1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương

151 877 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HẰNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT H

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC KHỐI NÔNG – LÂM – NGƯ KHI DẠY PHẦN

“NHIỆT HỌC” TRONG CHƯƠNG TRÌNH

VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, Năm 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC KHỐI NÔNG – LÂM – NGƯ KHI DẠY PHẦN

“NHIỆT HỌC” TRONG CHƯƠNG TRÌNH

VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG

Chuyên ngành: LL & PPDH VẬT LÝ

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔ VĂN BÌNH

Thái Nguyên, Năm 2010

Trang 3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC KHỐI NÔNG – LÂM – NGƯ KHI DẠY PHẦN

“NHIỆT HỌC” TRONG CHƯƠNG TRÌNH

VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG

Chuyên ngành: LL & PPDH VẬT LÝ

Mã số: 60.14.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, Năm 2010

Trang 4

Công trình được hoàn thành tại ………

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tô Văn Bình

Phản biện 1:………

Phản biện 2:………

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn họp tại:

Vào hồi …….giờ……ngày… tháng… năm 2010

Có thể tìm hiểu luận văn tại trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên

Và thư viện Trường/Khoa: Đại học Sư phạm – Khoa Vật lý

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tô Văn Bình, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Vật lí; thư viện trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Ban giám hiệu, Khoa Khoa học cơ bản trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi chân thành cảm ơn tổ bộ môn Vật lí trường Đại học Nông Lâm, Đại học Khoa học, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật đã giúp đỡ tôi về tư liệu nghiên cứu luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp

và các học viên cùng lớp đã động viên giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010

TÁC GIẢ

Trang 6

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt Danh mục các sơ đồ, hình vẽ Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ, đồ thị MỞ ĐẦU……… 1

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên……… 6

1.1 Cơ sở lý luận về dạy và học Nhiệm vụ dạy học đại học ……… 6

1.1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học ……… 6

1.1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy ………6

1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học……….7

1.1.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy học ………8

1.1.2 Nhiệm vụ dạy học đại học ……… 10

1.2.2.1 Bản chất của quá trình dạy học ở đại học ……… 10

1.2.2.2 Nhiệm vụ dạy học đại học ……….13

1.2 Cơ sở lý luận của việc phát huy năng lực tư duy sáng tạo ……… 14

1.2.1 Khái niệm về tư duy sáng tạo ……… 14

1.2.2 Đặc điểm và các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo ……… 18

1.2.2.1 Đặc điểm của tư duy sáng tạo ………18

1.2.2.2 Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo ……….19

1.2.3 Chủ thể sáng tạo và phẩm chất của người nghĩ sáng tạo ……… 20

Trang 7

1.2.3.1 Chủ thể sáng tạo ……… 20

1.2.3.2 Những phẩm chất của người nghĩ sáng tạo ………… 22

1.2.4 Điều kiện của tư duy sáng tạo ……… 23

1.3 Mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo với các phẩm chất trí tuệ khác …… 26

1.3.1 Mối liên hệ giữa tính tự giác, tích cực, độc lập và tư duy sáng tạo ……… 26

1.3.2 Mối liên hệ giữa tri thức và tư duy sáng tạo ……… … 28

1.3.2.1 Tri thức là gì? ……… 28

1.3.2.2 Vai trò của tri thức với sáng tạo ……… 29

1.3.3 Mối quan hệ giữa năng lực giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo ……… 30

1.3.4 Mối quan hệ giữa tự học và tư duy sáng tạo ……… 31

1.3.5 Mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học và tư duy sáng tạo … 32 1.4 Các biện pháp rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên……… 34

1.4.1 Phương pháp dạy học nêu vấn đề ……… 35

1.4.1.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề……… 35

1.4.1.2 Các đặc trưng cơ bản của dạy học nêu vấn đề……… 36

1.4.1.3 Tình huống có vấn đề……… 37

1.4.1.4 Bài toán nêu vấn đề - Ơrixtic và cấu trúc của nó…… 39

1.4.1.5 Định hướng hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề xây dựng một tri thức mới……… 42

1.4.2 Phương pháp hướng dẫn sinh viên tự học ……… 44

1.4.2.1 Khái niệm tự học……….44

1.4.2.2 Phương pháp hướng dẫn sinh viên tự học……… 44

1.4.3 Phương pháp hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học …… 51

1.5 Thực trạng việc phát huy năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên khối ngành nông – lâm – ngư trong các trường cao đẳng, đại học ………… 53

Trang 8

1.5.2 Thực trạng về điều kiện và phương pháp dạy học của giáo viên.54

1.5.3 Thực trạng về thái độ và chất lượng học tập của sinh viên …….55

Kết luận chương I………57

Chương II: Vận dụng các phương pháp dạy học thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Các nguyên lý nhiệt động học” phần Nhiệt học đại cương theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên … ……… 58

2.1 Vị trí, vai trò, cấu trúc chương “Các nguyên lý nhiệt động học” thuộc phần Nhiệt học trong chương trình Vật lý đại cương ……… 58

2.1.1 Vị trí, vai trò chương “Các nguyên lý nhiệt động học” ……… 58

2.1.1.1 Vị trí ……… 58

2.2.1.2 Vai trò……….59

2.2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Các nguyên lý nhiệt động học” ……….60

2.2 Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Các nguyên lý nhiệt động học” nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên … 62 Bài 1: Nguyên lý thứ nhất của nhiệt động học …… 62

Bài 2: Dùng nguyên lý thứ nhất để khảo sát các quá trình cân bằng của khí lý tưởng ……… 73

Bài 3: Chu trình Cácnô và định lý Cácnô ………89

Bài 4: Hướng dẫn sinh viên làm bài tiểu luận……….105

Kết luận chương II ………106

Chương III: Thực nghiệm sư phạm ……… 107

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 107

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 107

3.3 Đối tượng, cơ sở và phương pháp thực nghiệm sư phạm 107

3.3.1 Đối tượng và cơ sở thực nghiệm sư phạm 107

Trang 9

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm……… 108

3.4 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm……… 109

3.4.1 Phân tích định tính dựa trên theo dõi hoạt động của SV trong giờ học 109

3.4.2 Kết quả định lượng dựa trên kết quả bài kiểm tra viết 109

3.5 Khống chế các tác động ảnh hưởng đến thực nghiệm sư phạm 110

3.6 Nội dung thực nghiệm sư phạm 110

3.6.1 Chọn lớp thực nghiệm và đối chứng 110

3.6.2 Chọn các bài thực nghiệm sư phạm ……… 111

3.6.3 Các GV cộng tác thực nghiệm sư phạm……… 111

3.6.4 Phương pháp xử lý và phân tích kết quả TNSP……….111

3.7 Kết quả thực nghiệm sư phạm 113

3.8 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm sư phạm 123

Kết luận chương III 125

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 131

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.1 : Cấu trúc tâm lý của hoạt động 7

Hình 1.1 : Hệ tương tác dạy học 9

Sơ đồ 2.1 : Cấu trúc nội dung Chương VIII: Nguyên lý thứ nhất của nhiệt động học ……… 60

Sơ đồ 2.2 : Cấu trúc nội dung Chương IX: Nguyên lý thứ hai của nhiệt động học ……… 61

Sơ đồ 2.3 : Tiến trình xây dựng kiến thức giáo án 1 65

Sơ đồ 2.4 : Tiến trình xây dựng kiến thức giáo án 2 76

Hình 2.1 : Chu trình Cácnô thuận nghịch 90

Hình 2.2 : Minh họa cho bài tập làm tiểu luận 90

Sơ đồ 2.5 : Tiến trình xây dựng kiến thức giáo án 3 92

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

chứng 111

Bảng 3.2 : Tổng hợp kết quả thái độ, tình cảm, tác phong của SV 113

Bảng 3.3 : Kết quả kiểm tra bài số 1 114

Bảng 3.4 : Xếp loại kiểm tra lần 1 114

Bảng 3.5 : Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 115

Bảng 3.6 : Kết quả kiểm tra lần 2 117

Bảng 3.7 : Xếp loại kiểm tra lần 2 117

Bảng 3.8 : Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 2 118

Bảng 3.9 : Kết quả kiểm tra lần 3 120

Bảng 3.10 : Xếp loại kiểm tra lần 3 120

Bảng 3.11 : Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 3 121

Bảng 3.12 : Tổng hợp các thông số thống kê qua ba bài kiểm tra TNSP 123

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ Biểu đồ 3.1 : Xếp loại kiểm tra lần 1 115

Đồ thị 3.1 : Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 116

Biểu đồ 3.2 : Xếp loại kiểm tra lần 2 118

Đồ thị 3.2 : Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 2 119

Biểu đồ 3.3 : Xếp loại kiểm tra lần 3 121

Đồ thị 3.3 : Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 3 122

Trang 12

Trong thời đại thông tin, khối lượng kiến thức của nhân loại gia tăng nhanh chóng Vấn đề quan trọng không phải là truyền đạt cho sinh viên bao nhiêu kiến thức, mà là trang bị cho sinh viên khả năng tự thu thập kiến thức,

tự thân phát triển và năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Vì vậy, nếu trước kia mục tiêu giáo dục đại học tập trung vào việc trang bị kiến thức hàn lâm cho sinh viên thì ngày nay bên cạnh mục tiêu về kiến thức và đạo đức nghề nghiệp, các trường còn đề ra nhiều mục tiêu thiết thực không kém phần quan trọng về các mặt: kỹ năng thực hành, khả năng tự học suốt đời, óc phê phán và sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, ý thức lập nghiệp, kỹ năng giao tiếp, làm việc tập thể, phát triển bền vững và ý thức về môi trường, kiến thức

xã hội, đạo đức, thẩm mỹ và tất nhiên cả ngoại ngữ

Nếu trước kia vai trò chính của người thầy là truyền đạt kiến thức còn sinh viên là người tiếp thu kiến thức chủ yếu từ thầy, thì ngày nay vai trò chủ yếu của người thầy là hướng dẫn sự học tập của sinh viên, còn sinh viên tiếp thu kiến thức chủ yếu thông qua tự học và thảo luận nhóm, dưới sự hướng dẫn

Trang 13

của thầy, theo phương châm lấy sinh viên làm trung tâm Để làm được điều này, các trường đã áp dụng nhiều phương pháp dạy và học phát huy tính năng động, sáng tạo của sinh viên như nghiên cứu tình huống, học trên cơ sở giải quyết vấn đề, học qua internet và các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã được tích cực huy động để hỗ trợ cho việc học tập của sinh viên Sinh viên ngày càng tham gia nhiều hơn và có hiệu quả hơn vào các công trình nghiên cứu khoa học để rèn luyện năng lực sáng tạo

Như vậy, người ta nói: dạy ở đại học trên hết là dạy cách học cho sinh viên, là rèn luyện cho họ năng lực tư duy, sáng tạo gắn với năng lực giải quyết vấn đề [5]

Theo xu hướng chung đó của giáo dục đại học các trường thuộc khối ngành Nông – Lâm – Ngư nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng cũng đã tích cực có các biện pháp đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm đưa người học vào vị trí trung tâm, tích cực phát huy năng lực tư duy sáng tạo của người học Tuy nhiên, từ thực tiễn giảng dạy các học phần đại cương nói chung, học phần Vật lý đại cương nói riêng chúng tôi nhận thấy còn rất nhiều hạn chế trong phương pháp giảng dạy của giáo viên như kiểu dạy học chủ yếu vẫn là thuyết trình mang tính chất thông báo, truyền thụ một chiều Đa số giáo viên chỉ tập trung trình bày, giảng giải các kiến thức như các nguyên lý, định luật, các khái niệm mà chưa chú ý tới các ứng dụng của các kiến thức đó trong cuộc sống, trong kỹ thuật, trong chuyên ngành và đặc biệt chưa chú ý phát huy năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên khi dạy học phần kiến thức này

Trong các nội dung của học phần Vật lý đại cương, chúng tôi nhận thấy phần “Nhiệt học” là phần kiến thức có liên quan nhiều đến chuyên ngành của chương trình đào tạo trong khối trường đại học nông – lâm – ngư như các khái niệm áp suất, nhiệt độ, các hiện tượng nhiệt Bên cạnh đó có nhiều nội

Trang 14

dung để sinh viên có thể tự học tự nghiên cứu, phát huy tốt khả năng tư duy sáng tạo

II Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Việc áp dụng cụ thể phương pháp dạy học phát triển và rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo trong dạy học vật lý đã được một số tác giả thực hiện như :

Nguyễn Mạnh Hùng - “Tổ chức và định hướng hoạt động học tự chủ, sáng tạo khi dạy học phần “Các định luật bảo toàn”- Vật lý lớp 10 trung học phổ thong, Luận văn tiến sĩ, 2005; Phạm Thanh Bình – “Phát triển tư duy HS bằng việc vận dụng phương pháp tìm tòi từng phần trong giảng dạy một số bài chương "Dao động điện, dòng điện xoay chiều" - Luận văn thạc sỹ ĐHSP

Hà Nội; Ngô Văn Lý - "Phát triển tư duy HS trung học cơ sở miền núi khi tiến hành thí nghiệm biểu diễn" - Luận văn thạc sỹ ĐHSP Thái Nguyên 1999;

Tô Đức Thắng – “ Tiến hành thí nghiệm biểu diễn nhằm phát triển tư duy HS THPT miền núi khi dạy một số bài chương – Chất khí” - Luận văn thạc sĩ ĐHSP Thái nguyên 2007; Lục Thị Na – “ Phát triển năng lực tự lực, sáng tạo của học sinh miền núi thông qua tổ chức hoạt động giải bài tập Vật lý phân tử

và nhiệt hóa học lớp 10 trung học phổ thông” - Luận văn thạc sĩ ĐHSP Thái nguyên 2005; Nguyễn Thị Huệ – “Tổ chức hoạt động dạy - học theo hướng phát huy năng lực sáng tạo của sinh viên khi dạy chương “Cảm ứng điện từ- Điện từ trường”, học phần điện học vật lí đại cương của các trường Cao đẳng Công nghiệp” - Luận văn thạc sĩ ĐHSP Thái nguyên 2009 Các công

trình này đã có những thành công nhất định trong việc phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh , sinh viên Song để đưa ra một biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên khối trường Nông –

Lâm - Ngư thì chưa có công trình nào công bố

Vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài "Tổ chức hoạt động dạy học

theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các

Trang 15

trường cao đẳng, đại học khối Nông – Lâm - Ngư khi dạy phần "Nhiệt học" trong chương trình Vật lí đại cương "

III Mục đích nghiên cứu

Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối Nông – Lâm – Ngư

Áp dụng vào dạy phần “Nhiệt học” trong chương trình Vật lý đại cương

IV Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Sinh viên ĐH khối Nông – Lâm – Ngư

- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp rèn luyện năng lực tư duy, sáng tạo cho sinh viên

V Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Nghiên cứu lí luận về dạy và học

2 Nghiên cứu lí luận về năng lực tư duy, sáng tạo

3 Điều tra thực trạng về việc rèn luyện năng lực tư duy, sáng tạo của sinh viên cao đẳng, đại học khối ngành nông – lâm – ngư

4 Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối Nông – Lâm – Ngư

5 Xây dựng tiến trình dạy một số bài học trong phần “Nhiệt học” theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên

6 Tổ chức thực nghiệm sư phạm

VI Giả thuyết khoa học

Khi giáo viên có biện pháp rèn luyện phù hợp sẽ trang bị được cho sinh viên khả năng tư duy tốt, tự thu thập kiến thức, tự thân phát triển và năng lực

giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

VII Phương pháp nghiên cứu

1 Nghiên cứu lí luận

Trang 16

2 Điều tra khảo sát thực trạng về việc rèn luyện năng lực tư duy, sáng tạo

của sinh viên cao đẳng, đại học khối ngành nông – lâm – ngư

3 Thực nghiệm sư phạm

VIII Giới hạn đề tài

Nghiên cứu một số biện pháp rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên Áp dụng vào giảng dạy một số bài của chương “Các nguyên lý nhiệt động học” thuộc phần “Nhiệt học” trong chương trình Vật lý đại cương

Trang 17

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC

1.1 Cơ sở lý luận về dạy và học Nhiệm vụ dạy học đại học

1.1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học

Quá trình dạy học các tri thức thuộc một nhóm khoa học cụ thể được hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự tương tác thống nhất, biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học: Giáo viên, học sinh và

tư liệu hoạt động dạy học

1.1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy

Trong phạm vi nhà trường, hoạt động dạy là hoạt động của giáo viên định hướng tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của người học, giúp người học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của bản thân

Theo giáo sư Phạm Hữu Tòng, bản chất của hoạt động dạy học là dạy hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức), do

đó, trong dạy học, giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của người học để qua đó người học chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình

Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm xã hội, đồng thời hình thành sự phát triển phẩm chất và năng lực Hoạt động dạy của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn, tạo diều kiện cho học sinh thực hiện thành công các hành động nhận thức vật lí để cho học sinh tái tạo lại kiến thức, kinh nghiệm xã hội, biến chúng thành vốn liếng của mình đồng thời làm biến đổi bản thân học sinh, hình thành và phát triển những phẩm chất năng lực của họ

Trang 18

Để thực hiện tốt mục đích trên thì giáo viên cần phải nghiên cứu hoạt động học, căn cứ vào đặc điểm của hoạt động học của mỗi đối tượng cụ thể để định ra những hành động dạy thích hợp, trước hết là những hành động để tạo

ra những điều kiện thuận lợi giúp học sinh thực hiện tốt các hành động học tập

1.1.1.1 Bản chất của hoạt động học

Theo quan điểm dạy học hiện đại: Sự học phải là quá trình hình thành và phát triển của các dạng thức hành động xác định của người học, đó là sự thích ứng của chủ thể với tình huống học tập thích đáng thông qua sự đồng hoá (hiểu được, làm được) và sự điều tiết (có sự biến đổi về nhận thức của bản thân) qua

đó người học phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách của bản thân

Sự học là một hoạt động có ý thức của người học bao gồm một hệ thống các thành tố có quan hệ và tác động qua lại: Một bên là động cơ, mục đích, phương tiện; còn bên kia là hoạt động, hành động và thao tác

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc tâm lý của hoạt động [16]

Bản chất của học là hành động thích ứng của chủ thể với tình huống mới, có sự tương tác hỗ trợ của các cá nhân khác và của cộng đồng xã hội

Hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Hoạt động có đối tượng cấu thành từ các hoạt động, hoạt động gồm

Mục đích

Phương tiện tiệ n Hành động

Trang 19

các thao tác Mặt khác hoạt động bao giờ cũng có mục đích, điều kiện và phương tiện cụ thể

Mỗi hành động diễn ra theo các pha: định hướng, chấp hành và kiểm tra Cơ sở định hướng của hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động

Như vậy, sự học nói chung là sự thích ứng của người học đối với những tình huống thích đáng làm nẩy sinh và phát triển ở người học những dạng thức hoạt động xác định, phát triển ở người học những năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách của cá nhân Sự học nói riêng, có chất lượng một tri thức khoa học mới phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới với tính cách là phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá trình làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của người học

1.1.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy học

Trong sự tương tác trong hệ dạy học, mỗi hoạt động của người học diễn

ra theo các pha: “Định hướng - chấp hành - kiểm tra” Trong đó, sự định hướng có vai trò quan trọng với chất lượng và hiệu quả của hành động, giáo viên có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ cho sự hình thành cơ sở định hướng khái quát hành động của học sinh

Để đạt chất lượng hiệu quả cao trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học gồm người dạy (giáo viên), người học (học sinh) và tư liệu hoạt động dạy học (môi trường) thì giáo viên cần tổ chức, kiểm tra, định hướng hành động của người học theo một chiến lược hợp lý sao cho người học tự chủ, chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân và đồng thời từng bước phát triển nhân cách cũng như năng lực trí tuệ

Có thể miêu tả sự tương tác trong hệ dạy học bằng sơ đồ:

Trang 20

Hình 1.1: Hệ tương tác dạy học

Trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học, hành động của giáo viên với tư liệu hoạt động dạy học là khâu tổ chức, cung cấp tư liệu, tạo tình huống

có vấn đề cho hoạt động của người học

Hành động dạy của giáo viên có tác dụng trực tiếp với người học, đó là

sự định hướng của giáo viên đối với hành động của người học với tư liệu, là

sự định hướng của giáo viên với sự tương tác trao đổi tranh luận giữa người học với nhau và qua đó còn định hướng cả sự cung cấp những thông tin liên

hệ ngược từ phía người học cho giáo viên

Hành động học của người học đối với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của người học với tình huống học tập thích hợp nhằm chiếm lĩnh tri thức Sự tương tác của người học với tư liệu còn đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên với người học

Như vậy, bản chất quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của người học dưới vai trò định hướng, tổ chức, điều khiển của giáo viên trong những điều kiện sư phạm nhất định nhằm chiếm lĩnh các tri thức, phát triển nhân lực và hình thành nhân cách của bản thân

Giáo viên

Học sinh

Tư liệu hoạt động dạy học (môi trường)

Liên hệ ngược

Cung cấp tư liệu tạo tình huống

Định hướng

Tổ chức

Thích ứng

Trang 21

1.1.2 Nhiệm vụ dạy học đại học

1.1.2.1 Bản chất của quá trình dạy học ở đại học

Để xác định bản chất của quá trình dạy học ở đại học cần căn cứ vào mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức của loài người với hoạt động học tập của sinh viên và mối quan hệ giữa hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập trong quá trình giáo dục – đào tạo ở đại học

Nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động dạy học nói chung với hoạt động nhận thức thế giới khách quan của loài người và mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của sinh viên, có

thể khẳng định rằng, bản chất của quá trình dạy học ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức và điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học

Như vậy, ngoài những nét bản chất chung của quá trình dạy học, điểm nổi bật trong quá trình dạy học ở đại học là tính chất nghiên cứu, tính độc đáo trong hoạt động của sinh viên

Tính chất nghiên cứu của sinh viên trong quá trình học tập ở đại học (quá trình nhận thức) thể hiện ở chỗ: mỗi sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống các tri thức, kĩ năng, nắm vững cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình

độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt

và lâu dài do thực tiễn xã hội và cách mạng khoa học công nghệ đặt ra Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập ở đại học, người sinh viên không thể chỉ

có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành các hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Điều đó có nghĩa là dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên không tiếp thu một cách máy móc những chân lí có sẵn mà họ có

Trang 22

khả năng tiếp nhận chân lí đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu hoặc mở rộng vấn đề

Mặt khác, trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên đã bắt đầu tham gia vào hoạt động tìm kiếm chân lí mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao tuỳ theo chương trình của học phần như: bài tập nghiên cứu sau mỗi phần học, niên luận, khoá luận, luận văn, đồ án tốt nghiệp Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu, thông qua đó tự rèn luyện các phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và thực tiễn nghề nghiệp đặt ra Tính chất nghiên cứu ở mức độ cao là điểm nổi bật để phân biệt giữa dạy học ở phổ thông và dạy học ở đại học

Tính độc đáo trong quá trình học tập của sinh viên thể hiện ở sự khác nhau so với quá trình học tập của học sinh và quá trình nhận thức của nhà khoa học Cụ thể là:

- Với học sinh phổ thông, trong quá trình học tập, không có nhiệm vụ

tìm cái mới cho nhân loại, mà trước hết là hoàn thành nhiệm vụ lĩnh hội cho được những tri thức mà loài người đã tích lũy và khái quát hóa trong các khoa học Nghĩa là các em nhận thức cái mới với bản thân mình từ kho tàng hiểu biết chung của nhân loại Các tri thức các em lĩnh hội được là các tri thức mang tính cơ bản phổ thông cần thiết cho mọi người trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội sau khi đã gia công về mặt sư phạm lần thứ nhất (thể hiện trong sách giáo khoa) và lần thứ hai (qua vai trò tổ chức, điều khiển của thầy trong quá trình lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức dạy học một cách khoa học nhằm thu được hiệu quả dạy học cao nhất) Do vậy trong thời gian ngắn, học sinh lĩnh hội một cách nhanh nhất, nhiều nhất các tri thức khoa

Trang 23

học trong kho tàng tri thức của nhân loại mà không phải trải qua con đường nhận thức quanh co, gập ghềnh như khi con người tìm ra nó

- Với sinh viên, trong quá trình học tập, họ phải hoàn thành nhiệm vụ

chủ yếu là tiếp thu một cách sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết và những kĩ năng cơ bản về nghề nghiệp trong tương lai Nói cách khác,

họ phải phấn đấu nắm được cơ sở của nghề nghiệp mà họ cần đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp đại học với tư cách là người cán bộ khoa học, kỹ thuật, người cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ cao Do đó, những tri thức mà họ lĩnh hội được không phải những tri thức phổ thông cơ bản mà là hệ thống các tri thức cơ bản, cơ sở của chuyên ngành và hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng về một ngành khoa học, văn hóa nhất định

Song bên cạnh nhiệm vụ nhận thức cái mới đối với bản thân, sinh viên cũng bắt đầu thực sự tham gia tìm kiếm cái mới đối với nhân loại một cách vừa sức Vì thế hoạt động nghiên cứu khoa học đi vào quá trình học tập ở đại học và tồn tại như một bộ phận hữu cơ của quá trình đó

Để có thể hoàn thành tốt hai nhiệm vụ trên sinh viên cần phát huy cao

độ tính tự giác, tích cực, độc lập của bản thân dưới tác động chủ đạo của thầy Nếu như ở phổ thông, tác dụng chủ đạo của thầy mang tính cụ thể, trực quan thể hiện ở tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững các tri thức phổ thông cơ bản có sẵn và bước đầu dần dần tiếp xúc với các hoạt động nghiên cứu ở trình

độ thấp với hình thức giản đơn thì ở trường đại học, tác dụng chủ đạo của thầy mang tính định hướng, khái quát cao để giúp sinh viên hoàn thành được hoạt động nhận thức có tính nghiên cứu, trong đó bao hàm cả hoạt động thực

sự nghiên cứu khoa học tìm ra chân lí mới đối với nhân loại

Trên cơ sở đó, con đường nhận thức của sinh viên về mặt cơ bản là thuận lợi, tuy có những lúc quanh co, trắc trở do hoạt động kiếm tìm chân lí mới gây ra Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, họ đã nắm được cơ sở của

Trang 24

nghề nghiệp tương lai, hình thành được cơ sở ban đầu vững chắc của nhân cách người cán bộ khoa học, kỹ thuật, người cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ đại học

- Với nhà khoa học, nhiệm vụ của họ là đi vào những bí ẩn của thế giới

khách quan phát hiện và chứng minh những tri thức mới, chưa hề biết với nhân loại trong tự nhiên, xã hội, tư duy,… Từ đó nắm được bản chất và các quy luật của chúng làm sâu sắc thêm, phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại Vì vậy, con đường nhận thức của các nhà khoa học là dài lâu, khó khăn, đầy chông gai và đôi khi thất bại

Từ những điều đã trình bày ở trên chúng ta có thể thấy rõ quá trình nhận thức của sinh viên là có tính chất nghiên cứu, nó cao hơn quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận thức của các nhà khoa học

Như vậy trong quá trình dạy học ở đại học, đòi hỏi giáo viên phải có tính tổ chức, điều khiển hoạt động của sinh viên sao cho vừa đảm bảo yêu cầu chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách sáng tạo, có phê phán theo mục tiêu đào tạo đã định, vừa phải tạo điều kiện để sinh viên tham gia vào hoạt động nghiên cứu một cách vừa sức thông qua giải quyết các nhiệm vụ của bài học đặt ra

1.1.2.2 Nhiệm vụ dạy học đại học

Các nhiệm vụ dạy học ở đại học được xác định dựa trên một số cơ sở chủ yếu sau: mục đích và mục tiêu đào tạo của các trường đại học, sự tiến bộ của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc điểm của quá trình dạy học ở đại học, đặc điểm của sinh viên đại học và thực tiễn đất nước, điều kiện xã hội, chính trị, …

Nhiệm vụ thứ nhất là trang bị cho sinh viên hệ thống những tri thức

khoa học hiện đại và hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh

Trang 25

vực khoa học nhất định, bước đầu trang bị cho sinh viên phương pháp luận khoa học, các phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự học có liên quan tới nghề nghiệp tương lai của họ

Nhiệm vụ thứ hai là phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên,

đặc biệt là năng lực tư duy độc lập sáng tạo của người cán bộ khoa học kỹ thuật tương lai

Nhiệm vụ thứ ba là hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan

và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người cán bộ khoa học, kỹ thuật, những cán bộ có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo; có khả năng thích ứng với những thay đổi về nghề nghiệp trong nền kinh tế hàng hóa, có bản lĩnh tự tạo được việc làm, có ý thức thực hiện nghĩa

vụ công dân …

Với những nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục đại học như trên thì một trong những nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong quá trình dạy học ở đại học là phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa nội dung giáo dục tư tưởng chính trị với nội dung tri thức khoa học trên cơ sở nền tảng những tri thức và kỹ năng nghề nghiệp tương lai của người cán bộ khoa học Mặt khác, việc nắm vững tri thức, kỹ năng là cơ sở và điều kiện để phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên Trong mối tương quan giữa dạy học, giáo dục và phát triển, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của của người cán bộ khoa học, kỹ thuật trong tương lai vừa là mục đích, là kết quả đồng thời cũng là cơ sở tư tưởng của việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và phát triển trí tuệ của sinh viên Nó phản ánh rõ nét mục tiêu đào tạo của các trường đại học đáp ứng yêu cầu của xã hội, cách mạng khoa học, công nghệ và yêu cầu của cuộc sống

1.2 Cơ sở lý luận của việc phát huy năng lực tƣ duy sáng tạo

1.2.1 Khái niệm về tƣ duy sáng tạo

Trang 26

Trước tiên, ta đi tìm hiểu về năng lực tư duy trong triết học Triết học chỉ có thể ra đời khi năng lực tư duy trìu tượng của con người đạt đến trình độ phát triển nhất định cho phép khái quát những hiểu biết riêng lẻ, rời rạc thành một hệ thống những quan điểm và quan niệm chung về thế giới Do đó nói đến lịch sử triết học không thể không đề cập tới năng lực tư duy của con người, vốn là điều kiện ra đời của triết học, song do tác động trở lại, triết học cũng là khoa học về những quy luật chung nhất của tư duy

Vào thời cổ đại, Arisotle là người đầu tiên biến tư duy thành đối tượng nghiên cứu của triết học Ông cho rằng tư duy cũng có những nguyên tắc tồn tại độc lập và con người chứng minh phải theo đúng quy tắc ấy Bởi vậy, ông

đã xây dựng phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, đã tìm ra nguyên lý của sự chứng minh tam đoạn luận và phân loại 10 phạm trù nhằm

mở rộng cả hình thức và nội dung của tư duy

Đến thế kỷ 17, Desesceertes cũng đã có câu nói nổi tiếng về tầm quan

trọng của năng lực tư duy đối với sự tồn tại của con người trong vũ trụ: “Tôi

tư duy, vậy tôi tồn tại” Nguyên lý cơ bản đó của ông mang ý nghĩa tiến bộ

trong lịch sử, bởi nó khẳng định rằng mọi khoa học chân chính đều phải xuất phát từ “sự nghi ngờ”, nghi ngờ ở đây không phải là hoài nghi chủ nghĩa mà

là “sự nghi ngờ về phương pháp luận, nghi ngờ để đạt tới sự tin tưởng”, có

nghĩa là tư duy

Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, khi nhận thức của con người đã đạt tới trình độ cao hơn, thì năng lực tư duy không còn giữ nguyên nghĩa mà đã

trở thành năng lực tư duy sáng tạo Bởi lẽ con người ta không chỉ tư duy để

có khái niệm về thế giới mà còn sáng tạo nhằm thay đổi thế giới làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp hơn Cũng chính vì thế mà người ta thường đòi hỏi nền giác dục phải trang bị cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo như là một phẩm chất quan trọng của con người hiện đại, đặc biệt là từ khi thế giới đã bắt đầu

Trang 27

chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức ở nước ta, yêu cầu đó cũng đã được nhiều nhà giáo dục đề nghị đưa vào như là một nội dung quan trọng của một triết lý giáo dục cho nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Nhưng, sáng tạo là gì? Tư duy sáng tạo là gì? Dạy cho học sinh về tư duy sáng tạo là dạy những nội dung gì? Và quan trọng hơn nữa

là dạy như thế nào để thật sự bồi dưỡng và nâng cao được năng lực tư duy sáng tạo của học sinh chúng ta?

Tư duy sáng tạo là chủ đề của một lĩnh vực nghiên cứu còn mới Nó nhằm tìm ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng tạo và để đào sâu rộng khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thể cộng đồng làm việc chung về một đề tài hay lĩnh vực

Theo nghĩa thông thường, sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các ý tưởng và quan niệm mới, hay một kết hợp mới giữa các ý tưởng và quan niệm

đã có Hay đơn giản hơn, sáng tạo là một hành động làm nên những cái mới Với cách hiểu đó thì cái quan trọng nhất đối với sáng tạo là phải có các ý

tưởng, như lời của nhà toán học vĩ đại Poincaré: "Trong sáng tạo khoa học, ý tưởng chỉ là những ánh chớp, nhưng ánh chớp đó là tất cả", hay lời của một

nhà khoa học vĩ đại khác, Linus Pauling, khi trả lời câu hỏi làm thế nào người

ta sáng tạo ra được các lý thuyết khoa học: "Người ta phải cố nắm bắt được nhiều ý tưởng" và "con đường để có được một ý tưởng tốt là có thật nhiều ý tưởng" Từ xa xưa, người ta đã thường nói đến những ý tưởng sáng tạo trong

các lĩnh vực thi ca, âm nhạc, hội hoạ, nghệ thuật Các ý tưởng thường không đến với con người bằng suy luận, bằng tư duy lôgích, mà thường đến ở những giây phút xuất thần nào đó sau những tưởng tượng, những suy tư, những phỏng đoán, những đối chiếu, những so sánh bóng gió, tưởng chừng không liên quan gì đến điều mà mình đang bận tâm suy nghĩ

Trang 28

Việc rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo hiện nay thường gắn liền với một phương pháp nhận thức mới là phương pháp giải quyết bài toán, với quan niệm mới xem rằng nhiệm vụ của khoa học không phải (và cũng không thể) là tìm kiếm chân lý, mà là tìm kiếm lời giải cho những bài toán mà con người liên tục gặp phải trong cuộc sống Yếu tố cốt lõi của phương pháp giải quyết bài toán là tư duy sáng tạo, sáng tạo trong việc xác định bài toán, xác định các mục tiêu của bài toán, tạo sinh các ý tưởng bằng các thao tác trí tuệ như tưởng tượng, phỏng đoán, so sánh với các ẩn dụ, đưa ra các giả thuyết, phê phán và đánh giá các giả thuyết, rồi lựa chọn các lời giải, thực thi từng phần hoặc toàn

bộ một lời giải đã chọn, đánh giá các lời giải khả thi, sửa đổi để hoàn thiện lời giải, …

Sự sáng tạo như một thuộc tính đặc biệt của con người và tương đối huyền bí Các nhà nghiên cứu đã gắn thuộc tính này vào một trong bốn lĩnh vực của sáng tạo:

- Ý tưởng (hay sản phẩm của sáng tạo)

- Quá trình sáng tạo

- Người sáng tạo

- Môi trường sáng tạo

Các sản phẩm sáng tạo bao gồm các công trình nghệ thuật và lí thuyết khoa học Sáng tạo cũng là tổng hợp các thái độ và khả năng giúp con người tạo ra những ý nghĩ, ý tưởng hay hình ảnh sáng tạo

Theo định nghĩa trong từ điển (Việt Nam) thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có Nội dung khái niệm sáng tạo gồm hai ý chính: có tính mới (khác với cái cũ, cái đã biết) Như vậy, sự sáng tạo cần thiết cho bất kì lĩnh vực hoạt động nào của xã hội loài người Trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, trong sản xuất, đó là các sáng tác, tác phẩm …Về thực chất, sáng tạo không chỉ là một đặc trưng chỉ sự

Trang 29

khác biệt giữa người và sinh vật mà còn là đặc trưng chỉ sự khác biệt về sự đóng góp cho xã hội, giữa người này và người khác mà trong kho tàng của giá trị loài người chưa từng có

1.2.2 Đặc điểm và các đặc trƣng cơ bản của tƣ duy sáng tạo

1.2.2.1 Đặc điểm của tư duy sáng tạo

Không có khuôn mẫu tuyệt đối: Cho đến nay vẫn không có phương

pháp vạn năng nào để khơi dậy khả năng tư duy sáng tạo và các tiềm năng khổng lồ ẩn chứa trong mỗi con người Tùy theo đặc tính của đối tượng làm việc và môi trường tại chỗ mà mỗi cá nhân hay tập thể có thể tìm thấy các phương pháp riêng thích hợp

Không cần đến các trang bị đắt tiền: Cho đến nay, các phương pháp tư

duy sáng tạo chủ yếu vẫn là các cách thức tổ chức lề lối suy nghĩ có hướng và các dụng cụ sử dụng rất đơn giản chủ yếu là giấy, bút, phấn, bảng, lời nói, đôi khi là màu sắc, máy chiếu hình, hay từ điển Một số phần mềm đã xuất hiện trên thị trường để giúp đẩy nhanh hơn quá trình hoạt động sáng tạo và làm việc tập thể có tổ chức và hiệu quả hơn

Không phức tạp trong thực nghiệm: Thực nghiệm của hầu hết các

phương pháp tư duy sáng tạo hiện nay rất đơn giản Đa số các phương pháp

đã được ghi sẵn ra từng bước như là những thuật toán

Hiệu quả cao: Các phương pháp tư duy sáng tạo, nếu sử dụng đúng chỗ

đúng lúc đều mang lại lợi ích rất cao, nhiều giải pháp được đưa ra chỉ nhờ vào phương pháp tập kích não Các phương pháp khác cũng đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà phát minh, nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật hay công nghệ

Giảm thiểu được áp lực quá tải của lượng thông tin: bằng các phương

án tư duy có định hướng thì một hệ quả tất yếu là người nghiên cứu sẽ chọn lựa một cách tối ưu những dữ liệu cần thiết, do đó tránh các cảm giác bối rối,

mơ hồ, hay lạc lõng trong rừng rậm của thông tin

Trang 30

1.2.2.2 Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo

Theo Guiford và Loowenfield (hai nhà nghiên cứu Mĩ có công trình độc lập: một người có nghiên cứu về tính sáng tạo khoa học, người kia về tính sáng tạo nghệ thuật) đã thống nhất về tiêu chí của tính sáng tạo (1958): Có tính nhạy cảm về thế giới, tính linh hoạt và năng động tư duy, có cá tính, năng khiếu biến đổi sự vật, tư duy phân tích và tổng hợp, năng lực tổ chức

1 Trong rất nhiều trường hợp quá trình sáng tạo đòi hỏi phải có sự tự lực chuyển các tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới , sự liên hệ giữa tri thức cũ và tình huống mới càng xa nhau bao nhiêu thì độ sáng tạo càng cao

2 Nhìn thấy vấn đề mới trong những điều kiện quen biết đúng quy cách

3 Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết

4 Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng nghiên cứu, thực chất là nhanh chóng nhìn thấy cấu trúc của đối tượng như các bộ phận các yếu tố các mối quan hệ giữa chúng

5 Kĩ năng nhìn thấy nhiều lời giải cho một bài toán, thực chất là tâm

lí chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khác nhau xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau đôi khi mâu thuẫn nhau

6 Kĩ năng biết phối hợp các phương thức giải quyết vấn đề đã biến thành một phương thức mới

7 Kĩ năng sáng tạo một phương thức giải độc đáo khi đã biết các phương thức giải mới

Ngoài ra còn có thể bổ sung thêm những đặc trưng sau:

1 Biết kiểm tra đánh giá giải quyết vấn đề của bản thân và của những người khác

2 Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và phù hợp với điều kiện thực tiễn

Trang 31

3 Tự chủ tin tưởng vào khả năng giải quyết các vấn đề, bản thân không nản trí trước một vấn đề khó mà tìm mọi cách để có phương án giải quyết tốt nhất

1.2.3 Chủ thể sáng tạo và phẩm chất của người nghĩ sáng tạo

1.2.3.1 Chủ thể sáng tạo

Xưa nay, khi nói đến sáng tạo, thường ta chỉ xem đó là hoạt động riêng của một lớp người được gọi là "trí thức", như các nhà khoa học, các nhà thơ, nhà văn, các nghệ sĩ Ngày nay, năng lực sáng tạo để làm nên sự giàu có và sức cạnh tranh của nền kinh tế mới phải là từ mọi thành phần của nền kinh tế

đó, tức là từ mọi người trong xã hội Trong nền kinh tế mới, mọi người đều tham gia sáng tạo, và mọi người đều có năng lực sáng tạo , đó là điểm mới đầu tiên mà chúng ta cần nhận thức được trong quá trình đổi mới tư duy của mình Nói mọi người đều sáng tạo thì có vẻ khó tin, nhưng "đổi mới tư duy" ở đây đòi hỏi trước hết phải xác lập niềm tin đó: Anh là người sáng tạo, tôi là người sáng tạo, mỗi người đều sáng tạo; sáng tạo, có năng lực sáng tạo là thuộc tính

tự nhiên của con người Trong danh sách 10 chìa khóa hàng đầu để phát triển năng lực sáng tạo cá nhân do tổ chức Coachville đề xuất, điều tin rằng mình là người sáng tạo được xem là chìa khóa quan trọng số một Chính chìa khóa tiếp theo là: hãy mở rộng những điều mà mình quan tâm để có thêm nhiều nhận thức mới, kinh nghiệm mới; hãy thu thập thêm nhiều rung cảm, ấn tượng, nhiều thông tin thới chuẩn bị cho sáng tạo; hãy tìm kiếm các mối quan

hệ liên kết, kể cả các mối liên hệ ít ngờ nhất; từ bỏ những thói quen thường ngăn cản ta đến với những điều mới; tạo cho mình một môi trường thoải mái theo sở thích; bố trí thời gian thuận tiện cho mọi hoạt động, có nghỉ ngơi thư giãn, có suy nghĩ, nhớ rằng có những quãng thời gian dài không nghĩ được gì, nhưng cũng có thể có những "năm phút" làm nên sự khác biệt; cần có đức kiên trì; mở rộng mọi giác quan để tiếp nhận mọi tri thức trực giác; và cuối

Trang 32

cùng là biết quên đi nhiều điều mà mình đã biết để luôn có một trí tuệ nguyên lành với đôi mắt tươi sáng

Tất nhiên sáng tạo trong những lĩnh vực khác nhau có thể có những đặc điểm khác nhau, được kích thích bởi những động lực khác nhau, và có những loại sản phẩm khác nhau Sáng tạo của một công nhân có thể là một sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đổi mới sản phẩm, của một doanh nhân có thể là một cải tiến về tiếp thị, một giải pháp mới về quản lý kinh doanh, của một giáo viên có thể là một đổi mới về phương pháp dạy, một cách gợi mở trong việc học toán học hay văn chương, của một nhà khoa học có thể là một phát hiện những điều bị ẩn giấu hay một phát minh ra những tri thức chưa từng biết v.v Cái chung nhất của sáng tạo là tìm kiếm những cái mới, một tri thức mới hay một cách vận dụng mới của những tri thức đã có , một phương

lại là tìm những đóng góp mới để giải quyết các vấn đề mà con người gặp phải trong cuộc sống Có những sáng tạo lớn làm nên những tên tuổi lẫy lừng, nhưng đối với đại đa số con người bình thường, phấn đấu trở thành người sáng tạo, không hy vọng sẽ có tên tuổi được thế giới thừa nhận, mà chỉ mong được một đời sống có ý nghĩa

Sáng tạo là một loại lao động phức tạp và vất vả Nhà phát minh nổi

tiếng Edison nói : "Trong mỗi phát minh có 1% cảm hứng và 99% việc đổ mồ hôi" Vậy để con người có thể hăng say sáng tạo phải có những động lực

mạnh mẽ Ham hiểu biết, tìm kiếm cái hay cái đẹp là động lực thúc đẩy sự nghiệp sáng tạo của biết bao thế hệ các nhà bác học, văn nhân, nghệ sĩ Rồi kinh tế thị trường xuất hiện cùng với chủ nghĩa tư bản, và thị trường với cơ chế cạnh tranh ngày càng khốc liệt dần trở thành nguồn động lực cho sáng tạo, sáng tạo trong sản xuất, trong phát triển công nghệ, trong quản lý kinh doanh, Và đến ngày nay, kinh tế thế giới đã phát triển đến giai đoạn của

Trang 33

"kinh tế tri thức" toàn cầu hóa với một thị trường mở rộng ra phạm vi toàn thế giới, yếu tố "năng lực sáng tạo" trở thành chìa khóa chính cho mọi quốc gia đi vào tiến trình hội nhập, thì việc chăm lo tạo dựng và phát huy năng lực sáng tạo không còn là việc của từng cá nhân, mà trở thành vấn đề chiến lược của mọi quốc gia Đối với các lĩnh vực như khoa học cơ bản, hỗ trợ và khuyến khích các năng lực sáng tạo trong các lĩnh vực này, vai trò của các cơ quan công, trước hết của Nhà nước, vẫn hết sức quan trọng

Sáng tạo cho đến nay vẫn là năng lực riêng có của con người Sáng tạo thường là việc riêng của từng bộ óc, từng con người Nhưng sự tiếp xúc, trao đổi giữa các bộ óc, thường giúp cho các ý tưởng gặp gỡ, đối sánh, chọn lựa, ý tưởng làm nẩy sinh ý tưởng, cho nên sáng tạo cũng có thể được coi là kết quả của tập thể

Ngoài ra trong sáng tạo còn có sự tham gia đắc lực của công nghệ

thông tin và truyền thông trong việc cung cấp các kho thông tin và tri thức ngày càng phong phú và các phương tiện xử lý tri thức ngày càng tinh tế Đó

là sự cộng năng sức mạnh của công nghệ tri thức hiện đại với trí tuệ sáng tạo riêng có của con người để làm nên năng lực sáng tạo chung của mỗi dân tộc

1.2.3.2 Những phẩm chất của người nghĩ sáng tạo

Trang 34

- Hài hước

- Trẻ con, hiếu động

- Biết nghi ngờ

1.2.4 Điều kiện của tƣ duy sáng tạo

1 Sự mô tả về những tình huống đa dạng nói trên trước hết cho ta một

ý nghĩ rằng trong thực tế không có một thời gian nào trong ngày mà con người có đầu óc sáng tạo lại không nảy ra ý kiến về cách giải quyết nhiệm vụ phức tạp trước đó không giải quyết được Thường con người khi đã tìm ra được cách giải quyết mới, một cấu trúc mới, hay một quy luật mới, thì lại coi như là một khám phá ngẫu nhiên, một “món quà” bất ngờ và may mắn Ngày nay, khoa sinh lí học về lao động trí óc đã nói đến “quy luật quán tính của tư duy”, nghĩa là khi nhà khoa học đang quan tâm theo đuổi một ý nghĩ nào đó thì “luồng tư tưởng” có xu hướng tiếp diễn trong thời gian và không gian và

đó là quy luật của sự sáng tạo

2 Hemhôn, một nhà vật lí, nói về quá trình sáng tạo của ông như sau:

“Theo như tôi nhớ rõ, thì những ý nghĩ hay không bao giờ đến trên bàn viết khi óc đã mệt” Ông còn khẳng định sự thật sau đây: Bao giờ cũng cần

phải nghiên cứu trước một cách toàn diện vấn đề tới một mức độ để giữ lại được trong óc mình những góc sắc cạnh, những khía cạnh phức tạp, có thể trở lại với chúng một cách tự do, thoải mái mà không cần ghi chép Thường nếu không có sự nghiên cứu trước một cách lâu dài, bền bỉ thì sẽ không thể đưa vấn đề đến tình trạng đó được Sau đó, khi sự mệt mỏi do quá trình lao động

đó qua đi, khi ta có một trạng thái hoàn toàn trong sạch về thể chất, nhẹ nhõm

về tinh thần, thì lúc đó những ý tưởng hay sẽ đến Thường chúng đến vào các buổi sáng khi chúng ta vừa tỉnh dậy, giống như điều mà Goethe đã nói trong các bài thơ của ông, và đúng như đã có lần Gauss cũng nói, các ý nghĩ hay

Trang 35

“ưa" xuất hiện trong thời gian đi dạo nhẹ nhàng trong thời tiết có ánh mặt trời,

Lời khuyến cáo của Ơirstic là: “Hãy suy nghĩ theo những quy luật khách quan về sự phát triển, chắc chắn bạn sẽ có những sáng kiến, cải tiến, cao hơn những sáng chế, phát minh”

4 Nhiệt tình hay lòng hăng say nghiên cứu

Nhà khoa học Prikhôtcô viết: Công tác nghiên cứu khoa học là quá trình sáng tạo rất công phu và phức tạp, đòi hỏi thường xuyên phải có “lòng hăng say cao độ”, có nhiệt tình công tác Nếu công tác nghiên cứu ta làm với tinh thần thờ ơ lãnh đạm thì nó sẽ trở thành công việc rất thủ công và sẽ không bao giờ đưa lại một cái gì có thực chất cả Không phải ngẫu nhiên mà người ta so sánh sự sáng tạo trong khoa học với những chiến công Cũng như chiến công, nó đòi hỏi toàn bộ năng lực sáng tạo con người phải hoạt động căng thẳng tới mức tối đa

Viện sĩ Ferman nói: “Trong cuộc đấu tranh để giành lấy những bí mật

và sức mạnh của thiên nhiên có chứa đựng phần hạnh phúc của nhà khoa học, có cuộc đời, niềm vui, nỗi đau khổ, sự lôi cuốn, lòng say mê và nhiệt tình nóng bỏng của anh ta” Nhưng nếu như ở người cán bộ nghiên cứu khoa học

không có lòng say mê ấy, nếu anh ta làm việc theo lối “sáng vác ô đi, chiều vác ô về”, nếu tay anh ta không run lên khi tiến hành những lần cân đo, những con tính cuối cùng, thì anh ta không phải là nhà khoa học chân chính

Trang 36

Lênin đã nhấn mạnh rằng nếu thiếu “sự xúc động của con người” thì con người không thể và sẽ không bao giờ có thể tìm thấy chân lí

Newton nói: “Thiên tài là lao động” Ông nói đến một quá trình lao

động kiên trì và bền bỉ, bao gồm việc tích luỹ tri thức về vấn đề nghiên cứu, việc khắc phục lần lượt khó khăn để thực hiện các thí nghiệm

T.Edison, người được mệnh danh “có thể sáng chế ra bất kì thứ gì” nói:

“Trong những công trình của tôi 99% là kết quả lao động cật lực và chỉ 1%

là cảm hứng, may mắn và tài năng”

5 Nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh đến phương pháp Theo họ, phương pháp là điều kiện đầu tiên, điều kiện quan trọng nhất Tất cả tính nghiêm túc của nghiên cứu phụ thuộc vào phương pháp, cách thức hoạt động Tất cả sự nghiệp là nằm ở phương pháp tốt Phương pháp nắm trong tay vận mệnh của công trình nghiên cứu

Landau nói: “Phương pháp quan trọng hơn phát minh, bởi vì phương pháp nghiên cứu đúng sẽ dẫn đến những phát minh mới, giá trị hơn”

Tolstoy nói: “Điều quý báu nhất cần biết không phải là quả đất tròn

mà là làm thế nào để đi đến kết luận ấy”

Khi thực hiện một đề tài cụ thể, cần áp dụng những phương pháp thích hợp Hegel, một nhà phương pháp luận, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nội dung

và phương pháp Ông cho rằng phương pháp là sự vận động của bản thân nội dung, vì vậy không thể nghiên cứu phương pháp mà tách rời nội dung

Nhờ có phương pháp làm việc khoa học, nhà nghiên cứu mới thu được một cách đầy đủ và chính xác các sự kiện Các sự kiện, đó là không khí của nhà khoa học Không có chúng thì sẽ không có khoa học, nhà khoa học phải

có phương pháp tốt để thu thập và xử lí chúng

Trang 37

6 Biết làm việc một cách khoa học: Nhà tổ chức khoa học lao động trí

óc Vedenxki nói: “Ta bị mệt mỏi không chỉ do làm việc nhiều, mà còn do làm

việc tồi” Ông đề nghị các nhà khoa học áp dụng 5 điểm sau đây:

- Bắt tay vào làm việc phải từ từ, làm việc nhẹ nhàng không hấp tấp

- Phải làm việc theo trình tự, hết giai đoạn này đến giai đoạn khác, làm việc có hệ thống

- Phải có chế độ luân phiên thích đáng giữa làm việc và nghỉ ngơi

- Kết hợp lao động chân tay với lao động trí óc

- Thường xuyên và đều đặn rèn luyện trình độ chuyên môn

7 Phải có phương tiện làm việc: Ngay cả những người học giỏi cũng phải có những dụng cụ để sử dụng Galilê đã không thể nhìn theo những Mặt trăng của sao mộc nếu không có kính viễn vọng Pasteur đã không thể thực hiện được công trình của mình nếu không có kính hiển vi Ông bà Curie cũng phải có những dụng cụ để đo lường và thử nghiệm Nhiều khám phá nổi tiếng

đã có thể không bao giờ được thực hiện nếu như các nhà khoa học đã không

có những dụng cụ để làm việc

1.3 Mối liên hệ giữa tƣ duy sáng tạo với các phẩm chất trí tuệ khác

1.3.1 Mối liên hệ giữa tính tự giác, tích cực, tính tự lực và tƣ duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo có mối liên hệ chặt chẽ với các thành phần khác của năng lực trí tuệ như, tính tự giác, tích cực, tính tự lực

Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học có ý thức đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập và qua đó nỗ lực nắm vững các tri thức Trong quá trình dạy học ở đại học, tính tự giác của sinh viên thể hiện qua: Sinh viên hiểu

rõ và nắm vững nhiệm vụ học tập dựa trên cơ sở ý thức được nghề nghiệp tương lai; ý thức được vị trí, vai trò tương lai của mình trong xã hội với tư cách là một cán bộ khoa học; có ý thức đi sâu vào tìm hiểu và vận dụng

Trang 38

những điều đã học vào thực tiễn nghề nghiệp tương lai Tính tự giác là cơ sở, tiền đề để hình thành tính tích cực

Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập, nhận thức Trong quá trình học tập, người sinh viên phải phát huy cao độ các chức năng tâm lí, đặc biệt là các chức năng tư duy

có liên quan đến nghề nghiệp tương lai của mình Tính tích cực chịu ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố tình cảm, ý chí và hứng thú nghề nghiệp Tính tích cực của học sinh, sinh viên có mặt tự phát và mặt tự giác:

Mặt tự phát: Là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học

Mặt tự giác: Là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó

có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học

Tính tích cực nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng

Tính tích cực nhận thức và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là tính tích cực trong tư duy

Tính tích cực nhận thức phát triển đến mức độ cao sẽ làm hình thành tính tự lực nhận thức

Tính tự lực (tự chủ) nhận thức theo nghĩa rộng là sự sẵn sàng về mặt tâm lí đối với sự học , theo nghĩa hẹp , tính tự lực nhận thức là năng lực , phẩm

Trang 39

chất, nhu cầu học tập và khả năng tự tổ chức học tập, cho phép người học phát hiện vấn đề, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình, tạo cơ sở cho việc tự học Trong quá trình học tập, dưới vai trò định hướng của giáo viên, sinh viên có thể tự lực phát hiện vấn đề bài học và tự mình đề ra giải pháp cho vấn đề đặt ra, đó là biểu hiện của tính tự chủ trong học tập Điều này thể hiện rõ tính độc đáo trong hoạt động nhận thức của sinh viên, tính độc đáo này sẽ là cơ sở của sự sáng tạo, có ý nghĩa rất quan trọng cho hoạt động nghề nghiệp của họ sau này

Như vậy, tính tự giác, tính tích cực, tính tự lực nhận thức có mối quan

hệ mật thiết với nhau Tính tự giác nhận thức là cơ sở của tính tích cực , tính tự lực nhận thức , tính tích cực nhận thức là điều kiện , là kết quả , là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển của tính tự lực nhận thức Tính tự lực nhận thức

là sự thể hiện ở mức độ cao của tính tự giác , tính tích cực nhận thức và là cơ sở của tính sáng tạo Tuy nhiên các mối quan hệ này không phải là tuyến tính Tính tự giác , tích cực và tự lực là điều kiện cần của tính sáng tạo nhưng bản thân chúng chưa phải là sáng tạo

1.3.2 Mối liên hệ giƣ̃a tri thƣ́c và tƣ duy sáng tạo

1.3.2.1 Tri thức là gì?

Tri thức là những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật nói chung Tri thức hay kiến thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức Tư duy phản ánh hiện thực khách quan thông qua bộ não con người, là sản phẩm đặc biệt của bộ não Do đó có thể hiểu tri thức là thông tin được chứa trong bộ não

Thành tố cơ bản và đầu tiên là hệ thống những tri thức về tự nhiên xã hội, về tư duy, kỹ thuật và cách thức hoạt động Hệ thống các kiến thức này được lựa chọn từ các khoa học khác nhau và được xây dựng từ những cơ sở khoa học tương ứng, đó là:

- Các sự kiện thông thường và sự kiện khoa học

Trang 40

- Những tri thức đánh giá, những tri thức về các chuẩn mực thái độ đối với các hiện tượng khác nhau của cuộc sống do xã hội quy định

- Những ứng dụng thực tiễn v.v…

Chỉ nắm vững hệ thống tri thức mới có khả năng hình thành trong ý thức học sinh bức tranh chân thực của thế giới, có phương pháp đúng đắn khi tham gia các hoạt động lý thuyết và thực tiễn Hệ thống kiến thức thường xuyên thay đổi và phát triển do luôn luôn có những phát minh khoa học mới, nhất là trong thời đại phát triển vũ bão của khoa học và kỹ thuật hiện tại Do

đó, việc lựa chọn và đổi mới hệ thống tri thức ở các trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay là điều rất quan trọng và phức tạp

1.3.2.2 Vai trò của tri thức với sáng tạo

Không thể có "sáng tạo", nếu không có kiến thức cơ bản tối thiểu [14] Loài người tiến bộ được là nhờ tích lũy được những hiểu biết của các thế hệ trước, rồi mới tìm ra những cái mới cho thế hệ mình , chứ không phải là mỗi thế hệ luôn luôn trở lại thời đồ đá rồi tự phát minh lại từ đầu Cho nên ở mức

độ bình thường , thì phải học cho đủ hiểu biết Điều này đúng cho tất cả mọi cấp "học", từ mẫu giáo, tiểu học, trung học và những năm đầu đại học, ngoại trừ cấp "đào tạo qua nghiên cứu" Nói như vậy, không có nghĩa là học sinh, sinh viên hoàn toàn thụ động, học kiểu "học vẹt": Nếu nhà giáo có nhiệm vụ chuyển giao kiến thức qua bài giảng, người học, ngoài việc phải tiếp thu, cũng còn phải được hướng dẫn để biết tự mình tra sách, tìm tài liệu tại thư viện hay

Ngày đăng: 03/10/2014, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, NXB Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu
Nhà XB: NXB Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2008
2. Lương Duyên Bình (2007), Vật lí đại cương, tập 1, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí đại cương, tập 1
Tác giả: Lương Duyên Bình
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2007
3. Lương Duyên Bình (chủ biên), Bài tập Vật lí đại cương, tập 1, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí đại cương, tập 1
Nhà XB: NXB Giáo Dục
5. Đại học Quốc gia (2003), Giáo dục học đại học, Tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp Giáo dục học đại học và Nghiệp vụ sư phạm đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại học
Tác giả: Đại học Quốc gia
Năm: 2003
6. Nguyễn văn Đồng (chủ biên) (1980), Phương pháp giảng dạy vật lí, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy vật lí
Tác giả: Nguyễn văn Đồng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1980
8. Đặng Vũ Hoạt (Chủ biên) (2005), Lý luận dạy học ở Đại học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở Đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2005
9. Đào Hữu Hồ (2001), Xác suất, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác suất
Tác giả: Đào Hữu Hồ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
10. Lê Văn Hồng (Chủ biên) (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
11. Trần Ngọc Hợi (chủ biên) (2005), Vật lý đại cương – Các nguyên lý và ứng dụng, Tập1: Cơ học và nhiệt học, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý đại cương – Các nguyên lý và ứng dụng, Tập1: Cơ học và nhiệt học
Tác giả: Trần Ngọc Hợi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
12. Nguyễn Văn Lê (1998), Cơ sở khoa học của sáng tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của sáng tạo
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
13. Phạm Hồng Quang (2008), Lý luận dạy đại học, Bài giảng chuyên đề lớp Bồi dưỡng giảng viên Cao đẳng, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy đại học
Tác giả: Phạm Hồng Quang
Năm: 2008
14. Nguyễn Thạc, Phạm Thanh Nghị (1992), Tâm lý học Đại học Sư phạm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tâm lý học Đại học Sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thạc, Phạm Thanh Nghị
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
15. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên) (2004), Học và dạy cách học, NXB Đại học Sư phạm, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
16. Phạm Hữu Tòng (2004), Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực,tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực,tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
17. Phạm Hữu Tòng (2007), Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học Vật lý, Bài giảng chuyên đề Cao học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học Vật lý
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Năm: 2007
18. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Thái Duy Tuyên (2002), Phát huy tính tích cực nhận thức của người học, Tạp chí giáo dục 1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực nhận thức của người học
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Năm: 2002
20. Đức Uy (1999), Tâm lý học sáng tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo
Tác giả: Đức Uy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
21. Lê Hải Yến (2008), Dạy và học cách tư duy, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học cách tư duy
Tác giả: Lê Hải Yến
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
22. I.Ia.LECNE (1997), Dạy học và nêu vấn đề, NXB Giáo duc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và nêu vấn đề
Tác giả: I.Ia.LECNE
Nhà XB: NXB Giáo duc
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc tâm lý của hoạt động [16] - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc tâm lý của hoạt động [16] (Trang 18)
Sơ đồ 2.1: - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Sơ đồ 2.1 (Trang 71)
Sơ đồ 2.2: - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Sơ đồ 2.2 (Trang 72)
Sơ đồ 2.4: Tiến trình xây dựng kiến thức giáo án 2 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Sơ đồ 2.4 Tiến trình xây dựng kiến thức giáo án 2 (Trang 87)
Hình 2.1. Chu trình Cácnô  thuận nghịch - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Hình 2.1. Chu trình Cácnô thuận nghịch (Trang 101)
Hình 2.2: Minh họa cho bài toán - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Hình 2.2 Minh họa cho bài toán (Trang 116)
Bảng 3.1: Chất lượng học tập, đặc điểm SV lớp thực nghiệm và đối chứng - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.1 Chất lượng học tập, đặc điểm SV lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 122)
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả thái độ, tình cảm, tác phong của SV - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả thái độ, tình cảm, tác phong của SV (Trang 124)
Bảng 3.3:  Kết quả kiểm tra lần 1 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra lần 1 (Trang 125)
Bảng 3.4:  Xếp loại kiểm tra lần 1 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.4 Xếp loại kiểm tra lần 1 (Trang 125)
Bảng 3.5:  Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.5 Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 (Trang 126)
Đồ thị 3.1: Đồ thị đường phân bố tần suất lần 1 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
th ị 3.1: Đồ thị đường phân bố tần suất lần 1 (Trang 127)
Bảng 3.6 : Kết quả kiểm tra lần 2 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra lần 2 (Trang 128)
Bảng 3.7:  Xếp loại kiểm tra lần 2 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.7 Xếp loại kiểm tra lần 2 (Trang 128)
Bảng 3.8 : Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 2 - tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên của các trường cao đẳng, đại học khối nông lâm ngư khi dạy phần nhiệt học trong chương trình vật lí đại cương
Bảng 3.8 Phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 2 (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w