tạo hứng thú khi học văn
Trang 1I.Đánh giá một giờ dạy học Văn có hiệu quả 5
II:Những hạn chế của giờ dạy và học văn hiện nay – Nguyên nhân 6
III:Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học văn 9
IV:Kết quả nghiên cứu ứng dụng của đề tài 24
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 1
Trang 2PHẦN I : MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Căn cứ vào yêu cầu phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung
và phân môn Văn nói riêng
- Cùng với mối quan tâm chung về chất lượng giáo dục, lâu nay dư luậnđang rất quan tâm đến vấn đề dạy văn, học văn trong nhà trường Ai cũng muốngiờ dạy văn phải hấp dẫn hơn cuốn hút học sinh và hiệu quả hơn
- Đổi mới dạy học bằng đáp ứng mục tiêu,yêu cầu của đất nước trong giaiđoạn mới là yêu cầu và cũng là niềm mong mỏi của đội ngũ GV và cán bộ quảnlýgiáo dục
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ dộng, sáng tạo của người học; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho người học”.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn không nằm ngoài những địnhhướng đổi mới nói trên
- Mục tiêu năm học 2008 – 2009 đã được xác định: giảm căng thẳng, khơidậy hứng thú học tập, khả năng hoạt động sáng tạo tích cực của học sinh
2 Căn cứ vào những khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả giờ dạy
và học Văn
Hiện nay, số học sinh thích học môn Văn chưa nhiều Một số không nhỏ
Trang 3đó thể hiện qua những giờ học ở lớp và qua những bài kiểm tra, bài thi khiến cácthày cô chấm bài phải “cười ra nước mắt”.
- Về phía học sinh, phần lớn các em chưa thực sự hài lòng với cách dạyVăn của các thày cô Theo phản ánh của không ít học sinh, các giờ lên lớp củathày cô giáo Văn không tạo được ấn tượng cho các em
- Như vậy, cả thày trò đều cảm thấy chưa thực sự thoải mái Trò mongmuốn có những giờ dạy Văn hấp dẫn hơn ở thày còn thày cũng đòi hỏi trò phảisay mê và có trách nhiệm với môn học này
Dù hàng năm giáo viên vẫn được tham dự các đợt thực tập Khu, dự giờthăm lớp ở trường, dự giờ giáo viên dạy giỏi… nhưng dường như vẫn còn nhữngđiều đáng bàn về phương pháp dạy học văn
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
- Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục Đào tạo có nhiều tài liệu bồi dưỡngcho giáo viên Ngữ văn theo tinh thần đổi mới
- Vấn đề “Nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn” được nhiều nhà giáo,
các nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều bài viết có chất lượng
Đó là những định hướng phương pháp dạy học cơ bản giúp giáo viên vậndụng vào quá trình dạy học Ngữ văn Trung học cơ sở
Người viết trên cơ sở kế thừa phương pháp giáo dục đã được định hướngkết hợp với việc học hỏi đồng nghiệp, sự trải nghiệm của bản thân muốn qua đề
tài này được cùng các đồng chí và các bạn chia sẻ kinh nghiệm “ Nâng cao hiệu
quả giờ dạy và học Văn” ở trường THCS.
III MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1 Rút ra một số nguyên nhân khiến giờ dạy và học Văn hiệu quả chưa cao
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 3
Trang 42 Đề xuất một số kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn.
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Tìm hiểu tình hình dạy và học Văn ở trường THCS (chủ yếu ở lớp 9)
2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giờ dạy và học Văn chưa cao
3 Rút ra một số kinh nghiệm dạy và học Văn
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu, trao đổi
- So sánh
- Phân tích
Trang 5PHẦN II : NỘI DUNG
I ĐÁNH GIÁ MỘT GIỜ DẠY VÀ HỌC VĂN CÓ HIỆU QUẢ
1 Giờ Văn đó phải tạo nên tâm lí thoải mái, nhẹ nhàng cho cả người dạy và người học.
Điều đó thể hiện ở nhiều phương diện : giọng nói của thày nhẹ nhàng,lượng kiến thức nhẹ nhàng, lượng câu hỏi vừa phải Học sinh có giây phút đượclắng đọng trong cảm xúc của tác phẩm, được suy nghĩ về một vấn đề các emmuốn tự mình khám phá… Các hoạt động của giờ học phải diễn ra thật tự nhiênkhông hề gò ép, khiên cưỡng
2 Học sinh được khơi gợi hứng thú, say mê, có nhu cầu khám phá.
Nói như nhà văn Tạ Duy Anh thì “bản chất của việc học văn là khám
phá những bí mật về vẻ đẹp: khám phá những bí mật về con người, khám phá
sự kì lạ của ngôn ngữ… khi đó mỗi giờ học Văn giống như một cuộc thám hiểm vào những miền đất mới luôn hứa hẹn vô số bất ngờ thú vị” Người thày
phải là người hướng các em đi đến những miền đất ấy
3 Học sinh có tình cảm, thái độ đúng đắn trước những con người, sự việc , vấn đề… mà tác phẩm đề cập, phản ánh
Đó là những tình cảm, thái độ: vui – buồn, yêu – ghét, yêu thương – căm
thù, ca ngợi – phê phán… Thương “Cô bé bán diêm” chết vì đói rét giữa đêm
giao thừa, bất bình trước thái độ thờ ơ, ích kỉ của con người trước nỗi đau đồng
loại… Ngưỡng mộ, trân trọng lẽ sống “Lặng lẽ dâng cho đời” của những con
người mới nơi Sa Pa thơ mộng ( Lặng lẽ Sa Pa)… Xúc động bởi dòng cảm xúc dạt dào của tình bà cháu( Bếp lửa)… Nghĩ suy về những lời cha nói với con
( Nói với con).
Thật đáng tiếc khi học những áng văn “ sống mãi với thời gian” ấy mà
các em thờ ơ không mấy xúc động
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 5
Trang 64 Học sinh biết soi từ tác phẩm vào cuộc sống bản thân, bạn bè, những người xung quanh… Học được ở đó bao điều tốt đẹp
Một trong những yêu cầu đổi mới của dạy học chính là “ Làm cho việc
học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm sống của cá nhân người học, tạo điều kiện cho người học có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn cuộc sống”.
( Đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS – Nguyễn Quang Minh, Nguyễn
Thuý Hồng)
Từ “ Ca Huế trên sông Hương”, học sinh thêm yêu những khúc dân ca
quê mình, trân trọng giữ gìn bản sắc văn hoá có từ bao đời Từ lời người cha
“Nói với con”, các em tìm thấy ở đó lời nói với chính mình về tình cảm gia đình,
tình yêu quê hương, ý thức gắn bó cội nguồn, ý chí vươn lên trong cuộc sống…
Nhưng môn Văn không phải là những lời giáo huấn khô khan, gượng ép,
hô hào… mà lay động tâm hồn con người rất tự nhiên, rất ám ảnh, rất tinh tế…
và tràn đầy cảm xúc Tự các em thấy mình phải như thế, nên như thế, ước aođược như thế… Không cần lúc nào phải nói ra mà tự nhủ trong lòng Đó là sựthành công của giờ học Văn
5 Một điều rất quan trọng đó là từ một giờ Văn cụ thể, học sinh hiểu thêm cách học Văn để dần dần các em có thể tự đọc – hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn.
“Hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học
nhiều hơn” ( A Kômenxki)
Tên gọi “Đọc – Hiểu văn bản” đã lưu ý giáo viên về mặt phương pháp,
không chỉ giúp học sinh nắm những kiến thức cụ thể về nội dung cũng như nghệthuật của một văn bản nhất định mà còn giúp học sinh nắm được đặc điểm củakiểu văn bản để từ đó cách đọc – hiểu thích hợp với kiểu văn bản
II NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA GIỜ DẠY VÀ HỌC VĂN HIỆN NAY –
Trang 71 Vẫn còn những giờ học nặng nề Học sinh luôn phải đối mặt với baonhiêu câu hỏi liên tiếp Có những câu hỏi hoặc quá khó hoặc không phù hợp vớitrình độ nhân thức của học sinh hoặc câu hỏi không rõ Có nhiều câu hỏi vụn vặt,câu hỏi xa rời trọng tâm Học sinh như bị đưa vào “ma trận”, không hình dungnổi đâu là trọng tâm bài Học sinh quay cuồng trong những câu hỏi, thót tim về lo
bị cô gọi trả lời Và như thế không còn cảm hứng chỉ còn thấy sợ, chán, nặng nề
Nguyên nhân của căn bệnh “ mưa câu hỏi” này là do giáo viên nhầm tưởngđặt nhiều câu hỏi để phát huy tính tích cực của học sinh
Một nguyên nhân khiến cho giờ học nặng nề ( nặng về kiến thức), đó là bởingười dạy muốn đưa nhiều thông tin về tác giả, tác phẩm, muốn truyền hếtnhững gì mình biết, mình hiểu cho học trò
2 Giáo viên chưa có phương án câu hỏi gợi mở để những học sinh trungbình, yếu được tham gia vào tiết học Các em gần như bị đứng ngoài cuộc, cả lớpchỉ vài ba em trả lời Học sinh im lặng trước câu hỏi hoặc trả lời miễn cưỡngkhông hứng thú
3 Những lời phát biểu, ý kiến học sinh đưa ra chưa được sự động viênkhuyến khích, bị phủ nhận tức thì hoặc lời nhận xét “đúng”, “sai” mà chưa có sự
lí giải thấu đáo có sức thuyết phục Có khi học sinh đưa ra ý hiểu khá độc đáo,mới mẻ nhưng lại bị phủ nhận (vì không đúng ý cô)
Hạn chế này là do bản thân người dạy chưa có sự chuẩn bị chu đáo, chưanắm được đặc điểm của văn bản, đó là sự đa nghĩa Trước đây mọi người đều chorằng văn bản chỉ có một ý nghĩa duy nhất và đều tìm cách tiếp cận cái ý nghĩaduy nhất ấy Nhưng không có một tác phẩm xuất sắc nào lại chỉ đóng khungtrong một cách hiểu duy nhất Có nhiều cách hiểu khác về một văn bản : có ýnghĩa do tác giả dụng ý biểu đạt trong văn bản, có ý nghĩa do cấu tạo của văn bảngợi lên, có ý nghĩa do người đọc liên hệ, suy diễn hay áp đặt cho nó
Trong các ý nghĩa ấy, những ý nghĩa phù hợp với cấu trúc biểu đạt thì bổsung cho nhau Các ý nghĩa không phù hợp với sự biểu đạt thì phải coi là không
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 7
Trang 8có sức thuyết phục Vì vậy, việc phủ nhận những ý nghĩa phù hợp với văn bản
do học sinh phát hiện ra sẽ làm mất đi hứng thú sáng tạo, phát hiện của các em
4 Thảo luận còn mang tính hình thức
+ Một giờ học Văn đưa ra quá nhiều câu hỏi thảo luận Cảm thụ văn bản( nhất là văn bản nghệ thuật) thuộc về khả năng của mỗi cá thể học sinh Do vậyhoạt động cá nhân tự bộc lộ phải là hình thức dạy học thường xuyên hàng đầu
+ Câu hỏi thảo luận không có sức thu hút học sinh: quá đơn điệu, quá dễhoặc quá khó với khả năng học sinh
- Ví dụ : Nhận xét về logic diễn biến tâm trạng của người anh?
(Bức tranh của em gái tôi – Ngữ Văn 6)
7 Về phía học sinh :
- Không đọc kĩ trước văn bản Chuẩn bị bài ở nhà còn mang tính đối phó( Chép ở sách giải bài tập, “ Để học tốt”), bản thân chưa suy nghĩ trước nhữngcâu hỏi phần “ Đọc – Hiểu văn bản”
- Thể hiện những kiến thức để đọc – hiểu văn bản còn thiếu hụt ( Tiếng
Trang 9- Chưa biết cách đọc – hiểu văn bản theo thể loại Nhiều khi chỉ nắm đượcnội dung, nghệ thuật của 1 văn bản cụ thể
Như vậy việc khắc sâu cách khám phá tác phẩm theo một thể loại nào đócòn chưa được giáo viên chú trọng
III MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY VÀ HỌC VĂN
1 Chú ý việc xác định thể loại và cách tiếp cận văn bản
Trước khi tìm hiểu VB, giáo viên cũng cho học sinh xác định thể loại.Nhưng qua nhiều tiết học được dự, tôi thấy sau khi xác định tác phẩm thuộc thểthể loại gì, giáo viên chuyển sang phần khác học sinh chưa hiểu xác định thể loại
để làm gì Và sau khi học xong văn bản, giáo viên vẫn chưa lưu ý cho học sinhcách khám phá văn bản theo thể loại đó Như vậy mặc dù được học nhiều bài thơ,nhiều truyện ngắn, nhiều văn bản nghị luận… học sinh vẫn còn lúng túng khiphải tự đọc – hiểu một văn bản nào đó
Một trong những nguyên lí của việc đọc – hiểu văn bản là đọc tác phẩmtheo đặc trưng thể loại Đọc – hiểu văn bản không chỉ nhằm tiếp nhận giá trịriêng của 1 văn bản cụ thể Với vị trí tiêu biểu cho 1 thể loại nào đó, việc tiếpnhận mỗi văn bản đều bao hàm sự định hướng về cách thức tiếp cận mỗi văn bảnđều bao hàm sự định hướng về cách thức tiếp cận kiến thức của thể loại hoặc kiểubài văn
Như vậy, khi tìm hiểu một văn bản (nhất là sau khi tìm hiểu), giáo viêncần khắc sâu kiến thức về thể loại đã học, cách tiếp cận, khám phá văn bản đểhọc sinh có thể vận dụng với 1 văn bản có cùng thể loại
*Tổ chức cho học sinh khám phá tác phẩm theo một thể loại nào đó là giúphọc sinh trả lời được câu hỏi: cần dựa vào những yếu tố nào để tìm ra nội dung và
ý nghĩa văn bản
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 9
Trang 10+ Với kiểu văn bản thơ trữ tình: Yếu tố quan trọng về nội dung là cảm xúccủa nhân vật trữ tình Yếu tố quan trọng về nghệ thuật là từ ngữ, hình ảnh, nhịpđiệu, vần điệu câu thơ, các biện pháp tu từ.
+ Với kiểu văn bản tự sự : Yếu tố quan trọng là các sự kiện, nhân vật, cáctính cách, là ngôn ngữ tự sự, tình huống, kịch tính…
+ Với kiểu văn bản nghị luận : là trình tự lập luận mối quan hệ giữa các lậpluận
Ví dụ 1 :
Sau khi học bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, cần khắc sâu cho học sinh chú ýkhai thác cảm xúc của nhân vật trữ tình với các cung bậc cảm xúc Ban đầu sựtác động vào xúc cảm nhân vật thường là những gì gần gũi nhất, dễ tác động vàocác giác quan con người Sau đó cảm xúc được mở rộng mênh mang, bay bổng
và cuối cùng trở về lắng đọng trong tâm tư, nỗi niềm nhân vật trữ tình
Cụ thể : khổ thơ đầu đi từ cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên với dòngsông, bông hoa, tiếng chim hót rồi những khổ tiếp theo mở rộng thành cảm xúctrước mùa xuân của đất nước Những khổ cuối trở về với mùa xuân trong tâmhồn nhà thơ
Học sinh sẽ không còn bỡ ngỡ khi tìm hiểu những bài thơ tiếp :
- Bài “Viếng lăng Bác”: từ cảm xúc trước hàng tre bên lăng Bác tới mùaxuân về cuộc đời Bác và tình cảm của nhân dân dành cho Bác rồi khổ cuối lắngđọng những tình cảm, ước nguyện thiết tha của nhà thơ
- Bài “Sang thu” : cảm xúc được khơi lên từ hương ổi gần gũi quen thuộctrong một ngõ nhỏ rồi mở rộng trong không gian bao la (dòng sông, cánh chim,đám mây…) và khép lại bằng những suy ngẫm của nhân vật trữ tình
Ví dụ 2 : Đọc văn bản “Làng” – Kim Lân
Sau khi xác định thể loại : Truyện ngắn
Trang 11- GV đặt câu hỏi : tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm tự sự em cần khai thácnhững yếu tố nào?
- Học sinh đưa ý kiến (có thể còn thiếu thì giáo viên bổ sung):
+ Tình huống truyện để nhân vật bộc lộ, để thử thách nhân vật
+ Tìm hiểu nhân vật qua : hoàn cảnh sống và làm việc, những suy nghĩ,việc làm, cách sống, tình cảm và quan hệ với mọi người
2 Xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí trên cơ sở mục tiêu cần đạt
2.1 Xác định mục tiêu cần đạt (Về nội dung và nghệ thuật) từ đó phác thảo hệ thống các ý
* Ví dụ : Văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương”
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 11
- Số phận oan nghiệt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
- Nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật, yếu tố kì ảo.
Nỗi oan sáng tỏ bằng cái bóng (mở nút)
Cuộc sống dưới thuỷ cung, khát vọng giải oan (Yếu tố kì ảo)
Oan tình được giải,
Vũ Nương vẫn không trở về (Tính bi kịch yếu tố
Trang 12Dựa trên hệ thống các ý, giáo viên phác thảo hệ thống câu hỏi Như vậy hệthống câu hỏi sẽ luôn hướng về trọng tâm.
2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí, hấp dẫn
a Biểu hiện sự hợp lí, hấp dẫn của hệ thống câu hỏi
+ Tính trọng tâm : các câu hỏi đều phải hướng về trọng tâm, phục vụ chomục tiêu cần đạt
+ Tính liên kết : các câu hỏi phải gắn kết với nhau hợp lí, không lộn xộn.Trả lời câu hỏi đó có nghĩa là đã hình thành được nội dung chính của bài
+ Tính chắt lọc : Không ôm đồm, nhiều câu hỏi lan man, nhiều câu hỏiphát hiện quá, dễ làm mất thời gian, rối bài hoặc làm học sinh mất sự tập trung.Chắt lọc câu hỏi sẽ tạo nên sự nhẹ nhàng cho giờ học
+ Tính phân hoá : Phân hoá thành nhiều mức độ giúp cho mọi đối tượnghọc sinh đều được tham gia vào bài
+ Tính hấp dẫn : Đó là những câu hỏi phải đạt được yêu cầu : độc đáo,mới, lạ, kích thích sự cảm thụ, thu hút sự chú ý, khả năng thích nghĩ, thích nóicủa trò Có thể sử dụng câu hỏi nêu giả định đảo ngược để tạo không khí tranhluận Đảo ngược cũng là cách lạ hoá cho cách nhìn, cách nghĩ về đối tượng nhậnthức
* Ví dụ : Ta thử đặt ra hai cách kết thúc: một kết thúc như truyện (VũNương không trở về) Một kết thúc : Vũ Nương được về với Trương Sinh và con
Em nghĩ xem kết thúc nào hay hơn, làm cho ý nghĩa câu chuyện sâu sắc hơn? Vìsao?
Trang 13?1 Tình huống nào đã khiến bản tính ghen tuông của Trương Sinh có cơhội bùng nổ? Tình huống ấy có vai trò gì trong câu chuyện về cuộc đời VũNương?
?2 Thái độ của Trương Sinh như thế nào? Vì sao Trương Sinh có thể đối
xử như vậy? Em có nhận xét gì về cách miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả?
?3 Em có suy nghĩ gì về cách tự minh oan của Vũ Nương? (Nó có mangtính tích cực không? Nàng có cách giải oạn, thanh minh nào khác không?)
?4 Hình tượng cái bóng đem lại giá trị gì cho câu chuyện ?
?5 Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho nàng Oan tình đã được giải, phảichăng nỗi đau không còn, nàng sẽ được sống trong bình yên?
?6 Hãy chỉ ra những chi tiết kì ảo của truyện truyền kì trong truyện? Tácdụng của những chi tiết đó
?6 Ta thử đặt ra 2 cách kết thúc : một kết thúc như truyện (Vũ Nươngkhông trở về), một kết thúc là Vũ Nương được về với Trương Sinh và con Emnghĩ xem kết thúc nào hay hơn, làm cho ý nghĩa câu chuyện sâu sắc hơn? Vì sao?
?7 Theo em, những nguyên nhân nào gây nên cái chết oan nghiệt cho VũNương? Đâu là nguyên nhân sâu xa?
Từ việc đọc – tìm hiểu văn bản bằng trả lời các câu hỏi học sinh sẽ giải mãđược ý nghĩa của văn bản Đó là :
1 Nghệ thuật dựng truyện (Tạo tình huống truyện) hấp dẫn
2 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
- Trương Sinh xử sự hồ đồ, độc đoán, vũ phu
- Xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ôngtrong gia đình
3 Vũ Nương dùng cái chết để tự minh oan, đó là sự đầu hàng số phận,chưa thực sự đấu tranh để chống lại số phận, giành lại hạnh phúc cho mình
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 13
Trang 14Nhưng nàng không có cách nào khác vì luật lệ xã hội phong kiến, không bênhvực cho người phụ nữ.
4 Hình tượng cái bóng là tình tiết để dẫn đến truyện (nỗi oan), đẩy truyệnlên tới điểm đỉnh (bị mắng nhiếc, đánh đuổi, dẫn đến cái chết oan nghiệt) vàchính nó lại mở nút để giải quyết câu chuyện ( nỗi oan sáng tỏ)
5 Dù câu chuyện có kết thúc phần nào có hậu, Vũ Nương được ở trongmột thế giới khác nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh Người đã chết không thể sống lạiđược hạnh phúc thực sự đâu còn có thể làm lại được Đó chính là bi kịch cuộc đời
số phận người phụ nữ vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái lung linh kì ảo ấy
6 Vũ Nương không trở về, Trương Sinh suốt đời sẽ phải sống trong đaukhổ dằn vặt Người đời phải lấy đó làm bài học cảnh tỉnh: những gì tốt đẹp takhông nâng niu trân trọng mà phũ phàng làm tan vỡ không bao giờ có thể lấy lạiđược
7 Nguyên nhân dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương :
Do con dại vô tình, do chiến tranh, do Vũ Nương yếu đuối, Trương Sinhghen tuông hồ đồ tàn nhẫn… Nhưng nguyên nhân sâu xa chính là xã hội phongkiến với chế độ nam quyền Người đàn ông có quyền hành tuyệt đối với vợ controng gia đình Họ có quyền quyết định cuộc đời người phụ nữ Bởi vậy tôn ti trật
tự của xã hội phong kiến chính là bức tường xây ngõ cụt cuộc đời người phụ nữ
8 Những yếu tố kì ảo làm cho truyện li kì hấp dẫn hơn ( đúng với đặcđiểm của truyện truyền kì)
c Xây dựng một số câu hỏi gợi mở
Không phải mọi câu hỏi mà giáo viên đưa ra học sinh đều trả lời ngay màcác em còn phải suy nghĩ Giáo viên phải có cách gợi mở, dẫn dắt suy nghĩ chohọc sinh bằng các câu hỏi gợi mở ( như thêm dữ kiện để học sinh dễ trả lời, thay
Trang 15* Ví dụ :
? Hình ảnh Vũ Nương giữa dòng sông lúc ẩn lúc hiện nói lời vĩnh biệt “
Đa tạ tình chàng thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” và “bóng nàng loangloáng mờ nhạt dần mà biến đi mất” để lại cho em cảm nghĩ gì?
Giáo viên gợi :
- Cảm nghĩ gì về số phận “Người con gái Nam Xương”?
- Cái giá phải trả của Trương Sinh?
- Tình cảm tác giả dành cho nhân vật?
3 Vận dụng các phương pháp dạy học hợp lí
Có nhiều phương pháp dạy học văn, trong đề tài này, tôi chỉ xin đề cập đếnmột số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học văn để học sinh tích cựchứng thú học tập
3.1 Phương pháp vấn đáp gợi tìm
Bản chất của phương pháp này là sử dụng một hệ thống câu hỏi để gợi họcsinh tìm tòi suy nghĩ nhằm đạt được những mục tiêu của bài học Giáo viênkhông trực tiếp đưa ra kiến thức mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước để tựhoàn thành kiến thức
Các bước tiến hành : Ví dụ khi tìm hiểu khổ cuối bài thơ “Bếp lửa” củaBằng Việt:
* Bước 1 : Xác định yêu cầu cần đạt sau khi vấn đáp
VD : Tình cảm của cháu dành cho bà, rộng hơn là tình yêu đất nước, tìnhcảm cội nguồn
* Bước 2 : Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với việc tìm hiểu nội dungđó
Ví dụ :
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 15
Trang 16?1 Cháu đã đi xa là cháu ở nơi nào? cuộc sống nơi đó có gì khác nơi quênhà ? (câu hỏi tái hiện, so sánh)
?2 Câu hỏi ở cuối bài thơ có tác dụng gì ? (câu hỏi phân tích giá trị nghệthuật)
- Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa bề mặt câu chữ, thày nên gợi cho học sinh ýnghĩa sâu xa hơn được tác giả kín đáo gửi gắm
?3 Đằng sau nỗi nhớ bà, nhớ bếp lửa quê nghèo lam lũ, người đọc còn tìmthấy ở đây một nỗi niềm, 1 tình cảm sâu xa nào ở người cháu ?
- Đó là tình cảm thuỷ chung, gắn bó với cội nguồn dù quê hương, đất nướccòn nghèo
GV : Như vậy, từ tình yêu nỗi nhớ bà và một bếp lửa cụ thể, Bằng Việt đãgợi cho ta tình yêu cội nguồn, tình yêu quê hương, tổ quốc
Để học sinh tiếp tục rộng mở cánh cửa tâm hồn, có sự đồng điệu với tácgiả, giáo viên có thể thêm câu hỏi giả định:
? 4 Nếu một ngày nào đó, em cũng rời làng quê đến một nơi phồn hoa xaxôi, thì bài thơ này sẽ có ý nghĩa gì với em ?
Câu hỏi 1 : ưu tiên cho học sinh yếu, trung bình yếu
Câu hỏi 2 : dành cho học sinh trung bình trả lời
Câu hỏi 3 : nên gọi học sinh khá giỏi
Câu hỏi 4 : dành cho các đối tượng học sinh
Nghĩa là, với mỗi mức độ của câu hỏi cần xác định nên gọi đối tượng nàotrả lời để các loại đối tượng đều được tham gia Các em học yếu, trung bình, khá,giỏi đều được phát huy vai trò của mình trong việc tham gia xây dựng bài Tấtnhiên, nêu học sinh yếu, trung bình muốn được trả lời các câu hỏi khó hơn cũngnên khuyến khích các em Nên xây dựng những câu hỏi mang tính chất tư duy,
Trang 17cảm thụ, khái quát, giảm những câu hỏi phát hiện để học sinh được phát triểnnăng lực tư duy, cảm thụ.
3.2 Phương pháp dùng lời (Giảng bình)
- Nhiều giáo viên Ngữ văn đã vận dụng đổi mới thái quá biểu hiện ở việchầu như chỉ đưa ra các câu hỏi, hướng dẫn học sinh thảo luận mà quên đi việcthêm những lời bình giảng đầy chất văn chương vào giờ dạy
Giảng giải để làm rõ hoặc mở rộng kiến thức khó trong văn bản
Bình khi cần thể hiện sự cảm thụ sâu sắc, tinh tế của người đọc có kinhnghiệm về tác phẩm
- Nếu bình, giảng được phát huy đúng lúc, đúng chỗ sẽ có tác dụng hỗ trợ,gây lòng tin và hứng thú thẩm mĩ cho người học Thậm chí lời bình hay còn gópphần rèn kĩ năng cảm thụ văn chương, kĩ năng biết nghe những lời hay ý đẹp, từ
đó làm nảy sinh nhu cầu viết hay của người học trong những bài tự luận văn học
- Nhưng lời bình giảng ấy không mang tính áp đặt mà chỉ với tư cách làmmột người bạn cùng tham gia đọc - hiểu, tranh luận với học sinh, qua đó giúp các
em lĩnh hội được giá trị đa chiều của tác phẩm ( hướng dẫn chứ không làm thay,cảm thụ thay)
- Ở đây, tôi muốn nói đến việc khuyến khích học sinh có những lời bình(bộc lộ sự rung động,say mê, sự cảm kích, cảm phục của mình trước các bìnhdiện nào đó của áng văn, bài thơ, trước tâm hồn và tài hoa của tác giả ) Trongcác giờ văn, lời bình hầu như chỉ xuất hiện ở phía giáo viên (thày nói cái hay màtrò cảm nhận được cho học sinh nghe) Học sinh chưa được chú ý, phát huy khảnăng này
Để học sinh được phát huy năng lực cảm thụ cùng hứng thú với tác phẩm,giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự biết bình các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật cógiá trị Điều này rất cần thiết giúp cho học sinh viết văn tốt hơn
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 17
Trang 18* Ví dụ : Hướng dẫn học sinh bình về lẽ sống “lặng lẽ dâng cho đời” trong
bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.
Gợi :
- Nhà thơ Thanh Hải sắp từ giã cõi đời nhưng vẫn không ngừng khát khaocống hiến cho cuộc đời Em có cảm nghĩ gì về lẽ sống ấy, hãy nói cho các bạncùng nghe?
- Em có thể dùng câu bộc lộ cảm xúc đánh giá về lẽ sống ấy? Hoặc đưa ramột hình ảnh so sánh để làm đẹp hơn lẽ sống ấy?
Học sinh đưa ra lời bình:
- HS 1: Lẽ sống ấy thật tuyệt đẹp biết bao!
- HS 2: Ông như một con tằm trước khi chết vẫn cố gắng nhả những sợi tơđẹp cho đời và bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” ông để lại trước khi về nơi cát bụi làsợi tơ tuyệt đẹp ấy
Những lời bình của thày trò sẽ làm giờ học đậm đà chất văn chương hơn
3.3 Thảo luận nhóm
- Hình thức hoạt động nhóm chỉ nên xuất hiện khi:
+ Có những phạm vi kiến thức mang tính khái quát
+ Có những tình huống có vấn đề trong bài vượt quá khả năng cá thể vàphải cần đến tư duy tập thể
- Tránh tình trạng trong nhóm chỉ có học sinh khá giỏi làm việc rất tích cựccòn hầu như học sinh trung bình, yếu tự ti không làm gì, nên thảo luận theo cácbước:
+ Bước 1: Mỗi học sinh trong nhóm đều đưa ra ý kiến trên phiếu học tậpcủa mình (để mọi đối tượng học sinh đều được tham gia )
+ Bước 2: Nhóm trưởng tập trung các phiếu và điều hành nhóm
Trang 19Các nhóm tranh luận cuối cùng đi đến thống nhất.
Giáo viên là người chốt lại bằng đáp án chuẩn
+ Bước 4: Sau khi có đáp án các nhóm cần chấm chéo.(để tạo sự hào hứngcho học sinh )
4 Đa dạng các hình thức dạy học
4.1 Vẽ tranh và tự thuyết minh tranh
Sau khi tự đọc, tự tìm hiểu văn bản ở nhà, học sinh vẽ theo ý tưởng củamình, minh hoạ một hình ảnh nào đó mình tâm đắc (nên cho một tổ vẽ mộttranh) Học sinh tự cử một bạn viết lời thuyết minh cho tranh vẽ của tổ Qua thực
tế vận dụng, học sinh rất thích hình thức hoạt động này
* Ví dụ :
+ Tổ 1 : Vẽ cảnh Trịnh Hâm du Vân Tiên xuống vời
+ Tổ 2 : Vẽ cảnh ông Ngư cõng Vân Tiên
+ Tổ 3 và tổ 4 : Vẽ hình ảnh ông Ngư trong cuộc sống:
“ Rày roi mai vịnh vui vầy Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng”
(Các tranh vẽ minh hoạ cho tiết học “Lục Vân Tiên gặp nạn”)
4.2 Kể một câu chuyện nhỏ về tác giả, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm, đọc đoạn thơ, đoạn văn mình thích nhất.(giáo viên và học sinh cùng tham gia)
Đây là những hình thức hoạt động khiến học sinh hào hứng và nhiệt tìnhtham gia Giáo viên có thể cho điểm để khuyến khích các em
Để có những câu chuyện hay về tác giả và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm,giáo viên cần tích cực sưu tầm
Ví dụ : Câu chuyện về tác giả Thanh Hải – người sáng tác “ Mùa xuân nhonhỏ”
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương 19