LỜI NÓI ĐẦU Để hoàn thành chương trình học tập và đánh giá kết quả học tập, được sự cho phép của Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Lâm học và bộ môn Khoa học đất, tôi tiến hành thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu các tính chất lý hóa học cơ bản của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ’’. Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Vi Văn Viện, đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo Vi Văn Viện người đã trực tiếp hướng đẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận. Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Khoa học đất và Trung tâm thí nghiệm thực hành khoa Lâm học cùng các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình phân tích đất. Tôi xin cảm ơn cán bộ nhân viên trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp để tôi hoàn thành khóa luận này. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong được sự đóng góp, bổ sung của thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn Hà Nội, tháng 05 năm 2010 Sinh viên Đông Văn Tuấn PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa Rừng đã chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người. Khi xã hội ngày càng phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ thì con người càng khám phá ra nhiều lợi ích quý báu của rừng, càng khẳng định vai trò không thể thay thế của rừng. Trong sản xuất nói chung và trong sản xuất lâm nghiệp nói riêng đất có ý nghĩa rất lớn trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật. Tính chất đất khác nhau ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng và phát triển của thực vật và ngược lại quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật cũng làm thay đổi tính chất của đất. Vì đặc điểm đất đai là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và của cây rừng nói riêng nên việc lựa chọn loài cây trồng phải tuân thủ theo nguyên tắc “Đất nào cây ấy”. Nghiên cứu các tính chất lý hóa học của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng là những cơ sở khoa học quan trọng cho các nhà quy hoạch xem xét để lựa chọn các phương án sử dụng đất phù hợp. Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai là khu vực có hệ sinh thái rừng khá đa dạng và phong phú. Tại đây đã có nhiều mô hình trồng rừng hỗn loài, trồng các loài cây bản địa với mục đích tạo rừng cây bản địa phục vụ nghiên cứu và sự đa dạng của hệ sinh thái rừng. Bên cạnh đó cũng có một phần lớn diện tích rừng trồng cây nguyên liệu cho các nhà máy. Vai trò của rừng đối với môi trường sinh thái và đời sống là rất to lớn, nhưng do nhận thức và đời sống của nhân dân trong khu vực còn khó khăn nên việc chăm sóc và bảo vệ, cũng như việc lựa chọn loài cây trồng thích hợp với đất rừng còn kém chưa đem lại hiệu quả cao. Vì vậy việc đánh giá thích hợp của cây trồng trên khu vực nghiên cứu là rất cần thiết để từ đó làm căn cứ đề xuất biện pháp tác động hợp lý vào rừng nhằm sử dụng bền vững rừng và đất rừng góp phần vào sự phát triển lâm nghiệp của địa phương. Xuất phát từ những lý do trên và với mong muốn góp phần vào việc phát triển lâm nghiệp tại địa bàn nên tôi chọn khóa luận: “Nghiên cứu các tính chất lý hóa học cơ bản của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ’’.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình học tập và đánh giá kết quả học tập, được
sự cho phép của Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Lâm học và bộ mônKhoa học đất, tôi tiến hành thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp:
“Nghiên cứu các tính chất lý hóa học cơ bản của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ’’.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi được sự hướng dẫntận tình của thầy giáo Vi Văn Viện, đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo
Vi Văn Viện người đã trực tiếp hướng đẫn tôi trong suốt quá trình làm khóaluận Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Khoahọc đất và Trung tâm thí nghiệm thực hành khoa Lâm học cùng các bạn đồngnghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình phân tích đất Tôi xin cảm ơncán bộ nhân viên trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai đã tạomọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp để tôihoàn thành khóa luận này
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và kinh nghiệmnghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sótnhất định, rất mong được sự đóng góp, bổ sung của thầy cô giáo cùng các bạnđồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 05 năm 2010 Sinh viên
Đông Văn Tuấn
Trang 2PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa Rừng đã chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sốngsinh hoạt và sản xuất của con người Khi xã hội ngày càng phát triển khoa học
kỹ thuật ngày càng tiến bộ thì con người càng khám phá ra nhiều lợi ích quýbáu của rừng, càng khẳng định vai trò không thể thay thế của rừng
Trong sản xuất nói chung và trong sản xuất lâm nghiệp nói riêng đất có
ý nghĩa rất lớn trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật Tínhchất đất khác nhau ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng và phát triển củathực vật và ngược lại quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật cũng làmthay đổi tính chất của đất Vì đặc điểm đất đai là một trong những yếu tố giữvai trò quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung vàcủa cây rừng nói riêng nên việc lựa chọn loài cây trồng phải tuân thủ theonguyên tắc “Đất nào cây ấy” Nghiên cứu các tính chất lý hóa học của đất vàđánh giá thích hợp của cây trồng là những cơ sở khoa học quan trọng cho cácnhà quy hoạch xem xét để lựa chọn các phương án sử dụng đất phù hợp
Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai là khu vực có hệsinh thái rừng khá đa dạng và phong phú Tại đây đã có nhiều mô hình trồngrừng hỗn loài, trồng các loài cây bản địa với mục đích tạo rừng cây bản địaphục vụ nghiên cứu và sự đa dạng của hệ sinh thái rừng Bên cạnh đó cũng cómột phần lớn diện tích rừng trồng cây nguyên liệu cho các nhà máy
Vai trò của rừng đối với môi trường sinh thái và đời sống là rất to lớn,nhưng do nhận thức và đời sống của nhân dân trong khu vực còn khó khănnên việc chăm sóc và bảo vệ, cũng như việc lựa chọn loài cây trồng thích hợpvới đất rừng còn kém chưa đem lại hiệu quả cao Vì vậy việc đánh giá thíchhợp của cây trồng trên khu vực nghiên cứu là rất cần thiết để từ đó làm căn cứ
đề xuất biện pháp tác động hợp lý vào rừng nhằm sử dụng bền vững rừng vàđất rừng góp phần vào sự phát triển lâm nghiệp của địa phương
Xuất phát từ những lý do trên và với mong muốn góp phần vào việc
Trang 3phát triển lâm nghiệp tại địa bàn nên tôi chọn khóa luận:
“Nghiên cứu các tính chất lý hóa học cơ bản của đất và đánh giá thích hợp của cây trồng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ’’.
Trang 4PHẦN 2 LƯỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về tính chất lý học của đất và đánh giá đất trong mối quan
hệ với thực vật là một khía cạnh của công trình nghiên cứu về đất Đã cónhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu về vấn đề này, điển hình là một số côngtrình nghiên cứu sau đây:
2.1 Trên thế giới
Cho đến nay các nước trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu
và đánh giá về đất
V.V.Docutraev (1857), cho rằng: Đất là vật thể tự nhiên luôn biến đổi,
là sản phẩm chung được hình thành dưới tác động tổng hợp của 5 nhân tốhình thành đất: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật (thực vật và động vật) và thời gian,trong đó ông nhấn mạnh vai trò của thực vật trong quá trình hình thành đất
“Nhân tố chủ đạo trong quá trình hình thành đất ở vùng nhiệt đới là nhân tốthảm thực vật rừng” bởi vì nó là yếu tố sáng tạo ra chất hữu cơ và khi chết tạothành mùn William cho rằng: “sự phân giải và hợp thành các chất hữu cơ làbản chất của quá trình hình thành đất” [2]
Timinriazev (1905), trong tác phẩm “Đời sống thực vật” đã chỉ ra quyluật quan trọng nhất của độ phì đất mang tính chất sinh lý [10], đó là: Quyluật tối thiểu, quy luật tối đa và quy luật tối ưu Đến năm 1926, khi phê pháncác nhà thổ nhưỡng học và sinh thái học đương thời ông đã chỉ ra rằng khôngnên nhìn đất như một đối tượng nghiên cứu độc lập hoàn toàn, rằng ý nghĩacác đặc điểm đất chỉ có khi chúng ta biết được rõ ràng ý nghĩa của chúng đốivới cây
Peterburgskii (1957) [1], khẳng định động thái và cường độ của hầu hếtcác hiện tượng sống trong cây đều dưới tác động thường xuyên và liên tục củamôi trường đất Nó là trung gian giữa cây và phân bón, giữa cây và độ ẩm.Ngoài ra đất còn là nguồn dinh dưỡng chủ yếu qua rễ đi vào cây Đất phảichịu chịu tác động liên tục và nhiều mặt của hệ rễ
Trang 5Jurbitxki (1963) [12], cho rằng các biện pháp sử dụng phân bón sẽđược hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu của cây,đặc điểm của đất và phân bón.
Dz P Samkliff “Các vấn đề về dinh dưỡng thực vật, 1968” [11], nhậnxét: Khi nồng độ PO4- và PO3- trong dung dịch đất cao, sự hút chúng vào cây
bị cản trở do sự xâm nhập của ion NO3- và ngược lại Trong các đất axit tích
tụ các dạng Al3+, Mn2+ di động, ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất giữa các tếbào rễ và dung dịch đất Duzh-u-kuk lại cho rằng: Thường là các đặc điểm lýtính của đất ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây lâu năm mạnhhơn là phần hóa học đất, hơn nữa các nhân tố lý tính này được phản ánh vàocác tài liệu phân tích hóa học của cây [7]
Bên cạnh những thành tựu về nghiên cứu đất thì đánh giá đất đai đượccác nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, đặc biệt là người sử dung đất quan tâm
vì đánh giá đất đai có thể giải đáp những câu hỏi quan trọng trong thực tiễnsản xuất Đó là một quá trình xác định tiềm năng, mức độ thích hợp của đấtđối với một hay một số kiểu sử dụng đất và cây trồng lựa chọn Thấy rõ đượcvai trò của việc đánh giá đất đai để làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụngđất, tổ chức Nông Nghiệp – Lương thực của Liên Hiệp Quốc (FAO) với sựtham gia của các chuyên gia đầu ngành, đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiềunước đã xây dựng nên đề cương đánh giá đất đai (FAO,1976) [4]
Tiếp đó, hàng loạt các tài liệu hướng dẫn về đánh giá đất đai trong nônglâm nghiệp được xuất bản như: Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời(FAO, 1983); Đánh giá đất cho các vùng nông nghiệp được tưới (FAO,1985); Đánh giá đất cho các vùng rừng (FAO, 1984)
Đánh giá tính thích hợp của cây trồng được sự quan tâm nghiên cứuđầu tiên ở Liên xô từ đầu thế kỷ XIX nhưng chủ yếu với các cây trồng nôngnghiệp Đến năm 1984, theo FAO trong cuốn cẩm nang hướng dẫn “Đánh giáđất đai lâm nghiệp” cho rằng “Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai là quátrình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho
Trang 6một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầukiểu sử dụng đất với đặc điểm đơn vị đất đai” [7] Cũng theo FAO, hệ thốngđánh giá đất đai có thể áp dụng cho một số kiểu sử dụng đất nhất định trong
đó có cây trồng lâm nghiệp như: Keo, Bạch đàn Như vậy, có thể thấy đánhgiá mức độ thích hợp của đất đai cũng chính là một cơ sở để xác định mức độthích hợp của loài cây trồng
2.2 Ở Việt Nam
Nước ta đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về đất lâm nghiệp màthành tựu đầu tiên phải kể đến sự đóng góp quan trọng của Nguyễn TrọngBình (1970, 1979, 1986) Tác giả đã tổng kết những đặc điển cơ bản của đấtdưới các đai rừng, kiểu rừng, loại hình rừng ở miền Bắc Việt Nam
Nghiên cứu quá trình tích lũy chất hữu cơ trong đất rừng, cũng như đặcđiểm về thành phần mùn trong các loại rừng khác nhau đến quá trình tích lũychất vô cơ, và đặc điểm thành phần mùn của đất (Nguyễn Ngọc Bình 1968,1978; Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh, 1978; Đỗ Đình Sâm, Ngô ĐìnhQuế, 1990 )
Phân hạng đất cho các loại rừng trồng chủ yếu và ảnh hưởng của cácloại rừng trồng tới các tính chất và độ phì của đất như: Rừng Bạch Đàn (ĐỗĐình Sâm 1968, 1990; Hoàng Xuân Tý, 1975), Rừng Thông Nhựa (Ngô ĐìnhQuế, 1987), Rừng Thông Ba Lá (Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế 1983, 1990),Rừng Bồ Đề (Nguyễn Ngọc Bình, 1968; Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh,1980), Rừng Hồi (Nguyễn Ngọc Bình, 1980)
Nguyễn Ngọc Bình (1970) [6], nghiên cứu về sự thay đổi các tính chất
và độ phì của đất qua các quá trình thoái hóa và phục hồi của thảm thực vật ởmiền Bắc Việt Nam cho thấy độ phì của đất biến động rất lớn ứng với mỗiloại thảm thực vật khác nhau, thảm thực vật đóng vai trò rất quan trọng trongviệc duy trì độ phì đất
Đỗ Đình Sâm (1984) [3], nghiên cứu độ phì đất rừng và vấn đề thâmcanh rừng trồng và cho rằng đất có độ phì hóa học không cao Nơi đất còn
Trang 7rừng, độ phì được duy trì chủ yếu qua con đường sinh học Các trạng tháirừng khác nhau, các biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau cho thấy sự biếnđổi về hóa tính của đất không rõ nét (trừ yếu tố mùn và đạm).
Những năm gần đây với việc tiếp thu những thành tựu khoa học củacác nước phát triển trên thế giới Việt Nam đã sớm áp dụng các phương phápđánh giá đất đai vào thực tiễn Đỗ Đình Sâm – Nguyễn Ngọc Bình (2001) [7],
đã dựa vào 8 yếu tố chuẩn đoán là: Nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ trungbình tháng thấp nhất, lượng mưa trung bình tháng cao nhất, đai cao so với mặtnước biển, độ dầy tầng đất và độ dốc để đánh giá mức độ thích hợp của câytrồng với điều kiện tự nhiên Sau khi nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm đếnnăm 2005 thì Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn Phương đã xuất bản
“Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam” [2], các tác giả đã đưa ra 6 yếu
tố chuẩn đoán gồm: Thành phần cơ giới của đất, độ dầy tầng đất, độ dốc, độcao, lượng mưa bình quân năm, trạng thái thực vật để đánh giá mức độ thíchhợp cho cây trồng với điều kiện tự nhiên Từng yếu tố chuẩn đoán được phân
ra với các mức độ thích hợp khác nhau Độ thích hợp của cây trồng được xácđịnh nhờ vào việc so sánh các tiêu chuẩn thích hợp của cây trồng với đặcđiểm của đơn vị đất đai trồng cây đó
Phương pháp tiến hành đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng dựatrên các yếu tố chuẩn đoán được Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ TấnPhương giới thiệu trong cuốn “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng”xuất bản năm 2005 của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng –Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam ban hành [8] Theo cẩm nang để đánhgiá mức độ thích hợp của cây trồng thì ta phải dựa vào việc so sánh và đốichiếu những yêu cầu đòi hỏi của cây trồng với tính chất, điều kiện tự nhiên vàđánh giá dựa theo phương pháp điều kiện giới hạn Độ thích hợp của câytrồng được đánh giá theo 4 cấp là: Thích hợp cao (S1), thích hợp trung bình(S2), kém thích hợp (S3) và không thích hợp (N)
Việc nghiên cứu các tính chất lý hóa học của đất là vô cùng quan trọng
Trang 8trong việc đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng Với tầm quan trọng nhưvậy vấn đề nghiên cứu các tính chất lý hóa học của đất và đánh giá mức độthích hợp của cây trồng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tácgiả các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nghiên cứu nhằmmục đích sử dụng đất một cách bền vững và có hiệu quả.
Trang 9PHẦN 3 MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu tính chất lý hóa họccủa đất ở 3 vị trí (sườn dưới, sườn giữa và sườn trên) trên 2 quả đồi dưới cáctrạng thái rừng trồng hỗn loài và rừng tái sinh có trồng bổ sung với các loàicây chính là: Lim xanh, Keo lá tràm, Thông mã vĩ, Sồi phảng và Ràng ràngmít, tại xã Đại An, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
3.2 Mục tiêu
Thông qua kết quả nghiên cứu về các tính chất lý hóa học cơ bản củađất và đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, đánh giá tính thích hợp của cây trồngtrên đó nhằm đề xuất một số giải pháp kỹ thuật cho việc sử dụng đất đạt hiệuquả cao và bền vững cho khu vực nghiên cứu
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên khóa luận tiến hành nghiên cứu những nộidung sau:
1 Nghiên cứu hình thái phẫu diện đất ở 3 vị trí địa hình khác nhau: Sườndưới, sườn giữa, sườn trên của 2 quả đồi với các đặc tính như: Độ dầy tầngđất, thành phần cơ giới, tỷ lệ đá lẫn, kết von
2 Nghiên cứu một số tính chất lý hóa học cơ bản của đất tại khu vực:
Trang 10- Độ no bazơ (V%).
- Hàm lượng mùn (M%)
- Các chất dễ tiêu của đất (NH4+, P2O5, K2O)
3 Đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng tại khu vực nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian nên tôi chỉ tiến hành đánh giá thích hợp củacây trồng với các yếu tố của điều kiện tự nhiên mà chưa qua phân tích, đánhgiá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vữngcủa khu vực nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp luận
Toàn bộ quá trình nghiên cứu được tiến hành theo sơ đồ sau:
Trang 113.3.2 Phương pháp ngoại nghiệp
a Thu thập và kế thừa các tài liệu liên quan
Thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan, các thông tinphục vụ cho nghiên cứu như: Khí hậu, địa hình, thực vật
Yêu cầu sinh thái của các loài cây nghiên cứu
Xác định các đơn vị đất đai Xác định yêu cầu sinh thái của cây
trồng
Đề xuất một số biện pháp sử dụng đất bền vững
Đánh giá tính thích hợp của cây trồng
Yêu cầu sinh thái hoặc tiêu chuẩn thích hợp của các loài cây nghiên cứu
Trang 12dụng đất ở 3 vị trí địa hình là: Sườn trên, sườn giữa, sườn dưới Tương ứngvới mỗi vị trí trên tiến hành đào 1 phẫu diện.
Mô tả phẫu diện theo bảng mô tả phẫu diện đất của bộ môn Khoa họcđất trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Lấy mẫu đất phân tích: Tại mỗi phẫu diện lấy 2 mẫu theo 2 cấp độ sâu.Mẫu ở mỗi cấp độ sâu là tổng hợp của nhiều mẫu đơn lẻ theo phương phápCộng Hòa Liên Bang Đức – 1990
Với độ sâu từ 0 – 20cm: Mẫu tổng hợp được lấy từ 9 mẫu đơn lẻ, trong
đó 1 mẫu được lấy ở từ thành quan sát của phẫu diện, 8 mẫu còn lại được lấy
ở 8 điển theo 8 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, ĐôngNam, Tây Nam) cách phẫu diện chính từ 8 – 10m
Với độ sâu từ 20 – 50cm: Mẫu tổng hợp được lấy từ 5 mẫu đơn lẻ,trong đó 1 được lấy từ thành quan sát của phẫu diện, 4 mẫu còn lại được lấy ở
4 điểm theo 4 hướng chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) cách phẫu diện 8 – 10m
Mẫu đơn lẻ được lấy với lượng bằng nhau ở cùng 1 cấp độ sâu và mỗimẫu tổng hợp lấy 1kg đất
Lấy mẫu dung trọng bằng ống dung trọng với độ sâu từ 0 – 20cm tai 5
vị trí, 1 gần phẫu diện, 4 mẫu còn lại lấy ở 4 vị trí theo 4 hướng chính (Đông,Tây, Nam, Bắc) cách phẫu diện 8 – 10m
3.3.3 Phương pháp nội nghiệp
3.3.3.1 Phân tích đất trong phòng thí nghiệm
a Xử lý mẫu đất
Mẫu đất được lấy về hong khô trong bóng râm, nhặt bỏ rễ cây, đá lẫn,kết von Sau đó giã nhỏ bằng cối đồng và chày có đầu bọc bằng cao su, rồirây đất qua rây có đường kính 1mm Riêng đất để phân tích mùn thì giã bằngcối và chày sứ và rây qua rây 0.25mm
b Phân tích đất
Phân tích đất được tiến hành tại trung tâm thí nghiệm thực hành củaKhoa Lâm học, trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Trang 13+ Các tính chất lý học của đất:
- Xác định thành phần cơ giới của đất bằng phương pháp ống hút Robinson
- Xác định dung trọng bằng phương pháp ống dung trọng thông qua cân vàsấy
- Xác định pHH20, PhKCl bằng máy đo pHmetter cầm tay
- Xác định độ chua thủy phân bằng phương pháp Kappen
- Xác định độ chua trao đổi bằng phương pháp Đaikuhara
- Xác định tổng cation bazơ trao đổi theo phương pháp Kape và Ginkovic
- Xác định hàm lượng mùn bằng phương pháp Chiurin
- Độ no bazơ được tính theo công thức:
V(%) = (S S H
)*100Trong đó:
V(%): Là độ no bazơS: Là tổng cation bazơ trao đổiH: Là độ chua thủy phân
- Xác định các chất dễ tiêu :
Đạm dễ tiêu (NH4+) bằng phương pháp so màu
Lân dễ tiêu (P2O5) bằng phương pháp so màu
Kali dễ tiêu (K2O) bằng phương pháp so màu đục
Trang 143.3.3.2 Xử lý số liệu
Tính toán các giá trị của từng chỉ tiêu nghiên cứu về đất theo công thứctrong ‘‘Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón cây trồng’’ của Lê VănKhoa – Nguyễn Xuân Cự (1996) [5]
Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích đất thành bảng biểu ở các độ sâu lấymẫu và lấy giá trị trung bình (nếu cần) để rút ra tính chất đất cho từng vị trínghiên cứu
Tập hợp đơn vị đất đai tại các vị trí nghiên cứu
Căn cứ bảng tổng hợp tiêu chí và chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên chođánh giá đất trong cuốn ‘‘Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng’’ (2005)của Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn Phương, các tác giả sử dụng 6tiêu chí để lập thành đơn vị đất đai là: Thành phần cơ giới, độ dày tầng đất, độdốc, độ cao tuyệt đối, lượng mưa bình quân năm và trạng thái thực bì Nhưngtrong khóa luận này tôi sử dụng tiêu chí hàm lượng mùn tầng mặt thay chotrạng thái thực bì vì khu vực nghiên cứu đã được trồng rừng
Ký hiệu các tiêu chí và chỉ tiêu theo biểu 3.1 dưới đây:
Trang 15Biểu 3.1 : Ký hiệu các tiêu chí của đơn vị đất đai
Tiêu chí và
ký hiệu
Chỉ tiêu và ký hiệu
Rất thuận lợi(I)
Thuận lợi(II)
Ít thuận lợi(III)
Không thuậnlợi (IV)
Thành phần
cơ giới đất
(T)
Trung bình(T1) (Thịt nhẹ– thịt trungbình)
Hơi nặng (T2)(Thịt nặng –sét nhẹ)
Nhẹ (T3)(Sét trungbình – cátpha)
Rất nặng hoặcrất nhẹ (T4)(Sét nặng hoặccát rời)
Độ dày tầng
đất, cm (D)
> 100(D1)
50 – 100(D2)
< 50(D3)
Trơ sỏi đá(D4)
300 – < 700(H2); 700 –
< 1000 (H3)
1000 – <
1700 (H4)
> 1700(H5)
Mùn trungbình (3 – 5%) (M2)
Nghèo mùn(< 3%) (M3)
1500 – 2000(R2)
1000 – 1500(R3)
< 1000 (R4)
Phân cấp chất hữu cơ tầng mặt trong cuốn ‘‘ Hệ thống đánh giá đất lâmnghiệp Việt Nam’’ của Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn Phương
Đối chiếu vào biểu 3.1 cho từng điều kiện tự nhiên ở từng vị trí nghiêncứu để xây dựng đơn vị đất đai cho vị trí đó
3.3.3.3 Đánh giá thích hợp của cây trồng
Do hạn chế về thời gian không lập được các ÔTC để đo đếm sinhtrưởng của cây để phân ra cấp sinh trưởng tốt, trung bình hoặc kém Vì vậy
Trang 16tôi dựa vào các tiêu chí của ĐVĐĐ để đánh giá mức độ thích hợp của câytrồng với ĐKTN.
Mức độ thích hợp của cây trồng tại khu vực nghiên cứu được đánh giátheo từng đơn vị đất đai, các loài cây trồng ở cùng 1 đơn vị đất đai thì đềuđược đánh giá thích hợp với các đặc điểm của đơn vị đất đai đó
Những loài cây trồng có bảng tiêu chuẩn thích hợp chuẩn thì được phânhạng đến mức độ thích hợp, đưa ra cấp thích hợp (S1, S2, S3) và không thíchhợp (N), những loài cây trồng không có bảng tiêu chuẩn thích hợp chuẩn thìdựa vào yêu cầu sinh thái của chúng để đưa ra bậc thích hợp (S) hoặc khôngthích hợp (N)
Đánh giá theo phương pháp điều kiện giới hạn (theo cẩm nang đánh giáphục vụ trồng rừng của Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế – Vũ Tấn Phương,NXB khoa học kỹ thuật, 2005) Độ thích hợp của cây trồng được đánh giátheo 4 cấp :
S1: Thích hợp cao
S2: Thích hợp trung bình
S3: Thích hợp kémN: Không thích hợpXác định độ thích hợp của cây trồng dựa theo phương pháp yếu tố hạnchế, cụ thể là:
Nếu một trong các tiêu chí đánh giá ở mức độ không thích hợp (N) thìcây trồng ở đây thuộc cấp không thích hợp (N)
Nếu 1 trong 2 tiêu chí độ dốc và độ dày tầng đất ở cấp thích hợp kém(S3) thì cây trồng thuộc cấp thích hợp kém (S3)
Nếu đa số (> 50%) các tiêu chí đánh giá nằm ở cấp thích hợp nào thìcây trồng thuộc cấp thích hợp đó
Đối với những loài cây trồng không có trong bảng tiêu chuẩn thích hợpchuẩn thì ta kết luận được tính thích hợp là: Thích hợp (S) hay không thíchhợp (N)
Trang 17PHẦN 4 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU4.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu thuộc Trung tâm NCTNLS Cầu Hai quản lý, nằmtrong địa bàn hành chính của 7 xã (Chân Mộng, Minh Phú, Vân Đồn, TiêuSơn, Minh Tiến, Đại An và Năng Yên) thuộc huyện Đoan Hùng và Thanh Batỉnh Phú Thọ
Tọa độ địa lý: 21o40' vĩ độ Bắc
105o20' kinh độ Đông
Phía Đông giáp các xã Vụ Quang huyện Đoan Hùng, Phú Mỹ huyệnPhù Ninh
Phía Tây giáp xã Thái Ninh, Quảng Nạp huyện Thanh Ba
Phía Nam giáp các xã Trạm Thản huyện Phù Ninh, Khải Xuân huyệnThanh Ba
Phía Bắc giáp các xã Yên Kiện, Hùng Long của huyện Đoan Hùng
4.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng đồi núi trung du tiếp giáp với miềnnúi, hệ thống đồi bát úp chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Độ dốckhông vượt quá 20o Độ cao tuyệt đối so với mặt nước biển trung bình là 60m.Địa hình tương đối đồng nhất thuận lợi cho các hoạt đông sản xuất lâmnghiệp Do địa hình tương đối đồng nhất, độ cao thấp nên đất trong khu vựckhá đồng nhất, chủ yếu là đất feralit vàng đỏ và đỏ vàng phát triển trên đá mẹGnai và phiến thạch Mica tầng đất dày > 100cm, thành phần cơ giới trungbình, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
4.1.3 Khí hậu, thủy văn
Do địa hình tương đối đồng nhất, không có núi cao che chắn nên khíhậu khu vực nghiên cứu không có gì đặc thù mà mang tính chất khí hậu vùngĐông Bắc Bộ Căn cứ vào lượng mưa phân bố trong năm người ta có thể chia
Trang 18khí hậu Cầu Hai thành 2 mùa rõ rệt: Mùa đông khô lạnh và mùa hè nóng,nhiều mưa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau Lượng mưa bình quân là 1876,8mm/năm, tập trung vào các tháng
6, 7, 8, chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm ; Tổng số ngày mưa trongnăm là 147 ngày Nhiệt độ bình quân năm 22.9oC, nhiệt độ tháng tối cao caonhất là tháng 7, nhiệt độ lên tới 31,60C, nhiệt độ tháng tối thấp là tháng 1,nhiệt độ chỉ ở mức 13,50C Độ ẩm không khí trung bình là 83% Tốc độ gióbình quân 1,53m/s, hàng năm thường có từ 3 đến 4 cơn bão
Với địa hình bát úp, tương đối đồng nhất nên khu vực Cầu Hai rất ítsông suối, chỉ có suối lớn Cầu Hai và các nhánh nhỏ của nó hợp lại chảy theohướng Đông Nam ra sông Lô Suối này nằm trong lưu vực của hai con sônglớn là sông Hồng và sông Lô nhưng đây đều thuộc phần hạ lưu của các consông này nên nước chảy khá chậm, đây là điều kiện thuận lợi cho giao thôngđường thủy
4.1.4 Thực vật rừng
Tài nguyên thực vật rừng trong khu vực khá phong phú, có tới 298 loàithuộc 65 họ, tổ thành loài cây bản địa tại khu vực phong phú, nhiều họ thamgia như họ Ngọc lan có các loài như Mỡ, Giổi; Họ Đậu có các loài như Ràngràng mít, Ràng ràng xanh, Vảy óc , Mán đỉa; Họ Dẻ có các loài như Dẻ cau,
Dẻ cuống, Dẻ hương, Sồi phảng, Sồi gai, Sồi vang mép; Họ Long não có cácloài như Re gừng, Re bầu, Cà lồ; Họ Xoan có các loài như: Gội, Quếch, Xoan
ta, Xoan mộc; Họ Trám có các loài như: Trám trắng, Trám chim, Trám đen;
họ Vang có Lim xanh, Lim xẹt; Họ Bồ hòn có các loài như: Vải thiều rừng,Vải guốc; họ Dầu có Trò nâu; Họ Tre nứa có các loài như Diễn trứng, Diễn
đá, Sặt, Vầu, Dùng, Giang, Hóp…Trong các loài kể trên có nhiều loài cây gỗlớn có giá trị như Lim xanh, Trám trắng, Re gừng, Mỡ, Sồi phảng…
4.2 Tác động của con người
Khu vực nghiên cứu thuộc Trung tâm NCTNLS Cầu Hai quản lý, nằmtrong địa bàn hành chính của 7 xã (Chân Mộng, Minh Phú, Vân Đồn, Tiêu
Trang 19Sơn, Minh Tiến, Đại An và Năng Yên) thuộc huyện Đoan Hùng và Thanh Batỉnh Phú Thọ, với diện tích rừng và đất rừng là 718,1ha.
Trước đây, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn chủ yếu là khai thác gỗphục vụ chương trình nhà nước và giải quyết vấn đề dân sinh, phương thứckhai thác chủ yếu là chặt chọn với cường độ cao và khai thác trắng, kết quả làtài nguyên rừng bị suy thoái, sau thời gian đó trung tâm NCTNLS Cầu Haiđược thành lập với nhiệm vụ chính là nghiên cứu khoa học và chuyển giaocông nghệ nhằm phục vụ công tác trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên chokhu vực Về công tác quản lý, trung tâm đã triển khai và hoàn thành việc giaođất giao rừng, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng mà trung tâm quản lý đãđược giao cho 130 hộ gia đình thuộc 7 xã của huyện Đoan Hùng và Thanh
Ba, trồng chăm sóc và bảo vệ
Người dân trong khu vực chủ yếu làm nghề nông lâm nghiệp, đời sốngcòn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp, nhận thức của ngườidân về việc bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế Việc khai thác trái phép, chặttrộm cây rừng vẫn còn, chăn nuôi của bà con vẫn mang tính chăn thả tự nhiêngây ảnh hưởng lớn đến các mô hình rừng của Trung tâm gây ra các hiệntượng gãy cành, cụt ngọn và trụi lá ở các cây con mới trồng, làm cho đất bịnén chặt Trong quá trình làm đất trồng cây đã phần nào làm thay đổi, xáotrộn tầng đất làm thay đổi tính chất của đất, từ đó cũng ảnh hưởng đến quátrình sinh trưởng và phát triển của cây rừng
Trang 20PHẦN 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ5.1 Hình thái phẫu diện
Hình thái phẫu diện đất là sự biểu hiện bên ngoài, tất cả những quátrình diễn ra trong đất đều để lại những dấu vết trong đất, nghiên cứu nhữngdấu vết đó biết được đặc điểm, tính chất của đất, thậm chí có thể biết đượclịch sử hình thành đất và chiều hướng phát triển của đất Ở những độ sâu khácnhau trong đất, những tầng đất được hình thành rõ Đặc điểm phân lớp đó làđặc điểm quan trọng của đất, có ảnh hưởng lớn đến những tính chất lý học và
độ phì của đất
Dưới đây là đặc trưng hình thái phẫu diện của 6 phẫu diện đất được nghiêncứu ở 3 vị trí địa hình khác nhau của hai quả đồi tại khu vực nghiên cứu
5.1.1 Phẫu diện đất sườn dưới
a Phẫu diện đất sườn dưới đồi 54,8 (ĐA01)
Phẫu diện ĐA01 nằm dưới
rừng trồng hỗn loài: Keo lá tràm +
Lim xanh, độ tàn che là 0,75 Cây bụi
thảm tươi chủ yếu là: Cỏ lá tre,
Dương xỉ, Quyết ba lá độ che phủ
50 – 55%, chiều cao trung bình
khoảng 40cm Độ dốc 120, hướng dốc
Đông Bắc, độ cao tuyệt đối 27m, độ
cao tương đối 7m, dạng địa hình sườn
dốc thoải đều Nước ngầm sâu, khả
năng xói mòn nhẹ, không có đá ong
Trang 21Tầng A: Độ sâu: 0 – 7cm, màu nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây trung bình (17rễ/dm2), kết cấu viên hạt, đất xốp, TPCG thịt trung bình, không có kết von và
đá lẫn Chuyển lớp rõ
Tầng B1: Độ sâu: 2 – 22cm, màu vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (7 rễ/ dm2),kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von và đálẫn Chuyển lớp không rõ
Tầng B2: Độ sâu: 22 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít(2rễ/ dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kếtvon và đá lẫn
Đất ở dưới mô hình rừng trồng hỗn loài: Thông ba lá + Lim xanh, cótầng đất dày Tên đất theo FAO – UNESCO (1998) là: Đất xám feralit pháttriển trên đá biến chất (Đá Gnai)
b Phẫu diện đất sườn dưới đồi 65,5m (ĐA02)
Phẫu diện ĐA02 nằm dưới
rừng trồng hỗn loài: Lim xanh + Keo
lá tràm, độ tàn che là 0,7 Cây bụi
thảm tươi chủ yếu là: Cỏ lá tre, Quyết
lá đơn , chiều cao trung bình là
35cm, độ che phủ 45 – 50% Độ dốc
130, hướng dốc Đông Bắc, độ cao
tuyệt đối 38m, độ cao tương đối 8m,
dạng địa hình sườn dốc thoải Nước
ngầm sâu, khả năng xói mòn nhẹ,
không có đá ong và đá lộ đầu
Trang 22thịt trung bình, không có kết von và đá lẫn Chuyển lớp rõ.
Tầng B1: Độ sâu: 11 – 31cm, màu vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (8 rễ/dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG nặng, không có kết von và đá lẫn.Chuyển lớp không rõ
Tầng B2: Sâu 31 – > 120cm, màu vàng, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3 rễ /dm2)
có kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG trung bình, không có kết von và đálẫn
Đất ở dưới mô hình rừng trồng hỗn loài: Lim xanh + Keo lá tràm + Dẻcau, có tầng đất dày Tên đất theo FAO – UNESCO (1998) là: Đất xám feralittrên đá biến chất (Đá Gnai)
5.1.2 Phẫu diện đất sườn giữa
a Phẫu diện đất sườn giữa đồi 54,8m (ĐA03)
Phẫu diện ĐA03 nằm dưới
rừng trồng hỗn loài: Thông mã vĩ +
Lim xanh, có độ tàn che 0,75 Cây bụi
thảm tươi chủ yếu là: Quyết chẻ ba,
Lông cu li ,độ che phủ 55 – 60%, độ
cao trung bình 50cm Độ dốc 170,
hướng dốc Đông Bắc, độ cao tuyệt
đối 40m, độ cao tương đối 20m, dạng
địa hình sườn dốc đều Nước ngầm
sâu, khả năng xói mòn nhẹ, không có
Trang 23Tầng B1: Độ sâu: 6 – 20cm, vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (8 rễ/ dm2), kếtcấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von và đá lẫn.Chuyển lớp rõ.
Tầng B2: Độ sâu 20 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3 rễ/
dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von
và đá lẫn
Đất dưới mô hình có tầng đất dày, tên đất theo phân loại của FAO –UNESCO là: Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất (Đá Gnai)
b Phẫu diện sườn giữa đồi 65,5m (ĐA04)
Phẫu diện ĐA04 nằm dưới rừng tái sinh có trồng bổ sung: Sồi phảng +Lim xanh, độ tàn che là 0,7 Cây bụi thảm tươi chủ yếu là: Dương xỉ, Quyết
ba lá độ che phủ 45% – 50% độ cao
trung bình 35cm Độ dốc 140, hướng
dốc Đông Bắc, độ cao tuyệt đối 47m,
độ cao tương đối 17m, dạng địa hình
sườn dốc thoải Nước ngầm sâu, khả
năng xói mòn nhẹ, không có đá ong
và đá lộ đầu
Tầng A0: Mỏng, dày khoảng 1cm
Tâng A: Độ sâu: 0 – 9cm, màu
nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây trung bình
(16 rễ/ dm2), kết cấu viên hạt, TPCG
thịt trung bình, không có kết von và
đá lẫn Chuyển lớp rõ
Tầng B1: Độ sâu: 9 – 25cm,
vàng nâu, hơi ẩm, rễ cây ít (9 rễ/
dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt,
TPCG nặng, không có kết von và đá lẫn Chuyển lớp rõ
Tầng B2: Độ sâu 25 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít (2 rễ/
B2
B1
9cm 25cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A0
Trang 24dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt nặng, không có kết von và đá lẫn.
Đất dưới mô hình này có tầng đất dày, theo phân loại của FAO –UNESCO (1998) đất có tên gọi là: Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất(Đá Gnai)
5.1.3 Phẫu diện đất sườn trên
a Phẫu diện đất sườn trên đồi 54,8m (ĐA05)
Phẫu diện ĐA05 nằm dưới rừng trồng hỗn loài: Lim xanh + Thông mã
vĩ, độ tàn che là 0,75 Cây bụi thảm tươi chủ yếu là: Lông cu li, Dương xỉ,Quyết chẻ ba độ che phủ 50 – 55%, chiều cao trung bình khoảng 45cm, độdốc 150, hướng dốc Đông Bắc Độ
cao tuyệt đối 50m, độ cao tương đối
30m, dạng địa hình sườn dốc thoải
đều Nước ngầm sâu, khả năng xói
cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt
trung bình, không có kết von và đá
lẫn Chuyển lớp rõ
Tầng B2: Độ sâu 20 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít (2 rễ/
dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt trung bình, không có kết von
B2
B1
8cm 20cm
120cm
Sơ đồ phẫu diện
A0
Trang 25và đá lẫn.
Đất dưới mô hình rừng trồng hỗn loài: Lim xanh và Thông đuôi ngựa,
có tầng đất dày, theo phân loại của FAO – UNESCO (1998) đất có tên gọi là:Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất (Đá Gnai)
b.Phẫu diện đất sườn trên đồi 65,5m (ĐA06)
Phẫu diện ĐA06 nằm dưới
rừng tái sinh: Ràng ràng mít + Sồi
phảng, có độ tàn che 0,65 Cây bụi
thảm tươi chủ yếu là: Dương xỉ,
Quyết lá đơn ,độ che phủ 40 – 45%,
độ cao trung bình 40cm Độ dốc 130,
hướng dốc Đông Bắc, độ cao tuyệt
đối 61m, độ cao tương đối 31m, dạng
địa hình sườn dốc thoải đều Nước
ngầm sâu, khả năng xói mòn nhẹ,
không có đá ong, đá lộ đầu
TPCG thịt nặng, không có kết von và đá lẫn, chuyển lớp rõ
Tầng B1: Độ sâu: 10 – 33cm, vàng, hơi ẩm, rễ cây ít (9 rễ/ dm2), kết cấuviên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt nặng, không có kết von và đá lẫn, chuyểnlớp rõ
Tầng B2: Độ sâu 33 – > 120cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3 rễ/
dm2), kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, TPCG thịt nặng, không có kết von, đá lẫn
Đất dưới mô hình rừng tái sinh Ràng ràng mít + Sồi phảng có tầng đấtdày theo phân loại của FAO – UNESCO (1998) đất có tên gọi là: Đất xám
Trang 26feralit phát triển trên đá biến chất (đá Gnai).
Nhận xét chung
Kết quả nghiên cứu phẫu diện đất trên khu vực nghiên cứu cho thấy:Đất ở khu vực nghiên cứu là đất xám feralit phát triển trên đá biến chất (ĐáGnai)
Độ dầy tầng đất ở các vị trí nghiên cứu chủ yếu là tầng đất dày Đấttầng A mỏng, nằm trong khoảng từ 6 – 11cm Đất có kết cấu viên hạt, thànhphần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, không có kết von hay đá lẫn
Các đặc điểm về hình thái phẫu diện đất phần nào phản ánh được đặcđiểm và tính chất của đất, phản ánh sự ảnh hưởng của thảm thực vật với đất.Đất của quả đồi 65,5m có tầng dày hơn, là do quả đồi 54,8m có độ dốc lớnhơn Tuy nhiên đây mới chỉ là kết quả điều tra về hình thái Những nghiêncứu về tính chất lý học và hóa học của đất sẽ cho những kết luận chi tiết và chínhxác hơn
Kết quả phân tích đất thành phần cơ giới đất và dựa theo bảng phân loạicủa Katrinski được thể hiện qua biểu 5.1
Trang 27Biểu 5.1: Thành phần cơ giới của đất
Thành phần cấp hạt
Phân loạiSét vật lý
(%)
Cát vật lý(%)
Sườn
dưới
Đồi 54,8 (Keo lá tràm +
mít+ Sồiphảng)
So sánh hàm lượng sét ở 3 vị trí địa hình ở cả hai quả đồi ta thấy: Hàmlượng sét vật lý của đất ở sườn giữa và sườn trên quả đồi 65,5m đều lớn hơn
so với các vị trí còn lại Hàm lượng sét vật lý trung bình lớn nhất là (46,73%)tại phẫu diện sườn trên đồi 65,5m Vị trí có hàm lượng sét vật lý trung bình
Trang 28nhỏ nhất là (36,47%) tại phẫu diện sườn giữa thuộc đồi 54,8m
Hàm lượng sét vật lý trung bình ở các vị trí của quả đồi 65,5 đều lớnhơn so với sét vật lý tương úng của quả đồi 54,8m Có thể giải thích là do độdốc của quả đồi 54,4m cao hơn nên quá trình xói mòn đã làm lượng sét giảm
5.2.1.2 Tỷ trọng, dung trọng, độ xốp
a Tỷ trọng đất
Tỷ trọng đất phụ thuộc vào hàm lượng chất hữu cơ và khoáng có trongđất, là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ thành phần khoáng và chất hữu cơ có trong đất ởmức độ định tính Cùng một loại đất, đất có nhiều chất hữu cơ thì tỷ trọng đấtnhỏ Tỷ trọng của đất ở các vị trí nghiên cứu thể hiện ở biểu 5.2
Biểu 5.2: Tỷ trọng, Dung trọng, Độ xốp của đất
Qua kết quả ở biểu 5.2 ta thấy tỷ trọng của đất ở các vị trí nghiên cứudao động trong khoảng 2,67 – 2,78 g/cm3, vậy đất có tỷ trọng ở mức trungbình đến khá cao Tại vị trí sườn giữa đồi 54,8 tỷ trọng là lớn nhất và nhỏ nhất
ở vị trí sườn trên của đồi 65,5m
Tỷ trọng thay đổi khác nhau ở các vị trí địa hình do ảnh hưởng của đặcđiểm địa hình và kết cấu đất cũng như thực vật tại vị trí đó Tỷ trọng ở sườngiữa đồi 54,8m lớn nhất do địa hình dốc, độ tàn che và che phủ đều thấp hơn,hàm lượng các chất hữu cơ thấp hơn so với các vị trí khác
b Dung trọng
Dung trọng là yếu tố đặc trưng cho độ chặt, độ xốp của đất, nó không