MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 6 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ 7 THỊ TRƯỜNG MỞ 7 1.1. Sự ra đời và khái niệm của công cụ nghiệp vụ thị trường mở 7 1.1.1. Sự ra đời của công cụ nghiệp vụ thị trường mở 7 1.1.2. Khái niệm công cụ nghiệp vụ thị trường mở 7 1.2. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở và chủ thể tham gia 8 1.2.1. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở 8 1.2.2. Chủ thể tham gia 9 1.3. Các loại hình nghiệp vụ thị trường mở và phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 11 1.3.1. Các nghiệp vụ thị trường mở 11 1.3.2. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 14 1.4. Quy trình hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 16 CHƯƠNG 2. THỰC TẾ ÁP DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM 10 NĂM QUA 19 2.1. Thực Trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở từ năm 2000 tháng 112007. 19 2.3. Tác dụng của nghiệp vụ Omo tại Việt Nam. 25 2.3.1 Kiềm chế lạm phát và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu khác của 25 CSTT. 25 2.3.2 Điều tiết linh hoạt vốn khả dụng cho các TCTD. 25 2.3.3 Làm tăng khả năng điều tiết lãi suất thị trường của NHNN Việt Nam 26 2.3.4 Các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở đã tăng lên về số lượng và đa dạng về loại hình 27 2.3.5 OMO giúp NHNN có được nguồn thông tin về tình hình nguồn vốn của các TCTD và về tình hình thị trường tiền tệ nói chung, làm cơ sở cho việc điều hành CSTT. 27 2.3.6. Hoạt động OMO đã góp phần phát triển thị trường tiền tệ, hỗ trợ các TCTD sử dụng vốn có hiệu quả. 27 2.3.7 Công tác phân tích, dự báo vốn khả dụng của các TCTD làm cơ sở cho việc quyết định giao dịch OMO ngày càng được tăng cường. 28 2.4. Đánh giá về nghiệp vụ OMO 28 2.4.1 Một số hạn chế 28 2.4.2 Nguyên nhân của hạn chế 29 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM . 31 3.1. Giải pháp 31 3.2. Kiến nghị 35 KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Ký Hiệu Tên Từ Viết Tắt 1 OMO Nghiệp vụ thị Trường Mở (Open Market Operations) 2 NHTW Ngân hàng Trung ương 3 TCTD Tổ chức tín dụng 4 GTCG Giấy tờ có giá 5 NHNN Ngân hàng Nhà nước 6 NHTM Ngân hàng thương mại 7 CSTT Chính sách tiền tệ 8 TPKB Tín phiếu kho bạc 9 TTM Thị trường mở : LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế việt nam sau gần 20 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và to lớn, nhu cầu quản lý kinh tế vĩ mô đã trở thành một đòi hỏi tất yếu khách quan của mọi quốc gia, mọi dân tộc. Để đáp ứng được nhu cầu sống còn đó, việc xây dựng đồng bộ hệ thống các chính sách, các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể nói, trong các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ, công cụ nghiệp vụ thị trường mở là công cụ tỏ ra hiệu quả và có nhiều ưu điểm hơn cả. Thực tế điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy công cụ nghiệp vụ thị trường mở đang ngày một chứng tỏ được vị thế của mình, hướng tới thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ góp phần quan trọng vào việc điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của ngân hàng nhà nước. Tuy vậy, việc áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, biểu hiện ở hiệu quả áp dụng còn rất thấp số lượng cacs tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh số giao dịch nhỏ, hàng hóa giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lý thông tin còn chưa hoàn thiện. Do đó, trong thời gian tới, việc tiếp tục hoàn thiện và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết. Xuất phát từ thực tế khách quan đó, chúng em chọn đề tài: “Phân tích tác dụng của nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam năm 2000 2011” làm bài tiểu luận của nhóm với mong muốn đóng góp ý kiến của sinh viên vào việc sử dụng Nghiệp vụ thị trường mở trong nền kinh tế thị trường và một số kiến nghị giúp nền kinh tế ngày càng hoàn thiện.
Trang 1DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 09
ĐỀ TÀI: Phân tích tác dụng nghiệp thị trường mở ở việt nam từ năm 2000-2011.
Trang 2MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU 4
2.3 Tác dụng của nghiệp vụ Omo tại Việt Nam 25
2.3.1 Kiềm chế lạm phát và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu khác của 25
CSTT 25
2.3.2 Điều tiết linh hoạt vốn khả dụng cho các TCTD 25
2.3.3 Làm tăng khả năng điều tiết lãi suất thị trường của NHNN Việt Nam 26
2.3.4 Các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở đã tăng lên về số lượng và đa dạng về loại hình 27
Xuất phát từ nhu cầu vốn khả dụng 6 tháng đầu năm và các điều kiện tham gia thị trường của các TCTD, cho thấy các TCTD có đủ điều kiện đã tham gia và đều có khả năng trúng thầu Điều này càng khuyến khích các TCTD nắm giữ GTCG và tăng tính cạnh tranh trên thị trường 27
2.3.5 OMO giúp NHNN có được nguồn thông tin về tình hình nguồn vốn của các TCTD và về tình hình thị trường tiền tệ nói chung, làm cơ sở cho việc điều hành CSTT 27
2.3.6 Hoạt động OMO đã góp phần phát triển thị trường tiền tệ, hỗ trợ các TCTD sử dụng vốn có hiệu quả .27
2.3.7 Công tác phân tích, dự báo vốn khả dụng của các TCTD làm cơ sở cho việc quyết định giao dịch OMO ngày càng được tăng cường 28
2.4 Đánh giá về nghiệp vụ OMO 28
2.4.1 Một số hạn chế 28
2.4.2 Nguyên nhân của hạn chế 29
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM 31
3.1 Giải pháp 31
3 1.1 Bổ sung thêm hàng hoá giao dịch trên thị trường mở 31
3.1 2 Đa dạng hoá các kỳ hạn giao dịch và tiến tới giao dịch nhiều kỳ hạn trong một phiên 31
3.1.3 Tăng tần suất giao dịch trên thị trường mở 32
3.1.4 Cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng công nghệ cho thị trường mở 32
3.1.5 Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, thông tin rộng rãi về OMO để thu hút thêm các TCTD tham gia thị trường mở 32
3.1.6 Nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành nghiệp vụ thị trường mở 33
3.1.7 Mở rộng các thành viên thị trường mở 33
3.1.8 Công nhận chữ ký điện tử trong các giao dịch thị trường mở 33
3.1.9 Tăng hiệu quả của phương thức giao dịch hợp đồng mua lại 34
3.1.10 Nâng cao khả năng dự báo vốn khả dụng 34
3.1.11 Xây dựng thị trường tiền tệ năng động, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng 34
3.2 Kiến nghị 35
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
:
(Open Market Operations)
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế việt nam sau gần 20 năm đổi mới đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng và to lớn, nhu cầu quản lý kinh tế vĩ mô đã trở thànhmột đòi hỏi tất yếu khách quan của mọi quốc gia, mọi dân tộc Để đáp ứng được nhucầu sống còn đó, việc xây dựng đồng bộ hệ thống các chính sách, các công cụ quản lýkinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng giữ một vai trò đặc biệt quantrọng Có thể nói, trong các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ, công cụ nghiệp vụthị trường mở là công cụ tỏ ra hiệu quả và có nhiều ưu điểm hơn cả
Thực tế điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm qua cho thấycông cụ nghiệp vụ thị trường mở đang ngày một chứng tỏ được vị thế của mình,hướng tới thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ góp phần quan trọng vào việcđiều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của ngân hàng nhà nước Tuy vậy, việc ápdụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, biểuhiện ở hiệu quả áp dụng còn rất thấp số lượng cacs tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh
số giao dịch nhỏ, hàng hóa giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lýthông tin còn chưa hoàn thiện Do đó, trong thời gian tới, việc tiếp tục hoàn thiện vàtìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường
mở ở Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết Xuất phát từ thực tế khách quan đó, chúng em
chọn đề tài: “Phân tích tác dụng của nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam năm 2000- 2011” làm bài tiểu luận của nhóm với mong muốn đóng góp ý kiến của sinh
viên vào việc sử dụng Nghiệp vụ thị trường mở trong nền kinh tế thị trường và một sốkiến nghị giúp nền kinh tế ngày càng hoàn thiện
Trang 5ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: tác dụng nghiệp vụ thị trường mở đối với nền kinh
tế thị trường của ngân hành nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu: thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước việt nam trong 11 năm qua.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊM CỨU:
Trong quá trình tìm hiểu và làm bài tiểu luận, các phương pháp nghiên cứu đã sủ dụng là phương pháp luận duy vật biện chứng, phương phấp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê… Ngoài ra, trong bài còn sử dụng một số biểu, bảng để minh hoajvaf một số phương pháp khác.
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ
THỊ TRƯỜNG MỞ
1.1 Sự ra đời và khái niệm của nghiệp vụ thị trường mở
1.1.1 Sự ra đời của ghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được hình thành đầu tiên ở nước Anh vào năm 1914.Đây là kết quả tìm kiếm của Ngân hàng trung ương Anh nhằm thay thế cho công cụ lãisuất tái chiết khấu kém hiệu lực, đặc biệt khi lãi suất thị trường tăng giảm liên tục,vượt ra khỏi khả năng chi phối của lãi suất chiết khấu Cách thức đầu tiên được ápdụng để nhằm tăng lãi suất thị trường là bán chứng khoán Chính phủ đồng thời hứamua lại nó vào một ngày xác định trong tương lai hoặc vay trên thị trường (thực chất
là một khoản vay từ nhà chiết khấu, hoặc từ người môi giới với đảm bảo bằng chứngkhoán Chính phủ)
Ngoài ra, NHTW Anh còn áp dụng thêm một số phương pháp khác có cùng ảnhhưởng như bán hẳn các chứng khoán Chính phủ hoặc vay từ các NHTM hoặc vay từnhững người gửi tiền đặc biệt
Bằng các biện pháp nói trên, lãi suất thị trường đã tăng lên do lượng tiền trungương giảm đi tương ứng với khối lượng vay hoặc bán chứng khoán
Cho đến nay, nghiệp vụ thị trường mở đã được áp dụng phổ biến ở hầu hết cácNgân hàng trung ương trên thế giới, từ những nước phát triển cho đến những nướcđang phát triển với vai trò là một công cụ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả nhất ỞViệt Nam, nghiệp vụ thị trường mở được ngân hàng nhà nước việt nam đưa vào hoạtđộng từ ngày 12 tháng 07 năm 2000
1.1.2 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation – OMO) là hoạt động muabán các giấy tờ có giá như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW,chứng chỉ tiền gửi…trên thị trường tiền tệ, nhằm thay đổi cơ số tiền tệ mà đặc biệt làtiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó tác động đến lượng tiền cung ứng
và lãi suất ngắn hạn
OMO là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiên đang được cácnước trên thế giới sử dụng Mặc dù OMO được sử dụng phổ biến nhưng việc đưa ra
Trang 7một khía niệm trung không thống nhất, nó được thế hiện ở sự khác nhauveef hành hóagioa dịch, các đối tượng tham gia thị truowngfvaf ác loại gioa dịc trên thị trường.
Về thực chất, thông qua hành vi mua bán này, các NHTW đã tác động trực tiếpđến dự trữ của hệ thống ngân hàng và gián tiếp đến lãi suất thị trường, vì thế ảnhhưởng đến các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế qua những ảnh hưởng về giá và lượng
1.2 Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở và chủ thể tham gia
1.2.1 Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở
Có rất nhiều chủng loại chứng khoán được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường
mở Tuy nhiên ở mỗi nước khác nhau lại có một loại chứng khoán đặc trưng riêngđược sử rộng rãi Nhưng OMO được hiểu là nghiệp vụ mua bán các chứng khoánchính phủ của NHTW và không giới hạn cụ thể về chủng loại cũng như thời hạn cácGTCG giao dịch, nhưng bao gồm các loại chủ yếu sau:
Tín phiếu kho bạc: là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành để bù đắp
những thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính có thời hạn dưới 12 tháng Đây cũng làcông cụ chủ yếu của OMO ở hầu hết NHTW các nước do tính thanh khoản cao của nó.Ngoài ra, do được định kỳ phát hành với khối lượng lớn, nên loại chứng khoán này cóthể thoả mãn nhu cầu can thiệp của NHTW với những liều lượng rất linh hoạt
Việc sủ dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có những ưu điểm nhất định KhiNHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiệnCSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và đượcthể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển,
số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiệnCSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường.
Chứng chỉ tiền gửi: là giấy nhận nợ do ngân hàng và các định chế tài chính phingân hàng phát hành, xác nhận một một món tiền đã được gửi vào ngân hàng trongmột thời gian nhất định với một mức lãi suất định trước Thời hạn của chứng chỉ tiềngửi thường là ngắn hạn (cũng có trường hợp thời hạn lên tới 3-5 năm) Sự ra đời củachứng chỉ tiền gửi đã đánh dấu sự thay đổi cơ bản trong cơ chế quản lý ngân hàng,cung cấp một hình thức huy động vốn mới, chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụthuộc vào người gửi tiền như trước Chính vì tính ưu việt này, chứng chỉ tiền gửi được
sử dụng như một hàng hoá phổ biến cho nghiệp vụ thị trường mở
Trang 8Trái phiếu chính phủ: là giấy nhận nợ dài hạn được chính phủ phát hành nhằm
bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước Do tính an toàn, khối lượng phát hành, tính ổnđịnh trong phát hành và khả năng tác động trực tiếp đến giá cả của trái phiếu kho bạctrên thị trường tài chính, nên mặc dù là chứng khoán dài hạn, Trái phiếu Chính phủvẫn được sử dụng phổ biến trong OMO
Tín phiếu ngân hàng trung ương:Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do
NHTW phát hành để làm công cụ cho OMO Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hànghoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTWtrong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng
Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chiphí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với BộTài chính Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tínphiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trungmua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tínphiếu kho bạc và thị trường tín
Thương phiếu: là giấy ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh
toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định hay có thểhiểu như một giấy nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm bổ sung nhucầu vốn ngắn hạn Do được đảm bảo bằng luật và pháp lệnh thương phiếu (ở các nước)cùng với cơ chế bảo lãnh của ngân hàng, bởi vậy thương phiếu có tính chuyển nhượngcao và được chấp nhận dễ dàng trong quan hệ thanh toán trực tiếp giữa ngân hàng vàcác tổ chức phi ngân hàng Việc mua bán thương phiếu của NHTW sẽ ảnh hưởngmạnh đến dự trữ của các ngân hàng hoặc tiền gửi của các khách hàng tại các NHTM
Trái phiếu chính quyền địa phương: loại trái phiếu này tương tự như trái phiếu
chính phủ nhưng khác biệt về thời hạn và các điều kiện ưu đãi có liên quan Thôngthường, những người sở hữu loại trái phiếu này được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập từtrái phiếu
Có thể thấy rằng, hàng hóa trên thị trường mở có xu hướng ngày càng đa dạng hoá do tác động của những nhân tố sau:
Một là, cùng với xu hướng toàn cầu hoá thị trường tài chính và sự xuất hiệnngày càng nhiều các tổ chức cung cấp tài chính mới, tính cạnh tranh trên thị trường tài
Trang 9chính ngày càng trở nên gay gắt Thực tế này đặt các tổ chức tài chính dưới một sứcÐạp mạnh mẽ, đòi hỏi họ phải không ngừng tìm kiếm các công cụ thu hút vốn mớithoả mãn nhu cầu về tất cả các mặt: thời hạn, mức độ rủi ro, mức sinh lời và cách thứcthanh toán nợ Đây chính là một nhân tố quan trọng làm thay đổi cơ cấu hàng hoá trênthị trường mở.
Hai là, nhu cầu ngày càng phức tạp của khách hàng và mức độ khẩn trương củacuộc sống đã tạo sức Ðạp cho sự phát triển nhanh chóng của công nghệ ngân hàng.Đây cũng là động lực quan trọng cho sù ra đời của các sản phẩm tài chính mới, tạo nên
sự thay đổi trong chủng loại hàng hoá trên thị trường mở
1.2.2 Thành viên nghiệp vụ thị trường mở
Thị trường mở là một thị trường có tính chất mở nên các thành viên thị trường rất
đa dạng với các mục đích khác nhau Nhìn chung, mọi nhà đầu tư đều có thể là đối tácgiao dịch với NHTW trong các giao dịch OMO nếu thoả mãn những tiêu chuẩn cụ thểcủa NHTW ở các nước Các tiêu chuẩn này nhằm mục đích: (i) Các đối tác phải đảmbảo độ tin cậy nhất định và (ii) Việc giao dịch với các đối tác phải có hiệu quả xét trênkhía cạnh can thiệp của NHTW Thông thường, thành viên OMO bao gồm:
Ngân hàng trung ương: NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt
động của thị trường mở theo các mục tiêu CSTT NHTW là người quyết định lựa chọn
sử dụng các loại OMO và tần suất sử dụng OMO NHTW tham gia thị trường thôngqua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng đểđảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất thị trường theomục tiêu CSTT NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông quathực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủphương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà
để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mụctiêu xác định của nó
Các đối tác chính trên thị trường mở thường:
• Các ngân hàng thương mại:
Xét ở cả hai phương diện độ tin cậy và hiệu quả, các NHTM là đối tác quantrọng trong OMO của NHTW Họ tham gia thị trường nhằm điều hoà mức dự trữ ngânquỹ để duy trì khả năng thanh toán của mình và cho vay các khoản vốn dư thừa để
Trang 10kiếm lãi Đồng thời thông qua đó, các NHTM thực hiện các nghiệp vụ môi giới vàkinh doanh chứng khoán.
Do có mạng lưới hệ thống hoạt động rộng và được gắn kết thành hệthống quatrung tâm thanh toán nên mỗi sự thay đổi dự trữ của ngận hàng sẽ gây ảnh hưởngnhiều chiều đến khối lượng tiền cung ứng theo mong muốn của NHTW Những ảnhhưởng này sẽ càng mạnh hơn và mang tính quyết định đến hiệu quả của chính sáchtiền tệ trong điều kiện tỷ trọng dư nợ của ngân hàng chiếm đa số trên thị trường tàichính như ở các nước đang phát triển
• Các tổ chức tài chính phi ngân hàng: Bên cạnh các NHTM, các tổ chức tàichính phi ngân hàng cũng tham gia vào TTM nhằm tăng thêm thu nhập qua việc sửdụng vốn để mua, bán các chứng khoán có giá ngắn hoặc dài hạn Đây có thể là cáccông ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ đầu tư và các định chế tài chính khác Các tổ chức này thường có khối lượng chứng khoán lớn với một danh mục cơ cấu đầu
tư thường xuyên thay đổi nhằm đảm bảo mức sinh lời cao nhất và rủi ro dự tính thấpnhất Khác với các NHTM, hành vi giao dịch của NHTW với các đối tác này có tácdụng trực tiếp tới khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường qua sự biến độnggiá cả của các loại chứng khoán được giao dịch
• Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn: các đối tác này thường nắm
trong tay các thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu Chính phủ hoặc là ngoại tệ Nhu cầuchính của họ là bán các chứng khoán (bán hẳn hoặc là tạm thời) để đổi ra tiền mặthoặc là để kiếm lời trong một thời gian ngắn Mặt khác, với những doanh nghiệp lớn
có vốn nhàn rỗi tạm thời, họ có thể mua các loại chứng khoán ngắn hạn như tín phiếuKho bạc, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để tăng thêm thu nhập Những hoạt động này
có thể được các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc được tiến hành thông qua môigiới chuyên nghiệp hay sự môi giới của các NHTM
• Các hộ gia đình cũng là một đối tác tham gia vào TTM với những động cơ chính là phục vụ cho mục đích giao dịch, phòng ngõa rủi ro và để kiếm lợi nhờ sự thayđổi về lãi suất dự đoán Tuy nhiên, so với các đối tác trên, sự tham gia của đối tác này vào TTM là rất hạn chế bởi độ tin cậy của nó thấp Thông thường, sự giao dịch của các
hộ gia đình trên thị trường mở được thực hiện qua các công ty chứng khoán
Trang 11• Các nhà giao dịch sơ cấp: với tư cách là người trung gian trong việc muabán các giấy tờ có giá giữa NHTW với các đối tác khác, các đối tác này tham gia vàothị trường mở nhằm hưởng chênh lệch giữa giá mua và giá bán Ngoài ra, họ cũngtham gia thị trường mở cho chính mình khi họ có quỹ chứng khoán riêng để giao dịchvới NHTW Các người giao dịch thường là các công ty chứng khoán chuyên nghiệp.Thực tế cho thấy ở hầu hết các nước trên thế giới, 70% giao dịch của NHTW trên thịtrường được thực hiện thông qua vai trò của những đối tác này
Điều kiện tham gia:
Các tổ chức tín dụng khi tham gia vào thị trường mở phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Là hội sở chính, có tài khoản giao dịch tại NHNN
- Được thành lập và hoạt động kinh doanh theo luật pháp hiện hành của việt nam
- Phải có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại sở giao dịch ngân hàng nhà nước việt nam, hoặc tại chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc
-Trang bị đầy đủ các phưng tiện kỹ thuật hiện đại để giao dịch trên thị trường
mở với ngân hàng nhà nước
-Có phiếu đăng ký tham gia thị trường mở, được ngân hàng nhà nước chấp nhận và cấp mã số giao dịch, mã khóa, mã chữ ký của người đại diện để tiến hành giaio dịch trên thị trường mở
1.3 Các loại hình nghiệp vụ thị trường mở và phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
1.3.1 Các nghiệp vụ thị trường mở
1.3.1.1 Nghiệp vụ giao dịch chứng từ có giá:
a Các hình thức giao dịch:
• Các giao dịch không hoàn lại (hay các giao dịch mua đứt bán đoạn):
Các giao dịch không hoàn lại bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc NHTWmua hoặc bán các chứng từ có giá theo phương thức mua đứt bán đoạn, qua đó làmchuyển hẳn quyển sở hữu đối với các chứng khoán được giao dịch Do các chứng từ cógiá này có ảnh hưởng dài hạn tới dự trữ của các ngân hàng, nên hình thức này chỉ thíchhợp trong trường hợp NHTW muốn điều chỉnh cơ cấu hoặc can thiệp vào thị trườngnhằm thay đổi các điều kiện tiền tệ Khi những thay đổi của thị trường tiền tệ chỉ là
Trang 12tạm thời, việc áp dụng hình thức giao dịch này có thể làm chệch hướng của chiến lược,chính sách tiền tệ bởi các tác động dài hạn của nó.
Các chứng từ có giá được sử dụng trong các giao dịch không hoàn lại phải đápứng một số điều kiện nhất định như: nó phải là một công cụ nợ, có mức rủi ro thấp vàphải được phát hành bởi các tổ chức đủ điều kiện Tuy nhiên, các quy định này chỉ cótính tương đối và thường được áp dụng khác nhau ở các nước
Mức lãi suất trong các giao dịch không hoàn lại được xác định theo lãi suất thịtrường và được thể hiện bằng mức lãi suất thỏa thuận (trong các giao dịch songphương), lãi suất đấu thầu (trong đầu thầu lãi suất) hoặc lãi suất công bố của NHTW(trong đầu thầu khối lượng)
• Các giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn):
Trong hình thức giao dịch này, phương pháp được áp dụng chủ yếu cho cácmục đích giao dịch tạm thời là các hợp đồng mua lại (repos) Nó được sử dụng khiNHTW thực hiện một giao dịch theo hợp đồng mua lại, tức là mua chứng khoán từngười môi giới trên thị trường với một cam kết sẽ mua lại vào một ngày xác định trongtương lai của người môi giới
Hợp đồng mua lại có thể được sơ đồ hoá như hình dưới đây
t = 0 NHTW Tiền M1 Người giao dịch
Trang 13t =0 NHTW Tín phiếu Kho Bạc NGƯỜI GIAO DỊCH
Thông thường, hợp đồng mua lại được sử dụng trong khoảng thời gian rất ngắn,thường là qua đêm với t = 1 ngày nhưng cũng có khi dài hơn với t > 1 ngày và đượcgọi là Repos có thời hạn Ngoài ra, trong trường hợp loại Repos mở, thời hạn t sẽkhông được xác định trước mà được hai bên thoả thuận lại vào mỗi ngày Về thựcchất, giao dịch theo hợp đồng Repos là một khoản cho vay có đảm bảo bằng các chứngkhoán có tính thị trường cao
Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường mở
vì đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không
dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng, đồng thời rút ngắn thời gian thông báo, do
đó mà làm giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày củaNHTW Hơn nữa, chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại thường rẻ hơn so vớicác hợp đồng mua đứt bán đoạn Ngoài ra, nó còn thích hợp trong trường hợp các địnhhướng chính sách tiền tệ không hoàn hảo dẫn đến việc phải sử dụng các giải pháp khắcphục
b Điều kiện của các chứng từ có giá được chấp nhận trong giao dịch:
Trang 14Về thực chất, nghiệp vụ giao dịch chứng từ có giá của NHTW là một hợp đồngvay và cho vay có đảm bảo bằng các chứng từ có giá Bởi vậy, các chứng từ có giáđược chấp nhận trong giao dịch phải thoả mãn các điều kiện nhất định với mục đíchbảo vệ NHTW khỏi các rủi ro tiềm ẩn Ngoài ra, do các giao dịch không hoàn lại cóảnh hưởng đến cơ cấu tài sản có của NHTW và các đối tác một cách dài hạn, nên việc
áp dụng các điều kiện trên đối với các chứng từ trong giao dịch này chặt chẽ hơn sovới các giao dịch có hoàn lại
Điều kiện đối với các chứng từ có giá trong giao dịch không hoàn lại:
- Là các công nợ do NHTW, Kho bạc và các chủ thể khác phát hành
- Có thể chuyển nhượng được
- Người phát hành là các chủ thể khác phải thoả mãn các điều kiện nhất định
để đảm bảo khả năng thanh toán của chứng từ khi đáo hạn
Điều kiện đối với các chứng từ có giá trong hợp đồng mua lại:
- Là công cụ nợ hoặc các cổ phiếu
- Có thể chuyển nhượng hoặc không thể chuyển nhượng được
- Người phát hành phải đảm bảo các điều kiện nhất định về tài chính
1.3.1.2 Phát hành chứng chỉ nợ của Ngân hàng trung ương
Các chứng chỉ nợ của NHTW thường được phát hành nhằm hấp thụ khả năngthanh toán đang dư thừa của NHTW Nó thích hợp để điều chỉnh lượng vốn khả dụng
dư thừa trong nền kinh tế, đặc biệt khi các công cụ OMO khác chưa phát huy tác dụng
Các chứng chỉ nợ có thể được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổtrên cơ sở quy định chuẩn mực về mệnh giá và thời hạn
Trong trường hợp này, khối lượng chứng chỉ nợ trúng thầu được hạch toán vàotài khoản lưu ký chứng khoán tại NHTW hoặc trung tâm lưu ký chứng khoán Cácchứng chỉ nợ được phát hành dưới hình thức chiết khấu, nghĩa là giá phát hành thấphơn mệnh giá Khi đáo hạn, người sở hữu sẽ được hưởng số tiền thanh toán bằng mệnhgiá của chứng chỉ nợ Khoản chênh lệch giữa giá phát hành và mệnh giá là lãi suấtphát sinh trên giá phát hành
1.3.1.3 Giao dịch hoán đổi ngoại tệ
Cũng như giao dịch có hoàn lại, giao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng gồm có hailoại giao dịch là giao dịch giao ngay và giao dịch có kỳ hạn giữa đồng nội tệ và đồngngoại tệ Thông qua loại giao dịch này, NHTW có thể gây ảnh hưởng đến lượng vốn
Trang 15khả dụng của nền kinh tế trong khoảng thời gian cần thiết tuỳ thuộc vào thời hạn củahợp đồng kỳ hạn
Theo nguyên tắc của nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trên thị trường ngoại hối,NHTW và các đối tác sẽ cùng thoả thuận các điểm swap để xác định tỷ giá có kỳ hạn
từ tỷ giá giao ngay trong mỗi giao dịch hoán đổi ngoại tệ Việc sử dụng nghiệp vụ này
có thể làm tăng thêm khả năng thanh toán của (mua ngoại tệ trao ngay và bán có kỳhạn) hoặc hấp thụ khả năng thanh toán (bán ngoại tệ trao ngay và mua có kỳ hạn) nềnkinh tế
1.3.1.4 Giao dịch hoán đổi chứng khoán đến hạn
Nghiệp vụ giao dịch hoán đổi chứng khoán đến hạn được thực hiện khi NHTWmuốn hoán đổi các chứng khoán Chính phủ thuộc sở hữu của nó đã đến hạn bằng cácchứng khoán Chính phủ mới phát hành Nếu giá trị các chứng khoán Chính phủ đếnhạn lớn hơn giá trị các chứng khoán Chính phủ mới thay thế, dự trữ của hệ thống ngânhàng sẽ tăng lên, và ngược lại, khi giá trị các chứng khoán mới thay thế lớn hơn lượngchứng khoán đến hạn, dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ giảm xuống
1.3.2 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
1.3.2.1 Phương thức giao dịch song phương
Theo nghĩa chung nhất, giao dịch song phương là giao dịch được thực hiện trựctiếp giữa NHTW với một số đối tác được lùa chọn mà không thông qua thủ tục đấuthầu
Như vậy, có thể hiểu giao dịch song phương theo hai cách sau:
Một là, đó là các giao dịch trực tiếp giữa NHTW với các đối tác Điều quantrọng trong hình thức giao dịch này là phải lùa chọn được đối tác giao dịch có hiệu quảnhất Các giao dịch này được sử dụng đối với các hợp đồng có hoàn lại và không hoànlại trong giao dịch hoán đổi ngoại tệ và trong huy động tiền gửi có kỳ hạn
Hai là, đó là các giao dịch thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặccác đại lý thị trường Đối với các giao dịch này, các đối tác không bị giới hạn và có thểđiều chỉnh các thủ tục giao dịch cho phù hợp với tập quán thị trường Trong giao dịchnày, NHTW đóng vai trò như những người tham gia khác trên thị trường chứng khoán
Thông thường, các giao dịch song phương không được thông báo ra trước côngchúng và ngày can thiệp là tuỳ thuộc vào quyết định của NHTW
1.3.2.2 Giao dịch theo phương thức đấu thầu
Trang 16• Đấu thầu khối lượng (đấu thầu với lãi suất cố định):
Trong hình thức đấu thầu này, các tổ chức đấu thầu chỉ việc đăng ký số tiền trên
cơ sở chấp nhận mức lãi suất do NHTW niêm yết từ trước Việc phân phối đối với mộtphiên thầu có lãi suất cố định được tiến hành như sau: Trước hết, toàn bộ sổ đăng kýđặt thầu được cộng lại với nhau Nếu tổng số đặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng giá trị lượngtiền được NHTW cung ứng hoặc hấp thụ thì toàn bộ các đơn đặt thầu đều được phânphối Nếu các đơn đặt hàng lớn hơn số lượng được phân phối thì các đơn đặt thầu sẽđược phân phối theo tỷ lệ phân phối nhất định
• Đấu thầu lãi suất:
Theo hình thức này, trên cơ sở khối lượng tiền cần cung ứng hoặc hấp thụ đãđược NHTW thông báo, các tổ chức tham gia đấu thầu tự đăng ký số tiền ứng với mỗimức lãi suất do chính mình lùa chọn
Đối với đấu thầu nhằm cung ứng thêm vốn khả dụng, các khối lượng đặt thầuđược sắp xếp theo thứ tự và được phân phối theo các mức lãi suất từ cao xuống thấp.Nghĩa là, những số lượng đăng ký thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân phốitrước cho đến khi số lượng phân phối được sử dụng hết (Đối với đấu thầu để hấp thụkhả năng thanh toán thì các quy trình phân bổ thầu diễn ra theo chiều hướng ngượclại)
Trong đấu thầu lãi suất, NHTW có thể áp dụng hình thức một giá hoặc nhiềugiá Theo hình thức một giá, lãi suất trúng thầu sẽ là mức lãi suất thấp nhất mà tại đóNHTW đạt đủ khối lượng vốn khả dụng cần cung ứng, hoặc lãi suất cao nhất mà tại đóNHTW đạt đủ khối lượng vốn khả dụng cần hấp thụ Còn theo hình thức nhiều giá, lãisuất trúng thầu là tất cả các mức lãi suất lớn hơn hoặc bằng mức lãi suất trúng thầuthấp nhất trong trường hợp thứ nhất và tất cả mức lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng mức lãisuất trúng thầu cao nhất trong trường hợp thứ hai
• Đấu thầu hoán đổi ngoại tệ theo điểm swap:
Đối với đấu thầu hoán đổi ngoại tệ nhằm cung ứng khả năng thanh toán, cácđơn vị dự thầu được sắp xếp theo điểm swap tăng dần Chiều hướng tăng lên của điểmswap phụ thuộc dấu của điểm swap Đến lượt nó, dấu của điểm swap lại phụ thuộc vàohiệu số giữa mức lãi suất USD và lãi suất VND Nếu lãi suất USD > lãi suất VND thìđiểm swap có dấu (+), ngược lại nó có dấu (-) Căn cứ vào đó, tỷ giá có kỳ hạn được
Trang 17xác định từ tỷ giá giao ngay + (-) điểm swap Số lượng đặt thầu sẽ được thoả mãn theothứ tự điểm swap tăng dần Tại điểm swap trúng thầu cao nhất, số lượng tiền cung ứngnhỏ hơn số đặt thầu thì tiến hành phân bổ thầu theo nguyên tắc của đấu thầu lãi suất.
Đối với trường hợp hấp thụ khả năng thanh toán, các đơn dự thầu được xét theothứ tự điểm swap giảm dần Sự chênh lệch giữa số đặt thầu tại điểm swap thấp nhấtvới lượng tiền dự định hấp thụ sẽ được phân bổ theo nguyên tắc của đấu thầu lãi suất
1.4 Quy trình hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
Trong bất cứ một phiên giao dịch nào trên TTM, muốn được thực hiện thôngsuốt, mọi phiên giao dịch cần phải được tiến hành theo một quy trình khép kín và phải
có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận điều hành cũng như sự tham gia của cácthành viên trên TTM Quy trình OMO có thể được khái quát thành các bước sau đây:
Bước một là căn cứ vào của ban điều hành OMO, bộ phận đấu thầu của sở giao
dịch NHNN sẽ lập thông báo mua hoặc bán giấy tờ có giá ngắn hạn để trình giám đốc
sở giao dịch ký rồi sau đó thông báo cho bên mua hoặc bên mua giấy tờ có giá (cácthành viên của OMO và các chi nhánh NHNN) qua mạng máy vi tính Thời gian quyđịnh cho việc truyền mạng là từ 13 đến 14h30 của ngày thông báo
Bước hai là các TCTD muốn tham gia giao dịch OMO phải thực hiện việc đăng
kí lưu giữ giấy tờ có giá tại sở giao dịch NHNN hoặc chi nhánh NHNN tỉnh thành phốchậm nhất là vào 9h sáng của ngày giao dịch
Bước thứ ba là các TCTD cần phải xem xét và ra quyết định về việc tham gia
dự thầu sau khi nhân được thông báo của bộ phần đấu thầu về giấy tờ có giá màNHNN muốn mua hoặc muốn bán Nếu quyết định tham gia dự thầu, các TCTD phảilập và gửi đơn dự thầu qua mạng máy tính tới sở giao dịch từ 8h đến 10h của ngày đấuthầu
Bước thứ tư được gọi là khâu nhận thông tin về lưu trữ giấy tờ có giá Từ 9h
đến 10h sáng của ngày đấu thầu, bộ phận lưu trữ giấy tờ có giá thuộc sở giao dịch vàcác chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố sẽ thông báo thông tin về tình hình lưu trữ giấy
tờ có giá của các TCTD sẽ tham gia đấu thầu
Bước thứ năm là khâu tổ chức đấu thầu Dưới sự chứng kiến của ban điều hành
OMO, sở giao dịch NHNN sẽ tiến hành tổ chức đấu thầu theo các bước cụ thể gồm:tổng hợp số liệu, chon các đơn dự thầu hợp lệ, điều chỉnh số liệu dự thầu, lập bảngtổng hợp dự thầu, quyết định kết quả đấu thầu và cuối cùng là phân bổ thầu
Trang 18Bước thứ 6 là NHNN phải thông báo kết quả đấu thầu cho các TCTD tham gia
đấu thầu và các chi nhánh NHNN Việc thông báo này được thực hiện qua mạng máytính hoặc Fax chậm nhất là 14h của ngày đấu thầu và bao gồm các nội dung về ngàyđấu thầu, khối lượng tróng thầu, khối lượng không tróng thầu, lãi suất tróng thầu, sốtiền thanh toán và ngày thanh toán Đây sẽ là căn cứ cho việc thực hiện giao, nhận vàthanh toán giấy tờ có giá trong nghiệp vụ mua bán hẳn và căn cứ để lập hợp đồngtrong nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn
Bước thứ bảy là bên bán, dùa trên thông báo kết quả xét thầu, phải có trách
nhiệm lập hợp đồng bán và mua lại theo mẫu và gửi cho bên mua chậm nhất là 15hcủa ngày đấu thầu Khi nhận được hợp đồng này, bên mua phải ký tên đóng dấu trênbản hợp đồng và gửi lại cho bên bán trước 15h30 cùng ngày Bộ phận OMO sẽ chuyểnbản hợp đồng mua bán lại cho các bộ phân liên quan của sở giao dịch trước 16h30cùng ngày
Bước thứ tám đó là việc thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá
sẽ được tiến hành tuỳ thuộc vào phương thức mua, bán của phiên giao dịch Trongngày làm việc tiếp theo của phiên đấu thầu, bộ phận thanh toán và lưu trữ giấy tờ cógiá sẽ căn cứ vào thông báo kết quả tróng thầu để thực hiện các công việc cần thiếttrong khâu thanh toán
Bước cuối cùng là việc kết thúc hợp đồng giao dịch kỳ hạn, trong đó tại ngày
kết thúc thời hạn hợp đồng mua bán lại, bên bán sẽ chuyển tiền cho bên mua để nhậnlại quyền sở hữu giấy tờ có giá đã bán trước đó Ngoài ra, nếu bên bán trong hợp đồng
là tổ chức tín dụng nhưng đến ngày đáo hạn vẫn không thể thanh toán thì NHNN sẽtrích tài khoản của TCTD đó tại NHNN để thu hồi Sau 10 ngày kể từ ngày đến hạnthanh toán mà các TCTD vẫn không có đủ khả năng thanh toán thì số lượng giấy tờ cógiá này sẽ được NHNN bán đi để thu hồi lại vốn
CHƯƠNG 2 THỰC TẾ ÁP DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM 11 NĂM QUA
Với chức năng là một bộ phận cấu thành trong cơ cấu hoạt động nghiệp vụTTM tại NHNN, hơn 11 năm qua, Sở Giao dịch NHNN đã tổ chức thực hiện thànhcông các phiên giao dịch nghiệp vụ TTM theo chỉ đạo của Ban Điều hành, góp phần
ổn định thị trường tiền tệ và hoàn thành mục tiêu CSTT
Trang 19Hoạt động nghiệp vụ TTM tại Sở Giao dịch bao gồm các phương thức mua kỳhạn, bán kỳ hạn, mua hẳn và bán hẳn thông qua hai hình thức đấu thầu là đấu thầukhối lượng và đấu thầu lãi suất Việc tổ chức đấu thầu này thể hiện rõ tính thị trườngtrong quan hệ giữa NHNN với các TCTD
Sở Giao dịch là đơn vị thực hiện công tác đấu thầu, thực hiện giao dịch, lưu kýGTCG và thực hiện nhiệm vụ thông tin, báo cáo kết quả hoạt động nghiệp vụ TTM.Qua đó, có thể thấy rằng, Sở Giao dịch giữ một vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu
tổ chức nghiệp vụ TTM tại NHNN Trên thực tế, thời gian qua, các bộ phận nghiệp vụtại Sở Giao dịch như Phòng Nghiệp vụ Thị trường tiền tệ (Bộ phận thanh toán) vàPhòng Kế toán (Bộ phận lưu ký) đã có nhiều cố gắng, góp phần thực hiện thành côngcác phiên giao dịch theo quy định, tạo sự nhanh chóng và thông thoáng đối với dòngtiền vào/ra giữa NHNN và các TCTD
Kết quả hoạt động nghiệp vụ TTM tại Sở Giao dịch kể từ khi đưa vào sử dụngđến nay có thể tạm chia thành hai thời điểm như sau:
Thời gian từ năm 2000 - tháng 11/2007
2.1 Thực Trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở từ năm 2000 - tháng 11/2007.
Có thể nói, đây là giai đoạn nghiệp vụ TTM bắt đầu triển khai và phát triển tạiViệt Nam Ngay khi Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án triển khai nghiệp vụ TTMtheo Quyết định số 340/1999/QĐ-NHNN14 ngày 30/9/1999, Sở Giao dịch đã triểnkhai nhiệm vụ liên quan tới hoạt động nghiệp vụ TTM tại Sở Giao dịch như việc mởtài khoản lưu ký cho thành viên, xây dựng văn bản hướng dẫn quy trình nghiệp vụTTM, phối hợp với Cục Công nghệ tin học xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềmgiao dịch phục vụ công tác xét thầu, phân bổ thầu và báo cáo kết quả các phiên đấuthầu…
Thời gian đầu, khi nghiệp vụ TTM được đưa vào giao dịch trên thị trường tiền
tệ là khoảng thời gian khó khăn đối với những cán bộ làm công tác nghiệp vụ TTM tại
Sở Giao dịch, do các văn bản quy phạm pháp luật mới ở giai đoạn đầu ban hành nênvừa thực hiện, vừa phải điều chỉnh, bổ sung cho hoàn thiện và phù hợp với tình hìnhthành viên, xu hướng phát triển của thị trường Hơn nữa, hệ thống công nghệ thông tinphục vụ cho nghiệp vụ này còn đơn giản, một số thao tác vẫn phải thực hiện bán thủcông Số lượng thành viên tham gia chưa đông, chủ yếu tập trung vào một số ngân