LỜI NÓI ĐẦUTài sản là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Nó là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Nói tới tài sản thì ai cũng hình dung ra đó là những của cải, vật chất hữu hình và vô hình của một người nào đó. Nhưng đó chỉ là theo cách nghĩ thông thường mà không có cơ sở pháp lý nào cả. Thực tế cho thấy khái niệm tài sản đã được đề cập từ rất lâu trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý. Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau vô cùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phải có quy chế pháp lý điều chỉnh riêng. Mặc dù vậy nhưng cũng chưa có một văn bản pháp lý nào nêu rõ ràng và đầy đủ khái niệm, đặc điểm, tính chất của tài sản kể cả Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 vẫn đang còn rất nhiều quan điểm được đưa ra và vẫn chưa đi đến thống nhất. Vì vậy, trong bài tiểu luận này em xin chọn đề tài: “Tài sản và hoàn thiện quy định của pháp luật về tài sản”. Qua đó để làm rõ hơn về vấn đề này, từ đó đưa ra những hướng hoàn thiện chặt chẽ Bộ luật để dễ dàng áp dụng trong thực tiễn.NỘI DUNGI Khái niệm tài sản:Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Khái niệm về tài sản chắc chắn đã được hình thành từ rất lâu, gần như song song với lịch sử hình thành loài người. Tài sản là một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là một khái niệm có tính mục đích cao. Khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội. Tài sản không thể được xem xét tách rời các giá trị xã hội. Ta có thể hiểu tài sản là của cải được con người sử dụng. Theo nghĩa này thì tài sản luôn biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, của sự nhận thức con người về giá trị vật chất nên phạm vi của tài sản qua mỗi thời kì lại được nhìn nhận ở một góc độ khác nhau. Có thể nhận thấy tài sản là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần.Theo pháp luật hiện hành tại điều 163 BLDS năm 2005 đã quy định một cách liệt kê về tài sản như sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, và các quyền tài sản”. Trong đó vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không kiểm soát, không chiếm hữu được nó thì cũng đồng nghĩa với việc con người không tác động được vào nó. Do đó, gió, không khí, mưa… thuộc về mặt vật chất nhưng không thể được coi là tài sản về mặt pháp lí. Hơn nữa, là đối tượng của trong quan hệ pháp luật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ. Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện: là bộ phận của thế giới vật chất, con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc hình thành trong tương lai. Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường. Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng. Nó được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kì phiếu, công trái…Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là do Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…; nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền. Ngoài vật, tiền và giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyền tài sản tại Điều 181 của BLDS năm 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Quyền tài sản được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình.II. Đặc điểm của tài sảnTài sản là vấn đề quan trọng khi xem xét các quan hệ có liên quan đến tài sản phát sinh từ các giao dịch dân sự, kinh tế. Chính vì vậy, việc xác định đặc điểm pháp lý của tài sản mang lại ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho hoạt động pháp lý. Xem xét trong nhiều quan niệm về tài sản, cũng như từ khái niệm về tài sản từ Điều 163 BLDS năm 2005 của Việt Nam có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản về tài sản:a. Tài sản có tính giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng tiền. Pháp luật quy định tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Và tiền chính là thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Theo Điều 163 BLDS năm 2005 thì những tài sản còn lại như vaath, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều có thể quy đổi ra tiền.b. Một dấu hiệu luôn nhận thấy từ tài sản đó là việc tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền. Đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc tinh thần. Đây chính là tính lợi ích của tài sản. Cho dù là một vật, giấy tờ có giá, hay một quyền tài sản thì chúng đều trực tiếp hay gián tiếp đáp ứng nhu cầu cho con người.c. Tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự. Cũng chính vì đặc điểm này mà khái niệm về tài sản được thay đổi mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kỳ để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó. Nếu một loại tài sản không thể lưu thông nghĩa là nó không có giá trị trao đổi. Như vậy về một khía cạnh nào đó tài sản đó không mang tính giá trị. Thực tiễn cho thấy rằng tài sản chính là công cụ để phát triển kinh tế, duy trì các hoạt động kinh tế của đất nước. Một loại tài sản không trao đổi được sẽ không thực hiện được chức năng đó.d. Khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản trong pháp lý. Pháp luật là công cụ thể thực quyền lực, thái độ của một nhà nước với các quan hệ xã hội. Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhân một loại tài sản thì nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật. Sự quy định đâu là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự. Tiêu biểu như ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ, chủ nô coi thường người nô lệ là một loại tài sản. Họ bị trao đổi như bất kỳ một loại hàng hóa nào khác. Nhưng khi xã hội tiến dần đến văn minh, nhà nước tiến hành xây dựng một xã hội công bằng văn minh thì quan niệm về tài sản đã khác biệt so với thời chiếm hữu nô lệ.
Trang 1NHÓM: B2MSSV: 372845
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI NÓI ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
I- Khái niệm tài sản: 5
II Đặc điểm của tài sản 6
III Phân loại tài sản 7
1 Bất động sản là các tài sản bao gồm: 8
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.” 8
IV- Những bất cập trong quy định về tài sản của Bộ luật dân sự: 9
1 Về cách quy định tài sản: 9
2- Thiếu vắng các quy định về tiền trong Bộ luật dân sự 13
3- Sự quy định về giấy tờ có giá trong Bộ luật dân sự của nhiều lỗ hổng 14
4- Sự chưa phù hợp trong quy định về quyền tài sản 15
5 Cách hiểu không đúng về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi coi nó là một loại tài sản 17
V- Phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về tài sản 18
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Tài sản là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vựckinh tế và đời sống xã hội Nó là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xãhội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng
Nói tới tài sản thì ai cũng hình dung ra đó là những của cải, vật chất hữuhình và vô hình của một người nào đó Nhưng đó chỉ là theo cách nghĩ thôngthường mà không có cơ sở pháp lý nào cả Thực tế cho thấy khái niệm tài sản đãđược đề cập từ rất lâu trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý Tài sảntrên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau vô cùng phong phú và đa dạng,tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phải có quychế pháp lý điều chỉnh riêng Mặc dù vậy nhưng cũng chưa có một văn bản pháp
lý nào nêu rõ ràng và đầy đủ khái niệm, đặc điểm, tính chất của tài sản kể cả Bộluật dân sự Việt Nam năm 2005 vẫn đang còn rất nhiều quan điểm được đưa ra
Trang 5NỘI DUNG
I- Khái niệm tài sản:
Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt độngtrong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội Khái niệm về tài sản chắc chắn đãđược hình thành từ rất lâu, gần như song song với lịch sử hình thành loài người.Tài sản là một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải
là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là một khái niệm có tính mụcđích cao Khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội Tàisản không thể được xem xét tách rời các giá trị xã hội Ta có thể hiểu tài sản làcủa cải được con người sử dụng Theo nghĩa này thì tài sản luôn biến đổi và pháttriển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, của sự nhận thứccon người về giá trị vật chất nên phạm vi của tài sản qua mỗi thời kì lại đượcnhìn nhận ở một góc độ khác nhau Có thể nhận thấy tài sản là khách thể củaquyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả củacác hoạt động sáng tạo tinh thần
Theo pháp luật hiện hành tại điều 163 BLDS năm 2005 đã quy định một
cách liệt kê về tài sản như sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, và các
quyền tài sản”
Trong đó vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà conngười có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình Vật chỉ có ý nghĩakhi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giớivật chất mà con người không kiểm soát, không chiếm hữu được nó thì cũngđồng nghĩa với việc con người không tác động được vào nó Do đó, gió, khôngkhí, mưa… thuộc về mặt vật chất nhưng không thể được coi là tài sản về mặtpháp lí Hơn nữa, là đối tượng của trong quan hệ pháp luật phải đáp ứng đượclợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ Như vậy, muốn trở thành vật trongdân sự phải thỏa mãn những điều kiện: là bộ phận của thế giới vật chất, conngười chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặchình thành trong tương lai Tiền theo kinh tế - chính trị học là vật ngang giá
Trang 6chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sảnđược coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường Giấy tờ cógiá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giaodịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Nó được hiểu là giấy tờ
có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Giấy tờ cógiá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giaolưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau nhưséc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kì phiếu, công trái…Khác với tiềnchỉ do cơ quan duy nhất là do Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá
có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, cáccông ty cổ phần,…; nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định, luôn lưu hành không
có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không cómệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghidanh hoặc không ghi danh và việc định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ
có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền
Ngoài vật, tiền và giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyền tàisản tại Điều 181 của BLDS năm 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá đượcbằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trítuệ” Quyền tài sản được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chứcđược pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêucầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình
II Đặc điểm của tài sản
Tài sản là vấn đề quan trọng khi xem xét các quan hệ có liên quan đến tàisản phát sinh từ các giao dịch dân sự, kinh tế Chính vì vậy, việc xác định đặcđiểm pháp lý của tài sản mang lại ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho hoạt độngpháp lý Xem xét trong nhiều quan niệm về tài sản, cũng như từ khái niệm về tàisản từ Điều 163 BLDS năm 2005 của Việt Nam có thể rút ra một số đặc điểm cơbản về tài sản:
a Tài sản có tính giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng tiền
Trang 7Pháp luật quy định tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đanăng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác Và tiềnchính là thước đo giá trị của các loại tài sản khác Theo Điều 163 BLDS năm
2005 thì những tài sản còn lại như vaath, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều có thểquy đổi ra tiền
b Một dấu hiệu luôn nhận thấy từ tài sản đó là việc tài sản luôn phải đápứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền Đó có thể là nhu cầu vật chất hoặctinh thần Đây chính là tính lợi ích của tài sản Cho dù là một vật, giấy tờ có giá,hay một quyền tài sản thì chúng đều trực tiếp hay gián tiếp đáp ứng nhu cầu chocon người
c Tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự Cũng chính vì đặc điểm này
mà khái niệm về tài sản được thay đổi mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kỳ đểphù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó Nếu một loại tài sảnkhông thể lưu thông nghĩa là nó không có giá trị trao đổi Như vậy về một khíacạnh nào đó tài sản đó không mang tính giá trị Thực tiễn cho thấy rằng tài sảnchính là công cụ để phát triển kinh tế, duy trì các hoạt động kinh tế của đất nước.Một loại tài sản không trao đổi được sẽ không thực hiện được chức năng đó
d Khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản trong pháp
lý Pháp luật là công cụ thể thực quyền lực, thái độ của một nhà nước với cácquan hệ xã hội Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhân một loại tài sản thì
nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật Sự quy định đâu là tàisản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự Tiêu biểu như ở thời kỳchiếm hữu nô lệ, chủ nô coi thường người nô lệ là một loại tài sản Họ bị traođổi như bất kỳ một loại hàng hóa nào khác Nhưng khi xã hội tiến dần đến vănminh, nhà nước tiến hành xây dựng một xã hội công bằng văn minh thì quanniệm về tài sản đã khác biệt so với thời chiếm hữu nô lệ
III Phân loại tài sản
Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự mà trong đó việc phânloại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của đời sống xã hội
Trang 8Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, bảo đảm nghĩa vụ dân
sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng, bán tài sản, công khai các quyền tài sản,thương mại, tư pháp quốc tế
Thứ nhất, dựa vào đặc tính vật lí của tài sản theo Điều 174 Bộ luật dân sự
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là có thể didời được hay không thể di dời được (một số nước còn dựa vào cả công dụng củatài sản như luật của Pháp coi cả hạt giống, máy móc nông cụ… là bất động sản).Đây là cách phân loại truyền thống mà khá nhiều nước trên thế giới lựa chọn vìcác quy phạm điều chỉnh hai loại tài sản này là hai hệ thống riêng rẽ độc lập vớinhau khi áp dụng cho việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan Nhàlàm luật cũng định nghĩa bất động sản theo 4 phương pháp liệt kê căn cứ vào đóthì hiện nay đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xâydựng, cây cối, tài nguyên… sẽ được coi là bất động sản Tuy nhiên điều luật đãquy định về bất động sản một cách mở chứ không liệt kê khép kín như kháiniệm tài sản của Điều 163 vì
Vậy những tài sản khác mà pháp luật quy định vẫn được coi là bất động sản(như quyền sử dụng đất) Việc phân loại động sản và bất động sản có nhiều ýnghĩa như:
Xác lập thủ tục đăng kí đới với tài sản (quyền sở hữu với bất động sảnđược đăng kí theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đăng kí bất độngsản, quyền sở hữu với động sản thì không đăng kí trừ trường hợp pháp luật quy
Trang 9định khác);
Xác định thời điểm chuyển giao quyền sử hữu đối với tài sản (khoản 1,Điều 168 BLDS 2005 quy định việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất độngsản có hiệu lực từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác, còn khoản 2, Điều 168 quy định việc chuyển quyền sở hữu đốivới động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác);
Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sảnnhất định (pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhất địnhđối cới tài sản của người khác để bất động sản có thể khai thác được công dụngmột cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề);
Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng
là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận (theo quy định tạiĐiều 284 BLDS 2005 thì trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thìđịa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản nếu đối tượng của nghĩa vụ làbất động sản Nếu đối tượng không phải là bất động sản thì địa điểm thực hiệnnghĩa vụ là nơi cư trú, trụ sở của người có quyền);
Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu (như tại Điều 239 BLDS 2005 quyđịnh nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản sẽthuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản thì sẽ thuộc sở hữunhà nước…)
IV- Những bất cập trong quy định về tài sản của Bộ luật dân sự:
1 Về cách quy định tài sản:
Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản
là công cụ của đời sống con người Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệmđời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt Về mặt pháp lý, nhận thức đúng
về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quyđịnh pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý Nhưng ngay Bộ luật Dân sự
2005 của Việt Nam cũng đã diễn đạt khác nhiều so với quan niệm của thế giới
Trang 10về khái niệm tài sản và phân loại tài sản Hệ quả là nhiều quy chế pháp lý liênquan tới tài sản đã không thỏa đáng về mặt khoa học và thực tiễn, gây ảnhhưởng không nhỏ tới giao lưu dân sự và phát triển kinh tế, thương mại.
Theo Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản được quy định như sau: “Tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Có thể thấy đây là cách
đưa ra định nghĩa theo kiểu liệt kê về các loại tài sản mà chưa đưa ra được phạm
vi của nó Điều này sẽ gây bất cập khi phát sinh tài sản mới trong khi đời sốngkinh tế- xã hội đang phát triển từng ngày tài sản ” Đây là cách định nghĩa tàisản mang tính chất liệt kê chứ không mang tính khái quát Theo quy định này thìtài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong bốn loại : Vật, tiền, giấy tờ
có giá hoặc quyền tài sản So với BLDS năm 1995 Điều 172 : “ Tài sản bao gồmvật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản ” thì BLDSnăm 2005 đã kế thừa có phát triển do phát sinh nhiều vấn đề trong việc áp dụng.Thế nhưng, chưa từng một lần những người “có trách nhiệm” giải thích cho giớiluật học hiểu tính đúng đắn của những giải nghĩa như vậy Bản thân tài sản làmột khái niệm động, ngày càng có nhiều yếu tố đang được xem xét như là tàisản: hồ sơ khách hàng, giọng hát của ca sĩ,… Vì vậy, nếu quy định theo cáchliệu kê thì sẽ tạo sự hạn chế trong giao lưu dân sự khi phát sinh ra một tài sảnmới trong xã hội
Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật dân sự
1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật
có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tươnglai cũng được gọi là tài sản Nhưng cũng chưa có một văn bản pháp lý nào haynhững “ người có trách nhiệm ” nào giải thích cho giới luật học hiểu tính đúngđắn và khá quát của những giải nghĩa như vậy Để xây dựng được một kháiniệm hoàn chỉnh về tài sản thì các nhà làm luật phải đưa ra những quan điểmchứng minh và dưới đây là một số những quan điểm đó
Quan điểm thứ nhất cho rằng: tài sản là đối tượng của quyền sở hữu Như
vậy, theo quan điểm này muốn hiểu tài sản là gì thì trước tiên chúng ta phải hiểu
Trang 11Quyền sở hữu là gì Tuy nhiên, tại Điều 164 Bộ luật dân sự 2005 khái niệmquyền sở hữu cũng chỉ được dưa ra theo hướng liệt kê, theo đó, ″Quyền sở hữubao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sởhữu theo quy định của pháp luật″ Do đó, nếu áp dụng khái niệm này thì chúng
ta lại bị rơi vào vòng luẩn quẩn định nghĩa tài sản thông qua một khái niệmquyền sở hữu trong khi đó bản thân khái niệm quyền sở hữu cũng chưa giảiquyết được một cách triệt để, thậm chí còn là phái sinh từ khái niệm tài sản
Quan điểm thứ hai cho rằng: tài sản là của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ
thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc nhưgiường, tủ, bàn ghế, xe mô tô, tờ tiền… Như vậy, theo quan điểm này thì chỉnhững gì thuộc về thế giới vật chất, hiện đang tồn tại và chúng ta có thể cầm,lắm … được thì mới được coi là tài sản Do đó, quyền tài sản không được coi làtài sản
Quan điểm thứ ba cho rằng: tài sản bao gồm động sản và bất động sản.
Đây thực chất là một cách phân loại tài sản dựa trên tính chất vật lý không di dờiđược về mặt cơ học và nó cũng rơi vào vòng luẩn quẩn như quan điểm thứ nhấtkhi định nghĩa tài sản thông qua khái niệm bất động sản và động sản trong khi
đó khái niệm bất động sản và động sản cũng chưa được làm sang tỏ và thậm chímuốn hiểu thế nào là bất động sản và động sản thì phải hiểu thế nào là động sảntrước Hơn nữa, nếu theo quan điểm này thì quyền tài sản không biết được xếpvào bất động sản hay động sản?
Quan điểm thứ tư là : “ Tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự ”.
Thoạt nghe thì thấy quan điểm này cũng có lý vì bất kỳ giao dịch dân sự nàocũng liên quan tới tài sản Nhưng đối với những tài sản cấm giao dịch, tài sảnhạn chế giao dịch thì lại không phải là đối tượng của giao dịch dân sự vì đã là tàisản cấm rồi thì không thể giao dịch được nữa Quan điểm này đưa ra cũng chưathỏa đáng
Quan điểm thứ năm cho rằng : “ Tài sản là những gì định giá được
” Quan điểm trên vẫn còn những điểm chưa hợp lý vì:
Trang 12- Tài sản là những gì định giá được có thể hiểu là tài sản là những gì trị giáđược bằng tiền và tiền ở đây chỉ được hiểu là nội tệ vì “ ngoại tệ không được coi
là tiền, bởi lẽ ngoại tệ không bao giờ được coi là công cụ thanh toán đa năng –một tính năng quan trọng nhất của tiền ” Như vậy, tiền sẽ được định giá bằnggì? Và nó có được coi là tài sản không?
Nếu cứ những gì định giá được thì được gọi là tài sản, vậy tài sản nợ nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ được xem là tài sản vì nó cũng có thể định giá được (cứxem giá của nó là 0 đồng thì giá 0 đồng hoàn toàn khác với không định giáđược), trong khi đó, tài sản thì có thể để lại thừa kế được còn nghĩa vụ trả nợ thìkhông để lại thừa kế được, trừ nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi di sản do ngườichết để lại
Trên đây là năm trong số rất nhiều quan điểm khác nhau về kháiniệm tài sản dưới góc độ pháp lý Tuy nhiên, các quan điểm trên như đã phântích đều bộc lộ những bất cập và chưa đưa ra được tiêu chí để xác định những gìđược gọi là tài sản Thực tế cho thấy trên thế giới, kể cả đối với các nước pháttriển nhưng cách liệt kê trong khái niệm về tài sản trong bộ luật của họ vẫn được
áp dụng Tại đây, người ta thể hiện quan niệm tài sản là các mối quan hệ giữangười với người liên quan tới vật, hơn là nhấn mạnh tới vật có đặc tính vật lýhay vật chất liệu như BLDS 2005 Tuy nhiên có thể nói đây là cách định nghĩakhai thác vào bản chất của tài sản, nghiêng hơn về giác độ nghiên cứu, có thể cónhững khó khăn nhất định khi đưa vào văn bản quy phạm pháp luật Cho nêncách định nghĩa theo kiểu liệt kê các phân loại tài sản cơ bản thích hợp hơn đốivới xây dựng văn bản
Ngoài ra, các quy định về bên thế chấp có thể nhượng bán tài sản thế chấp
và trách nhiệm của người mua tài sản thế chấp đối với bên nhận thế chấp và việcbên nhận thế chấp có thể chuyển nhượng thế chấp là những sự thể hiện điển hìnhcủa các chức năng này Nhưng có thể nói, pháp luật của Việt Nam đã chưa thểhiện được đặc điểm này trong các quy định về tài sản