1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU và TRÌNH bày về QUY TRÌNH đầu tư vào CHỨNG KHOÁN ở VIỆT NAM

39 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 608 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Trong hoạt động đầu tư chứng khoán, giới đầu tư không mấy ai không biết đến lý thuyết thị trường hiệu quả trong những lý thuyết được lấy làm nền tảng và là tiên đề bất di bất dịch cho trường phái phân tích kỹ thuật. Thị trường chứng khoán có ảnh hưởng rất quan trọng trong nền kinh tế nhất là trong thời kỳ hội nhập WTO. Nó góp phần không nhỏ trong việc tang trưởng kinh tế nước nhà. Giúp các doanh nghiệp huy động nguồn vốn vào đầu tư kinh doanh đưa nền kinh tế phát triển hơn cùng với Ccá nước bạn. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là một trong những thị trường tiềm năng, đang phát triển rất nóng, đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ công chúng đến Chính phủ vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 8 năm, cho đến nay hầu hết các công ty chứng khoán đã thực hiện nghiệp vụ này đã thu được những kết quả nhất định, tuy nhiên còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Để thực hiện đầu tư chưng khoán mỗi một nhà đầu tư đều có cho mình một phong cách đầu tư riêng, và nền móng của các phong cách đầu tư đó là quy trình và các bước tiến hành đầu tư, các phong cách đầu tư bao gồm: đầu tư theo đà, tăng trưởng , giá trị, kỹ thuật hay lướt sóng, cho dù bạn không theo phong cách nào bạn vẫn phải lựa chọn những cổ phiếu ưa thích mua và bán đế tối đa hóa lợi nhuận, bạn cần tính toán thời điểm mua và bán hợp lý, phân bổ và quản lý danh mục đầu tư. Vì vậy để đầu tư chứng khoán có hiệu quả chúng ta phải có một quy trình cụ thể. Chính vì những lý do trên và dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Lê Đức Thiện nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài :” Tìm hiểu và trình bày về quy trình đầu tư vào chứng khoán ở Việt Nam” Trong quá trình làm bài chúng em không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy mong thầy và các bạn đóng góp ý kiến để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn nữa. Chúng em xin chân thành cảm ơn CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1. Chứng khoán 1.1.1.Khái niệm Chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ các chứng chỉ đầu tư hoặc cho vay vốn nhằm thu được trong tường lai một khoản lợi tức. Chứng khoán bao gồm 3 loại chính sau Chứng khoán vốn: cổ phiếu Chứng khoán nợ: trái phiếu Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán: chứng quyền, chứng chỉ thụ hưởng 1.1.2. Một số loại chứng khoán cơ bản 1.1.2.1.Cổ phiếu Cổ phiếu là chứng chỉ cổ phần xác nhận sự góp vốn của người nắm giữ cổ phiêu vào công ty cổ phần và xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu với tài sản và thu nhập của công ty Cổ phiếu được chia làm hai loại chủ yếu sau Cổ phiếu ưu đãi có đặc điểm là thường có mức cổ tức cố định. Người chủ của cố phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường. Nếu số lãi chỉ đủ trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không nhận được cổ tức kì đó. Một vấn đề rất quan trọng trong việc phát hành cổ phiếu ưu đãi là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu đãi. Mặc dù vậy thì cổ phiếu ưu đãi vẫn có ưu điểm với cả nhà phát hành và nhà đầu tư. Tuy nhiên thông thường thì cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Cổ phiếu thông thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì các ưu đIểm của nó đáp ứng được yêu cầu của cả người đầu tư và công ty phát hành. Là cổ phiếu xác định quyền sở hữu của cổ đông trong công ty. Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công ty. Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hội đồng quản trị công bố. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi. Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép phát hành gọi là vốn cổ phần. Phần lớn những cổ phiếu đã phát hành nằm trong tay những nhà đầu tư cổ đông. Những cổ phiếu này được coi là đang lưu hành trên thị trường. Tuy nhiên, có thể chính công ty phát hành mua lại một số cổ phiếu của mình và giữ nó nhằm những mục đích nhất định và những cổ phiếu đó được coi như không lưu hành. 1.1.2.2. Trái phiếu Trái phiếu là thoả thuận vay nợ mang tính chất hợp đồng theo đó người đi vay phát hành trái phiếu với cam kết se trả cho người cho vay, người nắm giữ trái phiếu một số tiền lãi định kì và khi trái phiếu hết hạn là lúc khoản thanh toán cuối cùng sẽ được thực hiện Trái phiếu được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khac nhau • Căn cứ theo chủ thể phát hành Trái phiếu công ty: do công ty phat hành nhằm mục đích gia tăng vốn cho công ty. Tuy nhiên không phải công ty nào cũng được quyền phát hành trái phiếu mà chỉ có những công ty lớn có uy tín trên thị trường Trái phiếu chính phủ: do chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốn phục vụ cho các mục xây dựng các công trình hay tài trợ cho các dự án của chính phủ Trái phiếu chính quyền địa phương do chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích tài trợ cho dự án của chính quyền địa phương • Căn cứ tính chất chuyển đổi của trái phiêu Trái có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi • Căn cứ cách thức trả lãi

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VÀ TRÌNH BÀY VỀ QUY TRÌNH ĐẦU

TƯ VÀO CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HD : TH.S LÊ ĐỨC THIỆN SINH VIÊN TH : NHÓM 06

THANH HÓA, THÁNG 03 NĂM 2014

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 06

1 Lê Thị Hải Yến 11011203 Nhóm trưởng

2 Nguyễn Thị Phương Phú 11010543

3 Phùng Thị Kim Phượng 11011223

4 Lê Thanh Hằng 11014803

5 Ngô Thị Thuỷ 11013133

6 Mai Thị Linh 11022883

7 Lê Thị Duyên 11015153

8 Vũ Thị Vương 11011823

9 Lê Thị Thuỳ Dương 11021523

10 Lê Thị Thu 11024913

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong hoạt động đầu tư chứng khoán, giới đầu tư không mấy ai không biết đến

lý thuyết thị trường hiệu quả trong những lý thuyết được lấy làm nền tảng và là tiên đềbất di bất dịch cho trường phái phân tích kỹ thuật Thị trường chứng khoán có ảnhhưởng rất quan trọng trong nền kinh tế nhất là trong thời kỳ hội nhập WTO Nó gópphần không nhỏ trong việc tang trưởng kinh tế nước nhà Giúp các doanh nghiệp huyđộng nguồn vốn vào đầu tư kinh doanh đưa nền kinh tế phát triển hơn cùng với Ccánước bạn

Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là một trong những thị trường tiềmnăng, đang phát triển rất nóng, đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ công chúng đếnChính phủ vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trườngđầu tư cho công chúng, tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ

mô Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 8 năm, cho đếnnay hầu hết các công ty chứng khoán đã thực hiện nghiệp vụ này đã thu được nhữngkết quả nhất định, tuy nhiên còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục Để thực hiện đầu

tư chưng khoán mỗi một nhà đầu tư đều có cho mình một phong cách đầu tư riêng, vànền móng của các phong cách đầu tư đó là quy trình và các bước tiến hành đầu tư, cácphong cách đầu tư bao gồm: đầu tư theo đà, tăng trưởng , giá trị, kỹ thuật hay lướtsóng, cho dù bạn không theo phong cách nào bạn vẫn phải lựa chọn những cổ phiếu ưathích mua và bán đế tối đa hóa lợi nhuận, bạn cần tính toán thời điểm mua và bán hợp

lý, phân bổ và quản lý danh mục đầu tư Vì vậy để đầu tư chứng khoán có hiệu quảchúng ta phải có một quy trình cụ thể

Chính vì những lý do trên và dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Lê Đức

Thiện nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài :” Tìm hiểu và trình bày về quy

trình đầu tư vào chứng khoán ở Việt Nam”

Trong quá trình làm bài chúng em không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy mong thầy và các bạn đóng góp ý kiến để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn nữa

Chúng em xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 5

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ

Chứng khoán nợ: trái phiếu

Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán: chứng quyền, chứng chỉ thụ hưởng

1.1.2 Một số loại chứng khoán cơ bản

1.1.2.1.Cổ phiếu

Cổ phiếu là chứng chỉ cổ phần xác nhận sự góp vốn của người nắm giữ cổphiêu vào công ty cổ phần và xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ

cổ phiếu với tài sản và thu nhập của công ty

Cổ phiếu được chia làm hai loại chủ yếu sau

Cổ phiếu ưu đãi có đặc điểm là thường có mức cổ tức cố định Người chủ của

cố phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường Nếu số lãi chỉ đủtrả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không nhận được cổ tức

kì đó Một vấn đề rất quan trọng trong việc phát hành cổ phiếu ưu đãi là thuế Khácvới chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức được lấy từ lợinhuận sau thuế Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu đãi Mặc dù vậy thì cổ phiếu ưu đãi vẫn

có ưu điểm với cả nhà phát hành và nhà đầu tư Tuy nhiên thông thường thì cổ phiếu

ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành

Trang 6

Cổ phiếu thông thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì các ưu đIểm của nóđáp ứng được yêu cầu của cả người đầu tư và công ty phát hành Là cổ phiếu xác địnhquyền sở hữu của cổ đông trong công ty Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyềnquản lí, kiểm soát công ty Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hộiđồng quả trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công ty Cổ tức của cổphiếu thường được trả khi hội đồng quản trị công bố Khi công ty giải thể hoặc phásản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toáncác khoản nợ và thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi Lượng cổ phiếu tối đa mà công tyđược cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép phát hành gọi là vốn cổ phần Phần lớnnhững cổ phiếu đã phát hành nằm trong tay những nhà đầu tư - cổ đông Những cổphiếu này được coi là đang lưu hành trên thị trường Tuy nhiên, có thể chính công typhát hành mua lại một số cổ phiếu của mình và giữ nó nhằm những mục đích nhấtđịnh và những cổ phiếu đó được coi như không lưu hành

1.1.2.2 Trái phiếu

Trái phiếu là thoả thuận vay nợ mang tính chất hợp đồng theo đó người đi vayphát hành trái phiếu với cam kết se trả cho người cho vay, người nắm giữ trái phiếumột số tiền lãi định kì và khi trái phiếu hết hạn là lúc khoản thanh toán cuối cùng sẽđược thực hiện

Trái phiếu được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khac nhau

 Căn cứ theo chủ thể phát hành

Trái phiếu công ty: do công ty phat hành nhằm mục đích gia tăng vốn cho công

ty Tuy nhiên không phải công ty nào cũng được quyền phát hành trái phiếu mà chỉ cónhững công ty lớn có uy tín trên thị trường

Trái phiếu chính phủ: do chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốnphục vụ cho các mục xây dựng các công trình hay tài trợ cho các dự án của chính phủ

Trái phiếu chính quyền địa phương do chính quyền địa phương phát hành nhằmmục đích tài trợ cho dự án của chính quyền địa phương

 Căn cứ tính chất chuyển đổi của trái phiêu

Trang 7

Trái có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu

Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi

 Căn cứ cách thức trả lãi

Trang 8

Trái phiếu có lãi suất cố định: lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu vàkhông thay đổi trong suốt kỳ hạn cuả nó Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thườngđược qui định rõ ràng

Trái phiếu có lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thay đổitheo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn nhưgiá bán lẻ

Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được bán theonguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợinhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần chênh lệch giữa giá trị danhnghĩa- mệnh giá trái phiếu và giá mua)

1.1.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán

Gồm các loại chứng khoán sau

Chứng quyền: là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu mới phát hành tạimức giải tường bán ra của công ty Các chứng quyền thường được phát hành cho cổđông cũ, sau đó chúng có thể được đem ra giao dịch

Chứng khế: là các giấy tờ được phát hành kèm theo các trái phiếu, trong đó xácnhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất định

Chứng chỉ thụ hưởng: là giấy xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhàđầu tư cá nhân trong các quỹ đầu tư nhất định Chứng chỉ này có thể được mua bán,giao dịch trên thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá trị khác Chứng chỉ này

do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ tương hỗ phát hành (là tổ chức chuyên nghiệpthực hiện đầu tư theo sự uỷ nhiệm của khách hàng)

1.2 Thị trường chứng khoán

1.2.1 Khái niệm

Trang 9

Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại được quanniệm là nơi diễn ra các hoạt động trong giao dịch mua bán chứng khoán trung và dàihạn Việc mua bán này được tiến hành trên thị trường sơ cấp khi người mua mua đượcchứng khoán lần đầu từ những người phát hành và ở những thị trường thứ cấp khi có

sự mua di bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp

Như vậy xét về mặt hình thức thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra cáchoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó thay đổi chủthể nắm giữ chứng khoán

1.2.2 Chức năng

1.2.2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người thừavốn với người thiếu vốn để họ giúp đỡ nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu và qua

đó để huy động vón cho nền kinh tế, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh tạo công

ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định đời sống dân cư và thúc đẩynền kinh tế phát triển.Thông qua thị trường CK,chính phủ và chính quyền địa phươngcũng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.Thị trường chứngkhoán đóng vai trò tự động điều hoà vốn giữa nơi thừa sang nơi thiếu vốn Vì vậy, nógóp phần giao lưu và phát triển kinh tế Mức độ điều hoà này phụ thuộc vào quy môhoạt động của từng thị trường chứng khoán Chẳng hạn, những TTCK lớn như LuânĐôn, Niu óc , Paris, Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài khuôn khổquốc gia vì đây là những TTCK từ lâu được xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc tế.Cho nên biến động của thị trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bản thân nước

sở tại, mà còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nước khác

1.2.2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Bên cạnh các thị trường mà từ trước đén giờ người dân hay đầu tư như thị trường bất động sản hay hình thức đầu tư qua gửi tiền vào ngân hàng thì từ khi có thị trường chứng khoán nó trở thành một trong những môI trường đầu tư mới cho người dân, giúp họ có nhiều cơ hội lựa chọn hình thức đầu tư hơn Hơn thế nữa thị trường

Trang 10

chứng khoán với các hàng hoá là chứng khoán hết sức đa dạng cũng làm tăng lựa chọnđầu tư cho công chúng

Trang 11

1.2.2.3 Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán

Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứngkhoán thành tiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo đảm chothị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và năng động Không chỉ vậy mà nhờ cóthị trường chứng khoán cung cấp tính thanh khoản mà các chứng khoán do công typhát hành dễ dàng được chấp nhận trên thị trường do nó có thể đựoc mua đi bán lại dễdàng

1.2.2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá chính xác các hoạt động của doanhnghiệp thông qua chỉ số chứng khoán trên thị trường Việc này kích thích các doanhnghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, áp dụng công nghệ mới Ví dụ một loại chưngkhoán như cổ phiếu mà trên thị trường đang có như cầu cao điều đó chứng tỏ hoạtđộng của công ty phát hành đang rất thuận lợi, làm ăn hiệu quả nên giá trị thi trườngcủa cổ phiếu của nó trên thi trường cũng tăng cao Điều đó đồng thời thúc đây doanhnghiệp mở rộng đầu tư thúc đây kinh doanh Có thể nói tối đa hoá giá trị cổ phiếu trênthị trường là một trong những mục tiêu quan trọng trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp

1.2.2.5 Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô

Thông qua các chính sách vĩ mô đối với thị trường chứng khoán chính phủ cóthể định hướng đầu tư hay thúc đẩy thị trường tài chính bởi thị trường chứng khoán làmột trong những thị trường bậc cao nhất của thị trường chứng khoán Ngoài ra chínhphủ cũng có thể huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường

để huy động vốn cho các mục tiêu vĩ mô hay mua bán trái phiếu kiềm chế lạm phát

1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trường

1.2.3.1 Nhà phát hành

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trườngchứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán, hàng hoá của thịtrường chứng khoán Trong đó:

Trang 12

Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ

và trái phiếu chính quyền địa phương

Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ

1.2.3.2 Nhà đầu tư

Đối với các nhà đầu tư tham gia trên SGDCK, thông thường là các tổ chức đầu

tư, các quĩ hưu trí, các quĩ bảo hiểm, cac ngân hàng…Việc tham gia giao dịch tại SGDphải thông qua các công ty chứng khoán thành viên Các tổ chức này do có nguồn vốn

to lớn từ dân cư và các nhà đầu tư uỷ thác nên mới có thể đáp ứng được các yêu cầucủa SGD Đối với các nhà đầu tư cá nhân, họ tham gia váo thị trường chứng khoán chủyếu trên thị trường giao dịch qua quầy hoặc thông qua các tổ chức đầu tư để tham muacác lô chứng khoán trên thị trường

1.2.4 Các công tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

1.2.4.1 Công ty chứng khoán

Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, tự doanh,môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán

Quỹ đầu tư chứng khoán

Các quỹ này hoạt động trên cơ sở tập trung một số vốn lớn thông qua các chủ

sở hữu quỹ hay huy động trên thị trường thông qua phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.Trên cơ sở số vốn đó và với phân tích của các chuyên gia chứng khoán quỹ đầu tư

Các trung gian tài chính

Các trung gian tài chính khác cũng có thể trở thành các tổ chức kinh doanhchứng khoán khi nó mua chứng khoán nhằm mục đích đầu tư sinh lời Chẳng hạn nhưcác ngân hàng mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, hơn nữa chứng khoán cònnhằm mục đích tạo tính thanh khoản cho các tàI sản của ngan hàng hay các công tybảo hiẻm cũng vậy

1.2.4.2 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán

Trang 13

Cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan quản lý nhà nước được thành lập để quản lý hoạt động của thị trườngchứng khoán có vai trò quan trọng nhất Cơ quan này được thành lập với những tên gọikhác nhau, như tại Anh có uỷ ban đầu tư chứng khoán (SBI – securicties investmentboard ) hay tại Mỹ có uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán ( SEC –securities and exchange commisson ) ở Việt Nam thì uỷ ban chứng khoán nhà nướcđược thành lập theo nghị định 75 của chính phủ ngày 28/11/96

Thứ hai: SGDCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần có cổ đông làcông ty chứng khoán thành viên SGDCK tổ chức dưới hình thức này hoạt động theoluật công ty cổ phần và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn về chứng khoán

và thị trường chứng chứng khoán do chính phủ lập ra

Thứ ba: SGDCK được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phần nhưng có sựtham gia quản lý và điều hành của Nhà nước Cơ cấu tổ chức, điều hành và quản lýcũng giống như hình thức công ty cổ phần nhưng trong thành phần hội đồng quản trị

có một số thành viên do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám đốc điều hànhSGDCK do ủy ban chứng khoán bổ nhiệm

Trang 14

Thành viên của SGDCK có thể là cá nhân hoặc các công ty chứng khoán (còngọi là công ty môi giới chứng khoán) Để trở thành thành viên của một SGDCK, công

ty phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt động, phải có sốvốn tối thiểu theo quy định và có những chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo vềphân tích và kinh doanh chứng khoán, ngoài ra công ty còn phải thoả mãn yêu cầu củatừng sở giao dịch riêng biệt Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của hai haynhiều SGDCK, nhưng khi đã là thành viên của SGDCK (thị trường chứng khoán tậptrung) thì không được là thành viên của thị trường phi tập trung (thị trường OTC) vàngược lại

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệ lợiích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung.Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:

Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán

Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định phápluật về chứng khoán

Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên

Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán

Các tổ chức ký gửi và lưu kí chứng khoán

Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ cácchứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ

Các công ty dịch vụ máy tính chứng khoán

Các công ty này cung cấp mạng máy tính và điều hành, sửa chữa mạng máytính cho các sở giao dịch, các công ty chứng khoán…

Trang 15

Nguyên tắc công khai

Theo nguyên tắc này tất cả các hoạt động của thị trường chứng khoan, các vănbản pháp luật, các tài liệu về các công ty niêm yết , báo cáo kết quả kinh doanh dướihình thức bản cáo bạch của công ty này đều phải được công bố rộng rãi công khaikhông có sự che giấu thông tin

Nguyên tắc đấu giá

Khi phát hành hay bán một số lượng lô lớn cổ phiếu thì phải thực hiện đấu giátrên thị trường

Nguyên tắc trung gian

Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường đều được thực hiện thông quacác trung gian

1.2.6 Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, mỗi tiêu thức có một sự phân chia khác nhau

Trang 16

1.2.6.1 Căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn

Thị trường chứng khoán được phân làm hai loại

- Thị trường cấp 1: là thị trường tài chính trong đó diễn ra các hoạt động muabán chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới phát hành lần đầu Các loạihàng hoá như cổ phiếu, trái phiếu của công ty và của chính phủ khi mới phát hành đềuđược đem bán ở thị trường này Việc mua bán chứng khoán trên thị trường cấp 1thường được tiến hành thông qua các trung gian đó là ngân hàng Ngân hàng nàythường được xem như là ngân hàng đầu tư hay ngân hàng bảo hiểm cho việc phát hànhthông qua việc bảo đảm giá cố định của chứng khoán trong qua trình phát hành

Thị trường cấp 2: là thị trường mua bán các chứng khoán đã phát hành Khi một

cá nhân mua chứng khoán ở thị trường cấp 2 thì cá nhân, người vừa bán nó nhận đượctiền bán chứng khoán nhưng công ty phát hành chứng khoán lần đầu tiên không thuđược tiền nữa Một công ty mua được vốn chỉ khi chứng khoán đó được bán lần đầutrên thị trường cấp 1 Việc mua bán ở thị trường cấp 2 thường được thực hiện thôngqua các công ty môi giới

Thị trường cấp 2 thực hiện 2 chức năng sau

Thứ nhất nó tạo điều kiện để bán chứng khoán nhằm thu tiền mặt tức là nó đảmbảo cho những chứng khoán này có tính lỏng thêm Tính lỏng thêm của những chứngkhoán làm chúng được ưa chuộng hơn và như thế là dễ dàng hơn cho công ty pháthành bán chúng ở thị trường cấp 1

Thứ hai thị trường cấp 2 xác định giá của chứng khoán mà công ty phát hànhbán ở thị trường cấp 1 Những hãng mua các chứng khoán ở thị trường cấp một sẽ chỉthanh toán cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường cấp 2 sẽ chấp nhậnnó

1.2.6.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường

Thị trường cũng được chia làm 2 loại, đây cũng có thể coi là cách phân loại củathị trường cấp 2

Thị trường tập trung ( sở giao dịch chứng khoán )

Trang 17

Là nơi mà người mua và bán (hoặc các đại lý môI giới của họ) gặp nhau tại một

vị trí trung tâm để tiến hành mua bán Ví dụ như thị trường giao dịch chứng khoán Mỹ

và NewYork là nơI giành cho cổ phiếu và phòng thương mại Chicago giành cho hànghoá là ví dụ về giao dịch có tổ chức Như trên trình bày thì sở giao dịch chứng khoánhiện nay có 3 hình thức tổ chức

Thị trường phi tập trung ( thị trường OTC - over the counter market)

Thị trường phi tập trung hay thị trường trao tay trong đó các nhà buôn bán tạicác địa đIểm khác nhau có một danh mục chứng khoán và đứng ra sẵn sàng mua vàbán chứng khoán theo kiểu mua bán thẳng cho bất kỳ ai đến cới họ, có ý định chấpnhận giác của họ Do những nhà buôn bán thẳng có tiếp xúc với nhau qua mạng máytính và biết giá của nhau nên thị trường kiểu này có tính cạnh tranh cao và không khácnhiều so với thị trường ở trung tâm giao dịch nói trên

1.2.6.3 Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường

Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bá các trái phiếu đã đượcphát hành, các trái phiếu này bao gồm tráI phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếuchính phủ

Thị trường cổ phiếu

Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, baogồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Thị trường các công cụ phái sinh

Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đI bán lạicác chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyềnchọn…

Trang 18

CHƯƠNG 2 : THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 Khái Quát Chung Về Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

2.1.1 Sự cần thiết phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Do chúng ta xuất phát điểm từ 1 nước nghèo nhưng kể từ sau đổi mới 1986 nềnkinh tế đã có nhưng bước chuyển biến rất nhanh do đó nhu cầu vốn đầu tư tẳng cao.Trong khi đó, quá trình CNH, HĐH lại đòi hỏi ngay một khối lượng khổng lồ vốn dàihạn: trong năm năm 1991-1995, để có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2,8% nămcần 18,6 tỉ USD; thời kì 1996-2000, để đạt được tốc độ tăng trưởng 9 - 9,5% năm thì

dự tính vốn đầu tư đã tăng hơn 2,2 lần, khoảng 40 - 45 tỉ USD; với quy mô như vậyước tính đến năm 2020 vốn đầu tư là 500 - 600 tỉ USD Do đó việc phát triển thịtrường chứng khoán là 1 trong những giải pháp huy động vốn cho các mục tiêu pháttriển kinh tế xã hôi đồng thời giúp nhân dân có thể mở rộng danh mục đầu tư

Ngoài ra sự hình thành thị trường chứng khoán còn có các lý do sau

Sự hình thành của thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn cho cácdoanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh trong đIềukiện nên kinh tế Việt Nam đang ngày cang phát triển và mở rộng hội nhập như hiệnnay

Dưới góc độ vĩ mô thì sự hình thành thị trường chứng khoán tạo ra một thịtrường tài chính hoàn thiện hơn với chúng ta đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt độngcuả thị trường tàI chính

Một thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả là cơ sở giúp hoạch định cácchính sách kinh doanh trong tường lai, đưa ra các dự báo chính xác đồng thời giúp nhànước quản lý vĩ mô với đầu tư thông qua các chính sách với thị trường chứng khoán.Bởi trong một nền kinh tế thị trường chứng khoán là thị trường phát triển bậc cao nhất

2.1.2 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua

Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn khá nhỏ khi so sánh với vá tiêu chuẩncủa Đông Nam Á

Trang 19

Với 2 trung tâm giao dịch chính thức ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hoạtđộng như các đơn vị kinh doanh trực thuộc uỷ ban chứng khoán nhà nước(UBCKNN) Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hoạtđộng tháng 7 năm 2000 với chỉ 2 công ty yết danh Đến giữa năm 2005 công ty nàychỉ có 30 công ty và 249 trái phiếu phát hành cùng với 1 quĩ đóng được yêt danh trênthị trường vào cuối năm 2005 Tổng lượng vốn trên thị trường 5900 tỷ với chứngkhoán yết danh và 33700 tỷ tráI phiếu phát hành và 300 tỷ với quỹ đầu tư Trung tâmgiao dịch ở Hà Nội được thành lập thang 3 năm 2005 các công ty có thể được yếtdanh trên thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội nếu có ít nhất 5 tỷ đồng vốn phápđịnh và 50 cổ đông và làm ăn có lãi trong năm trước.

Hoạt động của thị trường thứ cấp đối với các trái phiếu yết danh vẫn chưa bắtđầu ở Hà Nội nhưng đã chớm bắt đầu ở thành phố Hồ Chí Minh Tính đến đầu năm

2006 giá trị giao dịch hàng ngày của trung tâm giao dịch thành phố Hồ Chí Minh vàokhoảng 3.9 tỷ đồng cổ phiếu và 78.4 tỷ đồng trái phiếu

Tính đến đầu năm 2009 trong số 30 công ty yết danh tại trung tâm giao dịchthành phố Hồ Chí Minh thì có đến 29 doanh nghiệp nhà nước thực hiện bán cổ phiếu

ra ngoài thị trường trong kế hoạch cổ phần hoá trước khi chính thức yết danh Rất ítcông ty sử dụng thị trường chứng khoán làm cơ sở tăng vốn thông qua bán cổ phiếuban đầu ra ngoài thị trường Ngoài ra, phần lớn các trung gian môi giới trên thị trường

có quan hệ chặt chẽ với các tổ chức tài chính nhà nước Hiện tại thị trường có 13 công

ty chứng khoán, 1 công ty quản lý ngân quỹ, 3 ngân hàng lưu kí chứng khoán và 1ngân hàng thanh toán Trong số 13 công ty chứng khoán thì có đến 7 công ty thuộc sởhữu của các ngân hàng thường mại

Ngày đăng: 03/10/2014, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w