LỜI CẢM ƠN Sau 4 năm miệt mài học tập, nghiên cứu dưới mái trường Lâm Nghiệp. Để hoàn thành khóa học 2008 – 2012, được sự phân công của Khoa Lâm Học và Bộ môn Điều tra quy hoạch, tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “ Lập biểu thể tích thân cây Cao su (Hevea brasiliensis Mull Arg) trồng thuần loài tại một số tỉnh miền Đông Nam Bộ”. Trong quá trình học tập và thực hiện Khóa luận, tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Lâm Học, Bộ môn Điều tra quy hoạch và các thầy cô giáo trong Trường Đại học Lâm Nghiệp. Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến Ban giám hiệu, Khoa Lâm Học, các thầy cô giáo trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là thầy giáo TS. Cao Danh Thịnh và cô giáo ThS.Lương Thị Phương người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình truyền đạt kiến thức chuyên môn và những kinh nghiệm quý báu cùng với những tình cảm tốt đẹp nhất giành cho tôi trong quá trình hoàn thành Khóa luận này. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Khóa luận. Trong quá trình thực hiện Khóa luận, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu và chân tình của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng các bạn để Khóa luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán trong Khóa luận là trung thực và được trích dẫn rõ ràng. Xin chân thành cảm ơn Hà Nội, Ngày 16 tháng 05 năm 2012
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm miệt mài học tập, nghiên cứu dưới mái trường Lâm Nghiệp
Để hoàn thành khóa học 2008 – 2012, được sự phân công của Khoa Lâm Học
và Bộ môn Điều tra quy hoạch, tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
“ Lập biểu thể tích thân cây Cao su (Hevea brasiliensis Mull Arg)
trồng thuần loài tại một số tỉnh miền Đông Nam Bộ”.
Trong quá trình học tập và thực hiện Khóa luận, tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Lâm Học, Bộ môn Điều tra quy hoạch và các thầy cô giáo trong Trường Đại học Lâm Nghiệp
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến Ban giám hiệu, Khoa Lâm Học, các thầy cô giáo trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam Đặc biệt là thầy giáo TS Cao Danh Thịnh và cô giáo ThS.Lương Thị Phương - người trực tiếp hướng dẫn khoa học - đã tận tình truyền đạt kiến thức chuyên môn và những kinh nghiệm quý báu cùng với những tình cảm tốt đẹp nhất giành cho tôi trong quá trình hoàn thành Khóa luận này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Khóa luận
Trong quá trình thực hiện Khóa luận, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu và chân tình của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng các bạn để Khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán trong Khóa luận là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 16 tháng 05 năm 2012
Sinh viên Nguyễn Thị Thủy
Trang 2DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
Koi Hệ số thon tại vị trí thứ i của thân cây
Sai tiêu chuẩn trung bình
SPSS Phần mềm Statistical Products for social Services
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố đất đai các tỉnh Đông Nam Bộ 34
Bảng 2.2 Phân bố dân số các tỉnh Đông Nam Bộ 34
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra sự thuần nhất về hình dạng của loài Cao su 37
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra phân bố chuẩn của f01 38
Bảng 3.3 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Hvn/D1.3 41
Bảng 3.4 Giới hạn chiều cao 42
tương ứng với cỡ đường kính 42
Bảng 3.5 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Dkv/Dcv 42
Bảng 3.6.Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Hdc/D1.3 44
Bảng 3.7 Giới hạn chiều cao dưới cành theo cỡ kính 47
Bảng 3.8 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Vcv/D1.3(cv) 48
Bảng 3.9 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Vkv/D1.3(kv) 49
Bảng 3.10.Biểu thể tích thân cây vút ngọn một nhân tố cho loài Cao su 51
Bảng 3.11 Sai số biểu thể tích thân cây vút ngọn một nhân tố 51
Bảng 3.12 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Vdc(cv)/D1.3(cv) 52
Bảng 3.13 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Vdc(kv)/D1.3(kv) 53
Bảng 3.14 Biểu thể tích thân cây dưới cành một nhân tố cho loài Cao su 55
Bảng 3.15.Các sai số cho biểu thể tích thân cây dưới cành một nhân tố 55
Bảng 3.16 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan V = f(D,H) 57
Bảng 3.17 Biểu thể tích thân cây có vỏ vút ngọn hai nhân tố cho loài Cao su 59
Bảng 3.18 Kết quả xác định dạng phương trình tương quan Vkv = f(Dkv,H) 61
Bảng 3.19 Biểu thể tích thân cây không vỏ vút ngọn hai nhân tố cho loài Cao su 63
Bảng 3.20.Các sai số cho biểu thể tích thân cây vút ngọn hai nhân tố 65
Bảng 3.21 Kết quả xác định dạng phương trình Vdc = f(D1.3,Hdc) 65
Bảng 3.22 Biểu thể tích thân cây dưới cành có vỏ hai nhân tố cho loài Cao su 68
Bảng 3.23 Kết quả xác định dạng phương trình Vdc(kv) = f(D1.3(kv),Hdc) 70
Bảng 3.24 Biểu thể tích thân cây dưới cành không vỏ hai nhân tố cho loài Cao su 72
Bảng 3.25.Các sai số cho biểu thể tích thân cây dưới cành hai nhân tố 74
Bảng 3.26 Kết quả định bậc phương trình đường sinh thân cây 74
Bảng 3.27 Biểu thể tích thân cây có vỏ vút ngọn hai nhân tố cho loài Cao su 79
Bảng 3.28 Biểu thể tích thân cây không vỏ vút ngọn hai nhân tố cho loài Cao su 79
Bảng 3.29 Sai số biểu thể tích thân cây hai nhân tố theo PT đường sinh 81
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1.Giới hạn chiều cao và đường thẳng biểu diễn mối quan hệ Hvn/D1.3 42
Hình 3.2.Biểu đồ thể hiện quan hệ giữa Dkv và Dcv 43
Hình 3.3 Giới hạn chiều cao dưới cành và đường 46
thẳng biểu diễn mối quan hệ Hdc/D1.3 46
Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện Koilt và Koitt của phương trình đường sinh có vỏ 77
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện Koilt và Koitt của phương trình đường sinh không vỏ 77
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt ……… i
Danh mục các bảng ……… … ii
Danh mục các hình……… iii
Mục lục ……… … iv
Chương 1 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Những nghiên cứu về biểu thể tích 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về cây cao su 7
1.2 Ở Việt Nam 9
1.2.1 Về việc xây dựng biểu thể tích 9
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cây cao su 11
1.3 Một số nhận xét chung nghiên cứu về lập biểu thể tích và loài cây Cao su 15
1.3.1 Nhận xét về lập biểu thể tích 15
1.3.2 Nhận xét chung về nghiên cứu loài cây Cao su 16
Chương 2 18
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ 18
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu của đề tài 18
2.2 Giới hạn của đề tài 18
2.3 Nội dung 18
2.3.1 Nghiên cứu chung về mối quan hệ giữa các yếu tố có liên quan đến quy trình lập biểu thể tích 18
2.3.2 Xây dựng biểu thể tích một nhân tố thân cây vút ngọn và dưới cành cho loài Cao su tại khu vực nghiên cứu 19
2.3.4 Lựa chọn biểu thể tích và hướng dẫn sử dụng biểu thể tích 19
2.3.5 Tính tỷ lệ phần trăm thể tích gỗ cành với thể tích thân cây 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Cơ sở lý luận 19
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 22
2.5 Đối tượng nghiên cứu 29
2.5.1 Đặc điểm cây Cao su 29
2.5.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 33
2.5.3 Đặc điểm rừng Cao su tại khu vực nghiên cứu 35
Chương 3 36
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Nghiên cứu chung về mối quan hệ giữa các yếu tố có liên quan đến quy trình lập biểu thể tích 36
3.1.1 Kiểm tra sự thuần nhất về hình dạng của loài cây Cao su 36
3.1.2 Nghiên cứu về quy luật phân bố của hình số tự nhiên f01 38
3.1.3 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa các yếu tố cấu thành biểu thể tích 39
3.2 Xây dựng biểu thể tích một nhân tố thân cây vút ngọn và dưới cành cho loài Cao su tại khu vực nghiên cứu 47
Trang 53.2.2 Lập biểu thể tích thân cây dưới cành một nhân tố 52
3.3 Lập biểu thể tích hai nhân tố thân cây vút ngọn và dưới cành 56
3.3.1 Lập biểu thể tích hai nhân tố theo phương pháp tương quan 56
3.3.2 Lập biểu thể tích hai nhân tố theo phương pháp đường sinh 74
3.4 Lựa chọn biểu thể tích và hướng dẫn sử dụng biểu thể tích 81
3.4.1 Lựa chọn biểu thể tích 81
3.4.2 Hướng dẫn sử dụng biểu thể tích 82
3.5 Tỷ lệ phần trăm gỗ cành so với thể tích thân cây 84
Chương 4 84
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 84
4.1 Kết luận 85
4.2 Tồn tại 86
4.3 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 625 – 30 tuổi) người ta đốn để lấy gỗ, trước kia chỉ dùng làm chất đốt nhưng nếu biết cách ngâm tẩm để chống nấm mốc, sâu, mối, mọt thì có thể dùng làm
đồ mộc trong nhà hoặc trong kỹ nghệ hoặc làm ván ép, làm bìa, làm giấy Với
sự thiếu gỗ quý, gỗ tốt càng ngày càng gay gắt trên thế giới do việc cấm đốn, phá rừng và để bảo vệ môi trường, gỗ Cao su ngày càng được sử dụng nhiều
và có giá trị cao vì người ta nhận thấy gỗ Cao su có nhiều ưu điểm : cứng vừa,
dễ cưa, dễ bào, đóng đinh không nứt nẻ, màu trắng, có vân, đánh véc ni rất đẹp Người ta ước lượng là 1 ha Cao su có thể cho khoảng 130 – 150 m3 gỗ tròn Như vậy sau khi sản lượng nhựa giảm, lúc khai thác gỗ rừng Cao su còn cho thu nhập 150 triệu đồng/ha Cây Cao su là một cây bảo vệ môi trường rất tốt: nó chống xói mòn và giữ màu mỡ của đất rất tốt nên nhiều chuyên gia khuyến khích chẳng những trồng nhiều cao su ở vườn mà còn trồng Cao su để
Trang 7tạo rừng phủ đất trống, đồi trọc Chính vì giá trị về kinh tế và môi trường như vậy mà hiện nay cây Cao su đang được coi là một loài cây trồng nhằm phát triển kinh tế tại nhiều địa phương trong cả nước Theo thống kê của Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam đến năm 2010 diện tích cao su cả nước đạt 700.000 ha, trong đó diện tích Cao su của Đông Nam Bộ là 360.000 ha Các giống Cao su được trồng nhiều ở Việt Nam là GT1, PR 225, PR 235, PR 261…
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về sản lượng gỗ của cây Cao su còn ít được chú ý và quan tâm, chỉ mới đề cập đến việc trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến gỗ và tính chất cơ lý gỗ Chưa có công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về sinh trưởng, cấu trúc, thể tích cây cao su Xuất phát từ thực
tế, để kinh doanh rừng có hiệu quả thì việc đánh giá trữ lượng và sản lượng của rừng là không thể thiếu được Người ta cần biết trữ lượng của rừng khi còn nguyên cây đứng để lập kế hoạch khai thác, chăm sóc và nuôi dưỡng…đối với cây ngả có thể đo đếm chiều dài, đường kính ở bất kỳ vị trí nào của cây để xác định chính xác thể tích và hạng gỗ có thể lấy ra
Xác định thể tích cây cá thể và của cả lâm phần là một trong những nhiệm vụ trung tâm của khoa học điều tra rừng Trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp, vì nhiều mục đích khác nhau mà các nhà kinh doanh rừng, các nhà nghiên cứu đòi hỏi phải có các phương tiện để xác định nhanh thể tích thân cây Biểu thể tích là một trong những công cụ quan trọng để xác định thể tích thân cây Từ đó xác định được trữ lượng gỗ rừng Cao su
Xuất phát từ thực tiễn trên đề tài “ Lập biểu thể tích thân cây Cao su
(Hevea brasiliensis Mull Arg) trồng thuần loài tại một số tỉnh miền Đông
Nam Bộ” được thực hiện
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Những nghiên cứu về biểu thể tích
Trong việc xây dựng biểu thể tích, các nguyên tắc được đưa ra bởi
Cotta từ những năm đầu của thế kỷ 19 vẫn còn nguyên giá trị (Husch et al.,
2003)[27], đó là: “ Thể tích cây phụ thuộc vào đường kính, chiều cao, hình dạng Khi thể tích của cây được xác định đúng thì giá trị thể tích đó được sử dụng cho mọi cây khác có cùng đường kính, chiều cao và hình dạng” Kể từ thời của Cotta, hàng trăm biểu thể tích đã được xây dựng bằng nhiều phương pháp khác nhau và được đưa vào sử dụng Tuy nhiên kể từ giữa thế kỷ 20, xuất hiện xu hướng giảm thiểu số biểu thể tích bằng việc gộp lại và xây dựng các biểu có khả năng áp dụng cho nhiều loài, ở những nơi có cùng điều kiện
áp dụng biểu.(Husch et al., 2003)[27]
Tuy đã có nhiều biểu thể tích được xây dựng nhưng các nhà lâm nghiệp vẫn đang tìm kiếm những phương pháp đơn giản, khách quan và chính xác nhất Trong khi cây rừng là thể hình học có tính biến đổi cao nên không một biểu thể tích đơn giản, hoặc một tập hợp các biểu nào có thể đáp ứng được tất
cả các điều kiện đó, hoặc không một phương pháp lập biểu thể tích nào có thể đáp ứng được một cách tuyệt đối các yêu cầu đó Bởi vậy, ngày nay một số phương pháp xây dựng biểu cổ điển đã không được sử dụng nữa Ví dụ như phương pháp đường cong hợp lý (harmonized-curve method) (Chapman and Meyer, 1949) [19] không còn được sử dụng vì nó cần số lượng số liệu đầu vào rất lớn để xây dựng mối quan hệ giữa các biến và đường cong hợp lý Hoặc phương pháp biểu đồ liên kết (Alignment-chat method) và các phương pháp chủ quan khác nhìn chung đã bị loại bỏ Ngày nay, các mối quan tâm thường tập trung vào việc sử dụng các hàm toán học để xây dựng các biểu thể
tích (Husch et al., 2003)[27].
Trang 9Các mô hình toán học về thể tích thân cây được xem xét như là một hàm của các biến độc lập: đường kính, chiều cao và hình số (Đồng Sỹ Hiền,
1974[6]; Husch et al., 2003[10]; Akindele và LeMay, 2006[26] ).
Nó được viết dưới dạng: V = f (D, H, F)
+ Nhóm các hàm thể tích địa phương: sử dụng một biến độc lập, nhìn
chung là đường kính ngang ngực hoặc đôi khi sử dụng dưới dạng đổi biến để xây dựng biểu thể tích Dạng hàm đơn giản nhất của một biểu thể tích địa phương là:
1
b
o D b
Trong đó V và D là thể tích và đường kính ngang ngực ; còn bi là các hằng số
Các hàm thể tích địa phương khác đã được sử dụng chủ yếu ở Châu
Âu, theo báo cáo của Prodan (1965) và Prodan et al (1997) bao gồm:
2
1.D
b b
2 2
1D b D b
b
g b b
Trong mô hình cuối cùng thì g là tiết diện ngang
+ Nhóm các hàm thể tích chung: những hàm thể tích này ước lượng cả
đường kính và chiều cao, trong một số trường hợp, thêm cả nhân tố hình dạng Behre (1935) và Smith et al (1961)[19] đã kết luận rằng việc xác định
Trang 10chiều cao Clutter et al (1983)[19] đã đưa ra một số lý do của việc chỉ nên sử dụng đường kính ngang ngực và chiều cao để xây dựng biểu thể tích, như sau:
(1)- Việc đo các loại đường kính trên thân cây đứng là tốn thời gian và kinh phí
(2)- Biến động về hình dạng thân cây tác động đến thể tích cây là nhỏ hơn nhiều so với biến động về chiều cao và đường kính
(3)- Với một số loài hình dạng là tương đối ổn định
(4)- Với một số loài khác, hình dạng thường có mối tương quan với kích thước cây, do đó các biến đường kính và chiều cao thường giải thích nhiều về sự biến động của thể tích
Dưới đây đưa ra một số hàm thể tích chung phổ biến được áp dụng:Kiểu nhân tố hình dạng không đổi: V b D2H
Dạng đổi biến logarit: V =logb1 +b2logD+b3logH (1.8)
D V
o
(1.9)Các mô hình trong đó nhân tố hình dạng cũng là một biến như:
HF D b b
1+
3 2
1 b b b
Theo Đồng Sĩ Hiền (1974)[6], Mendeleev D.I (1989), Belanovxki I.G (1917)[21] và Wimmenauer K (1918)[19] đã biểu thị phương trình đường
Trang 11sinh thân cây bằng phương trình parabol bậc 2, bậc 3 (Mendeleev và Belanovski) [19] và bậc 4 (Wimmenauer):
y = a + b.x + c.x2 + d x3 + c.x4 (1.14)Muller G ở CHLB Đức đề nghị biểu thị mối liên hệ giữa đường kính
và chiều cao bằng hàm số mũ (Đồng Sĩ Hiền – 1974)[6] :
D = a.bh = a.elnbh = F(h), và thể tích thân cây bình quân cho những cây
có cùng điều kiện lập địa và có chiều cao chính là tích phân của phương trình
mũ trên :
( )h dh F
m của một thể hình học trừu tượng giản đơn có thể tích bằng thể tích phức tạp
là thân cây Nếu trị số m của thể đơn giản ấy xác định được thì thể tích của thân cây được tính bằng tích phân của phương trình trên (Đồng Sĩ Hiền, 1974) [6]
h m
g dx x A
1
.4
g
m
.3.1
.1
3 1
−+
Cũng theo Đồng Sĩ Hiền (1974) [6], Ozumi (Prodan, 1965) [19] ở Nhật
đã dùng phương trình parabol bậc 3, bậc 4 để biểu thị quan hệ giữa hệ số thon
tự nhiên với chiều cao tương đối theo từng cấp hệ số thon ở giữa thân :
Trang 12Tác giả Đồng Sĩ Hiền đã nhận xét về các phương pháp trên như sau :+ Ý kiến của Muller G có điểm độc đáo là đã vạch ra được sự thống nhất giữa phương trình đường sinh với đường cong chiều cao Tuy nhiên những phương pháp này dựa trên một giả thuyết không phù hợp với thực tế.
+ Phương pháp của Wauthoz đơn giản nhưng trong đó còn tồn tại nhiều vấn đề thực tiễn và lý luận chưa được giải quyết thỏa đáng
+ Phương pháp của Ozumi trong sách của Prodan thì Ozumi không nói
nõ đã lấy những số liệu nào trên thân cây để lập phương trình
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về cây cao su
Cao su ( Hevea brasiliensis) có nguồn gốc từ một vùng rất nhỏ bé thuộc lưu vực sông Amazon ( Nam Mỹ), sau này được đưa đi trồng ở các nước Châu Á, Châu Phi Cây cao su có khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu cao, là cây công nghiệp có giá trị kinh tế lớn Vì vậy những công trình nghiên cứu về cây Cao su và gỗ Cao su đã được nhiều tác giả đề cập
Năm 1873, những cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây Cao su ra ngoài phạm vi Brazin đã được tiến hành Sau một thời gian, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng nhưng chúng đều đã chết Đến năm 1975, sau những nghiên cứu tiếp theo đã có khoảng 70.000 hạt giống được gửi tới Kew trong đó có khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm Năm 1976, những cây giống đã được gửi tới Ceylon và các Vườn thực vật tại Singapo Sau đó, cây Cao su đã được nhân rộng khắp tại các thuộc địa của Anh Các cây cao su đã
có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia Đến nay phần lớn các khu vực trồng Cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực Châu Phi nhiệt đới
Bên cạnh những mục tiêu tạo tuyển giống cây Cao su có năng suất mủ cao, khả năng chống chịu bệnh tốt và thích nghi với môi trường, năng suất gỗ cũng trở thành tiêu chí quan trọng trong chọn tạo giống Cao su vì nhu cầu gỗ Cao su ngày càng cao Để đáp ứng được mục tiêu đó, Malaysia đã đặt mục
Trang 13tiêu tạo tuyển giống Cao su đạt năng suất bình quân 3.5 tấn mủ/ha/năm và năng suất gỗ toàn cây đạt 1.5m3/cây vào cuối chu kỳ kinh doanh.
Hiện nay, Indonesia là nước trồng Cao su lớn nhất thế giới Indonesia thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển Cao su như : NES (Nuclear Estate Schemes – Kế hoạch đại điền hạt nhân) nhằm hỗ trợ sự phát triển diện tích canh tác mới của cây Cao su cho thành phần nông dân nghèo không có đất, tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điện làm hạt nhân
để hỗ trợ sự phát triển tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trồng và chăm sóc vườn cây cho tới khi khai thác
Thái Lan là nước du nhập Cao su từ Java- Indonesia vào trồng tại tỉnh Trang vùng Tây Nam vào năm 1899, sau đó cây Cao su đã lan sang phía Nam
và phía Đông của nước này Ngày nay, Thái Lan đã phát triển Cao su ra phía Bắc và Đông Bắc Thái Lan cũng có các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển Cao su tiểu điền như ORRAF (Office of the Rubber Aid Fund – Văn phòng vốn tái canh Cao su), CRAM (Central Rubber Auction Market – Chợ đấu giá trung tâm)…(Nuchanat Na – Ranong), 2006[29]
Trước năm 1990, Malaysia là nước trồng và sản xuất Cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới, sản lượng Cao su đạt cao nhất là 1.661.000 tấn vào năm 1988 Malaysia là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo giống Cao su thích nghi theo điều kiện sinh thái của môi trường để tối ưu hóa tiềm năng của giống Việc phân vùng chủ yếu dựa trên mức độ gây hại Cao su như bệnh nấm hồng, bệnh rụng lá phấn trắng, bệnh héo đen đầu lá và bệnh rụng lá Corynespora
Ấn Độ cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp
để phát triển cây Cao su ở ngoài vùng truyền thống (từ vĩ độ 15 – 200B), kết quả đạt được rất khả quan và năng suất cây Cao su có thể đạt được trên 1.5 tấn/ha/năm (S.K.Dey và T.K.Pal, 2006) [29]
Trung Quốc là nước trồng Cao su rất đặc thù so với các nước khác Các
Trang 14lạnh, đối với một số vùng như đảo Hải Nam thì thường xuyên đối diện với sự gây hại của gió bão, để hạn chế tác hại của các yếu tố không thuận lợi, Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo hình thích hợp đối với từng vùng trồng Cao su cụ thể Kết quả là năng suất của một số vùng như XishuaBana thuộc tỉnh Vân Nam năng suất mủ bình quân đạt trên 2 tấn/ha/năm với các giống PR 107, RRIM 600 và GT 1 Hai giống mới có khả năng chống chịu lạnh và khô hạn tốt là Vân Nghiên 77 – 2, Vân Nghiên 77 – 4 (Xiong Daiqun và Jiang Jusheng, 2006) [30].
Ngày nay trên thế giới đã có xu hướng phát triển Cao su mới đó là trồng Cao su theo mô hình nông lâm kết hợp để thay thế dần cho mô hình trồng Cao su độc canh (Laxman Joshi, Eric Penot, 2006) [30]
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Về việc xây dựng biểu thể tích
Công trình nghiên cứu về lập biểu thể tích công phu nhất phải được kể đến đầu tiên là của tác giả Đồng Sĩ Hiền (1974) [6] Trong công trình này, tác giả đã đề cập một cách hệ thống và chi tiết về vấn đề lập biểu thể tích Từ việc thu thập tài liệu quan sát đến việc tính toán và xây dựng biểu thể tích
Nghiên cứu dạng phương trình thể tích theo phương pháp tương quan trong điều kiện của rừng miền Bắc nước ta, Đồng Sĩ Hiền (1974) [6] đã thử nghiệm hai dạng parabol và 3 dạng lũy thừa dưới đây cho một số loài cây rừng tự nhiên ở nước ta:
LogV = a + b1.logd + b2.logh + b3.logq2 (1.23)Kết quả cho thấy hai dạng parabol thường thích hợp nhưng đối với hai loài Sâng và Táu và dạng đầu với Bứa thì có sai dị rõ rệt giữa r2 và ƞ2
Trang 15Về các dạng lũy thừa thì biến số q2 nhiều khi không cần thiết mà có thể xác định thể tích qua đường kính và chiều cao Có thể dùng ba phương trình dạng lũy thừa để lập biểu với 1 hoặc 2 hoặc 3 nhân tố, nhưng ở nước ta biểu 3 nhân tố không có tác dụng thực tế Trong điều kiện của nước ta có thể áp dụng tốt hai dạng phương trình (1.19) và (1.20).
Về lập biểu thể tích bằng phương pháp đường sinh, Đồng Sĩ Hiền (1974) [6] đã sử dụng biến số phụ thuộc (hàm số) là hệ số thon tự nhiên
Về phương pháp tiếp cận đường sinh, tác giả đã sử dụng phương trình
đa thức:
k
k x b x
b x b b
∧
2 2 1
Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) [13] đã tổng kết rằng,
để lập biểu thể tích đo tính trữ lượng gỗ cây đứng ở nước ta thường dùng 3 phương pháp sau:
(1)- Nghiên cứu các nhân tố cấu thành thể tích theo công thức V = G.H.f, trong đó G và H thường đo trực tiếp tại rừng, còn f1.3 hay f01 cần lập
thành biểu trong tương quan với các nhân tố dễ xác định như H, D, ƞi, q2
(2)- Sử dụng tương quan trực tiếp giữa thể tích thân cây với các nhân tố
đo được như D, G, H, q2 và tổ hợp giữa chúng như các tương quan kép:
Cũng trong nghiên cứu này, Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh
Trang 16V = a + bD2H (1.25)
LogV = a + b1logD + b2logH + b3logq2 (1.30)Kết quả thử nghiệm cho thấy, hệ số tương quan R của dạng phương trình đơn giản nhất V = a + bD2H và V = a + b1H + b2G đạt tới lớn hơn 0.99, dạng LogV = a + b.logD cũng có R = 0.9734 Kiểm tra sự tồn tại của mọi
tham số phương trình bi bằng tiêu chuẩn
b
b
S
b
Lập biểu thể tích cho loài cây Keo tai tượng Đào Công Khanh (2001) [11] đã thử nghiệm các dạng hàm:
Phan Nguyên Hy (2003) [4] đã sử dụng SPSS để thử nghiệm một số dạng phương trình sau:
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cây cao su
Năm 1897, bác sĩ Yersin đã du nhập thành công cây Cao su vào Việt Nam và vườn Cao su đầu tiên được ông trồng tại Suối Dầu – Nha Trang Đầu
Trang 17thế kỷ 20, cây Cao su được trồng tại Đông Nam Bộ và đến đầu thập kỷ 50 được trồng tại một số vùng Tây Nguyên, miền Trung và một số vùng phía Bắc (Đặng Văn Vinh, 2000) [18].
Vào năm 1976, diện tích Cao su nước ta còn khoảng 76.600 ha cho sản lượng chỉ 40.200 tấn (năng suất bình quân 0.52 tấn/ha) Hơn 30 năm phát triển với chính sách và đầu tư đúng đắn của Nhà nước, kết hợp với sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác nhau và các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đến năm 2003 diện tích Cao su thuộc Tổng công ty Cao su Việt Nam là 215.610 ha, đưa vào khai thác 173.143 ha với năng suất bình quân 1,51 tấn/ha/năm (Lê Hồng Tiễn, 2006) Đến cuối năm 2007, tổng diện tích Cao su
cả nước đã đạt 549.000 ha cho tổng sản lượng 601.700 tấn (năng suất bình quân 1,612 tấn/ha) Năng suất trên diện tích do Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam quản lý đạt 1,716 tấn/ha, cao hơn năng suất các nước sản xuất cao hàng đầu như Thái Lan, Indonesia, Malaysia vốn có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn Việt Nam Trong khi năng suất của Cao su tiểu điền tại Việt Nam hiện vẫn còn thấp, bình quân đạt 1,44 tấn/ha Giá trị xuất khẩu của Cao su Việt Nam không những tăng về số lượng mà còn tăng đáng kể về mặt chất lượng Trong năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu 741.000 tấn Cao su với 15 chủng loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD (Trần Thị Thúy Hoa, 2008) [28]
Sau 110 năm cây Cao su được di nhập, hiện nay nước ta đang đứng thứ
6 trên thế giới về sản lượng Cao su thiên nhiên và thứ 4 về xuất khẩu Cao su thiên nhiên Trong các vùng trồng Cao su chính ở Việt Nam, Đông Nam Bộ chiếm 67,4% về diện tích nhưng đóng góp đến 78,55% về sản lượng, đồng thời cũng là vùng đạt mức năng suất cao nhất nước Trong khi tại Tây Nguyên
và miền Trung là vùng có điều kiện khí hậu ít thuận lợi thì cây Cao su vẫn phát triển và đạt sản lượng bình quân tương ứng là 1,360 – 1,172 tấn/ha
Tuy nhiên, có thể thấy rõ có sự chênh lệch khá lớn giữa năng suất vườn
Trang 18Nam (VRG), là đơn vị có năng lực và tích cực áp dụng kịp thời các tiến bộ
kỹ thuật trong canh tác cây Cao su với năng suất bình quân đạt 1,8 tấn/ha vào năm 2007 VRG đã thành lập câu lạc bộ 2 tấn để khuyến khích các đơn
vị thành viên có biện pháp nâng cao sản lượng, tính đến cuối năm 2007 với
6 công ty gồm 61 nông trường đã đạt năng suất bình quân trên 2 tấn/ha (VRG,2007) [22]
Tác giả Tống Viết Thịnh đã có công trình nghiên cứu về đánh giá phân hạng sử dụng đất trồng Cao su Theo tác giả căn cứ vào mức độ hạn chế của 9 chỉ tiêu khí hậu ( chế độ mưa, cân bằng nước, chế độ nhiệt, sương mù và tốc
độ gió) và 10 chỉ tiêu đất ( tầng dày, thành phần cơ giới, độ phì, sỏi đá và độ dốc) Áp dụng nguyên tắc của FAO để phân hạng sử dụng đất trồng Cao su bao gồm 3 hạng đất phù hợp và 2 hạng đất không phù hợp Từ năm 1990 đến nay, tại các công ty Cao su Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã ứng dụng thành công trên diện tích rộng Trên các diện tích áp dụng phân hạng đất trồng Cao
su theo FAO, các cơ sở áp dụng để định suất đấu và khoán vườn cây hợp lý
và hiệu quả hơn, không còn xảy ra hiện tượng vườn Cao su bị thanh lý do trồng trên đất kém Tiến độ này đã được Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) chính thức đưa vào áp dụng trong toàn ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [17]
Cũng tác giả này đã nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây Cao su theo phương pháp chuẩn đoán dinh dưỡng Căn cứ vào mức độ thiếu hụt, thặng dư và tỷ lệ cân đối của từng nguyên tố dinh dưỡng qua phân tích và đánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong đất và lá trên vườn cây Cao su theo các thang chuẩn và căn cứ vào hiện trạng vườn cây (giống, năng suất, sinh trưởng
và lịch sử chăm sóc, bón phân của vườn cây) để đề xuất liều lượng và tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng hợp lý, tạo ra sinh trưởng và năng suất mủ vườn cây đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật tối ưu Từ năm 2002 đến nay, đã ứng dụng thành công trên diện rộng tại các công ty Cao su Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Trên các diện tích áp dụng bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng đã
Trang 19mang lại các hiệu quả: tiết kiệm phân bón, gia tăng, ổn định sinh trưởng và sản lượng mủ trong nhiều năm Với các kết quả trên, từ năm 2004 VRG đã chính thức đưa kỹ thuật bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng vào quy trình của ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [18].
Về kỹ thuật khai thác, chăm sóc cây Cao su cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu Năm 2004, Tổng công ty Cao su Việt Nam đã xuất bản Quy trình
kỹ thuật cây Cao su Trong quy trình này đã quy định rõ các biện pháp kỹ thuật trong quy trình sản xuất, quy trình khai thác mủ và chăm sóc cây Cao
su, quy trình bảo vệ thực vật, phân hạng đất trồng Cao su Những năm tiếp theo các nhà nghiên cứu đã không ngừng đưa ra các cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và sản lượng Cao su Tác giả Hà Văn Khương – 2006 [10], đã nghiên cứu để áp dụng các tiến bộ KHKT vào vườn Cao su của Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam
Ở Việt Nam cây Cao su được phát triển trên nhiều vùng khác nhau, ngoài vùng truyền thống tại Đông Nam Bộ còn có Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Tây Bắc Theo Nguyễn Thị Huệ - 1997, Cao su là loài cây dài ngày, được độc canh trên diện tích lớn trong vùng có khí hậu nóng ẩm nên đã
có nhiều bệnh xuất hiện và gây hại làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng
và sản lượng của cây Cao su Tác giả Phan Thành Dũng đã theo dõi trong thời gian từ 1996 – 2005, có 7 loại bệnh hại chính ảnh hưởng đến sinh trưởng và sản lượng cây Cao su, trong đó có 3 loại mới xuất hiện là nứt vỏ do nấm
Botrydiplodia theobromae Pat (1998), bệnh rụng lá Corynespora (1999) và rễ
nâu do nấm Phellinus (Corner) G.H.Cunn (2002) Các loại bệnh gây hại cho
cây Cao su tại nước ta chủ yếu do nấm và một số tác nhân không truyền nhiễm khác, không có mycoplasma, virut, vi khuẩn, tuyến trùng (Phan Thành Dũng, 2006) [3]
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào trồng Cao su nên diện tích đất thuộc vùng truyền thống đã không còn đáp ứng được, đã có
Trang 20nghiên cứu Cao su phối hợp với Trung tâm cây ăn quả Phú Hộ nay thuộc Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã đưa vào khảo nghiệm hàng chục giống Cao su tại Phú Hộ (Phú Thọ, vĩ độ 21,27oB) Qua kết quả theo dõi cho thấy tại Phú Hộ với điều kiện khí hậu môi trường đặc trưng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (khí hậu lạnh, mùa đông kéo dài, gió lốc…ảnh hưởng xấu đến Cao su) Nhưng tập đoàn Cao su hiện có tại đây vẫn sinh trưởng và phát triển tương đối tốt và hiện tại đang cho khai thác mủ với năng suất tương đối ổn định đạt 60 – 70% năng suất bình quân Cao su của Đông Nam Bộ.
Năm 1996, Nguyễn Hải Đường có công trình “ Phòng trừ sâu bệnh và
cỏ dại cho cây Cao su ”
Năm 1997, Nguyễn Khoa Chi có công trình “ Kỹ thuật trồng, chăm sóc
Sau này các tác giả như Trần Hợp, Ngô Văn Hoàng, Đặng Đình Bôi,…cũng đưa ra một số công trình nghiên cứu về cây Cao su
1.3 Một số nhận xét chung nghiên cứu về lập biểu thể tích và loài cây Cao su
1.3.1 Nhận xét về lập biểu thể tích
Kết quả nghiên cứu về lập biểu thể tích cho thấy vấn đề lập biểu thể tích cho các loài cây trồng rừng đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Trong đó 2 phương pháp đường sinh và tương quan đã được nhiều tác giả sử
Trang 21dụng để lập biểu cho nhiều loài cây thuộc cả hai đối tượng rừng trồng và rừng
tự nhiên Các kết quả thu được về lập biểu đã được ứng dụng nhiều trong thực tiễn sản xuất kinh doanh để xác định trữ lượng lâm phần Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đã góp phần hoàn thiện bảng biểu và xác định được phương pháp hợp lý cho lập thể tích thân cây cho từng đối tượng rừng Với loài cây Cao su khi gỗ đang được các nhà kinh doanh quan tâm để ứng dụng trong thực tiễn sản xuất thì việc xác định nhanh được trữ lượng gỗ của một lâm phần là một việc cấp thiết Tuy nhiên, các nghiên cứu về lập biểu để xác định nhanh trữ lượng chưa được nhiều tác giả quan tâm Với những lý do trên, Khóa luận nghiên cứu các phương pháp lập biểu thể tích và lựa chọn được phương pháp hợp lý nhất cho việc lập biểu sẽ góp phần quan trọng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rừng Cao su
1.3.2 Nhận xét chung về nghiên cứu loài cây Cao su
Qua các nghiên cứu về cây Cao su trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy các kết quả thu được mới chỉ tập trung nghiên cứu về khả năng thích ứng với môi trường, chống chịu với bệnh tật, kỹ thuật canh tác, khả năng nảy mầm của hạt giống, năng suất mủ, hiệu quả kinh tế, năng suất gỗ…mà chưa có được nghiên cứu cụ thể về xác định các mối quan hệ giữa thể tích thân cây với các nhân tố điều tra như đường kính, chiều cao…nhằm mục đích lập biểu thể tích cho cây Cao su hay xác định trữ lượng của lâm phần Với yêu cầu về
sử dụng gỗ Cao su ngày càng cao thì việc xác định được trữ lượng gỗ là một việc làm cần thiết Do vậy việc lập được biểu thể tích cho loài Cao su hiện nay là một việc mang ý nghĩa khoa học và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài tiếp tục đi sâu tìm hiểu một số quan hệ giữa thể tích với các nhân tố điều tra, lập biểu thể tích cho cây Cao su bằng nhiều phương pháp trên cơ sở thử nghiệm để tìm ra phương pháp tốt nhất cho lập biểu nhằm mục đích góp phần hoàn thiện bảng biểu trong điều tra trữ
Trang 22Hướng xây dựng các loại biểu thể tích cho Cao su được tập trung trên
cơ sở : xây dựng biểu thể tích được sử dụng cả hai phương pháp : phương pháp tương quan và phương pháp đường sinh Trong đó phương pháp tương quan dựa trên các nhóm nhân tố độc lập ( chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành và đường kính ngang ngực) để từ đó xác định biểu thể tích một nhân tố
và hai nhân tố, việc sử dụng các phương trình tương quan để xác định các mối quan hệ giữa thể tích với các nhân tố còn lại được dựa trên những phương trình đã được nghiên cứu và đề xuất trước đó Phương pháp đường sinh dựa trên phương pháp xác định bậc phương trình đường sinh thân cây, sau đó xác định hình số tự nhiên f01 và áp dụng vào xác định thể tích thân cây
Trang 23Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát :
Góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống bảng biểu phục vụ công tác điều tra và kinh doanh gỗ rừng cao su trồng thuần loài tại một số tỉnh miền Đông Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung
* Mục tiêu cụ thể :
Lập được biểu thể tích thân cây cao su trồng thuần loài tại một số tỉnh miền Đông Nam Bộ theo một số phương trình khác nhau, theo biểu 1 nhân tố
và biểu 2 nhân tố
2.2 Giới hạn của đề tài
- Địa điểm: Đề tài tập trung nghiên cứu cây Cao su tại 2 tỉnh là tỉnh Bình Phước ( Nông lâm trường Tiến Thành, Nông lâm trường Công ty cao su Bình Long), tỉnh Đồng Nai ( Nông lâm trường Bình Lộc, Trảng Bom)
- Đối tượng: Chỉ nghiên cứu cây Cao su tuổi 25 – 30 lúc mà lượng mủ trong cây còn ít; sinh trưởng đường kính, chiều cao chậm Đây chính là thời điểm để khai thác lấy gỗ
2.3 Nội dung
2.3.1 Nghiên cứu chung về mối quan hệ giữa các yếu tố có liên quan đến quy trình lập biểu thể tích
2.3.1.1 Kiểm tra sự thuần nhất về hình dạng của loài cao su
2.3.1.2 Nghiên cứu về quy luật phân bố của hình số tự nhiên f 01
2.3.1.3 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa các yếu tố cấu thành biểu thể tích
- Loại bỏ số liệu ngoại lai
Trang 24- Nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực
- Nghiên cứu tương quan giữa đường kính ngang ngực có vỏ và đường kính ngang ngực không vỏ
- Nghiên cứu tương quan giữa chiều cao dưới cành và đường kính ngang ngực
2.3.2 Xây dựng biểu thể tích một nhân tố thân cây vút ngọn và dưới cành cho loài Cao su tại khu vực nghiên cứu
2.3.2.1 Lập biểu thể tích thân cây vút ngọn một nhân tố
- Lập biểu thể tích thân cây với đường kính ngang ngực
- Kiểm tra biểu thể tích một nhân tố
2.3.2.2 Lập biểu thể tích thân cây dưới cành một nhân tố
- Lập biểu thể tích thân cây dưới cành với đường kính ngang ngực
- Kiểm tra biểu thể tích thân cây dưới cành một nhân tố
2.3.3 Lập biểu thể tích thân cây hai nhân tố vút ngọn và dưới cành
2.3.3.1 Lập biểu thể tích hai nhân tố theo phương pháp tương quan
- Lập biểu thể tích thân cây vút ngọn hai nhân tố
- Lập biểu thể tích thân cây dưới cành hai nhân tố và kiểm tra biểu thể tích
2.3.3.2 Lập biểu thể tích theo hình số tự nhiên và đường kính, chiều cao
- Lập phương trình đường sinh thân cây
- Lập biểu thể tích và kiểm tra biểu thể tích
2.3.4 Lựa chọn biểu thể tích và hướng dẫn sử dụng biểu thể tích
2.3.4.1 Lựa chọn biểu thể tích
2.3.4.2 Hướng dẫn sử dụng biểu thể tích
2.3.5 Tính tỷ lệ phần trăm thể tích gỗ cành với thể tích thân cây
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cơ sở lý luận
Trên quan điểm nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất kinh doanh rừng thì trong quá trình nghiên cứu, đề tài cũng kế thừa những thành quả nghiên cứu
Trang 25của các tác giả đi trước làm cơ sở lựa chọn những mô hình toán học phù hợp, đảm bảo độ chính xác cho phép và đơn giản khi sử dụng.
Trong quá trình nghiên cứu cần áp dụng phương pháp toán học thống
kê hiện đại, trên cơ sở tôn trọng các quy luật sinh vật học của cây rừng và lâm phần Với nguyên tắc chung là các phương pháp được sử dụng bao gồm cả những phương pháp kế thừa phải thống nhất từ bước thu thập số liệu đến xây dựng và đánh giá mô hình lý thuyết
2.4.1.1.Sự cần thiết về nghiên cứu tương quan trong lập biểu thể tích
Trong công tác điều tra rừng, việc nghiên cứu các quy luật tương quan giữa các đại lượng của cây trong lâm phần, cũng như tìm hiểu và nắm vững quy luật này là hết sức cần thiết Trong đó, quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính là một trong những quy luật cấu trúc cơ bản nhất Thông qua quy luật này, kết hợp với một số quy luật tương quan f1.3/d, h; V/d…có thể xác định được các đại lượng khó đo đạc như chiều cao, hình số, thể tích thân cây đứng từ các đại lượng dễ đo đạc hoặc tính toán đơn giản hơn Hơn nữa, chiều cao là một trong những nhân tố cấu thành thể tích thân cây và trữ lượng lâm phần và nó cũng là một nhân tố cấu thành các bảng biểu chuyên dụng phục vụ cho công tác điều tra, kinh doanh lợi dụng rừng Mặt khác, việc
đo chiều cao rất phức tạp và khó khăn vì thế khi xác định được dạng tương quan và đưa ra được các phương trình tương quan cụ thể có thể tiết kiệm được thời gian trong việc đo và đảm bảo được độ chính xác của mục tiêu đề ra Chính vì vậy, quy luật này đã được nhiều nhà Lâm Học, Điều tra rừng quan tâm nghiên cứu cho các đối tượng khác nhau như: Đồng Sỹ Hiền (1971), Vũ Văn Nhâm (1988), Phạm Ngọc Giao (1996), Nguyễn Trọng Bình (1998)…Về
cơ bản các tác giả đều đưa ra nhận định: giữa chiều cao vút ngọn và đường kính của những cây trong lâm phần đều tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ Các dạng phương trình biểu diễn cho tương quan này cũng rất đa dạng và vấn đề đặt ra là làm sao để tìm và xác định được một phương trình phù hợp nhất
Trang 262.4.1.2 Phương pháp luận về lập biểu thể tích cho thân cây cao su
Biểu thể tích thân cây là biểu ghi thể tích thân cây theo từng tổ hợp kích thước đường kính và chiều cao tương ứng với một hình dạng trung bình nào đó Để xây dựng được hoàn chỉnh một biểu thể tích cho rừng trồng nói chung và rừng Cao su nói riêng – là loài cây mà việc lập biểu thể tích là một việc mới và chưa có nhiều công trình nghiên cứu Vì vậy khi thực hiện đề tài, cần vận dụng phương pháp lập biểu đã được thừa nhận Đồng thời cố gắng xây dựng biểu theo hướng bổ sung hoàn chỉnh biểu thể tích toàn quốc hiện hành nhằm thuận tiện cho người sử dụng khi xác định trữ lượng cho rừng Cao su
Trong điều kiện hạn chế về nguồn tài liệu thực nghiệm, đề tài cần triệt
để ứng dụng phương pháp toán học thống kê và sử dụng các chương trình tính toán tự động trên máy vi tính để xử lý số liệu và xây dựng những kết luận mang tính khách quan, đảm bảo độ tin cậy nhất định Mức sai số dự kiến là: khi dùng biểu xác định thể tích một bộ phận thân cây riêng lẻ sai số trung bình không vượt quá ± 20%
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập phục vụ đề tài được kế thừa từ nguồn số liệu của đề tài cấp Bộ: Lập biểu thể tích thân cây Cao su trồng thuần loài tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ
Các bước tiến hành thu thập số liệu được trình bày sơ lược như sau:
- Bố trí và lập các OTC điển hình với diện tích OTC bằng 2000m2
- Đo đường kính ngang ngực của toàn bộ các cây có trên OTC, dùng thước kẹp kính hay thước dây (đo chu vi)
- Đo chiều cao vút ngọn bằng thước đo cao Blumley hoặc thước Vertex
- Đo đường kính tán bằng thước dây
- Đo chiều cao dưới cành bằng sào và thước dây
- Quy trình đo các chỉ tiêu trên tuân theo quy định của Bộ môn điều tra quy hoạch
Trang 27- Chọn cây tiêu chuẩn thích hợp để tiến hành chặt ngả: cây tiêu chuẩn được chọn là những cây có sinh trưởng bình thường, cây không cong queo, không sâu bệnh, không bị tổn thương, không cụt ngọn, tán cân đối Căn cứ vào phân bố N/D để chọn cây tiêu chuẩn Tại cỡ kính nào tập trung nhiều cây thì chọn nhiều cây tiêu chuẩn.
Sau khi lựa chọn được cây tiêu chuẩn tiến hành chặt ngả và thu thập số liệu của các cây như sau:
+ Chặt cây tiêu chuẩn, đo chiều dài men thân và chia thân cây thành 10 đoạn có độ dài tương đối bằng nhau theo vị trí 00; 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09
+ Đo chu vi có vỏ của từng đoạn và độ dày vỏ rồi suy ra đường kính.+ Đo chiều cao dưới cành
+ Đo đường kính D1.3 và đường kính dưới cành: đo chu vi rồi suy ra đường kính D1.3 và đường kính dưới cành với đơn vị tính là cm
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu của đề tài được tính toán và xử lý trên máy vi tính với công cụ là bảng tính Excel 2003 và phần mềm SPSS 13.0
2.4.3.1 Kiểm tra sự thuần nhất về hình dạng của cây Cao su
Để lựa chọn việc lập biểu chung hay riêng phải tiến hành kiểm tra sự thuần nhất của các loại hình số thân cây theo địa phương và theo giống trồng dựa vào các tiêu chuẩn thống kê: ở đây ta sử dụng tiêu chuẩn U của Mann Whiteney ( kiểm tra giữa 2 biến)
- Tính thể tích thân cây theo phương pháp kép tiết diện:
10
24
2 09
2 02
2 01
2
d d
d
d V
f = c (2.2)
Trang 28V D H vn
4
2 01 01
π
= (2.3)Đường dẫn vào chương trình trong SPSS được thực hiện theo trình lệnh:
Analyze/ Nonparametric test/ 2 Independent samples/ Mann – Whitney/ Ok.
2.4.3.2 Nghiên cứu về quy luật phân bố của hình số tự nhiên f 01
Số liệu thu thập được sử dụng để xác định f01 cho từng cây, sau đó sử dụng phương pháp kiểm tra bằng tiêu chuẩn Kolmogorow Smirnov
Kiểm tra luật phân bố chuẩn của hình số tự nhiên để có cơ sở khẳng định giá trị trung bình của f01 ở mỗi loài cây có đại diện tốt cho các cây trong loài hay không
Kiểm tra luật phân bố chuẩn theo tiêu chuẩn K – S trong SPSS như sau:
Analyze/ Nonparametric tests/ Sample K – S.
2.4.3.3 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa các yếu tố cấu thành biểu thể tích
a Loại bỏ số liệu ngoại lai
Quá trình này là quá trình lọc bỏ những giá trị điều tra quan sát cá biệt nằm cách xa trung vị trong tổng thể số liệu quan sát, nhằm mục đích làm cho dãy số liệu quan sát theo đúng quy luật của nó Lọc bỏ số liệu thô giúp kết quả nghiên cứu được đại diện đồng thời thể hiện đúng các quy luật của nó
Ứng dụng phần mềm SPSS trong quy trình sàng lọc số liệu thô cho độ chính xác cao và nhanh chóng Đường dẫn vào chương trình lọc số liệu thô
của SPSS được thực hiện theo trình lệnh: Analyze/ Descriptive Statistics/
Explore.
b Nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao vút ngọn với đường kính ngang ngực
Trang 29Kế thừa những nghiên cứu trước của nhiều tác giả, sử dụng năm dạng hàm thông dụng và được sử dụng nhiều nhất trong việc biểu diễn mối quan hệ H/D bao gồm: hàm đường thẳng, hàm Logarit, hàm bậc hai và hàm bậc ba
Hàm Linear (đường thẳng): H = a+a1D (2.4)Hàm Logarithmic (Logarit): H = a + a1ln D (2.5)Hàm bậc hai (Quadratic): H = a + a1D + a2D2 (2.6)Hàm bậc ba (Cubic): H = a + a1D + a2D2 + a3D3 ( 2.7)Hàm Power: H = a Db (2.8) Quá trình thực hiện việc xây dựng tương quan trong SPSS dựa trên quy
trình: Analysis/ Regression/ Linear hoặc Nonlinear hoặc Curve Estimation.
c Nghiên cứu tương quan giữa đường kính ngang ngực có vỏ và đường kính ngang ngực không vỏ
Những nghiên cứu của các tác giả đi trước đã chỉ ra rằng giữa đường kính ngang ngực có vỏ và đường kính ngang ngực không vỏ cũng tồn tại một mối quan hệ khá chặt chẽ Tác giả sử dụng 5 dạng hàm chính (2.4), (2.5), (2.6), (2.7), (2.8) để xây dựng quan hệ giữa hai yếu tố này
d Nghiên cứu tương quan giữa Hdc và D1.3
Cũng giống với một số mối tương quan khác, giữa chiều cao dưới cành
và đường kính ngang ngực thường có mối quan hệ khá chặt chẽ Cũng giống với nghiên cứu tương quan Hvn/D1.3, để nghiên cứu tác giả đã sử dụng 5 dạng hàm (2.4), (2.5), (2.6), (2.7), (2.8) để xác định tương quan giữa Hdc và D1.3
2.4.3.4 Lập biểu thể tích một nhân tố thân cây vút ngọn và dưới cành cho loài Cao su tại khu vực nghiên cứu
- Dựa vào số liệu đã thu thập tính thể tích thân cây theo phương pháp kép tiết diện bình quân với 10 đoạn có độ dài tuyệt đối bằng nhau:
10
24
2 09
2 02
2 01
2
d d
d
d V
Trang 30Trong đó V: thể tích thân cây; h: chiều cao thân cây
D a a
2 2 1
0 a D a D a
3 3
2 2 1
a
b kD
Trang 31H D a a
1 0
2 1
a a
H D a H a D a a
3 2
1 0
1 0
Phương trình (2.18) được quy đổi về dạng thể tích bằng cách lấy logarit
cơ số 10 hai vế, phương trình (2.18) trở thành phương trình (2.23)
( 2)
1
a LogV = +
( )a DH k
Phương trình (2.20) được quy đổi thành phương trình dạng (2.24)
a a LogV = 0 + 1log + 2log
b
a H D k
Thông qua phần mềm chuyên dụng SPSS và bảng tính Excel để xác định được phương trình tối ưu Quy trình lựa chọn cũng tương tự như phần 2.5.3.3
2.4.3.6 Lập biểu thể tích thân cây theo hình số tự nhiên f 01 và đường kính, chiều cao
* Lập phương trình đường sinh
Thử nghiệm dạng phương trình đường sinh tổng quát như sau:
0
Trong đó: a0, a1, an là hệ số của phương trình đường sinh
Trang 32- Các tham số của phương trình được xác định dựa vào tương quan
tuyến tính thực hiện bằng phần mềm Excel theo quy trình: Data/ Analysis/
Regession.
- Lựa chọn bậc phương trình: bậc phương trình phù hợp khi thỏa mãn các điều kiện:
+ Có hệ số xác định R2 cao
+ Các tham số tồn tại trong tổng thể
- Phương trình đường sinh phải đi qua gốc tọa độ (0;0), do vậy người ta loại bỏ tham số a0 của phương trình Sau khi loại bỏ ta có:
Trong đó: n là bậc của phương trình đường sinh thân cây
- Sau đó chia vế phải của phương trình đường sinh đã lập được cho Y tại X=0,9 Khi X=0,9 thì Y=1 nhưng do hệ số tương quan R< 1 và sai số làm tròn nên thay X=0,9 vào phương trình được Y bằng bao nhiêu thì chia phương trình đường sinh cho giá trị đó, ta được phương trình đường sinh đã hiệu chỉnh:
( ) ( ) ( ) Y( )n X n
a X
Y
a X
Y
a X Y
a Y
9 0
9 0 9
0 9
0
3 3 2
01
4
.H f D H f g
(2.29)
Trang 33D01 là đường kính ở vị trí 1/10 chiều dài thân cây
Để thuận tiện cho tính toán vì trong thực tế thường đo D1.3 nên công thức trên có thể biến đổi thành công thức:
2
2 3 1 4
01 4.10 q H
H D f
( vì
01
3 1 3 1
D
D K
2 1
01
2 3 1 4
3 1 1
3 1 1 3 1 1
4 10
H
a H
a H a
f H
D V
π
(2.31)
2.4.3.7 Kiểm tra đánh giá các biểu đã lập
Đánh giá các biểu đã lập thông qua 4 chỉ tiêu:
Trong các công thức (2.30); (2.31); (2.32); (2.33) đều có
tínhtoán
tínhtoán bieu
Kết quả của các biểu sẽ được kiểm nghiệm lại thông qua số liệu của
Trang 34Biểu được lập theo phương pháp có sai số nằm trong giới hạn cho phép,
có độ chính xác cao nhất và đơn giản trong sử dụng
2.4.3.8 Tính tỷ lệ phần trăm thể tích gỗ cành với thể tích thân cây
cây
cành cành
V
V
Vcành: thể tích cành của những cành có d >= 6cm; Vcây : thể tích thân cây
2.5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng Cao su trồng thuần loài tại Đông Nam Bộ tuổi từ 25 – 30
2.5.1 Đặc điểm cây Cao su
2.5.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm sinh lý, sinh thái
Cây Cao su thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae) là một loài cây công nghiệp có giá trị, được phát hiện từ thế kỷ 19 có nguồn gốc từ vùng Amazon (Nam Mỹ), được trồng ở một số vùng nhiệt đới như Châu Mỹ La tinh, Châu
Á, Châu Phi Cây Cao su được phân bố chủ yếu từ 240 vĩ độ Bắc đến 230 vĩ độ Nam, ở những nơi có độ cao thấp (khoảng 300m), có khí hậu nóng ẩm, ít biến động, nhiệt độ từ 230C – 350C, lượng mưa phân bố đều 1800 – 2500 mm/năm Các rừng Cao su sinh trưởng tốt nhất trên các đất thịt sâu, thoát nước tốt, pH
Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây Cao su ở Việt Nam Công
ty Cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907 Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty Cao su ra đời, chủ
Trang 35yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin…Một số đồn điền Cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn
Cây Cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh
Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây Cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ) Trong những năm
1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến 6.000 ha
Đến năm 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha
Sau 1975, cây Cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ
Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới Cao su, thoạt tiên
do các nông trường quân đội, sau 1985 do các nông trường quốc doanh, từ
1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng Cao su Ở miền Trung sau năm 1984, cây Cao su được phát triển ở Quảng Trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh
Đến năm 1999, diện tích Cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2% Năm 2004, diện tích Cao su cả nước là 454.000
ha, trong đó Cao su tiểu điền chiếm 37% Năm 2005, diện tích Cao su cả nước
là 464.875 ha
Năm 2007 diện tích Cao su ở Đông Nam Bộ là 339.000 ha, Tây Nguyên 113.000 ha, trung tâm phía Bắc 41.500 ha và duyên hải miền Trung 6.500 ha Vào khoảng tháng 05/2010 có một số bệnh lạ khiến người dân khốn khổ, bệnh bắt đầu có biểu hiện như nhẹ thì vàng lá, nặng hơn một chút thì
Trang 36Cây Cao su là cây trồng lâu năm, ưa khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ thích hợp 25 – 300C Trên 400C cây dễ bị khô héo, dưới 100C nhiều giờ cây dễ
bị rụng lá và ngừng sinh trưởng Cây Cao su sinh trưởng tốt ở nơi có lượng mưa 1500 – 2500 mm/năm Đất thịt, thoát nước với độ pH 4,5 – 5,5 Tầng đất dày, độ dốc nhỏ, độ cao dưới 600m so với mực nước biển Qua nghiên cứu sinh trưởng về đường kính và chiều cao cho thấy, các đại lượng này sinh trưởng nhanh từ sau khi trồng đến tuổi 20, 25 Khác với cây lâm nghiệp, mật độ khi trồng thường rất lớn, trong quá trình chăm sóc tiến hành tỉa thưa 1 – 2 lần
2.5.1.2 Đặc điểm hình thái cây Cao su
Cao su là cây thân mộc sống lâu năm, khi hoang dại mật độ thưa thớt
có chu kỳ sống trên 100 năm Khi được nhân giống và trồng trong sản xuất thì chu kỳ sống được giới hạn từ 30 – 35 năm Cây Cao su có thân thẳng, phân cành thấp, gỗ tương đối mềm Thân là thành phần kinh tế chính của cây Cao
Hoa Cao su thuộc loại đơn tính, đồng chu, thụ phấn chéo (hoa đực và hoa cái mọc riêng rẽ trên cùng một cành)
Quả Cao su thuộc dạng quả nang có 3 buồng, mỗi buồng chứa một hạt Khi còn non có màu xanh biếc, phía trong có các hạt Khi chín quả tự nứt, hạt
có thể tự tách ra ngoài
Trang 37Hạt Cao su hình trứng kích thước khoảng 2cm Trên hạt có các vân xám loang lổ Phía trong là lớp vỏ lục màu trắng đục, nhân màu trắng vàng gồm phôi nhũ và cây mầm Hạt Cao su có chứa tỷ lệ dầu khá cao nên thời gian bảo quản hạt trước khi gieo tương đối ngắn Cây Cao su còn có thể được tạo ra từ hạt, hom cành và công nghệ nuôi cấy mô.
Bộ rễ Cao su: Cao su vừa có rễ cọc vừa có rễ bàng, rễ cọc (dài khoảng
3 – 5 m) cắm sâu vào đất chống đổ ngã và hút nước, dinh dưỡng từ tầng đất sâu Hệ thống rễ bàng phát triển rất rộng (từ 4 – 6m) và phần lớn tập trung ở tầng canh tác, nhiệm vụ chủ yếu là hút nước và hút dinh dưỡng Bộ rễ Cao su chiếm 10 – 15% tổng sinh khối của cây
2.5.1.3 Giá trị sử dụng
Ở Việt Nam trước đây, Cao su chỉ được biết đến với giá trị về mủ và hạt còn gỗ thì chỉ để làm chất đốt Mủ Cao su là một trong những nguyên liệu chủ yếu của công nghiệp hiện đại sau than đá, dầu mỏ và gang thép Mủ Cao
su có 2 loại:
Mủ nước: là loại mủ lấy được sau khi cạo thu gom lại đưa về nhà máy ngay trong ngày
Mủ đông: là loại mủ được đóng đông từ mủ nước
Ngoài mủ thì hạt Cao su cũng có giá trị khá cao, mỗi ha Cao su trưởng thành cho từ 400 – 500 kg hạt/năm Hạt Cao su được ép thành dầu phục vụ cho chế biến sơn, xà phòng, pha chế tạo ra các loại keo dán gỗ, nhựa…
Cây Cao su khi không còn cho mủ sẽ được thanh lý Gỗ Cao su thích hợp cho sản xuất ván ghép thanh và hàng mộc là chủ yếu vì chúng có tính chất cơ học tốt: sức chịu ép, chịu kéo, chịu trượt, chịu uốn và sức chịu tách
Do tính chất của cây Cao su, gỗ Cao su có đặc điểm nhẹ nhưng rất cứng, nhiều vân đáp ứng được nhu cầu về trang trí, mỹ thuật cho sản phẩm
Ngày nay gỗ Cao su càng được dùng rộng rãi và đáp ứng được những yêu cầu khắc khe của ngành gỗ công nghiệp chế biến
Trang 382.5.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.5.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý:
Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Nằm từ vĩ độ
10020 – 12005’ vĩ độ Bắc đến 105050 – 107040 Kinh Đông
Phía Bắc giáp Tây Nguyên, Nam Trung Bộ
Phía Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long
Phía Tây giáp Campuchia
Phía Đông giáp biển Đông
Hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh gồm quốc lộ 1, quốc lộ 13, quốc lộ 51… Chất lượng đường khá tốt, rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng
* Khí hậu:
Đông Nam Bộ có khí hậu theo chế độ gió mùa cận xích đạo rất ít bão
và không có mùa đông giá rét Có hai mùa rõ rệt trong năm là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân năm từ 250C – 270C Lượng mưa từ 1300 – 2000 mm/năm Số ngày mưa từ 140 – 160 ngày
* Đất đai: Đông Nam Bộ có 2 loại đất chính là đất xám bạc màu phát
triển trên phù sa cổ và đất đỏ bazan
Đất xám bạc màu trên phù sa cổ nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng
độ cao 30 – 50m so với mực nước biển gồm các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu Đất tơi xốp, có thành phần cơ giới nhẹ, đất khá chua độ pH = 3,9 – 4,2
Đất đỏ bazan nằm ở độ cao lớn hơn từ 100 – 200m so với mực nước biển Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, khả năng giữ ẩm tốt, pH = 4,3 – 4,5 Gồm các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh Đất giàu chất hữu cơ, hàm lượng mùn trung bình Diện tích đất đai các tỉnh Đông Nam Bộ được thể hiện qua bảng 2.1 :
Trang 39Bảng 2.1 Phân bố đất đai các tỉnh Đông Nam Bộ
Nhìn chung: Đông Nam Bộ có nhiều thuận lợi về tài nguyên, đất đai
phong phú, địa hình tương đối bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới ôn hòa, cơ sở hạ
Trang 40công nghiệp nói chung và cây Cao su nói riêng Bên cạnh đó, nguồn nhân lực tại khu vực có 60% là người trong độ tuổi lao động và chủ yếu làm trong lĩnh vực nông lâm nghiệp Do đó, sẽ tận dụng được nguồn nhân lực dồi dào và sẵn
có tạo được nhiều thuận lợi và giảm được chi phí trong sản xuất kinh, doanh
2.5.3 Đặc điểm rừng Cao su tại khu vực nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là rừng Cao su trồng thuần loài, đều tuổi Giống Cao su chủ yếu là hai giống PB235 và GT1
- Mật độ trồng thường nhỏ: từ 500 – 520 cây/ha
- Mật độ trồng được giữ nguyên cho đến khi kết thúc chu kỳ kinh doanh mà không qua quá trình tỉa thưa Đối tượng nghiên cứu lập biểu thể tích là rừng Cao su đã hết chu kỳ kinh doanh mủ