Mục tiêu của DHDA hướng tới giáo dục toàn diện học sinh, không chỉ tập trung vào dạy học kiến thức mà còn đặt sự quan tâm chủ yếu đến phát triển kĩ năng sống, khả năng làm việc nhóm, khả
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
và số liệu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và thành kính đến PGS TS Đỗ Hương Trà
- người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ phương pháp giảng dạy khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT Hoàng Quốc Việt, Võ Nhai, Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm đề tài Xin cảm ơn toàn thể học sinh lớp 11A3 đã cộng tác với tôi thực nghiệm thành công đề tài
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả
Hoàng Văn Lượng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Tính tích cực trong học tập 8
1.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập 8
1.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập 8
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực 9
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của người học 10
1.1.4.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học 10
1.1.4.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác 11
1.1.4.4 Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò và sự tự đánh giá 11
1.1.4.5 Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế 11
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 12
1.2.1 Năng lực sáng tạo 12
1.2.2 Chu trình sáng tạo khoa học 12
1.2.3 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí 13
1.3 Dạy học dự án 14
1.3.1 Lịch sử dạy học dự án 14
1.3.2 Khái niệm dạy học dự án 16
1.3.2.1 Khái niệm dự án 16
1.3.2.2 Khái niệm dạy học dự án 16
1.3.3 Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án 17
1.3.4 Phân loại các dự án học tập 18
1.3.5 Các giai đoạn của dạy học dự án 20
1.3.5.1 Chuẩn bị dự án 21
1.3.5.2 Thực hiện dự án 24
1.3.5.3 Khai thác dự án 25
1.3.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA 26
1.4 Thực tiễn dạy học chương “Từ trường” ở một số trường THPT 27
1.4.1 Phương pháp điều tra 28
1.4.2 Kết quả điều tra 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 30
CHƯƠNG II TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” 31
2.1 Nội dung kiến thức về từ trường học sinh đã học ở trung học cơ sở 31
2.2 Nội dung kiến thức chương “Từ trường” SGK Vật lí lớp 11 cơ bản 31
2.3 Mục tiêu dạy học 33
2.4 Tổ chức dạy học kiến thức chương “Từ trường” 34
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.1 Lí do tổ chức dạy học dự án 34
2.4.2 Triển khai bài học thành dự án 34
2.4.3 Kế hoạch bài dạy 37
2.4.3.1 Kế hoạch bài dạy dự án 1,2 37
2.4.3.2 Kế hoạch bài dạy dự án 3 40
2.4.3.3 Kế hoạch bài dạy dự án 4 43
2.4.3.4 Các bước thực hiện dự án 46
2.5 Soạn thảo công cụ đánh giá 47
2.5.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 48
2.5.2 Tiêu chí đánh giá sản phẩm của dự án 49
2.5.2.1 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu 49
2.5.2.2 Tiêu chí đánh giá các sản phẩm thật của dự án: Động cơ điện một chiều 50
2.5.2.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thật của dự án: Khung dây tự quay trong từ trường; chong chóng có giá đỡ từ trường; con quay từ trường 52
2.5.2.4 Tiêu chí đánh giá sổ theo dõi dự án 52
2.6 Cách tính điểm cho mỗi nhóm và mỗi học sinh trong nhóm 59
2.6.1 Cách tính điểm trung bình cho mỗi nhóm 59
2.6.2 Cách tính điểm cho mỗi thành viên trong nhóm 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 61
CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 Mục đích thực nghiệm 62
3.2 Đối tượng thực nghiệm 62
3.3 Thời điểm thực nghiệm 62
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 62
3.5 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 63
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.6 Thu thập số liệu thực nghiệm 66
3.7 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm và cách khắc phục 66
3.7.1 Thuận lợi 66
3.7.2 Khó khăn 66
3.8 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 67
3.8.1 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 67
3.8.1.1 Phân tích diễn biến các tiết học thực nghiệm sư phạm 67
3.8.1.2 Đánh giá kết quả dạy học dự án 75
3.8.2 Đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học dự án đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập 84
3.8.3 Đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học dự án đối với việc phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 48
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu 50
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thật của dự án 51
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả của các nhóm 77
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 1 78
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 2 80
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 3 81
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 4 82
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Viễn cảnh sôi động, tươi đẹp nhưng cũng nhiều thách thức, đòi hỏi ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ
về mọi mặt Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học
và phương tiện dạy học Theo nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”
Định hướng trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 24.2
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác đ ộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh…” [3]
Vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) Giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế thời đại, tuy nhiên nền giáo dục nước
ta trong giai đoạn vừa qua chưa đáp ứng được điều đó Trong kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và nguyên
nhân: “Hoạt động học tập trong các nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là
hướng vào mục đích khoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy ,người học, người quản lý coi trọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn Phương pháp
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
giáo dục nặng về áp đặt thường khuyến khích tiếp thu một cách máy móc, chưa
khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người học ”
Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cũng đang từng bước triển khai
áp dụng Tuy nhiên, trong đề tài này, tôi đề cập đến việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học dự án, hiện đang còn tương đối mới ở Việt Nam
Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học Ở Việt Nam trong những năm gần đây, với mục đích giáo dục toàn diện cho học sinh, cũng đã có nhiều nghiên cứu vận dụng DHDA, đặc biệt là dạy học một số kiến thức vật lí
Nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh, trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng làm việc, kỹ năng sống, chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh tìm hiểu lí thuyết sách giáo khoa (SGK) mà còn phải hướng dẫn học sinh (HS) thực hành, ứng dụng lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống Tổ chức học tập
lí thuyết và tổ chức học tập thực hành, ứng dụng thực tiễn trong quá trình giáo dục học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học cần được coi trọng trong quá trình tổ chức dạy học Việc tổ chức thực hành, hướng dẫn học sinh vận dụng
lí thuyết vào thực tế như thế nào để đảm bảo mục tiêu dạy học là rất quan trọng đối với mỗi giáo viên (GV)
Từ đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (Project method) và coi đây là phương pháp dạy học quan
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống Mục tiêu của DHDA hướng tới giáo dục toàn diện học sinh, không chỉ tập trung vào dạy học kiến thức mà còn đặt sự quan tâm chủ yếu đến phát triển kĩ năng sống, khả năng làm việc nhóm, khả năng tư duy sáng tạo, giúp học sinh biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết các vấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong thế kỉ XXI, hưởng ứng phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Trước đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy học dự án như: “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương “Dòng điện xoay chiều” sách giáo khoa vật lí lớp 12 nâng cao trung học phổ thông”- Vũ Văn Dụng- Luận văn thạc sĩ, ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009; “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “Dòng điện trong chất bán dẫn” sách giáo khoa vật lí lớp 11 nâng cao trung học phổ thông”- Phạm Văn Hoạch- Luận văn cao học ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009 hay trong luận văn cao học năm 2006 của Trần Thị Thuý Hằng và Đào Thu Thuỷ, ĐHSP Hà Nội 2005 đã vận dụng dạy học dự án vào việc việc tổ chức các hoạt động nhận thức khi dạy học các kiến thức về bảo toàn năng lượng lớp 9 và cảm ứng điện từ lớp 11,
“Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá khi dạy học các nội dung kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 ban cơ bản - Nguyễn Thị Diệu Linh - luận văn thạc sĩ ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, năm 2009
Cũng có một số đề tài đã nghiên cứu về từ trường như: “Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp vào dạy học một số bài học phần "Từ trường" và
"Cảm ứng điện từ" lớp 11 Trung học phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh” của Dương Xuân Hải – Luận văn thạc sĩ 2006; “Xây dựng
tiến trình dạy học chương Từ trường (Vật lí 11 Cơ bản) nhằm phát triển hoạt
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
động nhận thức vật lí tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS miền núi” của Nguyễn Thị Huyền – Luận văn thạc sĩ 2010 Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về vận dụng dạy học dự án để tổ chức các hoạt động dạy học nội dung kiến thức chương “Từ trường” Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Là một học viên cao học đồng thời là một giáo viên dạy học ở trường trung học phổ thông (THPT), tôi nhận thấy việc nghiên cứu tổ chức dạy học
dự án nội dung kiến thức chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản là một nghiên cứu hấp dẫn, đáp ứng một phần đòi hỏi của thực tiễn dạy học vật
lí hiện nay với hy vọng có thể giúp học sinh vận dụng được các kiến thức vật lí vào đời sống thực tiễn, khơi dậy lòng say mê và phát triển năng lực sáng tạo
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy học dự án một
số nội dung kiến thức chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức trong chương “Từ trường”- Vật lí 11 ban cơ bản, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, hướng tới phát triển kỹ năng tư duy bậc cao, rèn luyện cho học sinh khả năng giải quyết các vấn đề trong bài học và trong thực tiễn cuộc sống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các nội dung kiến thức chương “Từ trường” Sách giáo khoa (SGK) Vật
lí lớp 11 ban cơ bản
Hoạt động dạy và học theo dự án một số nội dung kiến thức chương
“Từ trường” Sách giáo khoa Vật lí lớp 11 ban cơ bản tại trường trung học phổ thông Hoàng Quốc Việt, Thái Nguyên
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng cơ sở lí luận của dạy học dự án để tổ chức hoạt động dạy học một số nội dung kiến thức “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản đáp ứng các yêu cầu của việc tổ chức hoạt động nhận thức thì sẽ giúp học sinh vận
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dụng được các kiến thức vật lí vào đời sống thực tiễn, phát huy tính tích cực
và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu các quan điểm dạy học hiện đại, trong đó đặc biệt quan tâm đến cơ sở lí luận của dạy học dự án
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Từ trường”- Sách giáo khoa Vật lí lớp 11 ban cơ bản
- Tìm hiểu thực tế dạy và học môn vật lí đặc biệt là chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
- Vận dụng lí luận của dạy học dự án để xây dựng tiến trình dạy học dự
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lí luận của dạy học dự án để làm cơ sở định hướng cho việc thực hiện mục đích nghiên cứu Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
viên và các tài liệu tham khảo để xác định mức độ nội dung kiến thức vật lí ở chương “Từ trường” mà học sinh cần tiếp thu được
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu việc dạy (thông qua phỏng vấn, trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với học sinh, phiếu điều tra cơ bản) nhằm sơ bộ đánh giá tình hình dạy học chương
“Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo kế hoạch Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài
7 Đóng góp của đề tài
- Làm rõ cơ sở lí luận về dạy học dự án trong dạy học vật lí
- Vận dụng cơ sở lí luận của dạy học dự án để tổ chức hoạt động dạy học một số nội dung kiến thức chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản, có thể làm tư liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức chương
“Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tính tích cực trong học tập
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình
1.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú: Học sinh chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy, cô giáo, khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn
- Biểu hiện bên trong: Những biểu hiện này khó phát hiện hơn, ví dụ có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học
- Biểu hiện qua kết quả học tập: Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới và đạt kết quả học tập tốt hơn
1.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
người học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung Theo
G.I.Sukina chia tính tích cực ra làm ba cấp độ:
- Tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): Học sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết tình huống nhận thức): Học sinh tìm cách độc lập giải quyết bài tập đã nêu ra, tìm ra lời giải hợp lí nhất
- Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): Học sinh nghĩ ra cách giải mới hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực
Có nhiều yếu tố thúc đẩy quá trình dạy và học tích cực, trong đó có một
số yếu tố cơ bản sau:
- Sự gần gũi của kiến thức với thực tế: Để tạo mâu thuẫn nhận thức, tạo động cơ, hứng thú tìm cái mới, cần xây dựng tình huống có vấn đề Kích thích hứng thú học tập của học sinh thông qua các tình huống có vấn đề gắn với những nội dung có tính thực tiễn, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các
em, gắn với thực tế hoặc những vấn đề có tính mới mẻ nhưng không quá xa lạ với các em
- Sự phù hợp với mức độ phát triển nhận thức: Cần có sự lựa chọn kĩ các vấn đề vừa sức và cần xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể Giáo viên cũng cần tính đến sự khác biệt
về trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh Các yêu cầu đưa ra phải rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa
- Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú học tập cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môi trường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên và giúp đỡ lớp học sao cho các học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, đưa học sinh vào thế học tập chủ động
- Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: Cần thay đổi xen kẽ nhiều hình thức tổ chức dạy học như làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, tập thể, lớp
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (các học sinh trong nhóm hỗ trợ nhau và hỗ trợ từ phía giáo viên)
- Phạm vi tự do sáng tạo: Nên để học sinh được lựa chọn hoạt động, được tham gia đánh giá hoạt động dạy học, được quyết định quá trình thực hiện nhiệm vụ Giáo viên cần động viên khuyến khích học sinh tự mình giải quyết vấn đề
- Ngoài ra, việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại một cách phù hợp và thay đổi cách kiểm tra đánh giá cũ cũng là động lực quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động tích cực của học sinh
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của người học
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập là một phương pháp dạy học mang tính chất đổi mới, vì vậy nó có những đặc trưng riêng cụ thể
1.1.4.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, học sinh được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Học sinh được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Nhờ đó, học sinh không những nắm được kiến thức mới, kĩ năng mới mà còn nắm được phương pháp xây dựng những kiến thức, kĩ năng,
tự lực khám phá những điều mình chưa rõ
1.1.4.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Trong phương pháp học thì phương pháp cốt lõi là phương pháp tự học,
là cầu nối giữa phương pháp học tập và phương pháp nghiên cứu khoa học Việc dạy phương pháp học phải được quan tâm đúng mức để rèn luyện khả năng học tập liên tục, suốt đời cho học sinh Trong quá trình dạy học phải rèn
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng những điều đã học vào thực tiễn, biết tự phát hiện, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà còn tự học ngay cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên, tạo
sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động
1.1.4.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Lớp học là một môi trường giao tiếp sư phạm Thông qua sự hợp tác tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, tán thành hay phản đối, qua
đó người học nâng mình lên một trình độ mới
Trong trường phổ thông hiện nay, học tập hợp tác thường được sử dụng
là hợp tác trong nhóm nhỏ có khoảng từ 4 đến 6 học sinh Mỗi cá nhân đều phải nỗ lực để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể đã được giao, toàn nhóm phải phối hợp để đạt một mục tiêu chung Trong quá trình học tập theo nhóm, học sinh có nhiều bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết của mình cũng như biết cách bảo vệ ý kiến của mình Đó là cách tốt nhất để hình thành cho học sinh tính tích cực, độc lập trong suy nghĩ cũng như trong hành động
1.1.4.4 Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò và sự tự đánh giá
Mục đích của đánh giá học sinh trong dạy học nhằm nhận định thực trạng và điều chỉnh việc dạy của thầy và việc học của trò
Trước đây giáo viên giữ vai trò độc quyền đánh giá, học sinh là đối tượng được đánh giá Trong phương pháp dạy học tích cực giáo viên còn phải hướng dẫn cho học sinh năng lực tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần mà nhà trường cần phải rèn luyện cho học sinh
1.1.4.5 Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương pháp dạy học tích cực còn tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, kĩ
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thuật, đội ngũ giáo viên, khả năng của học sinh Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, thiết bị dạy học hiện đại khi cần thiết
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Ngoài việc bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực trong học tập, chúng ta cũng rất cần bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo để có thể giải quyết tốt những tình huống trong học tập cũng như trong cuộc sống
1.2.1 Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy từ cái đã biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước làm theo
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể Trong bất cứ lĩnh vực nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời một kiến thức nào đó
1.2.2 Chu trình sáng tạo khoa học
V.G.Radumopxki khái quát những lời phát biểu của nhiều nhà khoa học nổi tiếng nói về sự sáng tạo như: Anhxtanh, Plăng, Kapitxa… đã nêu lên chu trình sáng tạo khoa học gồm bốn giai đoạn theo sơ đồ:
Mô hình giả
thuyết
Các hệ quả logic
Thí nghiệm kiểm tra
Sự kiện xuất
phát
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ việc khái quát những sự kiện xuất phát, nhà khoa học xây dựng một
mô hình giả định, từ mô hình đó rút ra hệ quả bằng suy luận logic hay toán học chặt chẽ, cuối cùng đưa ra phương án thí nghiệm để kiểm tra hệ quả đó trong thực tiễn Nếu kết quả thí nghiệm phù hợp với hệ quả lý thuyết thì mô hình giả thuyết đó được xác nhận là đúng đắn và trở thành chân lí Nếu kết quả không phù hợp với hệ quả lý thuyết thì phải xem lại mô hình giả thuyết, chỉnh lí hoặc sửa đổi Mô hình trừu tượng được xác nhận trở thành nguồn tri thức mới, tiếp tục dùng để suy ra những hệ quả mới, giải thích những sự kiện mới phát hiện Chu trình sáng tạo không khép kín mà mở rộng dần ra Nhận thức của con người ngày một hoàn chỉnh, chính xác, phản ánh đúng thực tế khách quan hơn
Trong chu trình này có hai giai đoạn không thể dùng tư duy logic biện giải mà phải nhờ vào trực giác khoa học Đó là giai đoạn chuyển từ việc khái quát hóa những hiện tượng cụ thể tới một mô hình giả định trừu tượng và giai đoạn từ những tiên đoán hệ quả lý thuyết đến việc kiểm tra chúng bằng thực nghiệm Hai giai đoạn này đòi hỏi có sự sáng tạo cao
1.2.3 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí
Trong dạy học nói chung có một số biện pháp sau:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết
- Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán
- Cho học sinh làm các bài tập sáng tạo: bài tập thiết kế và bài tập nghiên cứu
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong chương trình dạy Vật lí ở trung học người ta đặc biệt chú trọng rèn luyện cho học sinh khả năng dự đoán và đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán, nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Một trong những phương pháp dạy học phát huy cao độ tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập là phương pháp dạy học dự án
1.3 Dạy học dự án
1.3.1 Lịch sử dạy học dự án
Dạy học dự án ( Project based - learning) hay còn gọi là dạy học theo
dự án, dạy học tiếp cận dự án, là một phương pháp đã được sử dụng một thời gian khá lâu trên thế giới, tuy nhiên trong gần một thập kỉ trở lại đây, việc triển khai dạy học dự án đã phát triển chính thức thành một phương pháp dạy học ở nước ta Theo các nhà giáo dục học thì học tập dự án sẽ khiến học sinh hứng thú hơn vì họ được tham gia vào giải quyết những vấn đề mang tính thách thức cao, đôi khi lại rất khó khăn nhưng rất sát với thực tế đời sống
Từ đầu thế kỉ 19, cách học theo dự án đã được xây dựng trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí và các nhà giáo dục Jerome-Bruner, Jean Piaget, Jonh Dewey, William H Kilpatric … Một trong những thử nghiệm đầu tiên đã được Deway tiến hành tại đại học Chicago của nước Mĩ Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ mà trong đó họ tham gia học đọc, viết, tính toán, học cách lắng nghe người khác, cách đảm nhận trách nhiệm…
Từ đó Deway rút ra ba khẳng định chắc chắn: Tất cả học sinh, để học tập, phải tích cực và làm ra một cái gì đó Tất cả học sinh phải học cách suy nghĩ
và giải quyết các vấn đề và tất cả các học sinh phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội Quá trình học tập theo dự án cho phép lớp học trở thành môi trường làm việc mà học sinh là trung tâm của việc
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
học dự án Tầm quan trọng của dự án học tập là kinh nghiệm và kiến thức thu được trong quá trình thực hiện dự án chứ không chỉ là kết quả cuối cùng
Năm 1918, William H Kilpatric (1871-1965) viết một bài báo gây tiếng vang lớn, có tiêu đề là “ Phương pháp dự án” Sau đó ông đã phổ biến rộng rãi phương pháp này trong các giờ dạy của mình, qua các cuộc hội thảo
và qua sách báo Ông cho rằng: Một dự án là một hoạt động có mục đích cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường xã hội
Người tiên phong trong dạy học dự án ở Châu Âu là Celestin Freinet (1896-1966) Theo ông lớp học là một nơi phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu các thông tin, trao đổi ý kiến hoặc trả lời thư nhận được từ các lớp học sinh khác, hoặc chuẩn bị các điều tra ngoài lớp học, phân tích các dữ kiện, hoặc trình bày các bài báo… Trong môi trường như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú, góp phần tạo nên những cá nhân có đầu óc phát triển chứ không phải các cá nhân có đầu óc được rót đầy kiến thức
Học tập theo dự án đã tạo nên một sự chuyển biến xã hội- giáo dục ở Bắc Mĩ và Châu Âu Nền tảng của chuyển biến này đã đem lại cho học sinh
sự hứng thú tiếp nhận kiến thức, thay đổi phương pháp làm việc, tham gia một cách tích cực, có ý thức vào việc thiết lập tri thức trong quá trình học
Trong dạy học dự án, công cụ dạy học là một vấn đề khá quan trọng, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ thông tin Khi tổ chức dạy học dự án, máy tính nối mạng giúp các học viên khai thác các thông tin từ nhiều nguồn, giúp gia tăng sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm để đạt được một cách tối
ưu mục đích học tập
Tại Việt Nam, đầu thế kỉ 21, các phương pháp dạy học mở, đặc biệt là phương pháp dạy học dự án đã được đưa vào nhằm đáp ứng tình hình phát
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
triển thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Vậy phương pháp dạy học dự án là gì? Phương pháp dạy học dự án có đặc điểm gì?
1.3.2 Khái niệm dạy học dự án
1.3.2.1 Khái niệm dự án
Thuật ngữ dự án trong tiếng anh là project, có gốc tiếng La tinh là projicere có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia thì “dự án là tập hợp các công việc nối tiếp nhau, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, với những nguồn lực nhất định nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng hướng đến” [15]
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp dạy học mở tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện
1.3.2.2 Khái niệm dạy học dự án
Dạy học dự án ( Project based- Learning) là một phương pháp dạy học tích cực trong đó giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập
kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.[15]
Dự án học tập có thể nảy sinh từ ý tưởng của người dạy hoặc người học, từ một câu hỏi hoặc từ một vấn đề quan tâm trong một tiết học hoặc một cuộc tranh luận hàng ngày Dự án học tập có thể liên quan tới một hoặc nhiều môn học khác nhau, có thể được thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm, có thể diễn ra trong thời gian dài ngắn khác nhau, diễn ra trong phạm vi lớp học hoặc vượt ra ngoài khuôn khổ trường học Dạy học dự án nhắm đến những mục tiêu giáo dục cụ thể, quan trọng như các chuẩn kiến thức, kĩ năng của
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
môn học, bài học, phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo, tư duy bậc cao, hay các kĩ năng cần cho cuộc sống và công việc như khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm… chứ không phải chỉ là trò giải trí hoặc bổ sung cho chương trình “thực”
Vì những đặc điểm trên nên DHDA có một số yêu cầu cụ thể:
- DHDA không thích hợp với việc truyền đạt những kiến thức lý thuyết mang tính hệ thống Giáo viên nên chọn những kiến thức, nội dung môn học
có ý nghĩa thực tiễn cao để thực hiện dự án
- DHDA yêu cầu giáo viên phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, tổ chức thành thạo các hoạt động của dạy học theo nhóm, còn học sinh phải tích cực, chủ động, biết cách làm việc độc lập và làm việc hợp tác
- DHDA thường yêu cầu có phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
- DHDA cần sự tích hợp công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng Internet Cần lựa chọn thời gian phù hợp với điều kiện học tập của học sinh để thực hiện dự án
Vì những yêu cầu khá chặt chẽ của DHDA nên nó cũng mang lại nhiều
ý nghĩa to lớn đối với giáo viên cũng như học sinh
1.3.3 Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án
Dạy học dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho cả giáo viên lẫn học sinh Ngày càng nhiều các nghiên cứu lí luận ủng hộ việc áp dụng việc dạy học dự
án trong trường học để khuyến khích học sinh, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập
Đối với học sinh
- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác do khi được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệm
hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học
- Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp như tư duy bậc cao, giải
quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp
- Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hút
những học sinh thuộc các vùng văn hóa khác nhau
Với nhiều học sinh, tính hấp dẫn của DHDA xuất phát từ tính thực tiễn của kinh nghiệm Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những người đang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể Ví dụ như thiết kế và tạo ra mô hình của một máy phát điện, động cơ điện, thực hiện một đoạn video tài liệu
về vấn đề môi trường, thiết kế tờ rơi hướng dẫn du lịch, quảng bá về các di tích lịch sử quan trọng ở địa phương, hay thiết kế bài trình bày đa phương tiện
về những mặt lợi và hại trong việc xây dựng phố mua sắm, học sinh đã được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học
Đối với giáo viên
Những ích lợi do dạy học dự án mang lại là việc nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh Bên cạnh đó, nhiều giáo viên cảm thấy hài lòng với việc tìm ra được một mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng học sinh đa dạng bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học Giáo viên cũng nhận thấy rằng người được hưởng lợi nhiều nhất từ dạy học theo dự án là những học sinh không học tốt được theo cách dạy học truyền thống
1.3.4 Phân loại các dự án học tập
DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại dạy học dự án:
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
* Phân loại theo chuyên môn
Tùy thuộc dự án trong từng môn cụ thể hay dự án có sự liên hệ của
nhiều môn học khác nhau mà phân ra thành các loại dự án cụ thể như:
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học Ví dụ: dự án thiết kế mô hình máy phát điện khi học về hiện tượng cảm ứng điện từ của chương “Cảm ứng điện từ” của môn Vật lí lớp 11 cơ bản, dự
án tìm hiểu các loại về biện pháp nâng cao nâng suất lúa – môn công nghệ lớp
10, dự án thiết kế mô hình nhà máy hóa chất Sunphat – môn Hóa học
- Dự án liên môn: Nội dung dự án liên quan đến nhiều môn khác nhau
Ví dụ: dự án “Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm môi trường sống trong thành phố
và biện pháp khắc phục” (lí- sinh-địa- giáo dục công dân), dự án “tìm hiểu một số hiện tượng thời tiết ở nước ta” – môn vật lí-địa lí
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ như dự án “chuẩn bị cho các lễ hội trong trường”
* Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
* Phân loại theo sự tham gia của GV
Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV Ví dụ dự án cho toàn trường là dự án “tìm hiểu về an toàn giao thông ở Việt Nam” với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên
* Phân loại theo quỹ thời gian
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
* Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng Ví dụ dự án tìm hiểu các hiện tượng thời tiết, dự án tìm hiểu về các nhà máy điện sử dụng năng lượng sạch,
- Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình Ví dụ dự án “nghiên cứu thiết kế mô hình máy phát điện công suất nhỏ”; dự án “nghiên cứu thiết kế máy biến áp dùng trong gia đình”,
- Dự án thực hành: Có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác Ví dụ: dự án nghiên cứu chế tạo Rơle nhiệt – Vật lí 10
- Dự án hỗn hợp: Là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
DHDA phân ra nhiều loại khác nhau, mỗi loại dự án cần những khoảng thời gian nhất định, vì vậy khi thực hiện DHDA ta phải phân chia theo từng giai đoạn cụ thể
1.3.5 Các giai đoạn của dạy học dự án
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của dạy học dự án, tuy nhiên khi xét đến mối quan hệ giữa các giai đoạn hoạt động của giáo viên và học sinh, người ta có thể chia DHDA theo ba giai đoạn là : Chuẩn bị dự án, thực hiện dự án, và khai thác dự án
Các giai
đoạn Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Chuẩn bị
dự án
- Thiết kế dự án
- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
- Thiết kế các tài liệu hỗ trợ
- Chuẩn bị điều kiện thực hiện dự án
1.3.5.1 Chuẩn bị dự án
Trước khi tiến hành dự án thì giáo viên và học sinh đều phải chuẩn bị những điều kiện nhất định, đặc biệt là người giáo viên phải chuẩn bị rất kĩ lưỡng những điều kiện cho dạy học dự án có thể tiến hành
Hoạt động của GV
* Thiết kế dự án: Xác định các chuẩn kiến thức, kĩ năng, mục tiêu bài học
Giáo viên có ý đồ tổ chức bài học thành dự án và suy nghĩ về ý tưởng của dự án
Trong bước này giáo viên cần phải:
- Nhìn thấy những vấn đề thực tiễn xung quanh liên quan tới nội dung bài học
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Nhìn thấy những vấn đề lớn mà thế giới đang phải đối mặt như: Ô nhiễm môi trường, thiên tai, lụt lội, khủng hoảng năng lượng…
- Biết từ bỏ nội dung mà chương trình buộc phải dạy theo phương pháp truyền thống
Lựa chọn nội dung thích hợp và chỉnh sửa chúng cho phù hợp với mục tiêu của dự án đề ra
* Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng giúp các dự án tập trung vào các kiến thức quan trọng Bộ câu hỏi này gồm ba loại:
Câu hỏi khái quát
Là những câu hỏi mở, khơi dậy sự thích thú, quan tâm và chỉ ra được
sự phong phú và phức tạp của một chủ đề Câu hỏi khái quát thường mang tính liên môn, và không có câu trả lời duy nhất đúng Câu hỏi khái quát thường mang những đặc điểm sau:
- Là yếu tố trọng tâm của chủ đề
- Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học
- Câu hỏi khái quát dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác làm mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề
Ví dụ:
Từ trường có vai trò gì trong cuộc sống của chúng ta?
Làm thế nào để cuộc sống được tốt hơn?
Câu hỏi bài học
Là câu hỏi gắn với một nội dung bài học cụ thể, chúng được thiết kế để chỉ ra và khai thác những câu hỏi khái quát của dự án
Câu hỏi bài học có các đặc điểm sau:
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan tới chủ đề và môn học cụ thể đối với câu hỏi khái quát
- Được dùng để mở ra và gợi ý cho những hướng nghiên cứu, bàn luận,
do đó cũng như câu hỏi khái quát, nó không có câu trả lời đúng duy nhất
- Khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép học sinh trả lời
theo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo
Ví dụ:
- Sử dụng từ trường có thể chế tạo được những dụng cụ, thiết bị có ích
gì phục vụ cho cuộc sống?
Câu hỏi nội dung
- Câu hỏi nội dung là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung và mục tiêu bài học, đó là những câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời dựa trên thực tế bài học, có liên quan trực tiếp đến hệ thống các kiến thức học sinh thu được sau khi thực hiện xong dự án
- Câu hỏi nội dung giúp học sinh xác định “ai”, “cái gì”, “ở đâu” và
“khi nào” cũng như hỗ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu các nội dung chi tiết trong bài
- Các câu hỏi nội dung hầu hết chú trọng vào nội dung hơn là giải thích
sự kiện đó và có câu trả lời rõ ràng
Ví dụ:
Từ trường tồn tại ở đâu? Biểu hiện của nó là gì?
Lực từ tác dụng lên khung dây mang dòng điện trong từ trường như thế nào? Nêu nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của động cơ điện một chiều? Làm thế nào để động cơ điện đạt hiệu quả cao?
* Thiết kế tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh: Giáo viên chuẩn bị các
bài tập mẫu, nội dung bài học, các nguồn tài liệu tham khảo như địa chỉ các trang web liên quan, tên tạp chí, các tài liệu tham khảo , các mẫu phiếu phân
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
công công việc trong nhóm, các mẫu phiếu đánh giá từng sản phẩm, các tiêu chí đánh giá sản phẩm và đánh giá quá trình thực hiện dự án
* Chuẩn bị các điều kiện tổ chức thực hiện dự án: Giáo viên xác định
đối tượng thực hiện dự án, những kiến thức của bài học cần trang bị cho học sinh Giáo viên cần thông báo rộng rãi kế hoạch học tập để học sinh biết Chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cho dự án như: địa điểm, các thiết bị thí nghiệm., phòng máy, máy chiếu, kinh phí
* Lập kế hoạch tổ chức thực hiện dự án: Giáo viên hoạch định thời
gian, địa điểm tiến hành dự án Giáo viên chuẩn bị các hoạt động của giáo viên và học sinh cần thực hiện một cách chi tiết, cụ thể để đảm bảo cho quá trình dạy học được thành công
Hoạt động của học sinh
Với sự hướng dẫn của giáo viên và những kiến thức thực tế, học sinh thảo luận để trả lời bộ câu hỏi định hướng Từ việc trả lời đó sẽ làm nảy sinh những bất cập cần phải giải quyết Các nhóm học sinh sẽ tự đề xuất ra các chủ đề, các hướng nghiên cứu và lựa chọn dự án Tiếp theo học sinh phải lập
kế hoạch dự án: Xác định tên dự án, dự đoán các nguồn tài liệu cần có để thực hiện dự án, hình dung ra sản phẩm, vạch ra được các giải pháp, dự kiến thời gian, vật liệu, kinh phí và phân công công việc của các thành viên trong nhóm Các chủ đề xuất phát từ thực tế có thể đơn giản, nhưng đều mang tính thực tiễn cao
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho việc DHDA, giáo viên và học sinh sẽ cùng tiến hành thực hiện dự án:
1.3.5.2 Thực hiện dự án
Hoạt động của giáo viên
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Giáo viên đóng vai trò là người kiểm tra đôn đốc, giúp đỡ, động viên
các nhóm hoàn thành sản phẩm
Hoạt động của học sinh
- Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực
hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau, như: Tìm
kiếm, thu thập dữ liệu, ghi lại các thông tin quan trọng: từ báo chí, internet,
sách, quan sát thực tế, phỏng vấn các chuyên gia, điều tra thực tế, tham quan
thực tế,… rồi tiến hành kiểm tra các ý tưởng bằng thực nghiệm (nếu có); thảo
luận thường xuyên giữa các thành viên trong nhóm để phân tích (so sánh, đối
chiếu, lập bảng biểu…), giải thích các kết quả; tổng hợp thông tin ( liệt kê ý
chính, tóm tắt thông tin bằng một hoặc hai câu…), xây dựng kết quả học tập
- Trong suốt tiến trình thực hiện dự án, học sinh phải thường xuyên xem xét lại các công việc của mình, họp thường kì với GV nhằm đảm bảo tiến
độ và hướng đi của dự án
- Cuối cùng, học sinh hoàn thành và trình bày sản phẩm Trong nhiều
dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành như: mô hình động cơ điện một chiều, mô hình máy nâng thủy lực, mô hình máy bơm thủy lực, mô hình máy phát điện xoay chiều, mô hình ẩm kế, mô hình mạng điện trên xe buýt, mô hình kính thiên văn Sản phẩm của dự án cũng có thể
là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc
tổ chức một buổi tuyên truyền nhằm tạo ra các tác động xã hội, phòng triển lãm trưng bày tranh ảnh về một chủ đề nhất định
Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh trong một lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường, hay ngoài xã hội
1.3.5.3 Khai thác dự án
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sau khi tiến hành dự án, chúng ta cần phải khai thác dự án Khai thác
dự án cần phải trả lời các câu hỏi như:
- Dự án vừa thực hiện có phát huy tính tích cực, tự chủ trong học tập của học sinh không? Có thể thực hiện dự án bằng cách khác được không? Dự
án tiếp theo có thể là gì?
Hoạt động xem xét lại dự án được xác định đối với hai câu hỏi đầu và hoạt động tiếp tục dự án trả lời cho câu hỏi thứ ba
Xem xét lại dự án
Giáo viên: Hướng dẫn học sinh trong việc trả lời các câu hỏi xem xét lại
dự án, bổ sung những thiếu sót và đưa ra những nhận xét cuối cùng một cách
toàn diện về quá trình học tập dự án và kết quả học tập dự án của học sinh
Học sinh: Tổng kết lại dự án, xem xét xem dự án có thiếu sót gì không?
Sản phẩm của dự án có dùng được trong thực tế không? Đánh giá xem mục đích học tập đã đạt được chưa Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc phát triển dự
án hoặc thực hiện các dự án tiếp theo Trong quá trình này học sinh tự đánh giá
bản thân, đánh giá các bạn trong nhóm và đánh giá tất cả các nhóm
Tiếp tục dự án
Giáo viên sẽ là người gợi ý, hoặc học sinh sẽ đề nghị hướng tiếp theo
để phát triển dự án, cho thấy dự án mà các em thực hiện hoàn toàn có cơ hội
mở rộng, kích thích mong muốn được tiếp tục thực hiện các dự án tiếp theo
1.3.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA
Trong quá trình tiến hành DHDA, giáo viên và học sinh có những vai trò nhất định và cụ thể như sau:
Vai trò của giáo viên
Trong lớp học truyền thống giáo viên nắm giữ mọi kiến thức rồi truyền tải đến học sinh Trong dạy học dự án vai trò của giáo viên trong lớp học rất
khác biệt so với vai trò quen thuộc trong lớp học truyền thống:
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống
- Từ nội dung của bài học giáo viên thấy được sự liên quan của nó đến các vấn đề của thực tiễn cuộc sống
- Hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung bài học
- Thiết kế các bài tập trong dự án cho học sinh
Như vậy, trong suốt quá trình này, giáo viên không còn là người truyền thông tin mà là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động của học sinh, tạo cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu và hướng dẫn
học sinh, tạo môi trường học tập hợp tác… Vai trò của giáo viên là người
hướng dẫn (guide), một thành viên cộng tác và tham vấn (advise) chứ không phải là cầm tay chỉ việc cho học sinh của mình
Vai trò của học sinh
- Học sinh học bằng việc tham gia một dự án có liên quan chặt chẽ với nội dung bài học
- Học sinh tự lực triển khai dự án, quyết định cách tiếp cận vấn đề, tự hoạch định và tổ chức các hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề
- Học sinh thu thập và xử lí thông tin từ dự án và những nhiệm vụ trong
dự án mà mình đảm nhận
- Học sinh trình bày và bảo vệ sản phẩm có tích hợp công nghệ thông tin của mình
- Học sinh tham gia vào việc tự đánh giá và đánh giá các học sinh khác
Như vậy, trong dạy học dự án học sinh với vai trò là trung tâm của quá
trình dạy học
1.4 Thực tiễn dạy học chương “Từ trường” ở một số trường THPT
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học các kiến thức chương
“Từ trường” ở một số trường phổ thông, tìm hiểu các thuận lợi, khó khăn khi
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dạy các kiến thức này và với phương pháp dạy học cụ thể của trường, chúng tôi kiểm tra kết quả dạy học kiến thức đó thông qua các bài kiểm tra
1.4.1 Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra vào tháng 4 năm 2011 tại trường THPT Hoàng Quốc Việt, Võ Nhai, Thái Nguyên và THPT Hiệp Hòa 3, Hiệp Hòa, Bắc Giang Đó là khoảng thời gian gần cuối năm học 2010-2011, học sinh lớp
11 đã xong chương “Từ trường”- Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Điều tra giáo viên
Chúng tôi điều tra giáo viên dạy học môn Vật lí ở trường THPT Hoàng Quốc Việt và THPT Hiệp Hòa 3 thông qua phiếu điều tra, nghiên cứu giáo án,
dự giờ của đồng nghiệp Số phiếu điều tra là 12 phiếu, nội dung phiếu điều tra xin trình bày ở phần phụ lục số 1 của luận văn
Điều tra học sinh
Chúng tôi trao đổi trực tiếp với một số học sinh và thông qua bài kiểm tra chất lượng Cụ thể chúng tôi phát ra 115 phiếu và thu vào 115 phiếu điều tra của một số học sinh học lớp 11 của trường THPT Hoàng Quốc Việt và THPT Hiệp Hòa 3 Nội dung phiếu điều tra chúng tôi xin trình bày ở phần phụ lục số 2 của luận văn
1.4.2 Kết quả điều tra
* Tình hình dạy học của giáo viên
- Theo hướng dẫn phân phối chương trình của Sở giáo dục thì chương
Từ trường chỉ học trong 6 tiết trong đó có 2 tiết bài tập, nhưng việc hướng dẫn học sinh vận dụng nội dung này vào thực tiễn ít được các giáo viên chú trọng
- Có 4/12 giáo viên dạy học theo phương pháp thuyết trình, thông báo nội dung thuần túy: ví dụ như giáo viên thông báo về hiện tượng khi đặt
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
khung dây mang dòng điện trong từ trường thì lực từ tác dụng lên khung dây làm nó bị lệch ra khỏi vị trí cân bằng ban đầu mà không làm thí nghiệm cho học sinh quan sát
- Phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh thể hiện ở chỗ giáo viên chưa giao và ít giao nhiệm vụ nhận thức cho học sinh, ví dụ như: Không cho học sinh giải thích các ứng dụng trong thực tiễn của phần kiến thức này…
- Có 4/12 giáo viên không tiến hành thí nghiệm như trong sách giáo khoa
- Có 10/12 giáo viên không hướng dẫn học sinh chế tạo dụng cụ thí nghiệm hoặc làm thí nghiệm ở nhà, vì phần lớn giáo viên cho rằng phần kiến thức này trừu tượng, chủ yếu dạy học sinh giải bài tập là chính
- Có 9/12 giáo viên chưa nghe nhiều đến phương pháp dạy học dự án,
và 12/12 giáo viên chưa bao giờ đưa dạy học dự án vào tổ chức dạy học kiến thức của chương trình
* Tình hình học tập của học sinh
- Đa số học sinh chưa nắm được hết các kiến thức cơ bản như: đặc điểm từ trường của nam châm, từ trường của dòng điện Các khái niệm học sinh chỉ học thuộc do giáo viên thông báo nên mau quên và không chắc chắn
- Kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải thích các hiện tượng thực tế và các ứng dụng kĩ thuật còn kém
- 115/115 học sinh chưa bao giờ được tham gia vào học tập theo dự án, hay thiết kế, chế tạo các thiết bị Vật lí
- 82/115 học sinh trả lời không thích học Vật lí vì kiến thức Vật lí vừa khó vừa nhiều, vừa phải học lý thuyết, vừa phải làm bài tập, các hiện tượng thực tế thì phức tạp, không tưởng tượng được vì ít có thí nghiệm quan sát Nếu có các thí nghiệm thì các thí nghiệm thường nhỏ, ở cuối lớp không thể nhìn rõ…
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ cơ sở lí luận và những kết quả điều tra thực tiễn, chúng tôi nhận thấy để phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học nội dung kiến thức của chương thì việc tổ chức dạy học dự án là một trong những giải pháp hay và hiệu quả, đặc biệt là việc vận dụng kiến thức để
giải quyết các vấn đề của thực tiễn
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong chương này chúng tôi đã trình bày những luận điểm cơ bản về phương pháp dạy học phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Chúng tôi cũng tập trung làm rõ về lịch sử của dạy học dự án, phân loại
dự án học tập, những yêu cầu của dạy học dự án cũng như các giai đoạn tiến hành một dự án học tập
Trong dạy học dự án, để thành công thì người giáo viên không có vai trò điều khiển tư duy của học sinh, mà là người hướng dẫn, huấn luyện, tư vấn và là bạn học cho phép người học tự xây dựng kiến thức của họ Giáo viên cần tạo cơ hội để học sinh phát huy hết khả năng học tập của mình, tạo môi trường học tập tập trung người học vào giải quyết vấn đề và nhiệm vụ cụ thể, đồng thời khuyến khích sự hợp tác, thúc đẩy tinh thần đồng đội giữa các học sinh
Còn đối với học sinh, họ được đưa ra nhiều quyết định, được cộng tác làm việc, được trình bày trước tập thể Vì vậy học sinh sẽ tích cực, thực hiện tốt dự án và ghi nhớ được kiến thức mới Trong quá trình thực hiện dự án họ
sử dụng công nghệ thông tin khi tìm kiếm tài liệu thực hiện dự án , khi trình bày sản phẩm của dự án, như vậy công nghệ thông tin được tích hợp vào quá trình học tập
Dạy học dự án là một phương pháp dạy học đáp ứng được yêu cầu của việc phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Mặt