yếu do vụ mùa năm nay nông dân bỏ hoang hóa 297 ha, tăng 183 ha so với vụ mùa 2012 Cơ cấu trà lúa vụ mùa năm nay tương ñương vụ mùa 2012 (trà sớm chiếm 27,04%, trà trung 60,54%, trà muộn chiếm 3,42%) Cơ cấu giống lúa, diện tích lúa lai, lúa
Trang 21chất lượng chiếm 60,02% (tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do tăng lúa chất lượng) Các giống có diện tắch lớn như BT7 (14.071 ha), Q5 (10.210ha), KD18 (8.655 ha), BC15 (7.898ha), một số giống lúa có khả năng chống chịu bạc lá tốt ựược mở rộng diện tắch như RVT, BT7 KBL, NB01Ầ Diện tắch lúa chất lượng tăng là do người dân có xu hướng chọn các giống gạo ngon, dễ bán, giá cao ựưa vào sản xuất Bên cạnh ựó do làm tốt công tác chỉ ựạo, triển khai mô hình sản xuất lúa tập trung quy mô lớn ựã góp phần làm tăng diện tắch lúa chất lượng
1.2 Những nghiên cứu cơ bản về cây lúa
a) Nguồn gốc cây lúa
Lúa là một trong những loại cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu ựời nhất Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn độ, Việt NamẦ cây lúa có mặt từ 3000-2000 năm trước công nguyên Ở vùng Triết Giang - Trung Quốc ựã xuất hiện cây lúa 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử là 4000 năm Tuy nhiên vẫn còn thiếu những tài liệu ựể xác ựịnh một cách chắnh xác thời gian cây lúa ựược ựưa vào trồng trọt [8]
Ở Việt Nam, cây lúa ựược coi là cây trồng Ộbản ựịaỢ, nó không phải là loại cây từ nơi khác ựưa vào (Bùi Huy đáp, 1999) Với ựiều kiện khắ hậu nhiệt ựới, Việt Nam cũng có thể là cái nôi hình thành cây lúa nước Từ lâu, cây lúa nước ựã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế và xã hội của nước ta [6] Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc
từ lúa dại Việc xác ựịnh trực tiếp tổ tiên của cây lúa trồng ở Châu Á (Oryza sativa) vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Trắch theo Nguyễn đức Khanh thì một số tác giả như Sampath và Rao (1951), Sampath và Govidaswami (1958) cho rằng: Oryza sativa có nguồn gốc từ lúa dại lâu năm Rufipogon Tác giả Chrrerjce và cộng sự (1958), Oka (1998), Mirishma và cộng sự (1992) cho rằng: kiểu trung gian giữa O.Rufipogon và O.Nivara giống với lúa trồng hiện nay hơn cả Theo tác giả ở ựại học Triết Giang (Trung Quốc) thì lúa trồng bắt
Trang 22nguồn từ lúa dại Oryza sativa L F.spontaneae [13]
Một số tác giả như đinh Dĩnh, Bùi Huy đáp, đinh Văn LữẦ cho rằng Oryza Fatua là loại lúa dại gần nhất và ựược coi là tổ tiên của lúa trồng hiện nay
b) Phân loại lúa trồng
Về loại phân loại lúa trồng Oryza sativa cũng còn c ó nhiều quan ựiểm khác nhau Tuy nhiên trên cơ sở kết quả nghiên cứu trước ựây, các nhà khoa học Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) ựã thống nhất xếp lúa trồng ở Châu Á (Oryza sativa) thuộc họ hòa thảo (Graminae) tộc oryzae, có bộ NST 2n = 24 Theo ựiều kiện sinh thái, Kato (1993) chia lúa trồng thành 2 nhóm lớn là Japonica (lúa cánh) và Indica (lúa tiên) Lúa tiên thường phân bố ở vĩ ựộ thấp như: Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, IndonesiaẦ là loại hình cây cao, lá nhỏ, xanh nhạt, bông xòe, hạt dài, vỏ trấu mỏng, cơm khô, nở nhiều, chịu phân kém,
dễ lốp ựổ nên năng suất thường thấp Lúa cánh thường phân bố ở vùng có vĩ ựộ cao như: Nhật Bản, Triều Tiên, Bắc Trung Quốc, Châu ÂuẦ là loại hình cây lá
to, xanh ựậm, bông chụm, hạt ngắn, vỏ trấu dày, cơm thường dẻo, ắt nở, thắch nghi với ựiều kiện thâm canh, chịu phân tốt thường cho năng suất cao.[8]
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng khác nhau, Trung Quốc chia ra lúa sớm và lúa muộn hoặc lúa Xuân và lúa Mùa Ở Việt Nam ựã từ lâu hình thành
2 vụ lúa là vụ lúa Xuân và vụ lúa Mùa Do lúa Xuân sinh trưởng trong vụ đông Xuân có nền nhệt ựộ thấp nên thực tế thời gian sinh trưởng của lúa Xuân lại dài hơn lúa Mùa [9] Hiện nay hầu hết các giống lúa trong sản xuất ựều phản ứng với nhiệt ựộ nên cấy ựược cả 2 vụ trong năm
Do ruộng lúa ựược phân bố trong các ựiều kiện ựịa hình khác nhau, chế ựộ tưới và mức tưới ngập khác nhau ựã hình thành lúa cạn (lúa ựồi, lúa nương) và lúa nước, lúa chịu nước sâu (deep water) với mức tưới ngập trên 1m hay lúa nổi (Floating rice) có thể chịu ngập ựến 3-4m
Theo chất lượng và hình dạng hạt, người ta phân ra: lúa tẻ và lúa nếp;
Trang 23lúa hạt dài và lúa hạt tròn
Theo quan ñiểm canh tác học, cây lúa ñược chia thành 4 nhóm chính sau ñây:
- Lúa cạn (Upland rice): ñược trồng trên ñất cao, không giữ nước, cây lúa hoàn toàn sống nhờ vào nước trời
- Lúa có tưới (Irrigated or Floaded rice): ñược trồng trên những cánh ñồng có công trình thủy lợi, chủ ñộng về nước tưới trong suốt chu kỳ sống của cây
- Lúa nước sâu (Rainfed Foaland rice): ñược canh tác trên những cánh ñồng thấp, không có khả năng rút nước khi gặp mưa lớn hoặc lũ Tuy nhiên, thời gian ngập nước không quá 10 ngày và mức nước không quá 50cm
- Lúa nổi (deep water hoặc Floating rice): là loại lúa ñược gieo trổng trong mùa mưa, khi mưa lớn lúa ñã ñẻ nhánh, nước dâng cao lúa vươn nhánh (khoảng 10cm/ ngày) ñể ngoi theo, vươn lên mặt nước [10]
Ở Việt Nam, tồn tại cả 4 nhóm giống lúa trên, nhưng chủ yếu là nhóm lúa có tưới, còn nhóm lúa cạn, lúa nước sâu và lúa nổi ngày một giảm ñi Nhóm lúa cạn tồn tại nhiều ở vùng núi và trung du Bắc bộ, Tây Nguyên Lúa
có tưới ñược canh tác chủ yếu ở vùng ñồng bằng Sông Hồng, ñồng bằng ven biển miền Trung và ñồng bằng sông Cửu Long Lúa nước sâu ñược gieo trồng chủ yếu tại các vùng úng ngập, trũng thuộc ñồng bằng Bắc Bộ, các thung lũng khó thoát nước thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc Lúa nổi chỉ tồn tại rất
ít ở vùng ðồng Tháp Mười thuộc ñồng bằng sông Cửu Long
Ngoài 4 nhóm trên ở Việt Nam còn tồn tại một số nhóm giống lúa thích nghi với các tiểu vùng sinh thái chuyên biệt khác nhau như: giống lúa chịu mặn, các giống lúa này ñược trồng chủ yếu ở các vùng duyên hải Bắc, Nam, Trung bộ Các vùng ñó thường xuyên bị nước biển xâm nhập nhưng cũng ñược nguồn nước ngọt thau rửa nên vẫn có thể canh tác lúa
Trang 241.3 Nghiên cứu về các tắnh trạng ựặc trưng của cây lúa
Lúa là cây trồng ựa dạng về kiểu hình, mỗi giống có những ựặc ựiểm riêng biệt mà ta có thể dựa vào ựó ựể phân biệt như: thời gian sinh trưởng, khả năng ựẻ nhánh, chiều cao cây, bộ lá lúa và khả năng quang hợp, dạng hạt, màu sắc hạt
Các nhà chọn tạo và khảo nghiệm giống trước khi chuẩn bị cho bất kỳ một chương trình chọn tạo và khảo nghiệm giống nào cũng cần có những thông tin ựầy ựủ các ựặc ựiểm về nguồn vật liệu khởi ựầu của giống Do vậy, việc nghiên cứu các ựặc ựiểm hình thái, ựặc ựiểm nông học, khả năng chống chịuẦ của các giống lúa ựã ựược tiến hành từ lâu và thu ựược nhiều kết quả
có ý nghĩa
1.3.1 Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa ựược tắnh từ khi hạt lúa nảy mầm ựến khi chắn hoàn toàn Thời gian sinh trưởng phụ thuộc chủ yếu vào giống ngoài ra còn thay ựổi theo ựiều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác Nắm ựược quy luật này là cơ sở cho việc xác ựịnh thời vụ gieo cấy, cơ cấu giống, luân canh tăng vụ ở các vùng trồng lúa khác nhau Theo các nhà khoa học IRRI thì thời gian sinh trưởng của cây lúa ựược ựiều khiển bởi hai hệ thống gen: hệ thống gen quy ựịnh thời gian trỗ và hệ thống gen phản ứng với ánh sáng
Theo Yoshida (1979) [25] cho rằng, những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì không thể cho năng suất cao vì sinh trưởng sinh dưỡng bị hạn chế Ngược lại giống có thời gian sinh trưởng quá dài cũng không cho năng suất cao vì sinh trưởng quá dài gây hiện tượng lốp ựổ Tuy nhiên, trong ựiều kiện ựất ựai có ựộ phì thấp như nhau thì giống có thời gian sinh trưởng dài hơn sẽ cho năng suất cao hơn
Nguyễn đình Giao và các cộng sự (2000) cho rằng: Các giống lúa ngắn ngày ở nước ta có thời gian sinh trưởng từ 90-120 ngày, giống trung ngày có thời gian sinh trưởng từ 140-160 ngày Các giống lúa chiêm cũ ở
Trang 25miền Bắc, do ảnh hưởng của nhiệt ñộ thấp, thời gian sinh trưởng từ 180-200 ngày Ở ñồng bằng sông Cửu Long, các giống lúa có thời sian sinh trưởng trong vụ Mùa tương ñối dài, khoảng 200-240 ngày, cá biệt những giống lúa nổi có thời gian sinh trưởng dài ñến 270 ngày [8]
Hiện nay thời gian sinh trưởng lý tưởng của cây lúa là 90-100 ngày Tuy nhiên thời gian sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc vào thời vụ gieo cấy với ñiều kiện ngoại cảnh khác nhau Trong ñiều kiện ở miền Bắc nước ta,
do ảnh hưởng của ñiều kiện nhiệt ñộ thấp, thời gian sinh trưởng của cùng một giống lúa nếu gieo cấy vào vụ Xuân sẽ dài hơn gieo cấy trong vụ Mùa Trong cùng một vụ, nếu thời vụ gieo cấy sớm hay muộn thì thời gian sinh trưởng của cùng một giống lúa cũng thay ñổi Ngay cả trong cùng một thời vụ gieo cấy ở vụ chiêm Xuân, năm nào trời rét lúa trỗ muộn, thời gian sinh trưởng kéo dài, năm nào ấm thì ngược lại Còn trong vụ Mùa, nhiệt ñộ ít thay ñổi qua các năm nên thời gian sinh trưởng của các giống lúa tương ñổi ổn ñịnh
Trong sản xuất hiện nay, người nông dân rất cần có những giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu cao, không phản ứng với quang chu kỳ ñể có thể trồng ñược nhiều vụ trong năm, nhằm tăng hệ số sử dụng ruộng ñất từ ñó tăng sản lượng và tăng thu nhập
1.3.2 Chiều cao cây lúa
Chiều cao cây là một tính trạng có liên quan ñến tính chống ñổ của cây lúa Dạng hình thấp cây, thân cứng có khả năng chống ñổ tốt Các nhà khoa học tại viện lúa quốc tế IRRI khẳng ñịnh [33]: các giống lúa có nguồn gốc Trung Quốc mang gen lùn sdl là gen lặn nhưng không ảnh hưởng ñến chiều dài bông rất có ý nghĩa trong chọn giống Hiện nay các nhà chọn tạo giống ñang tập trung và ñịnh hướng chọn tạo kiểu hình cây lúa có chiều cao
lý tưởng khoảng 100cm
1.3.3 Khả năng ñẻ nhánh
ðẻ nhánh là một ñặc tính sinh học của cây lúa liên quan chặt chẽ ñến
Trang 26quá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa
Quá trình ñẻ nhánh liên quan chặt chẽ với quá trình ra lá Thường khi
ra lá ñầu tiên thì mầm nách ở mắt ra lá thứ nhất bắt ñầu phân hoá, trong quá trình ra các lá tiếp theo cũng tương tự như vậy ở các nhánh tiếp theo Theo quy luật thì khi lá thứ 4 xuất hiện thì lá thứ nhất kết thúc thời kỳ phân hoá và bắt ñầu xuất hiện nhánh thứ nhất và khi ra lá thứ 5 thì nhánh thứ 2 xuất hiện
Trên cây lúa, thông thường chỉ có những nhánh ñẻ sớm, ở vị trí mắt ñẻ thấp, số lá nhiều, ñiều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có ñiều kiện phát triển ñầy ñủ ñể trở thành nhánh hữu hiệu Những nhánh ñẻ muộn, thời gian sinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành những nhánh vô hiệu Ở thời kỳ ñẻ nhánh, cây lúa sinh trưở ng nhanh và mạnh cả về bộ lá và rễ, nó quyết ñịnh ñến sự phát triển diện tích lá, số bông Thời gian ñẻ nhánh phụ thuộc vào giống, thời vụ và biện pháp kỹ thuật canh tác Trong ñiều kiện quần thể do gieo cấy dày nên số nhánh ñẻ thực tế có giới hạn Sau một thời gian ñẻ nhánh,
số nhánh tăng lên trong quần thể ruộng lúa có hiện tượng tự ñiều tiết, do cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng nên số nhánh không tăng lên nữa
Nghiên cứu về vấn ñề ñẻ nhánh của cây lúa Vũ Tuyên Hoàng, Luyện Hữu Chỉ và Trần Thị Nhàn (2000) khẳng ñịnh [12]: Những giống lúa ñẻ sớm,
ñẻ tập trung thì trỗ tập trung và cho năng suất cao hơn ðinh Văn Lữ 1978 cho rằng những giống lúa ñẻ rải rác thì trỗ bông không ñều, không có lợi cho quá trình thu hoạch dẫn ñến năng suất giảm [16] Theo Yoshida 1979 [25] , ñẻ nhánh sớm và tập trung sẽ tạo tiền ñề cho diện tích lá phát triển nhanh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao ðẻ nhánh gọn cho phép tăng mật ñộ cấy mà không ảnh hưởng ñến quang hợp cho năng suất cao
Trang 27quang hợp, ảnh hưởng ñến năng suất lúa Tổng số lá trên cây nhiều hay ít cũng liên quan ñến thời gian sinh trưởng và diện tích lá của quần thể Theo Rutger và Mackill thì số lá/cây là một ñặc ñiểm di truyền ñặc trưng của giống,
có hệ số di truyền cao, số lá/cây biến ñộng lớn từ 9-25 lá/cây tuỳ thuộc vào giống Ở Việt Nam, nhóm giống lúa ngắn ngày thường có khoảng 12-15 lá, nhóm lúa trung ngày có khoảng 16-18 lá và nhóm dài ngày có thể có 20-21 lá
Số lá còn thay ñổi tùy theo thời vụ cấy, các biện pháp bón phân và chăm sóc khác nhau Cùng một giống nếu gieo sớm, số lá tương ñối nhiều, nếu gieo cấy muộn số lá giảm ñi và thời gian sinh trưởng cũng sẽ rút ngắn Vụ Xuân ở miền bắc, những năm rét nhiều, rét ñậm, thời gian sinh trưởng của cây lúa bị kéo dài, số lá có thể tăng lên từ 1-4 lá Số lá/cây có tương quan chặt với thời gian sinh trưởng: thời gian sinh trưởng ngắn thì số lá ít, thời gian sinh trưởng dài thì số lá nhiều
Thông thường trên cây lúa có khoảng 5-6 lá xanh cùng hoạt ñộng, sau một thời gian hoạt ñộng, các lá lúa ở phía dưới gốc chuyển màu vàng rồi chết
ñi, các lá mới lại tiếp tục xuất hiện Tốc ñộ ra lá ñược thay ñổi theo thời gian sinh trưởng và ñiều kiện ngoại cảnh Trung bình là 1-3 ngày ra một lá ở thời
kỳ mạ non, 7-10 ngày ra một lá ở thời kỳ mạ khỏe, 5-7 ngày ra một lá ở thời
kỳ ñẻ nhánh và khoảng 12-15 ngày ra một lá ở thời kỳ cuối ñẻ nhánh, chuyển sang làm ñòng [8]
ðể tăng năng suất lúa phải tăng hàm lượng chất khô trước trỗ, tăng khả năng vận chuyển và cuối cùng là tăng quang hợp thời kỳ sau trỗ (Phạm Văn Cường và cs, 2005) [4] Quang hợp giữ một vị trí ñặc biệt quan trọng trong sự tạo thành năng suất lúa Vấn ñề ñặt ra là muốn cho cây quang hợp mạnh thì cần ñiều chỉnh cho nó có một bộ lá tối ưu, diện tích quang hợp lớn
mà không che phủ lẫn nhau, hàm lượng diệp lục trong lá cao Vì vậy phải có chỉ số diện tích lá (LAI) (m2 lá/m2 ñất) thích hợp [3]
Khi nghiên cứu về bộ lá lúa của một giống cần quan tâm ñến một số
Trang 28ñặc ñiểm hình thái cơ bản: góc ñộ lá ñòng, chiều dài, chiều rộng lá, màu sắc phiến lá, ñộ tàn lá… Bộ lá dày, cứng và góc ñộ tương ñối hẹp tạo ñiều kiện nâng cao mật ñộ gieo cấy ñồng thời ánh sáng mặt trời vẫn có thể chiếu sâu qua các tầng lá ñến gốc, kích thích quá trình ñẻ nhánh, hạn chế sâu bệnh và làm tăng diện tích lá
1.3.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Năng suất ñược cấu thành bởi ba yếu tố, ñó là: số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt Trong cả ba yếu tố trên thì số bông trên ñơn vị diện tích có tính quyết ñịnh và hình thành sớm nhất, yếu tố này phụ thuộc vào mật ñộ cấy, khả năng ñẻ nhánh và khả năng chịu phân bón (ñặc biệt
là phân ñạm) [ 8] ðồng thời số bông/m2 cũng là yếu tố tương ñối dễ ñiều chỉnh hơn so với hai yếu tố còn lại, số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt ñược kiểm soát chặt chẽ bởi yếu tố di truyền Về nguyên tắc thì mật ñộ gieo cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất ñịnh, việc tăng số bông không làm giảm số hạt/bông, nếu vượt quá giới hạn ñó thì số hạt/bông bắt ñầu giảm ñi vì lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông Theo ðinh Văn Lữ 1978, khi tăng số bông ñến một phạm vi mà số hạt chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì ñạt năng suất cao, nếu số bông tăng quá cao thì số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều làm cho năng suất giảm [16]
Các kết quả nghiên cứu cho thấy số bông có quan hệ nghịch với số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt Số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt có mối quan hệ thuận với nhau [19]
Số hạt/bông phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh, lượng phân bón và kỹ thuật bón phân Xét theo khía cạnh cấu trúc, nó phụ thuộc vào số gié, số hoa phân hoá cũng như thoái hoá Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực (từ làm ñòng ñến trỗ) Số hạt/bông nói lên sức chứa của cây, sức chứa phải tương ứng với nguồn Nguồn lớn và sức chứa nhỏ gây ra hiện tượng vẹo hạt, sức chứa lớn mà nguồn nhỏ thì tỷ lệ hạt lép
Trang 29cao Vì vậy nâng cao số hạt/bông thì các nhà chọn giống phải chú ý ựến khả năng quang hợp của cây [23]
Tỷ lệ hạt chắc là một trong những yếu tố cấu thành năng suất, giống
có tỷ lệ hạt chắc cao sẽ cho năng suất cao và ngược lại Tỷ lệ hạt chắc ựược quyết ựịnh trực tiếp bởi 3 thời kỳ là: thời kỳ giảm nhiễm, trỗ và chắn để có tỷ
lệ hạt chắc cao phải bố trắ thời vụ gieo cấy hợp lý, sao cho khi lúa làm ựòng, trỗ bông và chắn gặp ựược ựiều kiện ngoại cảnh thuận lợi và cây lúa phải ựược cung cấp ựầy ựủ dinh dưỡng cũng như chế ựộ nước hợp lý [8]
Khối lượng 1000 hạt: yếu tố này biến ựộng không nhiều do ựiều kiện dinh dưỡng và ngoại cảnh mà phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố giống Khối lượng 1000 hạt ựược cấu thành bởi 2 yếu tố: khối lượng vỏ trấu (thường chiếm khoảng 20%) và khối lượng hạt gạo (thường chiếm khoảng 80%) Vì vậy muốn khối lượng hạt gạo cao, phải tác ựộng vào cả 2 yếu tố này
Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là mối quan hệ giữa cá thể và quần thể Mối quan hệ này có 2 mặt, khi số bông tăng lên trong giới hạn nào ựó thì khối lượng bông giảm ắt nên năng suất cuối cùng tăng Nhưng nếu số bông tăng lên quá cao, làm cho khối lượng bông giảm nhiều lúc ựó năng suất sẽ giảm để có ruộng lúa năng suất cao thì giữa các yếu tố cấu thành năng suất phải có sự cân bằng thắch hợp Có thể ựiều chỉnh cân bằng ựó thông qua các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý ựể thu ựược năng suất cao nhất
1.3.6 Di truyền về tắnh chống chịu của cây lúa
Sâu, bệnh là hai kẻ thù làm giảm ựáng kể ựến năng suất và phẩm chất nông sản nói chung và trên cây lúa nói riêng Theo FAO, trung bình thiệt hại
do sâu bệnh ựã làm giảm ựến 20-30% tiềm năng năng suất, có những nơi tỷ lệ này còn chiếm cao hơn
Việt Nam là nước có khắ hậu nhiệt ựới nóng ẩm mưa nhiều, ựây là ựiều kiện rất thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển ựồng thời cũng là
Trang 30ñiều kiện thích hợp cho nhiều ñối tượng sâu bệnh gây hại Theo Hồ Khắc Tín (1992) [21], trung bình hàng năm ở nước ta sâu, bệnh làm thiệt hại tới 26,7% năng suất cây trồng Hà Quang Hùng (1998) cho rằng: nước ta hàng năm có khoảng 30 vạn ha lúa (chiếm 30% diện tích gieo trồng) bị sâu bệnh phá hại, riêng ở Miền Bắc sâu bệnh làm tổn thất khoảng 1,2 triệu tấn thóc [.3]
Những năm gần ñây IRRI và một số các nước phát triển ñã lập ñược bản ñồ gen và dùng phương pháp PCR ñể phát hiện chọn lọc những gen chống bệnh bạc lá của lúa, trên cơ sở ñó có thể ñiều tra phát hiện nhiều gen chống bệnh khác nhau trên cùng một giống một cách chính xác
Theo Phan Hữu Tôn (2000) dùng phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) ñã phát hiện và chọn lọc những gen chống bệnh ở lúa trong
ñó có bệnh bạc lá Qua nghiên cứu 145 giống lúa ñịa phương cho thấy có 12 giống chứa gen Xa-5 và không có giống nào chứa gen Xa13 và Xa21.[22]
b) Di truyền tính chống chịu sâu ñục thân
Trên thế giới sâu ñục thân xuất hiện ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn ðộ, Philipin, Malaysia, Sri Lanca, Indonesia Ở nước ta sâu ñục thân có ở hầu hết các vùng trồng lúa khắp cả nước Hàng năm có 5-6 lứa sâu ñục thân, ñây là loài sâu nguy hiển, nó gây hại chủ yếu vào thời kỳ làm ñòng ñến trỗ bông của hầu hết các trà lúa, làm giảm năng suất
Trang 31rất lớn và là ñối tượng sâu hại rất khó phòng trừ Biện pháp chủ ñộng nhất là chọn tạo ra những giống lúa ngắn ngày ñể thuận tiện cho việc bố trí thời vụ lúa trỗ tránh ñược cao ñiểm gây hại của sâu Chọn tạo ra giống có khả năng chống chịu sâu ñục thân
Nghiên cứu của Gootavandos (1925) và Shoki (1978) ñã chứng minh rằng những giống có râu mẫn cảm với sâu ñục thân hơn giống không có râu Theo Turat (1974) cho rằng thân lúa cao, ñẻ khoẻ, lá dài và rộng mẫn cảm hơn với sâu ñục thân.[3]
Hai tác giả Stana Kinijob và Pathak (1979) ñã ñưa ra mối tương quan thuận giữa chiều cao cây, chiều dài lá ñòng, chiều rộng lá ñòng và ñộ lớn ñường kính thân với tính mẫn cảm sâu ñục thân Còn mức ñộ ráp của bẹ lá, mức ñộ cuốn chặt lấy thân của bẹ lá có mối tương quan nghịch với tính mẫn cảm sâu ñục thân Theo Yoshida (1979) hàm lượng silic trong cây càng cao thì tính mẫn cảm với sâu ñục thân càng giảm và có khả năng chống chịu sâu ñục thân [25]
1.3.7 Các chỉ tiêu ñánh giá và tình hình nghiên cứu chất lượng lúa gạo
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến chất lượng gạo nhưng nổi bật nhất là: ảnh hưởng của yếu tố giống, ñiều kiện môi trường sinh thái, kỹ thuật canh tác
và các công ñoạn sau thu hoạch, bảo quản Trong các yếu tố trên thì giống là yếu tố tiên quyết, ảnh hưởng nhiều nhất
a, Chất lượng xay xát
Chất lượng xay xát ñược xem xét ở 2 chỉ tiêu chủ yếu là tỷ lệ gạo xát
và tỷ lệ gạo nguyên Xay xát thóc thực chất là quá trình loại bỏ trấu, phôi và
vỏ cám Khi loại bỏ các bộ phận này hàm lượng cellulose và lipid sẽ bị giảm
rõ rệt Loại bỏ cellulose sẽ làm tăng tỷ lệ tiêu hoá còn khi bỏ lipid sẽ làm tăng khả năng bảo quản gạo Thóc có chất lượng xay xát tốt là thóc sau khi xát cho
tỷ lệ % tổng số gạo và gạo nguyên hạt cao Tỷ lệ gạo nguyên là tính trạng di truyền bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường, ñặc biệt là nhiệt ñộ và ẩm ñộ
Trang 32trong suốt thời gian lúa chín ñến thu hoạch [6] Tỷ lệ vỏ trấu trung bình từ 20-22% và có thể thay ñổi từ 16-26%, cám và phôi hạt chiếm 10% Do ñó tỷ
lệ gạo trắng thường ở khoảng 70% Theo tiến sĩ Ngô Quốc Trung, 2007, hàm lượng trấu của lúa Việt Nam rải rộng trong khoảng 18,18-26,9 % Các giống lúa ở miền Nam gieo trồng trong vụ hè thu có hàm lượng vỏ trấu gấn như nhau, các giống lúa gieo trồng vụ Xuân hẻ có hàm lượng trấu cao nhất.[3]
Kích thước hạt, dạng hạt và ñộ bạc bụng là những yếu tố ảnh hưởng nhiều ñến chất lượng gạo xay xát
Kích thước hạt:
Nghiên cứu của Yadav, 1989 cho thấy tỷ lệ gạo nguyên có mối tương quan nghịch với chỉ số dài/rộng hạt gạo Hạt càng nhỏ, dài và ñộ bạc bụng càng cao thì tỷ lệ gạo nguyên càng thấp (Lê Doãn Diên, 1990) [5] Chiều dài
và ñặc tính hình thái hạt di truyền ñộc lập với nhau và có thể ñược kết hợp với các tính trạng phẩm chất như hàm lượng amylose, hoặc kiểu cây, hoặc thời gian sinh trưởng (Jenning và ctv, 1979) [31] Tính trạng chiều dài hạt rất ổn ñịnh và rất ít bị ảnh hưởng bởi môi trường, nó ñược ñiều khiển bởi ña gen ( Somrith, 1974) Thị hiếu người tiêu dùng về hình dạng hạt rất khác nhau, có nơi thích hạt hạt trọng, có nơi thích dạt trung bình nhưng có nơi thích hạt thon dài Nhưng nhìn chung hạt thon dài là ñược ưa chuộng nhiều nhất trên thị trường quốc tế [3]
ðộ bạc bụng
ðộ trong suốt của hạt gạo tuỳ thuộc vào tính chất của phôi nhũ, mức
ñộ bạc bụng với vết ñục xuất hiện ở trên lưng, bụng hoặc ở trung tâm hạt gạo (gạo hạt lựu) Dẫn theo Nguyễn ðức Trí: Tinh bột ở vùng bạc bụng xuất hiện rời rạc có cấu trúc kém chặt chẽ hơn vùng trong suốt nên nó tạo ra các khe hở chứa không khí giữa các hạt trung bình (Del Rosario và CTV, 1968) Mặc dù
ñộ bạc bụng không ảnh hưởng gì ñến phẩm chất cơm, nhưng ảnh hưởng ñến thị hiếu của người tiêu dùng Người tiêu dùng thích hạt gạo có nội nhũ trong
Trang 33và trả giá cao hơn cho những loại gạo này (Khush và CTV, 1979).[3]
ðộ bạc bụng của nội nhũ chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, ngoài
ra còn chịu sự tác ñộng của ñiều kiện môi trường Trong những nghiên cứu về
di truyền ñộ bạc bụng của gạo Ấn ðộ và Mỹ, người ta nhận thấy ñộ bạc trắng
ở trung tâm hạt do gen lặn wc và ñộ bạc trắng ở bụng hạt do gen lặn wb ñiều khiển Người ta thấy rằng ñó là một tính trạng bị ảnh hưởng bởi tương giữa gen và môi trường [13] ðộ bạc bụng của hạt gạo ñược ñiều khiển bởi ña gen
và ña gen này có ảnh hưởng tương hỗ và phụ thuộc vào ñiều kiện ngoại cảnh (Lê Doãn Diên, 1995) [5] ðiều kiện môi trường chủ yếu ảnh hưởng ñến ñộ bạc bụng là nhiệt ñộ sau khi trỗ, nhiệt ñộ cao làm tăng ñộ bạc bụng, nhiệt ñộ thấp làm giảm hoặc mất ñộ bạc bụng Phơi thóc làm giảm ñộ ẩm từ từ hạt gạo
sẽ trong hơn, ít bạc bụng hơn so với phơi thóc giảm ñộ ẩm ñột ngột (Bùi Chí Bửu và CS, 1996) [2]
Theo Ngô Quốc Trung (2007), ñộ trong suốt của gạo Việt Nam ở dải rộng từ gần trong suốt ñến bạc bụng Các giống lúa miền Nam có tỷ lệ gạo trong suốt cao và tương ñối ñồng ñều, các giống lúa miền Bắc chủ yếu có ñộ trong suốt trung bình ñến bạc bụng (`1-9 ñiểm) Các giống lúa gieo trồng vụ hè thường có ñộ trong suốt thấp hơn các giống trồng trong vụ thu, ñông xuân [13]
b, Chất lượng thương phẩm
Chất lượng thương phẩm là tiêu chuẩn dùng ñể mua bán, trao ñổi trong nước và quốc tế Chất lượng thương phẩm căn cứ vào hình dạng, chiều dài, chiều rộng, ñộ bóng, ñộ trong ñộ bạc bụng và màu sắc hạt gạo Hạt gạo càng dài, càng trong (ñộ bạc phấn càng thấp) thì càng ñược ưa chuộng trên thị trường
Theo ñánh giá của IRRI về phân loại chất lượng theo chỉ tiêu hình dạng và kích thước hạt theo hạt gạo xay: loại rất dài >7,5mm; loại dài từ 6,61-7,5mm; loại trung bình: 5,51-6,60; loại ngắn <5,50mm Dạng hạt ñược ñánh giá theo tỷ lệ dài/rộng (D/R): hạt thon D/R >3,0; trung bình có D/R khoảng
Trang 342,1-3,0; hạt bầu có D/R khoảng 1,1-2,0; hạt tròn có D/R<1,1
Hình dạng hạt là kết quả của mối quan hệ giữa chiều dài, chiều rộng
và ñộ dày hạt gạo Những ñặc ñiểm này là thuộc tính của giống và ñược di truyền trung gian giữa bố và mẹ ( Vỉmani, 1994) [34] Theo Nguyễn Thị Trâm ( Nguyễn ðức Khanh trích dẫn) , hình dạng hạt gạo là ñặc tính của giống tương ñối ổn ñịnh, ít bị thay ñổi do ñiều kiện ngoại cảnh Tuy nhiên, nếu sau khi nở hoa mà nhiệt ñộ hạ xuống có thể làm giảm chiều dài nhưng không nhiều Nếu những cá thể có hình dạng hạt ñẹp ở F2 thì ít biến ñổi ở các thế hệ sau Vì vậy, trong các quần thể từ F3 hay các dòng thuần không có hy vọng chọn lọc ñược dạng hạt ñẹp hơn F2 hoặc nguyên bản [13]
Chiều dài và hình dạng hạt di truyền ñộc lập nên có thể tổ hợp hai tính trạng ñó vào một giống Không có sự khác biệt di truyền nào gây cản trở sự tái
tổ hợp của tính trạng hạt thon dài với các tính trạng ñộ trong, ñộ bạc bụng, hàm lượng amylose trong nội nhũ, kiểu cây, thời gian sinh trưởng và năng suất
ðộ trong của gạo di truyền ñộc lập với các tính trạng nông sinh học khác nên có thể dùng các phương pháp lai hữu tính ñể tạo năng suất cao lại vừa có hạt gạo trong [11]
Sở thích của người tiêu dùng khác nhau khá rõ giữa các vùng, các quốc gia cho nên tiêu chuẩn ñánh giá chiều dài và hình dạng hạt thay ñổi giữa các quốc gia và dân tộc Nhóm dân cư ở vùng trồng lúa Japonica hạt dài trung bình, các nước Châu Á thích hạt gạo dài và rất dài như Thái Lan, Hông Kông
và một số nước Châu Mỹ Những vùng trồng lúa cạn như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên Việt Nam thì người tiêu dùng lại thích hạt gạo to, bầu [18]
c) Chât lượng dinh dưỡng
So với cây trồng ñược coi là cây lương thực nuôi sống con người thì lúa gạo có hàm lượng protein trong hạt ít hơn, chỉ khoảng 7-8% Tuy nhiên lúa gạo lại cung cấp 40-80% lượng calo và 40-50% lượng protein trong khẩu phần dinh dưỡng của con người Protein của gạo là loại protein có giá trị dinh
Trang 35dưỡng cao nhất so với tất cả các loại ngũ cốc khác Nó ựược ựặc trưng bởi tắnh dễ ựồng hóa, sự cân bằng về các loại aminoacid và có mặt ựủ 8 aminoacid không thay thế cũng như các loại vitamin và khoáng chất
d) Chất lượng nấu nướng và ăn uống
Bên cạnh những chỉ tiêu về xay xát, thương phẩm thì các chỉ tiêu về chất lượng ăn uống và nấu nướng cũng rất cần thiết trong kinh doanh và sử dụng Chất lượng nấu nướng và ăn uống ựược ựánh giá thông qua các chỉ tiêu
về nhiệt ựộ hóa hồ, hàm lượng amylose, hương thơm và các chỉ tiêu phẩm chất cơm như ựộ dắnh, ựộ dẻo, ựộ mềm
Sản phẩm chắnh của lúa gạo là cơm, tắnh ngon miệng của cơm ựược quyết ựịnh do yếu tố vật lý là dẻo, ựộ mềm của cơm và yếu tố hóa học là mùi thơm (Nguyễn Văn Hiển, 1992) [9]
Mùi thơm
Mùi thơm là một chỉ tiêu rất quan trọng khi ựánh giá chất lượng gạo Khi nấu cơm mùi thơm bốc lên cho thấy một hợp chất chắnh của formaldehydes và hydrogen sulffide Mùi thơm có thể ựược ựánh giá tại 3 thời ựiểm: trên lá,trên hạt gạo lật và trên cơm khi nấu Theo ựó người ta chia thành 3 nhóm giống theo mức khác nhau là không thơm, hơi thơm và thơm [18]
Gen ựiều khiển tắnh trạng thơm của hạt gạo ựã ựược nghiên cứu và ựưa ra nhiều kết luận khác nhau Theo Nguyễn Xuân Lý trắch dẫn thì Raniah
và Rao (1953) cho rằng hương thơm ở gạo có ựược nhờ sự tương tác của nhiều gen, vì vậy khi phân tắch con lai F2 thu ựược các tỷ lệ phân ly khác nhau 9:7, 15:1, 13:3 Nagaraju và cộng sự (1975), Raghuram Redy và cộng sự (1981) thì cho rằng hương thơm ựược kiểm soát bởi sự có mặt của ựồng thời 3 gen trội bổ sung và có tác dụng ngay từ thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Sood
và Siddig (1978), Trần đình Long và Hoàng Văn Phần (1996) quan sát thấy tắnh thơm do cặp gen lặn ựiều khiển hoạt ựộng ở cả lá và hạt Còn Tomar, Nanda (1983) cho rằng tắnh thơm ựược kiểm tra bởi 2 hoặc 3 cặp gen [15]
Trang 36Tắnh trạng mùi thơm rất dễ bị thay ựổi bởi ựiều kiện môi trường Mùi thơm của Basmati (Ấn độ) cần nhiệt ựộ lạnh của môi trường gieo trồng Mùi thơm của Khao dawkmali và các giống lúa thơm cổ truyền Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi ựiều kiện ựất ựai như Nàng thơm chợ đào chỉ duy trì mùi thơm khi trồng ở chợ đào (Long An), Tám thơm chỉ thắch hợp khi trồng ở ựồng bằng sông Hồng và sẽ mất mùi khi trồng ở ựồng bằng sông Cửu Long Tuy vậy người ta vẫn chưa xác ựịnh rõ nguyên nhân Khai thác tắnh trạng thơm của các giống cổ truyền vẫn là hướng ưu tiên trước mắt Cải tiến dạng hình cây lúa bằng phương pháp chọn dòng thuần ựã ựược áp dụng thành công
ở Việt Nam ựối với một số giống như: nàng hương, tám xoan (thập kỷ 1990) (Bùi Chắ Bửu và cs, 1995) [2]
Amylose
Hàm lượng amylose ựược coi là chỉ tiêu quan trọng bậc nhất ựể xác ựịnh chất lượng nấu nướng và ăn uống của gạo Dựa vào hàm lượng amylose trong nội nhũ Các giống lúa ựược phân thành 2 nhóm waxy (gạo nếp) và nonwaxy (gạo tẻ) Trong nhóm nonwaxy chia thành 3 nhóm nhỏ: hàm lượng amylose thấp (10-20%), hàm lượng amylose trung bình (20-25%) và hàm lượng amylose cao (>25%) [2] Hàm lượng amylose cao hay thấp quyết ựịnh ựến chất lượng cơm dẻo, mềm hay cứng Các giống có hàm lượng amylose trung bình cho cơm mềm, các giống có hàm lượng amylose cao thì cơm cứng hoặc rất cứng
Theo Vũ Văn Liết và cộng sự (1995) [14] thì hàm lượng amylose có tương quan chặt chẽ với ựặc ựiểm nông sinh học của giống lúa như: chiều cao cây, chiều dài bông, khối lượng 1000 hạt Hàm lượng amylose thấp có tỷ lệ gạo gẫy tăng, ựộ nở thấp, ựộ chắn và ựộ dẻo cao Những giống lúa có tỷ lệ dài/rộng cao thì hàm lượng amylose 20% và gạo gẫy cao Và cho ựến nay thì việc nghiên cứu về di truyền hàm lượng amylose vẫn chưa có kết quả chắnh xác Theo Jenning và cộng sự (1979) thì cho rằng do một cặp gen ựiều khiển
và hàm lượng amylose là trội hoàn toàn so với hàm lượng amylose trung bình
Trang 37và thấp Hàm lượng amyose trung bình và thấp ñược ñiều khiển bởi ñơn gen tác ñộng chính và một số gen nhỏ cũng tác ñộng tính trạng này [31]
Còn theo như B Somrith (Nguyễn ðức Trí trích dẫn) phân loại các giống lúa gạo dựa trên hàm lượng amylose và phẩm chất cơm thì chia thành: loại gạo dính có hàm lượng amylose từ 0-2% cho chất lượng cơm dẻo; hàm lượng amylose thấp <19% cho chất lượng cơm dẻo; loại hàm lượng amylose trung bình từ 19-25% cho chất lượng cơm mềm và loại có hàm lượng amylose cao từ 25-33% cho chất lượng cơm khô và cứng [3]
Nhiệt hóa hồ
Nhiệt ñộ hóa hồ là một tính trạng biểu thị nhiệt ñộ cần thiết ñể gạo hóa thành cơm và không hoàn nguyên (Trần Chí Bửu, Nguyễn Thị Lạng, 2002) [2] Nhiệt ñộ hóa hồ liên quan một phần với hàm lượng amylose của tinh bột Gạo có nhiệt ñộ trở hồ cao thì có phẩm chất nấu kém (Jenning và cs, 1979) [31] Trong các giống lúa có cùng hàm lượng amylose, hình dạng và kích thước thì giống nào có nhiệt ñộ trở hồ trung bình ñược ưa thích hơn
Dựa trên nhiệt ñộ hóa hồ người ta có thể chia gạo của các giống lúa khác nhau thành các loại sau ñây: giống có nhiệt ñộ hóa hồ thấp (<69 oC), giống có nhiệt ñộ hóa hồ trung bình (70-74oC) và giống có nhiệt ñộ hóa hồ cao (>74 oC) Các giống thuộc nhóm Japonica thì thường có nhiệt ñộ hóa hồ
từ thấp ñến trung bình Còn các giống lúa Indica, con lai giữa Indica và Japonica thường có nhiệt ñộ hóa hồ cao
Quá trình nghiên cứu về nhiệt ñộ hóa hồ cho những kết quả khác nhau như: nhiệt ñộ hóa hồ ñược ñiều khiển bởi một gen ( IRRI, 1979; Choi và ctv, 1980); do một gen chính và vài gen phụ bổ sung kiểm soát (Kahlon, 1965; Heu và Choi, 1973; Heu và Park, 1976); hay do 2 gen lặn ñiều khiển (Chen và ctx, 1997) Ngoài ra cũng có ý kiến do ña gen kiểm soát (Heda và Redy, 1986) Còn nếu trên khía cạnh mức trội – lặn của tính trạng nhiệt ñộ hóa hồ cao – thấp cũng có những ý kiến trái ngược nhau: nhiệt ñộ hóa hồ cao là trội
Trang 38không hoàn toàn so với nhiệt ñộ hóa hồ thấp (Ghosh và Govindaswamy, 1972; IRRI, 1976); nhiệt ñộ hóa hồ cao là trội hoàn toàn so với nhiệt ñộ hóa
hồ thấp (Heu và Choi, 1973; Heu và Park, 1976) và nhiệt ñộ hóa hồ cao lặn so với nhiệt ñộ hóa hồ thấp (Choi và ctv, 1980) [19]
1.4 Những nghiên cứu trong lĩnh vực chọn tạo giống
1.4.1 Vai trò của giống mới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống ñóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất và sản lượng của cây trồng Mỗi loại giống cây trồng ñều có những ñặc tính khác nhau về ñặc tính nông sinh học, sinh trưởng phát triển và chất lượng
Những sự thay ñổi về khí hậu, ñất, nước ảnh hưởng rất lớn ñến năng suất Có sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường, kiểu gen tốt chỉ ñược biểu hiện trong một phạm vi nhất ñịnh của môi trường Chính vì vậy ñánh giá tính
ổn ñịnh và thích nghi của giống với môi trường thường ñược sử dụng ñể ñánh giá giống Giống lúa mới ñược coi là giống lúa tốt thì phải có ñộ thuần cao, thể hiện ñầy ñủ các yếu tố di truyền của giống ñó, khả năng chống chịu tốt các ñiều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, ñồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn ñịnh qua nhiều thế hệ Giống ñóng vai trò ñặc biệt quan trọng, là yếu tố tiên quyết trong việc làm tăng năng suất, tăng sản lượng và hạ giá thành sản phẩm
Ngày nay với kỹ thuật sinh học phát triển mạnh, con người ngày càng can thiệp sâu hơn, thúc ñẩy nhanh quá trình chọn tạo giống mới có lợi cho mình bằng các phương pháp tạo giống như: lai hữu tính, xử lý ñột biến, ñặc biệt là kỹ thuật di truyền ñã và ñang ñóng góp có hiệu quả vào việc cải tiến giống lúa Việc sử dụng các giống lúa ngắn ngày ñã cho phép gieo trồng nhiều vụ trong năm, bố trí thời vụ gieo cấy [13]
Trong ñiều kiện ñất nước ta còn nghèo việc áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất nông nghiệp là rất quan trọng, sản xuất lai tạo giống tốt
Trang 39là biện pháp ít tốn kém mang lại hiệu quả cao nhất so với các biện pháp kỹ thuật khác Tạo những giống ngắn ngày năng suất cao phẩm chất tốt là vấn ñề cấp bách của ñất nước hiện nay ðinh Văn Lữ (1978) [16] cho rằng công tác lai tạo lúa ngắn ngày năng suất cao kháng sâu bệnh ñã nâng cao năng suất ñáng kể trên một số diện tích trồng lúa ở nước ta Sự ñóng góp của giống mới
ñã làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển.Trích dẫn theo Nguyễn Xuân Lý: Theo Gulinep-Gujop (1965) “Năng suất ngũ cốc trên thế giới có tăng hơn 40% là do việc chọn lọc, lai tạo và cải thiện giống”; Theo kết quả thí nghiệm của I Shizuka (1969) cho thấy rằng: các giống lúa mới sản lượng ñã tăng 50 –
60 % so với các giống cổ truyền Chandra Mohan (1984) thì cho rằng giống là yếu tố then chốt cho năng suất cao nhưng năng suất cao chỉ ñạt khi nào giống
có tiềm năng năng suất cao Giống là sản phẩm của sức lao ñộng của con người là tư liệu sản xuất và là một trong những yếu tố quyết ñịnh trong việc tăng năng suất Cuộc cách mạng xanh trong vùng nhiệt ñới ñã ñược ñánh dấu bằng những giống lúa năng suất cao Trong những năm ñầu của thập niên
1960 chỉ có ít chuyên gia chú ý tới việc chọn giống, nhưng sự ra ñời của các giống lúa cải tiến ñã thay ñổi tình thế ñó [15]
Trong sản xuất nông nghiệp các ñiều kiện tự nhiên cũng làm ảnh hưởng ñến năng suất và phẩm chất của cây trồng nhất là tình hình sâu bệnh, vì vậy vấn ñề tạo ra giống mới thích nghi với ñiều kiện tự nhiên ở ñịa phương, kháng ñược một số sâu bệnh phổ biến và có phẩm chất tốt thì rất cần thiết ñể ñảm bảo năng suất ñáp ứng nhu cầu lương thực của nhân dân trong nước và trên thế giới Giống là sản phẩm sức lao ñộng sáng tạo của con người và là một trong những phương tiện tư liệu sản xuất của nông nghiệp rất quan trọng Ngày nay, với phong trào thâm canh tăng năng suất lúa, bằng biện pháp áp dụng giống mới ñưa vào trong sản xuất ñã là gia tăng sản lượng, nâng cao chất lượng nông sản, tăng sức chống chịu với sâu bệnh, giúp ta tăng ñược nhiều vụ lúa trong năm, giống mới chống chịu ñược những ñiều kiện bất lợi
Trang 40của môi trường như: chịu phèn, chịu mặn, chịu hạn, ngập úng v.vẦ tạo ra khả năng cơ giới hoá trong gieo trồng và thu hoạch Vì vậy, giống là phương tiện ựể tăng năng suất, chúng ta muốn tăng năng suất không có con ựường nào khác bằng con ựường làm cách mạng giống tắch cực
Ở miền Bắc Việt Nam ựã sử dụng bộ giống lúa ngắn ngày trong vụ Mùa ựể mở rộng diện tắch cây vụ đông, cũng với giống lúa ngắn ngày gieo cấy vụ Xuân muộn nhằm kéo dài thời gian sản xuất cây vụ đông đây là hướng tận dụng tốt nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên (bức xạ mặt trời, ựất ựai, nguồn nướcẦ) Nghiên cứu vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp cho thấy: Giống luôn là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất, tăng sản lượng
và hạ giá thành sản phẩm Chắnh vì vậy, người dân ựúc kết "nhất giống" ựã nói nên ựược vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp
1.4.2 Các hướng chọn tạo giống có kiểu cây mới
Theo Gupta.P.C và Otoole.J.C, 1976 [26] phương hướng chọn tạo giống lúa thay ựổi tuỳ theo vùng sinh thái khác nhau nhưng các nhà chọn giống hiện nay có phương hướng chung như sau:
- Năng suất cao, ổn ựịnh
- Có nhiều dạng hình phong phú, thắch nghi với từng ựiều kiện sinh thái
cụ thể của vùng
- Chiều cao cây trung bình (110-130 cm), khả năng ựẻ nhánh khá từ 3-4 dảnh/khóm lên dần tới 20 dảnh/khóm
- Thân cứng, chống ựổ tốt
- Có ựặc ựiểm về chất lượng hạt phong phú
- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông trong ựiều kiện sinh thái thuận lợi
- Mạ khoẻ, bộ rễ khoẻ, ăn sâu
- Tỷ lệ hạt lép thấp, hạt chắc nhiều, hạt ựều, chắn tập trung
- Phản ứng với quang chu kỳ ở các mức ựộ khác nhau