ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới làm cho nhu cầu về gỗ để phục vụ cho các ngành công nghiệp ở trong nước cũng như ở trên thế giới đều giảm. Nhưng chỉ một vài năm nữa khi nền kinh tế được phục hồi thì nhu cầu về gỗ sẽ tăng cao đặc biệt là gỗ lớn nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp như đóng tầu, khai khoáng… Tuy nhiên hiện nay khả năng đáp ứng nhu cầu gỗ lớn cho thị trường hiện tại và cho tương lai còn nhiều hạn chế do khó khăn trong khâu khai thác rừng tự nhiên.Việc nhập khẩu gỗ lớn trên thế giới cũng gặp nhiều hạn chế do các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đều có xu hướng giảm khai thác rừng tự nhiên. Đứng trước thực tế đó để đáp ứng nhu cầu gỗ lớn cho hiện tại và cho tương lai thì chúng ta cần phải xây dựng các vùng nguyên liệu gỗ lâu dài. Nhưng nếu trồng mới rừng cây gỗ lớn thì phải mất 20 đến 30 năm mới có thể khai thác được. Nhận thấy ở nước ta hiện nay có một diện tích lớn rừng cây gỗ lớn nhưng lại được trồng để kinh doanh gỗ nhỏ do đó hiệu quả kinh tế mang lại là tương đối thấp. Nếu những diện tích rừng này được chuyển hóa thành rừng cung cấp gỗ lớn thông qua các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp thì chỉ trong một thời gian từ 5 đến 10 năm tới chúng ta sẽ có nguồn cung cấp gỗ lớn quan trọng. Điều đó không những đáp ứng nhu cầu về gỗ lớn trong tương lai, giảm chi phí trồng rừng ban đầu, nâng cao giá trị của gỗ mà còn có tác dụng lớn đối với môi trường như chống xói mòn đất, tăng khả năng hấp thụ khí CO2. Nhận thức được vấn đề đó PGS.TS. Vũ Nhâm cùng các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu chuyển hóa rừng trồng Sa mộc cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn từ năm 2007. Công việc nghiên cứu được tiến hành tại huyện Bắc Hà – Lào Cai, nơi có diện tích rất lớn trồng Sa mộc với tuổi từ 5 tuổi đến 15 tuổi. Sa mộc ở thời kỳ này sinh trưởng phát triển khá mạnh và có khả năng trở thành gỗ lớn. Việc nghiên cứu chuyển hóa rừng được tiến hành trên các ô tiêu chuẩn định vị, từ việc phân chia cấp tuổi, cấp đất, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và đã đạt được một số kết quả là: Chỉ tiến hành chặt chuyển hóa ở các cấp tuổi III (5 < 7 tuổi), IV (7 < 9 tuổi), V (9 < 11 tuổi), VI (11 < 13 tuổi), VII (13 < 15 tuổi) và chỉ tiến hành chặt chuyển hóa trên các cấp đất I, II, III. Thời điểm chặt chuyển hóa là năm 2007, xác định được chu kỳ chặt chuyển hóa, cường độ chặt chuyển hóa và cây chặt. Để đánh giá hiệu quả của các mô hình chặt chuyển hóa sau hai năm (kể từ khi bắt đầu chặt chuyển hóa). Tôi tiến hành thực hiện khóa luận: “Kiểm định mô hình chuyển hoá rừng trồng Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Hook) cấp tuổi V (9 < 11 tuổi) và VI (11 < 13 tuổi) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại Ban quản lý rừng huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới làm cho nhu cầu về
gỗ để phục vụ cho các ngành công nghiệp ở trong nước cũng như ở trên thếgiới đều giảm Nhưng chỉ một vài năm nữa khi nền kinh tế được phục hồi thìnhu cầu về gỗ sẽ tăng cao đặc biệt là gỗ lớn nhằm phục vụ cho các ngànhcông nghiệp như đóng tầu, khai khoáng…
Tuy nhiên hiện nay khả năng đáp ứng nhu cầu gỗ lớn cho thị trườnghiện tại và cho tương lai còn nhiều hạn chế do khó khăn trong khâu khai thácrừng tự nhiên.Việc nhập khẩu gỗ lớn trên thế giới cũng gặp nhiều hạn chế docác nước trong khu vực cũng như trên thế giới đều có xu hướng giảm khaithác rừng tự nhiên Đứng trước thực tế đó để đáp ứng nhu cầu gỗ lớn cho hiệntại và cho tương lai thì chúng ta cần phải xây dựng các vùng nguyên liệu gỗlâu dài Nhưng nếu trồng mới rừng cây gỗ lớn thì phải mất 20 đến 30 nămmới có thể khai thác được Nhận thấy ở nước ta hiện nay có một diện tích lớnrừng cây gỗ lớn nhưng lại được trồng để kinh doanh gỗ nhỏ do đó hiệu quảkinh tế mang lại là tương đối thấp Nếu những diện tích rừng này đượcchuyển hóa thành rừng cung cấp gỗ lớn thông qua các biện pháp kỹ thuật lâmsinh phù hợp thì chỉ trong một thời gian từ 5 đến 10 năm tới chúng ta sẽ cónguồn cung cấp gỗ lớn quan trọng Điều đó không những đáp ứng nhu cầu về
gỗ lớn trong tương lai, giảm chi phí trồng rừng ban đầu, nâng cao giá trị của
gỗ mà còn có tác dụng lớn đối với môi trường như chống xói mòn đất, tăngkhả năng hấp thụ khí CO2
Nhận thức được vấn đề đó PGS.TS Vũ Nhâm cùng các đồng nghiệp đãtiến hành nghiên cứu chuyển hóa rừng trồng Sa mộc cung cấp gỗ nhỏ thànhrừng cung cấp gỗ lớn từ năm 2007 Công việc nghiên cứu được tiến hành tạihuyện Bắc Hà – Lào Cai, nơi có diện tích rất lớn trồng Sa mộc với tuổi từ 5tuổi đến 15 tuổi Sa mộc ở thời kỳ này sinh trưởng phát triển khá mạnh và cókhả năng trở thành gỗ lớn
Trang 2Việc nghiên cứu chuyển hóa rừng được tiến hành trên các ô tiêu chuẩnđịnh vị, từ việc phân chia cấp tuổi, cấp đất, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinhtrưởng và đã đạt được một số kết quả là: Chỉ tiến hành chặt chuyển hóa ở cáccấp tuổi III (5 -< 7 tuổi), IV (7 -< 9 tuổi), V (9 -< 11 tuổi), VI (11 -< 13 tuổi),VII (13 -< 15 tuổi) và chỉ tiến hành chặt chuyển hóa trên các cấp đất I, II, III.Thời điểm chặt chuyển hóa là năm 2007, xác định được chu kỳ chặt chuyểnhóa, cường độ chặt chuyển hóa và cây chặt.
Để đánh giá hiệu quả của các mô hình chặt chuyển hóa sau hai năm (kể
từ khi bắt đầu chặt chuyển hóa) Tôi tiến hành thực hiện khóa luận:
“Kiểm định mô hình chuyển hoá rừng trồng Sa mộc
(Cunninghamia lanceolata - Hook) cấp tuổi V (9 -< 11 tuổi) và
VI (11 -< 13 tuổi) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại Ban quản lý rừng huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”
Trang 3PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số nhận thức về loài Sa mộc và kiểm định chuyển hoá rừng
Ở nước ta Sa mộc được trồng nhiều ở các tỉnh biên giới phía bắc như
Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, với tổngdiện tích lên đến hơn 10000 ha
Sa mộc là loài cây gỗ lớn, gỗ màu vàng nhạt, thơm, mềm, nhẹ (d
=0,39) rất có giá trị kinh tế, có tinh dầu thơm, có thớ thẳng, mịn dễ làm, khómối mọt, chịu được dưới đất ẩm…
Có thể dùng Sa mộc để xây dựng nhà cửa, làm cột điện, tà vẹt, thùngnước và bột giấy, nội thất, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến… hiện nay
Sa mộc rất được chú ý trong chương trình ở các tỉnh phía Bắc
1.1.2 Phân chia cấp tuổi
Có nhiều các phân chia cấp tuổi: Phân chia cấp tuổi tự nhiên, phân chiacấp tuổi nhân tạo và phân chia cấp tuổi kinh doanh
Để tổ chức các biện pháp kinh doanh rừng người ta thường phân chiarừng theo cấp tuổi nhân tạo, nghĩa là phân chia 3, 5 hay 10 năm một cấp tuổi.Phân chia cấp tuổi phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh và tốc độ sinh trưởng củacây Việc phân chia cấp tuổi có ý nghĩa lớn trong tính lượng khai thác và đề xuấtgiải pháp tác động vào nó Số năm trong một cấp tuổi phụ thuộc vào từng loài
Trang 4cây nhưng không được quá lớn mà cũng không được quá nhỏ mà phải dựa vàotốc độ sỉnh trưởng của cây mà định ra số năm trong một cấp tuổi phù hợp nhấtvới mục đích kinh doanh và chu kỳ kinh doanh.
Dựa vào đặc điểm sinh trưởng của loài Sa mộc là loài sinh trưởng nhanhnên kinh doanh gỗ lớn chu kỳ 20-25 năm Vì vậy số năm trong một cấp tuổi là 3năm là phù hợp
1.1.3 Kiểm định mô hình chuyển hoá rừng từ gỗ nhỏ thành gỗ lớn
Kiểm định các mô hình chuyển hoá trên cơ sở các mô hình đã được xâydựng cách đây 2 năm
Mô hình xây dựng cách đây hai năm được xây dựng dựa trên cơ sởnghiên cứu các cấu trúc cơ bản, xác định các yếu tố kĩ thuật cơ bản cho chặtchuyển hoá từ đó đưa ra được các mô hình lý thuyết chặt chuyển hoá sau đó tiếnhành chặt chuyển hoá
Để tiến hành kiểm định chúng tôi tiến hành kiểm định trên các OTC đãlập và so sánh tăng trưởng Để so sánh một cách toàn diện hơn chúng tôi khôngchỉ so sánh dựa trên cơ sở so sánh OTC đã chặt chuyển hoá và OTC đối chứng
mà còn so sánh OTC chặt chuyển hoá và OTC chưa tiến hành chặt chuyển hóacách đây 2 năm Kiểm định những yếu tố cấu trúc cơ bản sau thời gian 2 nămthông qua sự biến đổi của đường kính bình quân và các chỉ tiêu thống kê Domục đích là kiểm định chuyển hoá từ rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn nên chỉ tiêuquan trọng nhất là đường kính bình quân nhưng để nghiên cứu một cách tổngquát hơn nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự biến đổi của các quy luật cấutrúc và chuyển hoá rừng
Huyện Bắc Hà – Lào Cai là một huyện miền núi có khí hậu lạnh phù hợpvới sinh trưởng và phát triển của loài Sa mộc và đã được trồng với diện tích rấtlớn , được phân chia ở các cấp tuổi III đến cấp tuổi VII Được trồng để kinhdoanh gỗ nhỏ nhưng muốn chuyển sang kinh doanh gỗ lớn để nâng cao giá trithương mại của gỗ Chuyển hoá rừng bằng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh nhưchặt chuyển hoá điều chỉnh mật độ cho phù hợp để cây cho đường kính lớn
Trang 5Chặt chuyển hoá từ gỗ nhỏ sang gỗ lớn cũng có điểm giống với chặt tỉathưa là đều có nghĩa chặt để mở tán rừng khi rừng đến giai đoạn khép tán để câysinh trưởng tốt hơn Nhưng cũng có điểm khác là ở chặt chuyển hoá không chỉchặt những cây cong queo, sâu bệnh mà những cây gỗ lớn, gỗ nhỏ đều có thể bịchặt để điều chỉnh mật độ sao cho phù hợp.
1.1.4 Một số nhận định
Sa mộc là loài cây có giá trị kinh tế cao, rất thích hợp trồng ở các tỉnh biêngiới phía bắc của nước ta Nhưng đa số là trồng với mục đích kinh doanh gỗ nhỏ,nếu những diện tích này được chuyển hóa thành rừng cung cấp gỗ lớn thì giá trịkinh tế sẽ tăng lên gấp nhiều lần Do đó việc kiểm định các mô hình chuyển hóarừng trồng Sa mộc cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn là vô cùng cầnthiết hiện nay Việc kiểm định các mô hình chặt chuyển hóa sẽ cho chúng ta biếtcác mô hình chặt chuyển hóa có đem lại hiệu quả hay không, để từ đó có thể đưa
ra quyết định là có áp dụng chặt chuyển hóa vào trong thực tiễn với diện tích lớnhay không
1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về chuyển hoá rừng và các yếu tố kỹ thuật trong chặt chuyển hóa rừng
1.2.1 Chuyển hoá rừng
Các nhà lâm nghiệp Mỹ cho rằng chuyển hoá rừng là quá trình áp dụngcác nguyên tắc kỹ thuật lâm sinh và phương pháp kinh doanh để đạt đượcmục đích kinh doanh
Sự phát triển của chuyển hoá rừng gắn liền với sự phát triển của lâmnghiệp Hiện nay có nhiều chương trình quốc gia và quốc tế về chuyển hoárừng như Chuyển hoá rừng thuần loài thành rừng hỗn loài, chuyển hoá rừng
gỗ lớn thành rừng gỗ nhỏ và ngược lại…
Chuyển hoá rừng là những tác động vào lâm phần rừng hiện tại đểchuyển hoá nó thành những lâm phần đã được ấn định trong tương lai nhằmđạt được mục đích kinh doanh
Trang 6Chặt chuyển hoá có mối quan hệ chặt chẽ với chặt nuôi dưỡng rừng.Chặt nuôi dưỡng hay còn được gọi là “chặt trung gian nuôi dưỡng” Trong khirừng chưa thành thục, để tạo điều kiện cho cây còn lại sinh trưởng và pháttriển tốt, cần phải chặt bớt một phần cây gỗ Do thông qua chặt bớt một phầncây gỗ mà thu được một phần lợi nhuận, chặt chăm sóc trước khi chặt chínhthu được một số lượng gỗ, nên được gọi là “chặt lợi dụng trung gian” gọi tắt
là “chặt trung gian”
Mục đích của chặt nuôi dưỡng đối với rừng trồng thuần loại là: Cảithiện điều kiện sinh trưởng của cây rừng; Xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rútngắn chu kỳ chăm sóc cây rừng Loại bỏ được cây gỗ xấu, nâng cao chấtlượng của lâm phần
Các nhà lâm nghiệp Mỹ (1925) đã chia chặt nuôi dưỡng ra làm 5 loại:
- Chặt loại trừ, chặt những cây chèn ép, không dùng, thứ yếu
- Chặt tự do, chặt bỏ những cây gỗ tầng trên
- Chặt tỉa thưa, giống như chặt tỉa thưa và chặt sinh trưởng
- Chặt chỉnh lý, chặt các cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởng kém
- Chặt gỗ thải, chặt các cây bị hại
Năm 1950 Trung Quốc đã ban hành quy trình chặt nuôi dưỡng chủ yếu
là dựa vào các giai đoạn tuổi của lâm phần, đưa ra nhiệm vụ và quy định thời
kỳ chặt và phương pháp chặt nuôi dưỡng Thời kỳ phát triển khác nhau thì cónhững đặc điểm sinh trưởng khác nhau Do đó nhiệm vụ chặt nuôi dưỡngcũng ở mức độ khác nhau bởi vì việc chặt nuôi dưỡng các lâm phần khácnhau ở các thời kỳ phát triển khác nhau cho nên nhiệm vụ cũng khác nhau
Còn ở Nhật Bản, phương pháp chặt nuôi dưỡng thường chia làm 2 loại:Căn cứ vào ngoại hình cây rừng chia ra 5 cấp để tiến hành chặt nuôi dưỡng;nhưng do kỹ thuật của mỗi người khác nhau nên khó đạt được một tiêu chuẩnnhất định Một loại khác chia ra 3 cấp gỗ: gỗ tốt, gỗ vừa, gỗ xấu Nó yêu cầuphải có cùng đường kính trong không gian như nhau Phương pháp này đơngiản dễ thực hiện Ngoài ra năm 1970 ở Nhật Bản đã áp dụng phương phápcây ưu thế, phương pháp này đơn giản dễ làm, chủ yếu dựa vào giá trị và lợiích hiện tại
Trang 7Việc áp dụng chặt nuôi dưỡng cho chuyển hóa rừng cần phải quan tâmđến thực tế của lâm phần Tức là trong chặt chuyển hóa ta không chỉ chặtnhững cây cong queo, sâu bệnh, cây sinh trưởng kém mà còn phải chặtnhững cây không có khả năng trở thành gỗ lớn.
1.2.2 Các yếu tố kỹ thuật
1.2.2.1 Sinh trưởng và tăng trưởng
Từ cuối thế kỷ XVIII đến nay, sinh trưởng và tăng trưởng của các loàicây gỗ đã được nghiên cứu và đề cập đến Đề cập đến nghiên cứu vấn đề nàyphải kể đến các các nhà khoa học và các tác giả tiêu biểu sau: Tuorsky (1925),Tovstolev (1938), Tiorin (1936,1938), Chapmen và Mayer (1949 Nhìn chungcác nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng cà lâm phần đều phần lớn xâydựng thành các mô hình toán học chặt chẽ và đã được công bố trong các côngtrình của Mayer, H.A, Schumacher, F.X, Clutter, J.L, Allison và B.J (1973)
và Alder (1980)
1.2.2.2 Các quy luật cấu trúc lâm phần
Để phục vụ cho sản xuất kinh doanh rừng được hợp lý, có hiệu quả, đạtđược yêu cầu về kĩ thuật và môi trường Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đãđược nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều kết luậnkhả quan
Trong quá trình nghiên cúu cấu trúc rừng các tác giả đi sâu vào nghiêncứu các quy luật sau: Quy luật phân bố số cây theo cỡ kính (quy luật phân bốN/D), quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây, quan hệgiữa đường kính tán và đường kính ngang ngực
+ Quy luật phân bố N – D1.3
Reineke (1933) đã phát hiện đường kính tương quan với mật độ màkhông liên quan tới điều kiện lập địa theo phương trình:LogN = -1,605 logD + k ( k là hằng số thích ứng của một cây nào đó)
Giữa Dg và N luôn tồn tại mối quan hệ mật thiết và thường được biểuthị dưới dạng phương trình: N = a.Dlogb
Một số kết quả thử nghiệm của Smelko (1990) xác định mối quan hệgiữa N và Dg cho một số loại sau:
Trang 8Thực tiễn điều tra rừng cho thấy có thể dựa trên quan hệ H/D để xácđịnh chiều cao cho từng cỡ kính mà không cần đo toàn bộ.
Mối quan hệ này đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Hohenald,Michailff, Nálund, Krauter, Tovstolose… thông qua việc lấy cấp đất và cấptuổi làm cơ sở và đã đưa ra một số phương trình tương quan sau:
h= ao + a1d + a2d2
h = a + blogd
h = ao + a1d + a2d2 + a3d3
h = ao + a1d + a2logdNhưng phương trình được sử dụng nhiều nhất hiện nay để biểu thịtương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây là phương trình logarit:
H = a + blogD+ Tương quan D1.3 – Dt
Ngoài việc nghiên cứu tương quan giữa chiều cao và đường kính thâncây thì việc nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán và đường kính thâncây cũng rất quan trọng vì tán cây thể hiện sức sống, khả năng sinh trưởng,tăng trưởng của cây nên nó có quan hệ mật thiết đến sinh trưởng của đườngkính ngang ngực Điều này đã được nhiều tác giả nghiên cứu như:Zierger(1982), CromeerO.A.N (1984), Itvesalo, Willigham…Mối quan hệ
Trang 9này được thể hiện ở nhiều dạng phương trình khác nhau nhưng phổ biến nhất
là dạng phương trình đường thẳng: Dt = a + b.D1.3
1.2.2.3 Nhận định chung
Thực chất chuyển hóa rừng chính là chặt nuôi dưỡng và quá trình tỉathưa đã được các nước trên thế giới nghiên cứu từ khá lâu Các quy luật cấutrúc rừng cũng đã được nghiên cứu rất nhiều để phục vụ cho quá trình chặtchuyển hóa Đã có rất nhiều nước tiến hành chặt chuyển hóa thành côngthông qua việc nghiên cứu sinh trưởng, tăng trưởng và cấu trúc lâm phần
1.3 Các nghiên cứu về chuyển hoá rừng ở Việt Nam và các yếu tố kỹ thuật trong chặt chuyển hóa rừng
1.3.1 Chuyển hoá rừng
Ở Việt Nam việc chuyển hoá rừng cũng đã được thực hiện từ thời Phápthuộc như chuyển hoá rừng tự nhiên thành rừng gỗ nhỏ …Tuy nhiên chuyểnhoá rừng tự nhiên nước ta chưa được tập hợp thành hệ thống chặt chẽ vì vậycần xây dựng hệ thống lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng yêu cầu của kinhdoanh rừng nước ta Cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các yếu tố kĩthuật của chuyển hoá rừng như các nghiên cứu của các khoá luận trường Đạihọc Lâm nghiệp:
“Quy hoạch chuyển hoá rừng trồng Sa mộc cấp tuổi V cung cấp gỗ nhỏ
thành rừng cung cấp gỗ lớn tại huyện Bắc Hà – Lào Cai” (2007) –
Đinh Đức Thắng
“Quy hoạch chuyển hoá rừng trồng Sa mộc cấp tuổi VI cung cấp gỗ
nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại huyện Bắc Hà – Lào Cai” (2007) –
Vũ Tiến Kiên
1.3.2 Các yếu tố kỹ thuật
1.3.2.1 Sinh trưởng và tăng trưởng lâm phần
Phùng Ngọc Lan(1985) đã khảo nghiệm một số chương trình sinhtrưởng cho một số loài cây như: Mỡ, Thông đuôi ngựa, Bạch đàn, Bồ đề
Trang 10Nguyễn Ngọc Lung (1999) cũng đã thử nghiệm các hàm: Compertz,Schumacher để mô tả quá trình sinh trưởng của loài Thông ba lá tại Đà Lạt-Lâm Đồng.
Các kết quả nghiên cứu về tăng trưởng rừng còn được giới thiệu quacác luận án tiến sĩ của các tác giả : Nguyễn Thị Bảo Lâm (1996), Trần Cẩm
Tú (1998), Nguyến Văn Dưỡng (2000) hay trong các ấn phẩm của các côngtrình nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp ngành như: Nguyễn Ngọc Lung (1999),
Vũ Tiến Hinh (2000), Đào Công Khanh (2001)
1.3.2.2 Các quy luật cấu trúc lâm phần
+ Cấu trúc phân bố số cây theo đường kính
So với chiều cao đường kính chịu ảnh hưởng rõ rệt của mật độ Ở nước ta
có một số loài cây đã được xác định quan hệ giữa đường kính tương đối D0 vớimật độ tương đối No
Ví dụ: Thông đuôi ngựa ( Nguyễn Thị Bảo Lâm 1996 )
Ở Việt Nam có nhiều tác giả sử dụng phân bố Weibull để mô tả phân bố N/
D cho các lâm phần thuần loài đều tuổi, như Vũ Nhâm (1988), Vũ Tiến Hinh(1991), Phạm Ngọc Giao (1996), Trần Văn Con(1991) sử dụng phân bố Weibull
để mô tả phân bố N/D cho rừng khộp ở Tây Nguyên
+ Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây:
Vũ Đình Phương (1975) thiết lập biểu cấp chiều cao lâm phần Bồ đề tựnhiên từ phương trình Prabol bậc hai mà không cần phân biệt cấp tuổi
Vũ Nhâm (1988) đã xây dựng được mô hình đường cong chiều cao lâmphần Thông đuôi ngựa cho khu vực Đông Bắc
+ Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực
Vũ Đình Phương (1985) đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa
Trang 11Phạm Ngọc Giao đã xây dựng mô hình động thái tương quan giữa Dt/
D1.3 với rừng Thông đuôi ngựa khu vực Đông Bắc
1.3.2.3.Nhận đinh chung
Việc chuyển hóa rừng ở nước ta vẫn còn khá mới mẻ, có rất ít tác giảnghiên cứu về chuyển hóa rừng Trong thời gian gần đây đã có một số nghiêncứu về chuyển hóa rừng Sa mộc cấp tuổi V và VI tại Ban quan lý rừng huyệnBắc Hà tỉnh Lào Cai vào năm 2007 Sau hai năm chưa có một đánh giá nào về
sự thành công hay thất bại của các mô hình chặt chuyển hóa, vì vậy tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Kiểm định mô hình chuyển hoá rừng trồng Sa mộc
(Cunninghamia lanceolata-Hook) cấp tuổi V (9 -< 11 tuổi) và cấp tuổi
VI (11 -< 13 tuổi) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại Ban quản lý rừng huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”.
Trang 12PHẦN 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
để nguyên cho tới nay
- Xác định được sự biến đổi cấu trúc lâm phần và đường kính bìnhquân lâm phần giữa các mô hình:
+ Giữa mô hình chặt chuyển hóa được hai năm với ô đối chứng
để nguyên cho tới nay
+ Giữa mô hình trước khi chặt chuyển hóa với mô hình đã chặtchuyển hóa được hai năm
+ Giữa mô hình trước khi chặt chuyển hóa với ô đối chứng đểnguyên cho tới nay
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Rừng trồng Sa mộc cấp tuổi V (9 -< 11) và VI (11 -< 13) sinh trưởngtrên các cấp đất I, II, III tại huyện Bắc Hà – Lào cai Đối tượng chặt chuyểnhóa là rừng trồng Sa mộc có các cấp tuổi III (5 -< 7) đến cấp tuổiVII (13 -< 15), trong nhóm nghiên cứu gồm ba thành viên nên trong đề tàinày tôi chỉ nghiên cứu cấp tuổi V và VI và chỉ nghiên cứu rừng trồng Sa mộcphát triển trên các cấp đất I, II, III vì đây là những cấp đất tốt cây rừng sinhtrưởng và phát triển triển trên những cấp đất này mới có thể trở thành gỗ lớn
- Những tài liệu có liên quan đến loài Sa mộc
Trang 132.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các mô hình rừng trồng Sa mộc cấp tuổi V và VItrong phạm vi ban quản lý rừng huyện Bắc Hà – Lào Cai
2.4 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu các quy luật cấu trúc cơ bản và đường kính bình quân lâmphần của các mô hình sau khi chặt chuyển hóa được hai năm và ô đối chứng
để lại cho tới nay
* Các quy luật cấu trúc cơ bản
- Quy luật phân bố N – D1.3
- Tương quan Hvn – D1.3
- Tương quan Dt – D1.3
2.5 Nội dung nghiên cứu
2.5.1 Điều tra điều kiện cơ bản của huyện Bắc Hà – Lào Cai
- Điều tra, phân tích điều kiện tự nhiên
- Điều tra, phân tích điều kiện kinh tế - xã hội
- Điều tra tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp từ trước tới nay
2.5.2 Giới thiệu kết quả nghiên cứu thành lập mô hình chặt chuyển hóa, cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâm phần năm 2007
- Kết quả nghiên cứu thành lập mô hình chặt chuyển hóa
- Kết quả nghiên cứu cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâmphần trước khi tiến hành chặt chuyển hóa
2.5.3 Nghiên cứu cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâm phần trên mô hình đã chặt chuyển hóa được hai năm
- Các quy luật cấu trúc lâm phần
- Đường kính bình quân lâm phần
2.5.4 So sánh sự biến đổi cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâm phần
Để kiểm định mô hình chuyển hóa rừng trồng Sa mộc cấp tuổi
V (9 -< 11) và VI (11 -< 13) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại
Trang 14Ban quản lý rừng huyện Bắc Hà – Lào Cai Tôi tiến hành các phép so sánhsau:
Hình 2.5.1: Sơ đồ so sánh biến đổi cấu trúc lâm phần và đường kính bình
quân lâm phần
Qua hình 2.5.1 thì ta thấy các phép so sánh phải thực hiện là:
- So sánh biến đổi cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâmphần của các OTC đã chặt chuyển hóa được hai năm (2009) với OTC đốichứng để nguyên cho tới nay (2009)
- So sánh biến đổi cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâmphần của các OTC trước khi tiến hành chặt chuyển hóa (2007) với các OTC
đã chặt chuyển hóa được hai năm (2009)
OTC trước khi tiến hành
chặt chuyển hóa (2007) OTC đã chặt chuyển hóa được hai năm (2009)
OTC đối chứng để lại cho tới nay (2009)
B (2009)
C (2009)
A (2009)
ĐC (2009) (1000m 2 )
D (2009)
ĐC (2009) (5000m 2 )
E (2009)
TH (2009) (A+B+C+D+E)
Trang 15- So sánh sự biến đổi cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâmphần của các OTC trước khi tiến hành chặt chuyển hóa (2007) với các OTCđối chứng để lại cho tới nay (2009).
2.6 Phương pháp nghiên cứu
TH (2007) (A+B+C+D+E)
E (2007)
ĐC (2009) (5000m 2 )
TH (2007) (A+B+C+D+E)
B (2007)
A (2007)
Trang 16- Vừa tiến hành nghiên cứu vừa tiến hành chuyển giao cho họ kiến thức
và kĩ năng làm để sau này họ có thể tự làm được
2.6.2 Các phương pháp thu thập tài liệu
2.6.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Kế thừa các số liệu về điều kiện cơ bản của huyện Bắc Hà
- Các số liệu về các quy luật cấu trúc lâm phần của các OTC trước khitiến hành chặt chuyển hóa đã được nghiên cứu ở các khóa luận tốt nghiệpnăm 2007
2.6.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp
- Trên các OTC định vị được lập từ năm 2007 (gồm OTC 5000 m2 đãđược chia nhỏ thành 5 OTC mỗi OTC có diện tích là 1000 m2 đã tiến hànhchặt chuyển hóa được hai năm và OTC đối chứng để lại cho tới nay) ta tiếnhành đo đếm các nhân tố điều tra: D1.3, Hvn, Dt
+ Đo D1.3 bằng thước kẹp kính
+ Đo Hvn bằng thước đo cao Blumleys
+ Đo Dt bằng thước dây
Các số liệu đo đếm ở các OTC được ghi vào biểu điều tra kinh doanhrừng trồng:
BIỂU ĐIỀU TRA RỪNG TRỒNG
Trang 17Số liệu sau khi được điều tra, thu tập tổng hợp từ các OTC định vị sửdụng các hàm thống kê để xử lý Dùng phần mềm SPSS 15.0 và phần mềmExcel 8.0 để sử lý số liệu.
- Phân bố N – D1.3 được mô phỏng phân bố thực nghiệm bằng hàmWeibull dạng phương trình: F(x) a .x 1 e x a
Căn cứ số liệu ban đầu để ước lượng tham số α cho phù hợp
Với α = 1 phân bố có dạng giảm, với α = 3 phân bố có dạng đối xứng,với α > 3 phân bố có dạng lệch phải, α < 3 phân bố có dạng lệch trái
Kiểm tra mức độ phù hợp của phân bố lí thuyết và phân bố thựcnghiệm bằng tiêu chuẩn phù hợp
- Tương quan Hvn – D1.3: Xây dựng tương quan trên cơ sở phương trình:
Hvn = a+b*log D1.3 trong đó a, b là các tham số của phương trình Kiểm tra sựtồn tại của hai tham số a và b bằng tiêu chuẩn t Nếu | ta |, | tb | < t05 (tra bảngthì tham số a, b tồn tại và ngược lại thì tham số a, b không tồn tại)
- Tương quan D1.3 – Dt: Xây dựng tương quan trên cơ sở phương trình:
Dt = a +b*D1.3 trong đó a, b là các tham số của phương trình Kiểm tra sự tồntại của tham số a, b bằng tiêu chuẩn t Nếu | ta |, | tb | < t05 (tra bảng) thì tham
số a, b tồn tại và ngược lại thì tham số a, b không tồn tại
- Đường kính bình quân lâm phần được tính theo phương pháp tínhđường kính bình quân gia quyền
fi Xi n
PHẦN 3
Trang 18ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp huyện Si Ma Cai của tỉnh Lào Cai
- Phía Nam giáp huyện Bảo Thắng của tỉnh Lào Cai
- Phía Đông giáp huyện Xín Mần của tỉnh Hà Giang
- Phía Tây giáp huyện Mường Khương của tỉnh Lào Cai.
3.1.2 Địa hình, địa thế
Huyện Bắc Hà nằm trên cao nguyên núi đá vôi, hiện tượng Krast xảy ratạo thành các hố sâu, các khe suối nước ngầm Có địa hình phức tạp bị chiacắt mạnh, các dãy núi có độ cao giảm dần và chạy theo hướng Bắc – Nam.Đỉnh có độ cao tuyệt đối cao nhất là 1800 m, điểm thấp nhất là 160 m Độ caotuyệt đối trung bình 900 m, độ dốc trung bình 280 - 350 Với địa hình như trên
đã gây nhiều khó khăn cho sản xuất, sinh hoạt cũng như công tác quản lý và
sử dụng đất đai của huyện
3.1.3 Khí hậu thủy văn
Khu vực Bắc Hà có thể chia ra làm hai vùng khí hậu sau:
- Vùng thấp có độ cao tuyệt đối từ 166 m đến 600 m thuộc vùng khíhậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho viêc sản xuất cây lương thực và các loạicây công nghiệp
- Vùng có độ cao tuyệt đối trên 600 m mang đặc diểm khí hậu á nhiệtđới, mát mẻ vào mùa hè, khô lạnh về mùa đông thuận lợi cho việc phát triểncây ăn quả và khu du lịch nghỉ mát
3.1.3.1 Chế độ nhiệt ẩm
Trang 19Theo tài liệu thống kê nhiều năm tại trạm khí tượng thuỷ văn Bắc Hà,khí hậu khu vực có đặc điểm sau:
- Nhiệt độ trung bình năm là 180C – 190C
- Nhiệt độ cao nhất là 340C (vào tháng 6 – 7)
- Nhiệt độ thấp nhất là 1,50C (vào tháng 12, tháng 1), cá biệt có nhữngnăm xuống dưới -10C
- Độ ẩm không khí bình quân 75 – 80%
- Lượng mưa bình quân 1650 – 1850 mm Lượng mưa trong nămkhông lớn, nhưng phân bố không đều tập trung vào tháng 4 đến tháng 10(chiếm 80% tổng lượng mưa hàng năm) nên thường gâu ra lũ lụt, xói mòn, sạt
lở đất ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Mùa hè khí hậumát mẻ, mùa đông giá lạnh, sương mù và sương muối thường xảy ra
3.1.3.2 Chế độ gió
Khu vực huyện Bắc Hà chịu ảnh hưởng của hai luồng gió thịnh hành làgió mùa Đông Bắc bắt nguồn từ tháng 11 năm nay đến tháng 3 năm sau, thờitiết khô lạnh có kèm theo sương muối, mưa phùn Gió mùa Đông Nam bắtđầu từ tháng 4 cho đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, thường có mưa lớn kéodài thỉnh thoảng có lốc xoáy kéo dài
3.1.3.3 Chế độ thuỷ văn
Huyện Bắc Hà có sông Chảy là sông chính chạy qua hai mặt phía Tâynam của huyện Ngoài ra còn có bốn hệ thống suối nhỏ đó là Ngòi Đô, ThènPhùng, Nậm Phàng, Nậm Lúc đều đổ ra sông Chảy Hầu hết suối ở đây dòngchảy rất quanh co, lòng suối hẹp, độ dốc lớn Độ chênh lệch về lưu lượngnước giữa hai mùa là rất lớn Mùa mưa thường gây lũ lụt, mùa khô lượngnước rất ít, gây khó khăn cho việc tưới tiêu và sinh hoạt cho nhân dân
3.1.4 Tài nguyên đất
Dựa vào tài liệu bản đồ thổ nhưỡng huyện Bắc Hà tỉ lê 1/50000 năm
2002 do viện thổ nhưỡng Nông Hoá điều tra xây dựng, bản đồ thổ nhưỡnghuyện Bắc Hà tỉ lệ 1/25000 của khoa đất và môi trường, trường Đại học Nông
Trang 20Nghiệp I Hà Nội tháng 4 năm 2004 cho thấy huyện Bắc Hà có những nhómđất chính sau đây:
- Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và biến chất: 2197,7 hachiếm 3,2% tổng diện tích đất tự nhiên Loại đất này có hàm lượng mùn từnghèo đến trung bình 1,3 – 2,6%, pH = 4,6 – 5,7 đất chua nghèo dinh dưỡng,loại đất này thích hợp cho loài cây trồng dài ngày như: Cây chè, cây ăn quả vàmột số cây trồng hàng năm như sắn, đậu, đỗ…
- Nhóm đất vàng xám trên đất macma axit: 51508,5 ha chiếm 75% tổngdiện tích đất tự nhiên Loại đất này có hàm lượng mùn đạt từ 0,68 – 1,67%,
pH = 4,5 – 6,3 Đây là loại đất xấu nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn, rửa trôi,nhưng có diện tích lớn nhất huyện, loại đất này thích hợp cho trồng rừng,trồng cây dược liệu
- Nhóm đất phù sa hệ thống sông Chảy: 1167,53 ha chiếm 1,7% tổngdiện tích đất tự nhiên Loại đất này có hàm lượng mùn từ trung bình khá 2,5 –3%, pH= 5,1- 6,3 Loại đất này thích hợp với cây lương thực, cây công nghiệpngắn ngày
- Nhóm đất đen (Đất mùn phát triển trên núi đá vôi và đá sêcpentinit)964,49 ha chiếm 1,4% tổng diện tích đất tự nhiên Hàm lượng mùn trong đất
từ 3,5 – 5,6%, pH= 6,1 – 7,6% Đây là loại đất tốt, thích hợp cho nhiều loạicây trồng nhưng diện tích ít
- Đất dốc tụ: Với 12842,7 ha chiếm 18,7% tổng diện tích đất tự nhiên.Loại đất này có hàm lượng mùn từ 5,3 – 8,6%, pH=4,1 – 8,6% Đất nhiềumùn nhưng chua và nghèo dinh dưỡng, quá trình yếm khí xảy ra rất mạnh,thích hợp cho trồng cây lương thực
Tóm lại đất đai ở huyện Bắc Hà có nhiều loại đất khác nhau nhưng chủyếu là loại đất xám vàng phát triển trên đá macma axit, đất chua và nghèodinh dưỡng Do vậy đất ở đây chủ yếu là đất chua, có nhiều mùn phù hợp vớiloài Sa mộc
3.1.5 Nhận xét chung
Trang 21Qua điều tra điều kiện tự nhiên huyện Bắc Hà ta nhận thấy có một sốthuận lợi cũng như khó khăn trong trong việc phát triển kinh tế nói chung vàkinh tế lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện.
- Thuận lợi: Huyện còn giàu tiềm năng về đất đai để phát triển ngànhlâm nghiệp, khí hậu thích hợp với loài Sa mộc
- Khó khăn: Địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh nên việc đi lại vậnchuyển hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bắc Hà có 21 xã và một thị trấn Nơi đây là địa bàn cư trú của 11 dântộc anh em như: Mông, Dao, Tày, Kinh, Thái…trong đó người Dao và Môngchiếm gần 80% với truyền thống văn hoá bản sắc của các dân tộc vùng cao
Bắc Hà tiềm năng đất đai lớn, khí hậu mát mẻ, với nhiều khu du lịchsinh thái lý tưởng, cây trồng đa dạng nhưng nhìn chung kinh tế còn gặp khánhiều khó khăn Có đến 18/21 xã đặc biệt khó khăn và trình độ dân trí thấp,trình độ cán bộ còn có nhiều hạn chế chưa theo kịp với cơ chế đổi mới hiệnnay Cơ sở hạ tầng còn yếu kém hệ thống thuỷ lợi chưa được phát huy do bisạt lở đất nên sản xuất nông – lâm nghiệp còn khó khăn, lạc hậu do việc thâmcanh tăng vụ còn nhiều hạn chế, năng suất cây trồng chưa cao
Phong tục tập quán du canh du cư, đốt nương làm rẫy còn thườngxuyên xảy ra ở khu vực này Vì thế đây là huyện vùng cao được nhà nướcquan tâm phát triển với nhiều dự án, chính sách hỗ trợ kinh tế Các dự án hỗtrợ phát triển cơ sở hạ tầng: Điện, đường, trường, trạm nhằm nâng cao dân trí,phát triển kinh tế như: Dự án 661, dự án 135…Sự quan tâm của Đảng và Nhànước ưu tiên đầu tư phát triển đã phần nào cải thiện được đời sống dân cư củakhu vực, nâng cao dân trí
Nhận xét: Qua điều tra điều kiện kinh tế - xã hội ta thấy có một sốthuận lợi cũng như khó khăn trong việc phát triển kinh tế trên địa bàn huyệnnhư sau:
- Thuận lợi: Có nguồn lao động dồi dào
Trang 22- Khó khăn: Trình độ cán bộ quản lý cũng như trình độ lao động thấp ,khó khăn trong việc chuyển giao kỹ thuật Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nhiềuphong tục tập quán còn lạc hậu làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.
3.3 Hiện trạng rừng trồng Sa mộc
3.3.1 Diện tích rừng trồng Sa mộc
Qua kết quả điều tra thực tế cùng với sự tổng hợp các tài liệu có liênquan tôi thu được kết quả sau: Hiện tại huyện Bắc Hà có hơn 2500 ha rừngtrồng Sa mộc, trong đó diện tích rừng trồng Sa mộc cấp tuổi V và VI được thểhiện cụ thể ở biểu 3.3.1
Biểu 3.3.1: Hiện trạng rừng trồng Sa mộc cấp tuổi V và VI
Trang 234.1 Giới thiệu kết quả nghiên cứu thành lập mô hình chặt chuyển hóa, cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân năm 2007
4.1.1 Kết quả nghiên cứu thành lập mô hình chặt chuyển hóa
Để thành lập mô hình chặt chuyển hóa thì phải xác định
- Đối tượng chặt chuyển hóa
- Các điều kiện chuyển hóa
- Các quy luật cấu trúc cơ bản làm cơ sở xây dựng mô hình
lý thuyết cho chặt chuyển hóa
- Phương thức chuyển hóa
- Phương pháp chuyển hóa
- Thời điểm chặt chuyển hóa
- Chu kỳ chặt chuyển hóa
- Cây chặt
- Cường độ chặt chuyển hóa
4.1.2 Kết quả nghiên cứu cấu trúc lâm phần và đường kính bình quân lâm phần trước khi tiến hành chặt chuyển hóa
4.1.2.1 Kết quả nghiên cứu cấu trúc lâm phần
Trang 24Tuổi OTC Phương trình lý thuyết N α 2
B 0,013 2 , 3
3 , 1 013 , 0 3 ,
C 0,004. 2 , 5
5 , 1 004 , 0 5 ,
D 0,006.2 , 5
5 , 1 006 , 0 5 ,
E 0,011. 2 , 3
3 , 1 011 , 0 3 ,
TH 0,003.2 , 7
7 , 1 003 , 0 7 ,
11-< 13
A 0,006. 2 , 3
3 , 1 006 , 0 3 ,
B 0,032.1 , 9
9 , 0 032 , 0 9 ,
C 0,008. 2 , 4
4 , 1 008 , 0 4 ,
D 0,004. 2 , 7
7 , 1 004 , 0 7 ,
E 0,034.1 , 9
8 , 0 034 , 0 9 ,
TH 0,006. 2 , 4
4 , 1 006 , 0 4 ,
Trong đó: - N là số cây trong OTC
- α, λ là hai tham số của phương trình
Ta thấy phân bố lý thuyết với các hệ số α, λ xác định đều mô phỏng tốtcác phân bố thực nghiệm Biểu đồ phân bố N – D1.3 được thể hiện ở hình4.4.1
OTC: A
0 5 10 15 20 25
0 6 12 18 24 30
D1.3 (cm)
N(cây)
fi fll
Trang 25OTC: TH
0 50 100 150 200 250
0 6 12 18 24 30
D1.3 (cm)
N (cây)
fi fll
(Các OTC còn lại được thể hiện ở phần phụ biểu 01 và 02)
Hình 4.1.1: Biểu đồ quy luật phân bố N – D 1.3 của lâm phần trước khi tiến
hành chặt chuyển hóa
2) Tương quan Hvn – D1.3
Tương quan Hvn – D1.3 được xây dựng trên cơ sở phương trình Hvn
= a + b*logD1.3 trong đó a, b là các tham số của phương trình Kết quả được
thể hiện cụ thể ở biểu 4.1.2
Biểu 4.1.2: Quy luật tương quan H vn – D 1.3 của lâm phần Sa mộc trước
khi tiến hành chặt chuyển hóa
Trang 26Trong đó: - a, b là các tham số của phương trình.
- R là hệ số tương quan của phương trình
- Ta, Tb là tiêu chuẩn để kiểm tra sự tồn tại của tham số a, b
- T05 là giá trị tra bảng
Ta thấy phương trình tương quan đều có hệ số tương quan cao và các
tham số a, b đều tồn tại Biểu đồ tương quan Hvn – D1.3 được thể hiện ở hình
OTC: A
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
0 5 10 15 20 25 30
D1.3 (cm)
Hvn(m)
Hvn Hll
Trang 27OTC: TH
0 5 10 15 20
D1.3 (cm)
Hvn (m)
Hvn Hll
(Các OTC còn lại được thể hiện ở phần phụ biểu 03 và 04)
Hình 4.1.2: Biểu đồ tương quan H vn – D 1.3 của lâm phầm sa mộc trước khi
tiến hành chặt chuyển hóa
3) Tương quan Dt – D1.3
Tương quan Dt – D1.3 được xây dựng trên cơ sở phương trình
Dt = a + b*logD1.3 trong đó a, b là các tham số của phương trình Kết quảđược thể hiện cụ thể ở biểu 4.1.3
Biểu 4.1.3: Quy luật tương quan D t – D 1.3 của lâm phần Sa mộc trước khi
tiến hành chặt chuyển hóa
Trang 28Trong đó: - a, b là các tham số của phương trình.
- R là hệ số tương quan của phương trình
- Ta, Tb là tiêu chuẩn để kiểm tra sự tồn tại của tham số a, b
- T05 là giá trị tra bảng
Ta thấy phương trình tương quan đều có hệ số tương quan cao và cáctham số a, b đều tồn tại Biểu đồ tương quan Dt – D1.3 được thể hiện ở hình4.1.3
OTC: A
0 1 2 3 4
Trang 29OTC: TH
0 1 2 3 4 5 6 7
0 5 10 15 20 25 30
D1.3 (cm)
Dt (m)
Dt Dll
(Các OTC còn lại được thể hiện ở phụ biểu 05 và 06)
Hình 4.1.3: Biểu đồ tương quan D t – D 1.3 của lâm phầm sa mộc trước khi
tiến hành chặt chuyển hóa
4.1.2.2 Đường kính bình quân lâm phần
Giá trị Dtb được tính theo phương pháp tính bình quân gia quyền.Kết quả được thể hiện cụ thể ở biểu 4.1.4
Biểu 4.1.4: Đường kính bình quân của lâm phần sa mộc trước khi tiến
Trang 30Qua biểu 4.1.4 ta thấy rằng đường kính bình quân lâm phần ở cấp tuổi
V dao động từ 7,43 cm đến 8,0 cm Còn đối với cấp tuổi VI thì đường kínhbình quân dao động từ 9,42 cm đến 13,13 cm Vậy đường kính bình quântrong các OTC ở các cấp tuổi biến động khá lớn
4.2 Kết quả nghiên cứu cấu trúc và đường kính bình quân lâm phần trên
mô hình đã chặt chuyển hóa được hai năm (2009)
4.2.1 Kết quả nghiên cứu cấu trúc lâm phần
1) Phân bố N – D1.3
Phân bô số cây theo đường kính là một phần quan trọng trong quy luậtsắp sếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo khônggian và thời gian Phân bố số cây theo đường kính là cơ sở để xác định trữlượng, đặc biệt là trữ lượng sản phẩm Vì vậy quy luật này có ý nghĩa rất lớntrong việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng để đạtđược những mục tiêu kinh doanh cụ thể Kết quả tính toán được thể hiện cụthể ở biểu sau:
Biểu 4.2.1: Quy luật phân bố N – D 1.3 của lâm phần sa mộc đã chặt
chuyển hóa được hai năm
B 0,012 2 , 1
1 , 1 012 , 0 1 ,
C 0,005. 2 , 3
3 , 1 005 , 0 3 ,
D 0,012.2 , 2
2 , 1 012 , 0 2 ,
E 0,011. 2 , 1
1 , 1 011 , 0 1 ,
TH 0,007.2 , 3
3 , 1 007 , 0 3 ,
A 0,002. 2 , 7
7 , 1 002 , 0 7 ,
B 0,004. 2 , 6
6 , 1 004 , 0 6 ,
C 0,008. 2 , 4
4 , 1 008 , 0 4 ,
D 0,006.2 , 3
3 , 1 006 , 0 3 ,