Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng viết tắt như công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Kim Thản 1968, 1982; Trịnh Liễn 1978
Trang 1LÊ TUẤN ANH
TÌM HIỂU HIỆN TƢỢNG VIẾT TẮT
TRÊN BÁO NHÂN DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Thái Nguyên, 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ TUẤN ANH
TÌM HIỂU HIỆN TƯỢNG VIẾT TẮT
TRÊN BÁO NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thị Vân
Thái Nguyên, 2011
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ TUẤN ANH
TÌM HIỂU HIỆN TƯỢNG VIẾT TẮT
TRÊN BÁO NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thị Vân
Thái Nguyên, 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
ở bất kì công trình nào khác
Tác giả
LÊ TUẤN ANH
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1 Một số vấn đề lý luận về viết tắt 11
1.1.1 Khái niệm chữ tắt 11
1.1.2 Phân loại phương tiện viết tắt (chữ tắt) 14
1.1.3 Cách thức viết tắt 26
1.2 Sơ lược về âm tiết, chữ viết và chính tả tiếng Việt 29
1.2.1 Khái niệm âm tiết, âm tiết tiếng Việt 29
1.2.2 Chữ viết và chính tả tiếng Việt 31
1.3 Tiểu kết: 33
Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT TẮT TRÊN BÁO NHÂN DÂN 34
2.1 Đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân 34
2.1.1 Khái niệm đối tượng viết tắt 34
2.1.2 Nhận xét chung 34
2.1.3 Phân loại và miêu tả đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân theo ngữ liệu đã thống kê 38
2.2 Chữ tắt trong báo Nhân Dân 55
2.2.1 Khái niệm chữ tắt 55
2.2.2 Nhận xét chung 56
2.2.3 Phân loại và miêu tả các loại chữ tắt trên Báo Nhân dân 57
Trang 52.2.3.4 Các kiểu chữ tắt được phân loại theo thứ tiếng 71
2.3 Ưu điểm và hạn chế của việc viết tắt trên báo Nhân dân, một số kiến nghị 75
2.3.1 Ưu điểm và hạn chế của việc viết tắt trên báo Nhân dân 75
2.3.2 Một số kiến nghị về việc viết tắt trên báo Nhân dân 78
2.4 Tiểu kết 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Bảng tổng kết số lượng đối tượng viết tắt và tần số sử dụng trên
01 số báo Nhân dân 37
Bảng 2.2: Bảng tổng kết bình quân số lượt sử dụng của 01 đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân 38
Bảng 2.3: Bảng tổng kết số lượng các loại đối tượng viết tắt (ĐTVT) trên báo Nhân dân theo số liệu đã thống kê (số lượng và tỉ lệ phần trăm tính theo số ĐTVT đã thống kê: 2167) 47
Bảng 2.4: Bảng tổng kết tần số sử dụng của ĐTVT ( số lượng và tỉ lệ phần trăm tính theo số lượt sử dụng của ĐTVT: 2846) 48
Bảng 2.5: Bảng tổng kết các loại đối tượng viết tắt được phân loại theo độ dài (dựa vào số lượng kí tự) 50
Bảng 2.6: Bảng tổng kết đối tượng viết tắt là tiếng Việt 51
Bảng 2.7: Bảng phân loại ĐTVT là tiếng nước ngoài 53
Bảng 2.8: Bảng phân loại ĐTVT là tiếng Việt+ tiếng nước ngoài 54
Bảng2.9: Bảng tổng kết các loại ĐTVT được phân loại theo thứ tiếng 55
Bảng 2.10: Bảng tổng kết sự tương ứng giữa chữ tắt và đối tượng viết tắt 57
Bảng 2.11: Bảng tổng kết số lượng bình quân lượt dùng của một chữ tắt 58
Bảng 2.12: Bảng tổng kết bình quân số lượt dùng của chữ tắt trên 1 số báo 58
Bảng 2.13: Bảng tổng kết các loại chữ tắt được phân loại theo độ dài (số lượng và tỉ lệ % tính theo số chữ tắt thống kê trong 9 số báo: 263) 59
Bảng 2.14: Bảng tổng kết độ dài của chữ tắt ( số lượng và tỉ lệ % tính theo số lượt dùng chữ tắt trên 9 số báo: 2244) 60
Bảng 2.14: Bảng tổng kết so sánh độ dài của chữ tắt và đối tượng viết tắt (Số kí tự của chữ tắt giảm so với số kí tự của đối tượng viết tắt) 61 Bảng 2.15: Bảng tổng kết số lượng các loại chữ tắt đơn thành tố 64
Bảng 2.16: Bảng tổng kết các kiểu chữ tắt đa thành tố 70
Bảng 2.17: Bảng phân loại các kiểu chữ tắt theo ngôn ngữ được dùng 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Chữ viết tắt (chữ tắt) là một dạng thường gặp trong các văn bản viết, kể cả những văn bản mang tính quy phạm như văn bản báo chí, văn bản hành chính công vụ hay văn bản không mang tính quy phạm như vở ghi bài giảng trên lớp của học sinh, sinh viên
Chữ viết tắt chỉ xuất hiện trong các ngôn ngữ thành văn Ngôn ngữ thành văn ngày càng phát triển, khối lượng chữ viết tắt càng lớn
1.2 Xã hội ngày càng phát triển, hàng loạt khái niệm mới, sự vật mới
ra đời đòi hỏi phải có tên gọi cho chúng, trong khi đó khả năng tạo lập ra các tên ngắn gọn của ngôn ngữ “ngày một giảm sút” (Như Ý – Mai Xuân Huy) Hơn nữa, tri thức con người tích lũy ngày một nhiều, nhu cầu thông tin của con người ngày càng tăng yêu cầu ngôn ngữ với tư cách là một phương tiện truyền tải thông tin cần phải hoàn thiện Con người luôn “phải tối ưu hóa ngôn ngữ của mình theo hướng tiết kiệm và hiệu quả cao, sao cho với một lượng kí hiệu tối thiểu, trong một thời gian tối thiểu, có thể nhận hoặc truyền được một lượng tri thức tối đa” (“Chữ viết tắt nước ngoài và Việt Nam” của hai đồng tác giả là Như Ý và Mai Xuân Huy, Nxb Khoa học Xã hội – H 1990
tr 7) Muốn vậy, phải nén thông tin vào ký hiệu để giảm độ dài của văn bản mang tin, mà trước hết phải rút ngắn độ dài của các đơn vị định danh bằng cách viết tắt
Viết tắt chẳng những “là một ứng xử thông minh của con người đối với ngôn ngữ” (Nguyễn Như Ý – Mai Xuân Huy) mà còn là phương thức làm giàu ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt “là một trong những con đường làm giàu vốn
từ vựng…” (Nguyễn Thiện Giáp)
Trang 81.3 Trong số các phương tiện thông tin đại chúng, báo Nhân dân là một trong những phương tiện truyền thông quan trọng Nó không chỉ là công
cụ để đưa thông tin, cụ thể là đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân mà nó còn là diễn đàn tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân Báo Nhân dân thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và ngược lại
Để kịp thời truyền đạt thông tin đến người đọc một cách nhanh nhất, cũng như một số báo khác, trong báo Nhân dân đã xuất hiện một khối lượng lớn các chữ viết tắt tiếng Việt và tiếng nước ngoài Các chữ viết tắt này rất đa dạng về ngữ nghĩa: chúng có thể là tên gọi các đơn vị hành chính, kinh tế hay tên các tổ chức chính trị - xã hội ở trong và ngoài nước, có thể là tên riêng của người hay của địa danh, của một tổ chức, v.v
1.4 Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng viết tắt, song có lẽ chưa có công trình nào tìm hiểu các chữ viết tắt trên báo Nhân dân một cách toàn diện
Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về viết tắt nặng về thống kê, miêu
tả các kiểu chữ tắt chứ chưa tìm hiểu việc sử dụng các kiểu đối tượng viết tắt trong báo Nhân dân như thế nào, nhất là chưa chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế của việc viết tắt ở đây hay làm thế nào để phương thức sử dụng ngôn ngữ này đạt hiệu quả cao nhất?
Chọn đề tài “Tìm hiểu hiện tượng viết tắt trên báo Nhân dân” để nghiên cứu, người viết muốn tìm hiểu việc sử dụng hiện tượng viết tắt trên văn bản báo chí hiện nay như thế nào, ưu điểm và hạn chế của việc viết tắt ở đây ra sao Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị cụ thể
Hy vọng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho những ai muốn tìm hiểu thêm về hiện tượng viết tắt trên văn bản báo chí nói chung và trong báo Nhân dân nói riêng
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Viết tắt là một phương thức sử dụng chữ viết mang tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ Viết tắt phản ánh quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ và như đã nói, chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ thành văn
Từ lâu, chữ viết tắt đã xuất hiện, có nơi, có lúc “bùng nổ”, dưới áp lực nhu cầu truyền đạt thông tin của xã hội Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng viết tắt như công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Kim Thản (1968, 1982); Trịnh Liễn (1978); Nguyễn Đức Dân (1978, 1991), Nguyễn Trọng Báu (1981,1982); Nguyễn Văn Tu (1982),…
Tiếp theo, cùng với sự phát triển phong phú của chữ viết tắt, đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng viết tắt trên các bình diện khác nhau, như: Phân loại các kiểu viết tắt, cấu tạo hình thức, cấu trúc ngữ nghĩa, nguồn gốc quy luật hoạt động … của hiện tượng viết tắt Trong số các công trình tiêu biểu này phải kể đến cuốn sách tra cứu “Chữ viết tắt nước ngoài và Việt Nam” của hai đồng tác giả là Như Ý và Mai Xuân Huy, Nxb Khoa học Xã hội-H 1990 Cuốn sách này đã thu thập khoảng 6000 (sáu nghìn) chữ viết tắt thông dụng nhất, tương đối ổn định, trong các thứ tiếng Anh, Đức, Pháp, Nga … và cả tiếng Việt, chủ yếu là các cơ quan, đoàn thể, tổ chức trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục, nghệ thuật, quân sự, y tế …
Có thể nói, đây là một “cẩm nang” cho người Việt Nam tra cứu các chữ viết tắt khi đọc tài liệu nước ngoài và tiếng Việt
Ngoài cuốn sách vừa dẫn, có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu
về hiện tượng viết tắt trong tiếng Việt sau đây:
- Đoàn Thiện Thuật, Ngữ âm tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐHQG, HN 2002: Trong công trình này, tác giả không bàn kĩ về hiện tượng viết tắt mà chỉ
Trang 10gián tiếp nói về hiện tượng này khi bàn đến chức năng khu biệt và vai trò của thành tố âm đầu trong âm tiết tiếng Việt Tác giả đã khẳng định “… gánh nặng chức năng lớn lao của âm đầu là cơ sở của việc viết tắt bằng các con chữ đầu âm tiết” Tác giả còn nói thêm: “Trong ghi chép, người ta có thể ghi cả
âm đầu và thanh điệu để nhận diện từ dễ dàng hơn…” (Tr 171)
Mặc dù không nói về cách viết tắt nhưng tác giả Đoàn Thiện Thuật cũng đã gợi ý cho người đọc về một số kiểu viết tắt trong tiếng Việt nói riêng
và trong một số ngôn ngữ nói chung, đó là: “viết tắt bằng các con chữ đầu âm tiết”, hay “trong khi ghi chép, người ta có thể ghi cả âm đầu và thanh điệu để nhận diện từ dễ dàng hơn …” (Tr 171)
- Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD, H.2002: Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã phân tích quá trình phát triển của vốn từ vựng tiếng Việt và coi “viết tắt là một trong những con đường làm giàu kho từ”
- Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển viết tắt chữ các tổ chức kinh tế -
xã hội Việt Nam, Nxb Thế giới, H.1994
- Nguyễn Hoàng Thanh, “Bước đầu khảo sát con đường hình thành, đặc điểm cấu trúc và hành chức của chữ tắt trong tiếng Việt”, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996
Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu khá công phu và kỹ lưỡng
về hiện tượng viết tắt trong tiếng Việt Ở công trình này, tác giả đã bàn đến ba vấn đề cơ bản của chữ tắt tiếng Việt, đó là:
+ Những con đường hình thành và phát triển chữ tắt trong tiếng Việt; + Đặc điểm cấu trúc chữ tắt tiếng Việt;
+ Đặc điểm hành chức chữ tắt tiếng Việt và vấn đề chuẩn hóa chữ tắt Cũng như các tác giả đã dẫn ở trên, tác giả Nguyễn Hoàng Thanh vẫn chưa đề cập đến vấn đề đối tượng viết tắt nói chung và vấn đề đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân nói riêng
Trang 11- Vũ Kim Bảng (chủ nhiệm đề tài), Nguyễn Đức Tồn, “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt”, Đề tài nghiên cứu khoa học Cấp Bộ, H.2011 Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã dành hẳn chương 3
để bàn về vấn đề chuẩn hóa tên tắt các tổ chức kinh tế và cơ quan, các tổ chức Chính phủ và Phi Chính phủ tại Việt Nam
Những vấn đề viết tắt được hai tác giả quan tâm là những tên tắt của các tổ chức kinh tế Việt Nam thuộc lĩnh vực công nghiệp về ba phương diện:
độ dài của tên tắt, cấu tạo của tên tắt, nguồn gốc của tên tắt
Có thể nói, đóng góp của công trình này là các tác giả đã liệt kê khá đầy đủ và phân loại tương đối tỉ mỉ các hiện tượng viết tắt trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, song còn có những trường hợp theo quan niệm của chúng tôi không phải là các “chữ tắt”, chẳng hạn, ở trang 131 tác giả cho CÔNG TI AN DÂN là các chữ tắt “Công ti An Dân” và lí giải đây là hiện tượng viết tắt theo kiểu “ lấy luôn tên đầy đủ bằng tiếng Việt của tổ chức làm tên tắt” (PTCT 6)
Tương tự, ở trang 142, các tác giả đã xếp vào kiểu “ lấy tên riêng làm tên tắt nhưng lấy chữ cái đầu và phần vần” để làm tắt tố cả những trường hợp như:
MAN DA CO (Công ty TNHH Mẫn Đạt); (1)
LA VIN ( Công ty TNHH Lân Vĩnh); (2)
HA SIN CO ( Công ty TNHH sản xuất thương mại cơ điện và điện
tử Hàn Sinh)(3)
Thực ra, tất cả ba trường hợp vừa dẫn đều không phải là kiểu viết tắt theo phương thức “lấy chữ cái đầu và phần vần” để cấu tạo tắt tố (chữ tắt) Trường hợp (1) chữ tắt được cấu tạo hỗn hợp giữa kiểu nguyên chữ kết hợp với chữ cái: “MAN” là giữ nguyên chữ đầu của tên riêng “Mẫn Đạt”, có lược bớt dấu thanh; “DA” là giữ chữ cái đầu và âm chính ( một bộ phận hạt nhân của phần vần ) Trường hợp (2) và (3) cũng chỉ là giữ chữ cái đầu của âm tiết
Trang 12cùng âm chính hoặc một phần của âm cuối làm tắt tố chứ không có trường hợp nào là “giữ chữ cái đầu và phần vần” (nếu chữ cái đầu là âm đầu của âm tiết) thì có lẽ cũng không thể gọi là viết tắt, vì như thế âm tiết vẫn giữ nguyên dạng ban đầu, chỉ thiếu thanh điệu – một loại âm vị siêu đoạn tính
Như vậy, vấn đề viết tắt trong công trình nghiên cứu của hai tác giả này tuy phần đóng góp là chủ yếu nhưng cũng còn những điểm còn phải bàn thêm
- Phạm Thị Thanh, “Tìm hiểu tình hình viết tắt khi ghi bài của sinh viên trường Đại học sư phạm Thái Nguyên”, Đề tài nghiên cứu khoa học, TN 2003
Khác với các công trình nghiên cứu dẫn trên, đây là công trình nghiên cứu về hiện tượng viết tắt trên văn bản không mang tính quy phạm Kiểu văn bản là những bài ghi lại bài giảng – ghi lại một văn bản nói – cho nên nó mang đậm dấu ấn cá nhân: cá nhân không chỉ thể hiện ở nội dung văn bản mà còn “cá nhân” ở cả cách thức trình bày, trong đó có vấn đề viết tắt
Ngoài việc thống kê các đối tượng và phân loại chúng, tác giả Phạm Thị Thanh còn liệt kê và phân loại các phương tiện viết tắt một cách khá tỉ mỉ Theo tác giả, có thể chia phương tiện viết tắt thành 4 kiểu, đó là: viết tắt bằng tiếng Việt; Viết tắt bằng ký hiệu quy ước; viết tắt bằng chữ / kí hiệu tiếng nước ngoài và viết tắt bằng cách phối hợp các phương tiện Điểm cần nói đến
ở đây là tác giả đã đưa cả ký hiệu thuần túy (của cá nhân hoặc quy ước của cộng đồng) vào đối tượng nghiên cứu – phương tiện viết tắt (hay còn gọi là chữ tắt), chẳng hạn như: > ( lớn hơn ), >< ( mẫu thuẫn), …, có coi những ký hiệu này là một dạng viết tắt chuẩn mực hay không có lẽ cũng cần phải bàn thêm, nhưng cũng phải ghi nhận đây cũng là một phát hiện riêng của tác giả
Tóm lại, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về viết tắt nói chung và viết tắt trong tiếng Việt nói riêng Song, có thể khẳng định đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về hiện tượng viết tắt trên báo Nhân dân Như đã nói ở phần mục đích nghiên cứu, chúng tôi chọn đề tài này để
Trang 13nghiên cứu không nhằm mục đích tìm ra các kiểu viết tắt mới mà mục đích chính là khảo sát thực trạng sử dụng lối viết tắt trên báo Nhân dân như thế nào Chúng đã thực sự đem lại hiệu quả thông tin như người viết báo mong muốn chưa
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện tượng viết tắt trên báo
Nhân dân, cụ thể đó là các chữ tắt và đối tượng viết tắt (tức phần từ ngữ
đầy đủ của chữ tắt)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi ngữ liệu khảo sát hiện tượng viết tắt: Ngữ liệu chính được chọn để khảo sát là 90 số báo Nhân dân, cụ thể là từ số 20210, ngày 1/1/2011 đến số 20296 ngày 31/3/2011
Ngoài ra, để có căn cứ đối chiếu hiện tượng viết tắt trên văn bản mang tính quy phạm ( ở đây là báo Nhân dân) và hiện tượng viết tắt không mang tính quy phạm, luận văn còn chọn 100 cuốn vở ghi bài giảng trên lớp của 100 sinh viên thuộc ba khoa: Ngữ văn, Địa lý và Toán học thuộc trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên
- Về phạm vi nội dung nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu đối tượng viết tắt và các chữ tắt trên báo Nhân dân về các phương diện sau đây:
Trang 14viên khi cần thiết để có thêm căn cứ kết luận về hiện tượng viết tắt trong các văn bản quy phạm, và trên cơ sở đó có những kiến nghị cụ thể về việc sử dụng các chữ hay ký hiệu viết tắt sao cho đạt hiệu quả nhất
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Cần phải nói ngay rằng, tìm hiểu hiện tượng viết tắt trên báo Nhân dân, luận văn không nhằm mục đích nghiên cứu để tìm ra những kiểu chữ tắt mới hay phương thức cấu tạo chữ tắt mới Nghiên cứu hiện tượng viết tắt trên báo Nhân dân ở đây nhằm ba mục đích:
- Biết được đối tượng viết tắt và chữ tắt thường dùng trên báo Nhân
dân về các mặt đã nói trong mục Phạm vi nghiên cứu để thấy được ưu điểm
và hạn chế của việc sử dụng hiện tượng viết tắt trên báo Nhân dân, từ đó có căn cứ để nêu một số kiến nghị
- Góp phần củng cố thêm về lý thuyết viết tắt, chẳng hạn như các cách viết tắt, phương tiện ngôn ngữ viết tắt, đối tượng viết tắt…
- Dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu về viết tắt trên báo chí nói chung và báo Nhân dân nói riêng hoặc có thể làm tài liệu tham khảo cho ai muốn sử dụng chữ viết tắt trong khi tạo lập văn bản viết
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu và xác định những vấn đề lý thuyết liên quan đến việc xử
lý đề tài, cụ thể là:
+ Lý thuyết về viết tắt;
+ Lý thuyết về âm tiết tiếng Việt;
+ Lý thuyết về chính tả …
Trang 15- Khảo sát, thống kê và phân loại các trường hợp viết tắt được sử dụng trên báo Nhân dân (bao gồm đối tượng viết tắt và các chữ viết tắt) về các phương diện đã nói ở mục Phạm vi nghiên cứu, xin được nhắc lại:
- Phân tích ưu điểm và hạn chế của các kiểu viết tắt trên báo Nhân dân;
- Đề xuất ý kiến về việc sử dụng chữ tắt sao cho đạt hiệu quả cao nhất
về phía người viết cũng như về phía người tiếp nhận văn bản
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê – phân loại: các phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê và phân loại các trường hợp viết tắt và đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân;
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu này cũng được dùng để khảo sát hiện tượng viết tắt trên vở ghi bài giảng của sinh viên để làm ngữ liệu so sánh
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích, miêu tả các trường hợp viết tắt về các phương diện: cách thức viết tắt, cấu tạo của các phương tiện viết tắt, cấu tạo của các đối tượng được viết tắt … Sau đó tổng kết kết quả nghiên cứu bằng biểu bảng hoặc bằng lời
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp nghiên cứu này được dùng để đối chiếu một số trường hợp có dùng hình thức viết tắt và không dùng hình thức viết tắt để thấy ưu điểm và hạn chế của hiện tượng viết tắt
Trang 16Thủ pháp nghiên cứu này cũng được dùng để so sánh hiện tượng viết tắt trên báo Nhân dân và hiện tượng viết tắt trên vở ghi của sinh viên, trên cơ
sở đó tìm ra sự khác biệt và giống nhau trong việc sử dụng lối viết tắt trong văn bản không quy phạm
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, trích dẫn,
luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương này trình bày hai nội dung chính:
( 1)- Một số vấn đề lý luận về viết tắt;
( 2)- Sơ lược lý thuyết về âm tiết, lí thuyết về chính tả
Chương 2: Thực trạng viết tắt trên báo Nhân dân
Chương này trình bày 3 nội dung:
(1)- Đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân;
(2)- Chữ tắt trên báo Nhân dân;
(3)- Ưu điểm, hạn chế của việc viết tắt trên báo Nhân dân và một số kiến nghị
Trang 17a) Định nghĩa về chữ tắt của một số tác giả trong nước
- Theo tác giả Nguyễn Hoàng Thanh, chữ tắt được hiểu là “…hình thức tắt bằng chữ viết, tức là tất cả các dạng tắt có hình thức biểu hiện bằng con chữ” ( Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr.19)
Với cách hiểu này, tác giả cho rằng: “Chữ tắt có thể là một chữ cái đầu của âm tiết, có thể là nhiều chữ cái của một âm tiết (hay từ) không mang tính
âm tiết, có thể là một đơn vị gồm nhiều chữ cái đầu của từ hay âm tiết, có thể
là các bộ phận âm tiết tính của các âm tiết hay từ, có thể là âm tiết, có thể là từ hoặc có thể là sự kết hợp giữa chúng với nhau” ( Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 19) Tác giả còn nhấn mạnh: “Chúng tôi không đồng nhất chữ tắt với bất kỳ một đơn vị nào khác của ngôn ngữ như âm tố, âm tiết, hình vị hay từ, cụm từ, đồng thời cũng không coi chữ tắt như một cấp độ ngôn ngữ trong các cấp độ ngôn ngữ ấy … Chúng được tạo ra để làm đơn vị định danh đại diện cho các đơn vị định danh đầy đủ ban đầu nhưng ngắn gọn hơn
mà vẫn bảo đảm được phạm vi ngữ nghĩa của các đơn vị định danh …” (Luận
án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 19-20)
Trang 18Tác giả Nguyễn Hoàng Thanh đã đưa ra một khái niệm chung nhất về chữ tắt như sau:
“ Chữ tắt là một hình thái rút gọn của các định danh đầy đủ, được tạo ra theo những phương thức cấu tạo đặc biệt, có chức năng làm cái đại diện cho định danh đầy đủ” ( Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 20)
- Tác giả Như Ý và Mai Xuân Huy không đưa ra định nghĩa thế nào là
chữ viết tắt nhưng có đưa ra cách hiểu về chữ viết tắt (các tác giả gọi là tắt tố)
thông qua việc phân loại chúng Theo các tác giả, “Chữ tắt là một loại tên gọi đặc biệt chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ thành văn …” và chữ tắt có thể “ chỉ gồm một cái đại diện cho tên đầy đủ, gọi là tắt tố”, cũng có khi là “ … một đoạn cắt (thường là phần đầu) của tên gọi đầy đủ” (Tra cứu Chữ viết tắt nước ngoài và tiếng Việt, tr 8)
Cũng như tác giả Nguyễn Hoàng Thanh, hai tác giả này đều cho chữ tắt (tắt tố) là một dạng viết rút gọn của một tên gọi đầy đủ theo một phương thức nhất định
- Tác giả Phạm Thị Thanh (Đề tài NCKH Tìm hiểu tình hình viết tắt khi ghi bài của sinh viên trường ĐHSP Thái Nguyên, trang 12) đưa ra định nghĩa về viết tắt như sau:
“ Viết tắt là lược bớt một số ký hiệu chữ viết hoặc thay thế bằng cách viết khác sao cho chữ viết gọn hơn, kích thước ngắn hơn để viết được nhanh hơn”
Cách hiểu về viết tắt của Phạm Thị Thanh có phần rộng hơn cách hiểu
về viết tắt của tác giả trên “Tắt tố” theo tác giả này không chỉ là “những dạng tắt có hình thức biểu hiện bằng con chữ” (cách hiểu của Nguyễn Hoàng Thanh) mà còn bao gồm cả những ký tự không phải là “chữ” (một biểu hiện của ngôn ngữ) Ví dụ, ký hiệu dùng để thay thế cho từ “trong”, ký hiệu
dùng để thay thế cho từ “dưới”
Trang 19
Với cách hiểu như vậy, mọi ký hiệu thay thế nếu “có kích thước ngắn hơn”,
viết nhanh hơn đối tượng cần được thay thế đều được tác giả gọi là tắt tố (tức chữ
tắt) Điều đó cũng có nghĩa là tác giả chỉ quan tâm đến vấn đề viết “nhanh”, “tiết
kiệm” thời gian khi viết văn bản mà không quan tâm nhiều đến vấn đề người đọc
sẽ hiểu văn bản như thế nào, có hiểu được nội dung của văn bản một cách chính xác hay không? Và tác giả càng không quan tâm đến vấn đề phương tiện viết tắt là
gì, các phương tiện viết tắt được xây dựng theo cơ chế nào
b) Một số định nghĩa về chữ tắt của tác giả ngoài nước:
Trên thế giới cũng có một số nhà nghiên cứu đã đưa ra cách hiểu về viết tắt Ví dụ như tác giả Lopachin , tác giả John Algeo, v.v…
Tác giả Lopachin quan niệm: “Chữ tắt là một danh từ gồm các từ được cắt ngắn từ một cụm từ ban đầu, hoặc bao gồm các thành tố của một từ ghép ban đầu” ( Dẫn theo Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 15)
Tác giả John Algeo cho rằng “…hiện tượng tắt ngữ là một quá trình hình thái học, dựa trên một số quy tắc chính tả như quy tắc viết chữ cái đầu, quy tắc tạo từ bằng các chữ cái đầu của từ khác và hình thái rút ngắn từ” (Dẫn theo Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 15)
Tóm lại, tuy có nhiều điểm khác biệt trong cách gọi hay trong lí giải nhưng đa số các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng, “…chữ tắt là một phương thức cấu tạo từ mới và hoàn toàn có thể xác định được các đặc trưng cú pháp
và các tính chất từ vựng của chúng” ( Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 16)
c) Cách hiểu của tác giả luận văn về chữ tắt
Chúng tôi theo cách hiểu của tác giả Nguyễn Hoàng Thanh và hai tác giả: Như Ý - Mai Xuân Huy về chữ tắt và tên gọi của hiện tượng ngôn ngữ
Trang 20này, cụ thể : Chữ tắt là một hình thái rút gọn của các định danh đầy đủ Hình thái rút gọn này được tạo ra theo những phương thức cấu tạo đặc biệt, có chức năng làm cái đại diện cho định danh đầy đủ ( Theo tác giả Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, )
Có thể gọi hình thái rút gọn của các định danh đầy đủ đó là tắt tố nếu
tắt tố đó là cái đại diện cho tên đầy đủ ( theo cách dùng của tác giả Như Ý và tác giả Mai Xuân Huy )
Như vậy, theo chúng tôi, chỉ những ký hiệu thuộc hệ thống ngôn ngữ hoặc những ký hiệu dùng trong các ngành khoa học khác thay thế cho các ký hiệu ngôn ngữ đã được cộng đồng thừa nhận mới được coi là “tắt tố”, chẳng hạn như dấu “>” để biểu thị ý nghĩa “lớn hơn”, v.v … Còn những ký hiệu
thị ý nghĩa “dưới” sẽ không được coi là “ chữ tắt” ( phương tiện viết tắt)
1.1.2 Phân loại phương tiện viết tắt (chữ tắt)
Tùy theo tiêu chí phân loại, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã chia chữ tắt thành những nhóm, những kiểu khác nhau Dưới đây là một số kiểu được phân loại theo các tiêu chí:
1.1.2.1 Căn cứ vào cấu tạo của các phương tiện viết tắt
Căn cứ vào đặc điểm của các tắt tố tạo nên chữ tắt, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước đã chia chúng thành những loại khác nhau Dưới đây là một số quan điểm phân loại các phương tiện viết tắt theo tiêu chí này:
a) Cách phân loại của tác giả Như Ý và tác giả Mai Xuân Huy:
Căn cứ vào cách cấu tạo của các phương tiện viết tắt, các tác giả đã chia phương tiện viết tắt ( hai tác giả gọi là chữ viết tắt hay chữ tắt ) thành hai nhóm:
(1) Chữ tắt đơn thành tố;
(2) Chữ tắt đa thành tố
Trang 21- Chữ tắt đơn thành tố: Chữ tắt đơn thành tố là những chữ tắt chỉ “ gồm
một cái đại diện cho tên đầy đủ, gọi là tắt tố” (Như Ý-Mai Xuân Huy, Tr.8)
Tắt tố có thể chỉ là một chữ cái, tức một tắt tố, ví dụ “X” là chữ cái viết tắt của từ “xem”, “A” là chữ viết tắt của từ “Academy”
Tắt tố có thể là một đoạn cắt âm tiết tính Ví dụ “Prof” là đoạn cắt của“Professor”
Theo đó, hai tác giả đã chia chữ tắt đơn thành tố thành hai kiểu: Chữ tắt đơn thành tố chữ cái và chữ tắt đơn thành tố đoạn cắt âm tiết tính
+ Chữ tắt đơn thành tố chữ cái: Đây là kiểu tắt tố bao gồm những chữ
tắt là chữ cái (tắt tố là chữ cái) Chữ cái ở đây có thể là một hoặc hai, thường
là chữ cái đầu và chữ cái cuối của một tên gọi đầy đủ Ví dụ:
Ví dụ (1):
“R” : là chữ cái viết tắt của “Roentgen”;
“A”: là chữ cái viết tắt của “Academy”;
“E”: là chữ cái viết tắt của “English”
Tất cả các tắt tố “R”, “A”, “E” đều là chữ cái đầu, đại diện cho các từ
đã dẫn Chúng là các tắt tố chữ cái, cơ sở để tạo các chữ tắt
Khác với trường hợp viết tắt vừa dẫn chỉ có một chữ cái, các trường hợp viết tắt sau đây tuy gồm hai chữ cái ( chữ cái đầu và chữ cái cuối ) của từ nhưng chúng cũng vẫn được hai tác giả xếp vào loại “ chữ tắt đơn thành tố chữ cái” vì tất cả các chữ cái đó mới là đại diện cho từ đầy đủ, tức đối tượng viết tắt, như ví dụ (2) dưới đây:
Ví dụ (2):
“Mr”: là hai chữ cái đầu và cuối của “Mister”
“Bk”: là hai chữ cái viết tắt của “book”
“BL”: là hai chữ cái viết tắt của “ barel”
“Nr”: là hai chữ cái viết tắt của “ number”
Trang 22Hay “TV” là hai chữ cái viết tắt của “televison” (chữ cái đầu của hai
âm tiết)
Chúng được xếp vào loại “chữ tắt đơn thành tố chữ cái vì là chữ các chữ cái là đại diện của tên gọi đầy đủ”
+ Tắt tố đơn thành tố đoạn cắt âm tiết tính: Đây là kiểu viết tắt bao
gồm các tắt tố là một đoạn cắt ( thường là phần đầu ) của tên đầy đủ, ví dụ:
Ví dụ (3):
“Tel”: là một đoạn cắt của từ “Telephone”;
“Ca”: là một đoạn cắt của từ “Canadian”
- Chữ tắt đa thành tố: Cũng theo cách thức phân loại như trên, tác giả
Như Ý và tác giả Mai Xuân Huy đã chia tắt tố đa thành tố thành bốn kiểu nhỏ,
đó là:
+ Tắt tố đa thành tố chữ cái: Đây là kiểu tắt tố gồm nhiều chữ cái, mỗi
chữ cái đại diện cho một âm tiết hay một từ trong tổ hợp Ví dụ:
Tổ hợp chữ cái “TCVN” trong tiếng Việt cũng là tổ hợp chữ cái viết tắt
của hai từ - 4 âm tiết “ Tiêu chuẩn Việt Nam” và cũng thuộc kiểu viết tắt “ đa
thành tố chữ cái”
Đối với kiểu viết tắt “đa thành tố chữ cái”, thông thường trật tự các chữ cái thuận với trật tự của các âm tiết hoặc từ trong tên đầy đủ, song cũng có những trường hợp không tuân thủ nguyên tắc đó Ví dụ:
Trang 23Ví dụ (5):
“ISO”: là ba chữ cái viết tắt của tổ hợp từ “International Onagization
of Stadardization” Trật tự của các chữ cái đại diện cho các từ ở đây không
theo trình tự trước sau ( lẽ ra chữ cái “O” phải viết trước chữ cái “S”)
Tương tự, tổ hợp chữ cái “LD” viết tắt của các từ “Doctor of Law” cũng
bị đảo trật tự thông thường ( lẽ ra chữ cái „D” phải viết trước chữ cái “L”)
+ Tắt tố đa thành tố đoạn cắt âm tiết tính: Đây là tổ hợp chữ cái làm
thành từ đoạn cắt của từ hay đoạn cắt của âm tiết Ví dụ:
Ví dụ (6):
“LIMDAT”: là tổ hợp gồm 6 chữ cái vốn là đoạn cắt của “Limiting”
và “Data” – “Liminting Data” “Lim” tức “Liminting” và “Dat” tức “Data”
“LENLIB”: là tổ hợp gồm 6 chữ cái viết tắt của tên gọi đầy đủ
“Lenin Library”
Cũng như vậy, tổ hợp chữ cái “DIHAVINA” là đoạn cắt của bốn âm
tiết trong tổ hợp từ “Đĩa hát Việt Nam”
Tổ hợp chữ cái – các tắt tố “LIXEHA” là đoạn cắt của một số âm tiết
hay từ trong tổ hợp tên đầy đủ: “Liên hiệp xí nghiệp xe đạp, xe máy Hà Nội”
+ Tắt tố đa thành tố nguyên chữ: Đây là kiểu viết tắt mà tổ hợp các chữ
tắt vốn là nguyên cả chữ trong tên đầy đủ, ví dụ:
Ví dụ (7):
“Bảo Việt” là tổ hợp tắt tố đa thành tố nguyên chữ Các tắt tố “Bảo”
và “Việt” là nguyên chữ được tách ra từ hai từ “ Bảo hiểm” và “Việt Nam”
“Công nông” là chữ tắt được dùng làm đại diện cho hai từ “công
nhân” và “nông dân” Các tắt tố ở đây vẫn giữ nguyên chữ đầu của từ
Những chữ tắt như “Xuất nhập khẩu”, “Y bác sỹ” là những chữ tắt
nguyên chữ của các tổ hợp từ “xuất khẩu và nhập khẩu” , “Y sỹ và bác sỹ”
Trang 24+ Chữ tắt đa thành tố hỗn hợp: Gọi là là chữ tắt “đa thành tố hỗn hợp” là
bởi vì đây là kiểu chữ tắt bao gồm nhiều loại tắt tố, chẳng hạn, trong đó có cả tắt
tố chữ cái, tắt tố đoạn cắt âm tiết tính hay tắt tố nguyên chữ hoặc ít nhất cũng gồm hai trong số ba loại trên như trong các trường hợp ở ví dụ (8) dưới đây:
Ví dụ (8):
“BINAC” là chữ tắt đa thành tố hỗn hợp vì được tạo bởi nhiều loại tắt
tố, cụ thể là gồm tắt tố đoạn cắt âm tiết tính và tắt tố chữ cái: “BIN” là đoạn
cắt âm tiết tính (đoạn cắt của Binary), tắt tố chữ cái “A” (tắt tố chữ cái của
Automatic) và “C” (tắt tố chữ cái của Computer)
“AOIL” là tắt tố gồm tắt tố chữ cái và tắt tố nguyên chữ: “A” là tắt tố
chữ cái của “Aviation”, còn “OIL” là tắt tố nguyên chữ của “oil”
Tương tự, tắt tố “Cty” trong tiếng Việt cũng là kiểu tắt tố đa thành tố hỗn hợp, bao gồm tắt tố chữ cái “C” (tắt tố chữ cái của “Công”) và tắt tố nguyên chữ “Ty” của “Công ty”
Có thể nói, cách phân loại các phương tiện viết tắt của tác giả Như Ý và tác giả Mai Xuân Huy khá tỉ mỉ và rõ ràng Cách phân loại này không chỉ nói được đặc điểm của các phương tiện viết tắt mà còn phần nào cho ta biết phương thức cấu tạo của các chữ viết tắt
b) Cách phân loại phương tiện viết tắt của tác giả Nguyễn Đức Dân
(x: Về các từ tắt, Kiến thức ngày nay, tr.68)
Dựa vào phạm vi sử dụng và cách thức cấu tạo của các phương tiện viết tắt, tác giả Nguyễn Đức Dân đã chia các phương tiện viết tắt thành nhiều loại
Theo phạm vi sử dụng, tác giả Nguyễn Đức Dân đã chia các từ tắt thành ba loại, đó là: Tắt nói, Tắt viết và Tắt vừa là Tắt nói vừa là Tắt viết
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo và phương thức viết tắt của các tắt tố, tác giả lại chia chúng thành 4 kiểu nhỏ, đó là:
Trang 251) Loại tắt tố chỉ liên quan đến một từ, người ta gọi là L`Abreviation
(Abbreviation), ví dụ: Ca (Canadian);
2) Loại tắt tố là viết tắt của một cụm từ theo kiểu giữ lại chữ cái đầu tiên của mỗi từ, như ISO (International Organization oF Standardization);
3) Loại tắt tố của một cụm từ được tạo ra bằng cách giữ lại phần đầu
hoặc âm tiết đầu của mỗi từ trong cụm từ cần được viết tắt, ví dụ: Bảo Việt ( Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam);
4) Loại tắt tố hỗn hợp: Đây là kiểu viết tắt hỗn hợp trong các dấu hiệu, trong các ký hiệu nguyên tố, các đơn vị đo lường, bút danh, bảng hiệu, v.v…
Đúng như tác giả Nguyễn Hoàng Thanh đã nhận xét: “Nguyễn Đức Dân đã tỏ ra có lý khi phân loại các dạng chữ tắt theo các đặc điểm trên Tuy nhiên, khi ứng dụng vào thực tế, có nhiều chữ tắt tiếng Việt không nằm trong các loại trên, cũng không thuộc loại viết tắt hỗn hợp vì chúng có quy luật, nhất là các chữ tắt tiếng Việt được cấu tạo từ tiếng nước ngoài” ( Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 13)
c) Cách phân loại phương tiện viết tắt của tác giả Nguyễn Trọng Báu:
Dựa vào kết cấu của các tắt tố, Nguyễn Trọng Báu đã chia các tắt tố
thành hai loại, đó là dạng tắt chữ viết và dạng tắt từ vựng
Theo ông, dạng tắt chữ viết thì không thể nói, đọc được, còn dạng tắt từ vựng thì có thể nói, đọc, viết Vì “có thể nói, đọc, viết” nên dạng tắt này có thể coi như những đơn vị từ ngữ mới và hoàn toàn có đủ tư cách của một từ vựng mới trong giao tiếp cả ở dạng nói lẫn dạng viết
Cách phân loại của tác giả có phần chưa nhất quán bởi trong dạng tắt từ vựng có cả dạng tắt chữ viết: loại ghép các chữ cái đầu âm tiết như kiểu tắt DKZ, CA, MIC Ông cho rằng đây là dạng tắt có thể đọc được, viết được, mỗi chữ cái đều đã âm tiết hóa
Trang 26Như vậy, theo cách phân loại này của tác giả thì bất kể dạng chữ tắt nào cũng
là dạng tắt từ vựng vì chúng đều có thể “đọc được, nói được, viết được” Điều này
đã được tác giả Nguyễn Hoàng Thanh dẫn ra một số ví dụ làm minh chứng
Ở trang 9 của Luận án PTS đã nói đến ở trên, tác giả Nguyễn Hoàng Thanh đã lấy một số ví dụ về dạng tắt từ vựng đem so với một số ví dụ về dạng tắt chữ viết để chỉ ra điểm hạn chế trong cách phân loại của tác giả Nguyễn Trọng Báu, ví dụ:
CA (dạng tắt từ vựng) , so với VPQH (dạng tắt chữ viết)
DKZ (dạng tắt từ vựng), so với UBKHXH (dạng tắt chữ viết)
DKT-2 (dạng tắt từ vựng), so với TANDTC (dạng tắt chữ viết)
Có thể nói hai dạng tắt này bản chất không có gì khác nhau, có chăng chỉ là số lượng các chữ cái dùng làm chữ tắt trong tắt tố, và như vậy không có
lý do gì để chia chúng vào hai nhóm
d) Cách phân loại phương tiện viết tắt của tác giả Trần Ngọc Thêm
(Tìm hiểu các từ tắt có nguồn gốc vay mượn trong tiếng Việt; Giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ Tập 2 Nxb KHXH, H 1981)
Khác với các tác giả đã dẫn trên, tác giả Trần Ngọc Thêm chủ yếu quan tâm đến các chữ tắt có nguồn gốc nước ngoài Vì vậy, việc phân loại của tác giả cũng tập trung vào các chữ tắt loại này
Theo tác giả, căn cứ vào nguồn gốc cấu tạo, có thể chia từ tắt có nguồn gốc vay mượn thành 4 nhóm, là:
- Từ tắt giữ nguyên cách đọc và cách viết của ngôn ngữ gốc;
- Từ tắt Việt hóa cách đọc những cách viết của ngôn ngữ gốc vẫn giữ nguyên;
- Từ tắt Việt hóa cách viết nhưng giữ nguyên cách đọc của ngôn ngữ gốc;
- Từ tắt Việt hóa cả cách đọc và cách viết
Trang 27Chính bản thân tác giả cũng đã nhận thấy điểm hạn chế của cách phân loại này và ông đã tìm một cách phân loại khác cho phù hợp với thực tế Ông nhận định rằng, thực tiễn vay mượn các từ tắt về cơ bản là tuân theo nguyên tắc và đối với chữ tắt, có thể đọc theo âm tiết hoặc đọc theo chữ cái
Tóm lại, căn cứ vào mặt cấu tạo, một số nhà nghiên cứu Việt ngữ học
đã chia phương tiện viết tắt (có người gọi là chữ tắt hay tắt tố) thành nhiều loại khác nhau Song, nhìn chung họ đều gặp nhau ở một điểm: các tắt tố đều
có thể được tạo thành bởi chữ cái đầu của âm tiết hay từ một bộ phận của âm tiết hoặc từ Chúng được rút ngắn về kích thước so với từ hay tổ hợp từ định danh ban đầu do đó đã có người gọi là tắt tố
e) Cách phân loại phương tiện viết tắt của một số nhà nghiên cứu nước ngoài
Có thể nói, hiện tượng viết tắt đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm từ lâu Năm 1960 đã thấy có công trình nghiên cứu của Lepcopxkaia C.A Tiếp theo, năm 1979 Alecxêep D.I cũng cho công bố công trình của mình với tên gọi “Сокращение слова в русском языке” Năm 1983, tác giả Moghilepxki R.I cũng cho xuất bản công trình của mình với nhan đề “ Словарь сокращени русский языка ”
Tác giả Lopachin V.V (1990) cho rằng “… chữ tắt là một danh từ gồm các từ được cắt ngắn từ một cụm từ ban đầu, hoặc bao gồm các thành tố của một từ ghép ban đầu” (dẫn theo Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 15) Nhà nghiên cứu này cho rằng, các kiểu cấu tạo chữ tắt trong các ngôn ngữ khác nhau tuy có nhiều điểm đồng nhất nhưng cũng không ít sự khác biệt Tác giả đã viện dẫn cách cấu tạo từ tắt trong tiếng Đức không có kiểu viết tắt theo âm tố và bộ phận từ như ở nhiều ngôn ngữ, song, ngôn ngữ này lại phổ biến dùng các dạng tắt gồm các chữ cái
Trang 28đầu của một từ, kiểu như: DDR, FDJ, VEB … Đặc trưng của ngôn ngữ này là kiểu chữ tắt gồm một chữ cái đầu của một từ kết hợp với một từ đầy đủ khác,
chẳng hạn như: U-Bahn, D-Zug, v.v…
Từ những phát hiện này về hiện tượng viết tắt, ông đã tổng kết trong tiếng Nga có 6 kiểu cấu tạo chữ tắt, đó là:
- Chữ tắt gồm các phụ âm đầu từ;
- Chữ tắt gồm các bộ phận đầu từ;
- Chữ tắt gồm bộ phận đầu từ kết hợp với các chữ cái đầu từ khác;
- Chữ tắt gồm bộ phận đầu từ kết hợp với từ đầy đủ;
- Chữ tắt gồm phần đầu của từ kết hợp với danh từ đã đổi cách;
- Chữ tắt gồm phần đầu của từ thứ nhất kết hợp với phần đầu và phần cuối của từ thứ hai hoặc phần cuối của từ thứ hai
Tác giả Lopachin không chỉ dừng ở việc phân loại các kiểu chữ tắt dựa vào cấu tạo như vừa trình bày, mà ông còn khẳng định hiện tượng viết tắt là nguyên nhân “làm nảy sinh một loại từ đặc biệt Loại từ này có đặc trưng riêng của nó”(1983)
Ngoài tác giả John Algeo và tác giả Lopachin, các tác giả Garland Cannon (1987), Charles Kreidler (1979) … cũng bày tỏ những quan điểm của mình về hiện tượng viết tắt, mặc dù những quan điểm của họ còn chưa bao quát hết thực trạng viết tắt của mọi ngôn ngữ
1.1.1.2 Phân loại các phương tiện viết tắt (tắt tố) theo đối tượng được viết tắt
Căn cứ vào đối tượng được viết tắt, có thể chia các phương tiện được viết tắt thành các loại khác nhau, chẳng hạn:
- Tắt tố là các ký hiệu viết tắt của tên riêng: Tắt tố có thể là các ký
hiệu viết tắt của tên người, tên địa danh, tên tổ chức …
+ Tắt tố là tên riêng của người, ví dụ:
Trang 29Ví dụ ( 9):
“HCM” là các con chữ viết tắt của tên Bác: “Hồ Chí Minh”
“ D.B” là các chữ cái viết tắt của “ David Beckham”
“F.de.Saussure” là tên viết tắt của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng
“Ferdinan de sausure”
+ Tắt tố là ký hiệu viết tắt của một địa danh, ví dụ:
Ví dụ ( 10 ):
Chúng ta sẽ đến thành phố HCM (Hồ Chí Minh)
Thủ đô HN (Hà Nội) là trung tâm chính trị, kinh tế của nước ta
+ Tắt tố là ký hiệu viết tắt của một tổ chức, một cơ quan đoàn thể, xin
dẫn ra một số ví dụ tiêu biểu:
Ví dụ ( 11 ):
“NGAHA HANOI”: Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Hà Nội
“TTXVN”: Thông tấn xã Việt Nam
“ĐH Ngoại ngữ HN”: Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”
+ Tắt tố là ký hiệu viết tắt của tên một nhãn hiệu sản phẩm, ví dụ:
Ví dụ ( 11 ):
“OMO”: tên viết tắt của một loại bột giặt
“TOYOTA”: tên viết tắt của một loại ô tô
+ Tắt tố là ký hiệu viết tắt của một thuật ngữ, một khái niệm, ví dụ:
Ví dụ ( 12 ):
“XHCN”: là ký hiệu viết tắt của “Xã hội chủ nghĩa”
“TBCN”: là ký hiệu viết tắt của “Tư bản chủ nghĩa”
“UBND”: là ký hiệu viết tắt của “ Ủy ban nhân dân”
“ĐLTD”: là ký hiệu viết tắt của “Độc lập Tự do”
+ Tắt tố là các chữ viết tắt của tên gọi học hàm, học vị, ví dụ:
Trang 30Ví dụ ( 13):
GS TS Nguyễn Văn Khang: Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn khang;
GS TSKT Lý Toàn Thắng: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lý Toàn Thắng; PGS TS Phạm Văn Hảo: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Hảo
+ Tắt tố là ký hiệu viết tắt của một đơn vị đo lường, ví dụ:
Ag:Ký hiệu viết tắt của “Vàng”
Cu: Ký hiệu viết tắt của “Đồng”
H20: Ký hiệu viết tắt của “khí hy đờ rô”
C02: Ký hiệu viết tắt của “ khí Cácbonníc”
Tóm lại, sự phong phú, đa dạng của các ký hiệu viết tắt phụ thuộc vào
sự đa dạng của đối tượng viết tắt Nói khác đi, đối tượng viết tắt có nội dung
gì, ta sẽ có kiểu viết tắt tương ứng xét về nội dung như thế Bởi vậy, trong thực tế sử dụng hình thức viết tắt, tắt tố không chỉ là các ký hiệu viết tắt cho các từ là loại danh từ mà còn có thể là các ký hiệu viết tắt cho đối tượng là từ loại động từ hay số từ … ( Về vấn đề này xin sẽ miêu tả kỹ hơn khi bàn đến các phương tiện viết tắt trên báo Nhân dân ở Chương 2)
1.1.1.3 Phân loại các phương tiện viết tắt (tắt tố) căn cứ vào ngôn ngữ được dùng để viết tắt
Có thể nói ngay rằng, đối tượng ngôn ngữ được viết tắt thuộc ngôn ngữ
gì thì thường tắt tố sẽ là ký hiệu thuộc ngôn ngữ đó Chẳng hạn, đối tượng viết
Trang 31tắt là tiếng Anh, tắt tố sẽ là ký hiệu thuộc tiếng Anh, đối tượng viết tắt là tiếng Việt, tắt tố sẽ là ký hiệu thuộc tiếng Việt, v.v… Tuy nhiên không phải tất cả đều hoàn toàn là như vậy Có trường hợp tắt tố là phối hợp các thứ tiếng hoặc dịch đối tượng viết tắt sang thứ tiếng khác rồi mới cấu tạo chữ tắt Dưới đây là một số kiểu tắt tố được phân loại dựa vào ngôn ngữ được dùng để viết tắt:
- Tắt tố là các ký hiệu thuộc tiếng Anh:
Ví dụ (16): European Naval Communications Agency (ENCA): Cục thông tin hải quân Châu âu (của NATO)
Ví dụ (17): Electronic Numerical Integrator and Calculator (ENIAC):
Máy tích và tích phân điện tử của Mỹ
Ví dụ (18): Kitchen and bathroom (KB): Bếp và nhà tắm
- Tắt tố là các ký hiệu của Nga, đã được phiên âm sang tiếng Việt
Ví dụ (19): ZIL (N Moskobski AbmoMobinyi zavot ImeHy I A
Lixacheba)
- Tắt tố là các ký hiệu thuộc tiếng Việt, Ví dụ:
Ví dụ (20): KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm)
Ví dụ (21): NGAHA HANOI: Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội)
- Tắt tố là các ký hiệu phối hợp các thứ tiếng, Ví dụ như kết hợp tiếng Việt hoặc tiếng Anh hay kết hợp tiếng Anh và tiếng Nga,v.v…
+ Tắt tố là các ký hiệu tiếng Việt phối hợp ký hiệu tiếng Anh,Ví dụ :
Ví dụ (22): SPACEX (Sai Gon Packing Export Company): Công ty
bao bì xuất khẩu Sài Gòn
Ví dụ (23): SJC (Sai Gon Jewebry Company): Công ty vàng bạc và đá quý Sài Gòn
+ Tắt tố là các ký hiệu phối hợp tiếng Anh và tiếng Pháp
Ví dụ (24): UDEAC (P.Union Douanière et Économique de I‟afrique
Centrale): Liên minh thuế quan và kinh tế Trung Phi
Trang 32Ví dụ (25): UDR (P.Union des Démocrates pour la République): Hiệp
hội các nhà dân chủ ủng hộ nền cộng hòa (Pháp)
Các ví dụ từ (16) đến (25) cho thấy, các tắt tố được phân loại theo thứ tiếng có thể là thuần nhất một thứ tiếng ( tức chỉ dùng kí hiệu của một thứ tiếng) và cũng có thể phối hợp hai thứ tiếng
Ở đây cũng cần nói lại, tắt tố là ký hiệu thuộc ngôn ngữ nào thường là tùy thuộc vào ngôn ngữ của đối tượng viết tắt Nói khác đi, đối tượng viết tắt
là ngôn ngữ gì thì thường tắt tố sẽ là ký hiệu thuộc ngôn ngữ đó Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng như vậy Có trường hợp, đối tượng viết tắt là tiếng Việt nhưng khi viết tắt, người viết đã “ngầm” dịch sang tiếng nước ngoài rồi mới cấu tạo chữ tắt từ tiếng đã dịch, như ví dụ (26) dưới đây:
Ví dụ (26): VIRES (Cục đăng kiểm Việt Nam)
Chữ tắt này vốn là các chữ cái của tiếng Việt và tiếng Anh “VI” là các chữ cái – đoạn cắt của âm tiết “Việt”, còn các chữ cái “RES” là các chữ cái
được cắt từ các chữ tiếng Anh: Register of Shipper
1.1.3 Cách thức viết tắt
Như đã nói, viết tắt là một hiện tượng thường gặp trên các văn bản viết,
kể cả văn bản mang tính quy phạm lẫn văn bản không mang tính quy phạm
Viết tắt là một hình thái rút gọn của các định danh đầy đủ, được tạo ra theo những phương thức cấu tạo đặc biệt, có chức năng làm đại diện cho định danh đầy đủ Dưới đây là một số quan điểm và kết quả nghiên cứu về cách thức viết tắt của một số nhà ngôn ngữ học:
1.1.3.1 Quan điểm của tác giả Nguyễn Hoàng Thanh:
Theo tác giả Nguyễn Hoàng Thanh, “có hai phương thức tạo chữ tắt”
mà tác giả coi “ là những con đường độc đáo trong cấu tạo chữ tiếng Việt” (Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr 15), đó là:
Trang 33(1) Phương thức nói gộp: Đây là cách cấu tạo chữ tắt bằng cách lược
bỏ âm tiết trong một từ nhiều âm tiết đơn lập rồi dùng âm tiết còn lại kết hợp với các âm tiết còn lại của các từ khác hoặc với một từ đầy đủ tạo thành chữ tắt Chẳng hạn như các ví dụ dưới đây:
Ví dụ (27): Ngữ (âm tiết còn lại của từ Ngôn ngữ);
Văn (âm tiết còn lại của từ Văn học)
Hai âm tiết: Ngữ + văn tạo thành từ tắt Ngữ văn
Tương tự, những từ tắt như nông nghiệp, công nông trí thức, nông thủy
hải sản, v.v… đều là những từ tắt được cấu tạo theo phương thức này
(2) Phương thức dịch: Đây là phương thức dịch các tổ hợp định danh
đầy đủ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài ( chủ yếu là tiếng Anh ) rồi cấu tạo chữ tắt trên cơ sở tiếng nước ngoài, như chữ tắt trong ví dụ (28) dưới đây:
Ví dụ (28):
Tên tiếng Việt: Công ty bao bì xuất nhập khẩu văn phòng được dịch
thành Viet Nam National Packaging Export Corporation
Chữ tắt được cấu tạo: PACKEXPORT
Tên tiếng Việt: Công ty dầu khí Việt Nam được dịch thành Viet Nam
National Oil and Gas Company
Chữ tắt được cấu tạo: PETROVIETNAM
1.1.3.2 Quan điểm của tác giả Nhƣ Ý và tác giả Mai Xuân Huy:
Theo tác giả Như Ý và tác giả Mai Xuân Huy, có thể cấu tạo chữ tắt bằng ba cách cơ bản, đó là:
+ Cấu tạo chữ tắt bằng cách giữ lại một hoặc hai chữ cái trong các âm tiết của tổ hợp từ hay tổ hợp âm tiết cần được viết tắt, ví dụ:
Ví dụ (29):
“E” là chữ tắt được cấu tạo bằng cách giữ lại âm đầu của từ “English” “ĐH” là chữ tắt được cấu tạo bằng cách giữ lại âm đầu của hai âm tiết
trong từ “Đại học”
Trang 34+ Giữ lại một phần âm tiết hay từ của tên định danh đầy đủ, ví dụ:
“ Nero” – chữ tắt của tên gọi đầy đủ “ Near East regional office”
(Văn phòng khu vực Cận Đông (của PAO) );
“ PANSDOC” – chữ tắt của tên gọi đầy đủ “Pakistan National
Scientific and Technical Documentation Center” (Trung tâm tư liệu khoa học
kĩ thuật quốc gia Pa- ki - xtan )
1.1.3.3 Quan điểm của hai tác giả Vũ Kim bảng và Nguyễn Đức Tồn
(“Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2011)
Tác giả Vũ Kim Bảng và tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra 19 phương thức cấu tạo chữ tắt Các tác giả đã tổng kết 19 phương thức cấu tạo chữ tắt thành 7 quy tắc ( Xin xem từ trang 130 đến trang 135)
1.1.3.4 Quan điểm của tác giả John Algeo:
Theo tác giả John Algeo, dựa vào qui tắc chính tả có thể có ba cách cấu tạo chữ tắt, đó là:
- Viết tắt bằng cách giữ lại chữ cái đầu của âm tiết hay từ Ví dụ
“G.M.T là chữ viết tắt được cấu tạo bằng cách giữ lại chữ cái đầu của ba từ:
Greenwich Mean Time (giờ quốc tế, giờ giê - em - tê)
- Viết tắt bằng cách giữ lại phần đầu của âm tiết hay từ, ví dụ “Prof” là
chữ viết tắt do giữ lại phần đầu của từ “Professor”
Trang 35- Viết tắt bằng cách pha trộn: Các thành phần của từ tắt có thể được tạo ra theo kiểu phối hợp phần đầu của từ này với phần cuối của từ kia hoặc bỏ bớt phần cuối của hai từ rồi ghép chúng lại thành một từ tắt Ví dụ: Từ tắt “Motel” được cấu tạo bằng cách giữ lại phần đầu của hai từ “Motor” và “Hotel”
Tóm lại, xét về phương diện phương thức viết tắt, có thể chia chữ tắt thành các kiểu khác nhau Đúng như tác giả Nguyễn Hoàng Thanh nhận xét:
“Dù có tác giả coi việc tạo chữ tắt là một phương thức cấu tạo từ vựng, hoặc coi chữ viết tắt là một loại đơn vị định danh đặc biệt, hoặc chỉ coi tắt là một hiện tượng nhất thời, không qui phạm, các tác giả đã lí giải sâu sắc các vấn đề
mà mình quan tâm đối với hiện tượng viết tắt…”( Nguyễn Hoàng Thanh, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, H.1996, tr.16 )
1.2 Sơ lƣợc về âm tiết, chữ viết và chính tả tiếng Việt
1.2.1 Khái niệm âm tiết, âm tiết tiếng Việt
1.2.1.1 Âm tiết là gì?
Hiểu một cách đơn giản, “Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên, nhỏ nhất của ngôn ngữ”
Trong chuỗi lời nói, mỗi âm tiết được phát ra tương ứng mới một đợt
cơ của bộ máy phát âm căng lên rồi lại chùng xuống Ví dụ, chuỗi âm “ chăm chỉ học tập” trong tiếng Việt ứng với 4 đợt cơ của bộ máy phát âm căng lên rồi lại chùng xuống, ta có 4 âm tiết
Dùng sơ đồ hình sin để biểu diễn các đợt căng hay chùng cơ của bộ máy phát âm ta có thể hình dung ranh giới của 4 âm tiết như sau:
ă i o â
ch m ch i h c t
p
Trang 361.2.1.2 Cấu trúc của âm tiết và cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Âm tiết của các ngôn ngữ nói chung không phải là một khối bất khả phân mà là một cấu trúc
- Cấu trúc của âm tiết trong các ngôn ngữ khác nhau thì khác nhau song
có lẽ chúng đều gặp nhau ở một điểm: chúng thường được tổ hợp bởi nguyên
âm và phụ âm ( có khi còn có cả thanh điệu)
Trong một số ngôn ngữ Ấn Âu, đôi khi một mình phụ âm cũng có thể
tạo thành âm tiết, như phụ âm / B / của tiếng Nga Ví dụ: В институте (ở
trong trường Đại học) “B” là phụ âm vừa đóng vai trò là một âm tiết (xét từ bình diện ngữ âm), vừa là từ-giới từ (xét về bình diện ý nghĩa và khả năng đứng độc lập để tạo câu)
- Khác với nhiều ngôn ngữ khác, đặc biệt là các ngôn ngữ Ấn Âu, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập Ngoài những đặc điểm chung như âm tiết của các ngôn ngữ khác, âm tiết tiếng Việt còn có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
+ Âm tiết tiếng Việt có tính độc lập cao;
+ Âm tiết tiếng Việt mang một trong sáu thanh điệu;
+ Âm tiết tiếng Việt thường trùng với một đơn vị có nghĩa – hình vị Xét về mặt cấu trúc, ở dạng đầy đủ nhất, âm tiết tiếng Việt được tạo thành bởi năm thành tố: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu Ở dạng tối giản nhất âm tiết tiếng Việt cũng được cấu thành bởi hai thành tố là
âm chính và thanh điệu
Trang 37Điều cần nói ở đây là, mỗi thành tố cấu thành âm tiết tiếng Việt đảm nhận một chức năng riêng Vì vậy, về nguyên tắc, mỗi thành tố này có thể được dùng đại diện cho âm tiết khi viết tắt Thực tế sử dụng lối viết tắt trên những văn bản quy phạm hay không quy phạm cho ta thêm minh chứng về điều vừa nói, chẳng hạn:
Có thể dùng âm đầu và âm đệm đại diện cho âm tiết khi viết tắt, như
trường hợp viết tắt sau đây:
“VIETTRONIC BIHO” (Xí nghiệp điện tử Bình Hoa” ( “HO” là chữ
viết tắt của “Hoa”, gồm âm đầu và âm đệm)
“QUHA MAY” (Nhà may Quang Hà) ( “QU” là chữ viết tắt của
“Quang”, gồm âm đầu và âm đệm)
Tương tự:
“QUNIMEX”: Tên viết đầy đủ: Quảng Ninh Joint Import Export -
Company ( Công ty Xuất nhập khẩu Quảng Ninh)
Có thể dùng âm đầu và một phần của âm cuối làm đại diện cho âm tiết khi
viết tắt Ví dụ: “kg” (không), “hg hóa” (hàng hóa), “chg chg” (chung chung), …
Có thể dùng âm đầu và thanh điệu để viết tắt cho toàn âm tiết, ví dụ
kiểu viết: “nh`” (nhiều), „ng`” (người), “m`” (mình) là kiểu viết tắt chỉ gồm
âm đầu kèm thanh điệu Mặc dù cách viết tắt này chỉ thấy trên những văn bản không quy phạm (như vở ghi của sinh viên)
1.2.2 Chữ viết và chính tả tiếng Việt
1.2.2.1 Khái niệm chữ viết, đặc điểm của chữ viết tiếng Việt hiện đại
Chữ viết là hệ thống kí hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói Chức năng của chữ viết là đại diện cho lời nói, cố định lời nói và là một hình thức biểu đạt của ngôn ngữ
Mỗi ngôn ngữ có một qui định riêng về kí hiệu chữ viết của mình Chữ viết của tiếng Việt hiện đại là chữ Quốc ngữ - loại chữ ghi âm Chữ viết tiếng
Trang 38Việt được xây dựng trên bộ chữ cái La tinh, có bổ sung, sửa đổi và chuẩn hóa thành hệ thống chữ cái ( Xem bảng chữ cái được xếp theo thứ tự trong cuốn
Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb KHXH, 1994)
1.2.2.2 Vài nét về chính tả
a) Khái niệm chính tả
Theo tác giả Phan Thiều (X: Rèn luyện ngôn ngữ, tập 1, Nxb GD, H
1998, tr.54), “ Chính tả là một hệ thống chuẩn mực hoặc quy định trong sự vận dụng chữ viết xác định:
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb KHXH 1994,
tr.5, chính tả được quan niệm “…là cách viết chữ được coi là chuẩn”
Có thể nói, có nhiều cách hiểu về chính tả nhưng các tác giả đã gặp nhau ở một điểm: coi chính tả “ …là viết đúng chuẩn mực và những quy tắc
về chữ viết và các dạng chữ viết”
b) Nội dung của chính tả
Nội dung của chính tả bao gồm 7 qui định: 1) Cách viết một số từ có nhiều dạng phát âm khác nhau, 2) Cách viết tên riêng Việt Nam, 3) Cách viết tên cơ quan, tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, 4) Cách viết tên riêng nước ngoài và thuật ngữ khoa học, 5) Cách viết tên tác phẩm, 6) Cách viết tắt, 7) Cách dùng số và biểu thị số
Như vậy, viết tắt cũng là một trong những vấn đề mang tính pháp lí cần được tuân thủ
Trang 391.3 Tiểu kết:
Chương này trình bày một số cơ sở lí thuyết được làm căn cứ lí luận cho việc xử lí đề tài, cụ thể đó là những vấn đề lí thuyết về viết tắt, như: Khái niệm viết tắt, đối tượng viết tắt, Cấu tạo của các chữ viết tắt, Cách thức viết tắt, …
Ngoài ra, những vấn đề lí thuyết như khái niệm âm tiết, chữ viết tiếng Việt và qui định chính tả tiếng Việt; lí thuyết về từ, câu cũng sẽ được luận văn
sử dụng khi cần thiết
Trang 40Chương 2
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT TẮT
TRÊN BÁO NHÂN DÂN
Chương này trình bày ba nội dung lớn, đó là:
(1) Phân loại, miêu tả đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân;
(2) Phân loại, miêu tả chữ tắt trên báo Nhân dân;
(3) Nhận xét ưu điểm, hạn chế của việc viết tắt trên báo Nhân dân và một số kiến nghị
2.1 Đối tượng viết tắt trên báo Nhân dân
2.1.1 Khái niệm đối tượng viết tắt
Đối tượng viết tắt dùng trong luận văn này được hiểu là phần từ
ngữ…đầy đủ của các chữ tắt Ví dụ: Tỉnh Cà Mau đề ra kế hoạch xuất khẩu
thủy sản (XKTS) năm 2011 là 850 triệu USD, tuy nhiên các doanh nghiệp
(DN) Hội chế biến và XKTS Cà Mau quyết tâm phấn đấu đạt một tỷ USD kim ngạch…( Báo Nhân dân, số ra ngày 21 tháng 2 năm 2011, tr.1)
Những chữ in đậm trong ví dụ vừa dẫn là đối tượng viết tắt Cụ thể,
“xuất khẩu thủy sản” là đối tượng viết tắt của chữ tắt “XKTS” và “doanh
nghiệp” là đối tượng viết tắt của chữ tắt “DN”
2.1.2 Nhận xét chung
Kết quả khảo sát đối tượng viết tắt trên 90 số báo Nhân dân bước đầu
cho chúng tôi một số nhận xét sau đây:
- Thứ nhất, về số lượng đối tượng viết tắt: Có thể nói, theo thống kê
của chúng tôi, số lượng đối tượng viết tắt trên các số báo Nhân dân được chọn
làm ngữ liệu điều tra không nhiều lắm Trong tổng số 90 số báo ( 3 tháng đầu
năm 2011), từ số 20210, ra ngày 1 tháng 1 năm 2011 đến số báo 20296, ra