PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là một dạng tài nguyên vô cùng quý giá. Từ xưa tới nay đất đai luôn gắn bó mật thiết với đời sống của con người. Đất là môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư và là nơi làm nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất của con người. Đối với các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp của con người thì đất đai không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Và ngày nay khi quỹ đất càng khan hiếm thì tấc đất tấc vàng. Rừng là một hệ sinh thái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người cũng như vô số loài sinh vật khác. Rừng cung cấp rất nhiều lâm sản, giúp duy trì cân bằng sinh thái, phòng hộ và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cây rừng muốn sinh trưởng và phát triển tốt phải phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện đất đai. Đất tốt, độ phì cao, khá năng thấm và giữ nước tốt thì mới đảm bảo cho cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt. Ngược lại, sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng cũng tác động trở lại đối với đất, đối với các tính chất lý hoá học của đất có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Tác động tích cực thông qua các vật rơi rụng để trả lại chất hữu cơ làm giàu cho đất, bảo vệ đất trước những tác động xấu của môi trường xung quanh. Tác động tiêu cực có thể là do trong quá trình sống cây rừng tiết ra một số chất hoá học làm đất bị suy thoái. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài cây trồng lâm nghiệp đến tính chất lý hoá học của đất là việc làm cần thiết và có ý nghĩa rất lớn về khoa học cũng như trong thực tiễn sản xuất, để từ đó có thể đề xuất ra các giải pháp nhằm quản lý và sử dụng đất có hiệu quả cao hơn. BQL rừng phòng hộ Nam Đàn thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là nơi có tiềm năng phát triển rất lớn với quỹ đất dồi dào và nguồn nhân lực trình độ cao. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với BQL không những là nâng cao độ che phủ của rừng mà còn phải nâng cao hiệu quả mà rừng mang lại, phát huy tối đa súc sản xuất của rừng và đất rừng. Hiện nay tại BQL chưa có các nghiên cứu sâu về đất, các nghiên cứu chỉ mang tính khái quát cụ thể cho khu vực nên gây khó khăn cho công tác trồng rừng, đặc biệt trong khâu lựa chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai ở đây. Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện khoá luận: Nghiên cứu ảnh hưởng của 2 loại rừng trồng: Thông Nhựa (Pinus merkusii), Keo Lá Tràm (Acacia auriculiformis) đến tính chất lý hoá học của đất, đồng thời đánh giá mức độ thích hợp của chúng tại khu vực rừng phòng hộ Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai và quản lý, sử dụng đất bền vững ở khu vực BQL rừng phòng hộ Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là một dạng tài nguyên vô cùng quý giá Từ xưa tới nay đất đailuôn gắn bó mật thiết với đời sống của con người Đất là môi trường sống, làđịa bàn phân bố dân cư và là nơi làm nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất củacon người Đối với các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp của con người thìđất đai không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thểthay thế được Và ngày nay khi quỹ đất càng khan hiếm thì "tấc đất tấc vàng"
Rừng là một hệ sinh thái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sốngcủa con người cũng như vô số loài sinh vật khác Rừng cung cấp rất nhiều lâmsản, giúp duy trì cân bằng sinh thái, phòng hộ và bảo vệ môi trường Tuy nhiên,cây rừng muốn sinh trưởng và phát triển tốt phải phụ thuộc rất nhiều vào điềukiện đất đai Đất tốt, độ phì cao, khá năng thấm và giữ nước tốt thì mới đảm bảocho cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt Ngược lại, sự sinh trưởng và pháttriển của cây rừng cũng tác động trở lại đối với đất, đối với các tính chất lý hoáhọc của đất có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Tác động tích cựcthông qua các vật rơi rụng để trả lại chất hữu cơ làm giàu cho đất, bảo vệ đấttrước những tác động xấu của môi trường xung quanh Tác động tiêu cực có thể
là do trong quá trình sống cây rừng tiết ra một số chất hoá học làm đất bị suythoái Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài cây trồng lâm nghiệpđến tính chất lý hoá học của đất là việc làm cần thiết và có ý nghĩa rất lớn vềkhoa học cũng như trong thực tiễn sản xuất, để từ đó có thể đề xuất ra các giảipháp nhằm quản lý và sử dụng đất có hiệu quả cao hơn
BQL rừng phòng hộ Nam Đàn thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An lànơi có tiềm năng phát triển rất lớn với quỹ đất dồi dào và nguồn nhân lực trình
độ cao Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với BQL không những là nâng cao độ che phủ
Trang 2sản xuất của rừng và đất rừng Hiện nay tại BQL chưa có các nghiên cứu sâu vềđất, các nghiên cứu chỉ mang tính khái quát cụ thể cho khu vực nên gây khókhăn cho công tác trồng rừng, đặc biệt trong khâu lựa chọn loài cây trồng phùhợp với điều kiện đất đai ở đây.
Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện khoá luận: " Nghiên cứu ảnh hưởng của
2 loại rừng trồng: Thông Nhựa (Pinus merkusii), Keo Lá Tràm (Acacia
auriculiformis) đến tính chất lý hoá học của đất, đồng thời đánh giá mức độ thích hợp của chúng tại khu vực rừng phòng hộ Nam Đàn, tỉnh Nghệ An "
nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai và quản lý, sử dụng đất bền vững ở khu vực BQL rừng phòng hộ Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 3PHẦN II
LƯỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đất rừng là một thành phần rất quan trọng cấu tạo nên hệ sinh thái rừng
Nó vừa là giá đỡ, vừa là nơi cung cấp chất dinh dưỡng giúp cây rừng sinhtrưởng và phát triển Đất rừng có mối quan hệ qua lại với tất cả các thành phầntrong hệ sinh thái, đặc biệt là quần xã thực vật rừng Sự tác động qua lại lẫnnhau giữa đất và quần xã thực vật rừng đã tạo ra hệ thống “đất - rừng - đất”, làbiểu hiện rõ nét nhất về sự tồn tại và hoạt động của hệ sinh thái rừng Ngày nay,
do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Gia tăng dân số, quá trình công nghiệphóa, đã làm cho quỹ đất sản xuất ngày càng bị cạn kiệt, trong đó có một phầndiện tích đất rừng rất lớn, làm cho tài nguyên rừng và đất rừng bị suy giảm mộtcách nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, để có những giải pháp
cụ thể trong tương lai nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất thì nhữngcông trình nghiên cứu về đất ngày càng được chú trọng Một trong những khíacạnh của công trình nghiên cứu về đất chính là nghiên cứu tính chất của đất vàđánh giá đất trong mối quan hệ với thực vật Từ trước tới nay,đã có nhiều tácgiả quan tâm tới vấn đề này, điển hình như một số công trình sau đây:
2.1 Trên thế giới
đất như sau: “Những núi đá trọc có rêu mọc xanh, sau đó lại là cơ sở phát triểncủa các loài rêu to và thực vật khác” Với nhận định này lần đầu tiênLômônôxôp đã nêu ra một cách đúng đắn sự phát triển của đất theo thời gian,
do tác động của thực vật vào đá [9]
Những năm đầu thế kỉ XIX, các nhà khoa học thổ nhưỡng đã có nhữngphương pháp cơ bản về nghiên cứu đất trong đó các nhà khoa học Nga nhưV.V.Docutraev (1846 - 1903), V.P.Viliam (1863 - 1939), Kosovic (1862 -
Trang 41915)…đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về đất nói chung và phân loạiđất nói riêng [8].
V.V.Docutraev (1979) cho rằng: Đất là vật thể tự nhiên luôn luôn biến đổi
là sản phẩm chung được hình thành dưới tác động tổng hợp của 5 nhân tố hìnhthành đất: Đá mẹ, Khí hậu, Địa hình, Sinh vật (động vật và thực vật) và thờigian Trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thực vật trong quá trình hìnhthành đất “nhân tố chủ đạo trong quá trình hình thành đất ở nhiệt đới là nhân tốthảm thực vật rừng” Bởi nhân tố thực vật là nhân tố sáng tạo ra chất hữu cơ vàkhi chết đi nó tạo thành mùn [11]
V.P.Viliam đã kết luận, vòng tuần hoàn sinh học là cơ sở của sự hìnhthành đất và độ phì nhiêu của nó Ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của sinh vậttrong việc hình thành những tính chất của đất, đặc biệt là cây xanh, vi sinh vật,thành phần và hoạt động sống của chúng ảnh hưởng tới chiều hướng của quátrình hình thành đất
Trong lĩnh vực đất rừng, đã có nhiều công trình của các tác giả trên thếgiới đi sâu nghiên cứu về tính chất của đất ở các khu vực khác nhau, ở các trạngthái khác nhau và đã rút ra được kết luận là: Nhìn chung độ phì của đất dướirừng trồng đã được cải thiện tăng dần theo tuổi (Shosh, 1978; Iha.M.N, Pande.P
và Rathore, 1984; Basu.P.K và Aparajita Mandi, 1987; Chakraborty.R.N vàChakraborty.D, 1989; Ohta, 1993) Các loài cây khác nhau có ảnh hưởng rấtkhác nhau đến độ phì của đất, cân bằng nước, sự thuỷ phân thảm mục và chutrình dinh dưỡng khoáng (Bernhard Reversat.F, 1993; Trung tâm lâm nghiệpquốc tế (CIFOR), 1998; Chandran.P, Dutta.D.R, Gupta.S.K và Baaerjee.S.K,1988) [9]
Chakraborty.R.N và Chakraborty.D (1989) đã nghiên cứu về sự thay đổitính chất đất dưới tán rừng Keo lá tràm ở các tuổi 2, 3, 4 Tác giả cho thấy rừngtrồng Keo lá tràm cải thiện đáng kể một số tính chất độ phì đất như độ chua củađất biến đổi từ 5,9 - 7,6, khả năng giữ nước của đất tăng từ 22,9 - 32,7%, chất
Trang 5hữu cơ tăng từ 0,81 - 2,7%, đạm tăng từ 0,36 - 0,5% và đặc biệt màu sắc đấtbiến đổi một cách rõ rệt từ màu nâu vàng sang màu nâu[10].
Bên cạnh những thành tựu về nghiên cứu đất thì đánh giá đất đai đã đạtđược các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, đặc biệt các nhà sử dụng đất quantâm vì đánh giá đất đai có thể giải đáp những câu hỏi quan trọng trong thực tiễnsản xuất Đó là quá trình xác định tiềm năng sản xuất của đất và mức độ thíchhợp của đất đối với một hay một số kiểu sử dụng đất và cây trồng lựa chọn đểtrồng trên loại đất đó Thấy rõ vai trò của đánh giá đất đai để l cơ sở cho côngtác quy hoạch sử dụng đất, tổ chức Nông nghiệp – Lương thực của Liên HiệpQuốc (FAO) với sự tham gia chủa các chuyên gia đầu nghành đã tổng hợp kinhnghiệm của nhiều nước để xây dựng nên đề đất cương đánh giá đất đai (FAO,1976) Tiếp đó, hàng loạt các tài liệu hướng dẫn về đánh giá đất đai trong nônglâm nghiệp được xuất bản như: Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ nước trời(FAO, 1979), Đánh giá đất đai cho lâm nghiệp (FAO, 1984)…
2.2 Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cây trồng và đất làm cơ sở cho chọnloài cây trồng cũng như đưa ra các biện pháp lâm sinh thích hợp giúp cây trồngsinh trưởng và phát triển tốt hơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ngànhLâm nghiệp Vì thế, ở nước ta đã có rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu vềđất lâm nghiệp song thành tựu đầu tiên phải kể đến đó là sự đóng góp quantrọng của Nguyễn Ngọc Bình (1970, 1979, 1986) Tác giả đã tổng kết nhữngđặc điểm cơ bản của đất dưới đai rừng, kiểu rừng, loại hình rừng ở miền bắcViệt Nam và ông đã nghiên cứu được sự thay đổi các tính chất và độ phì của đấtqua các quá trình diễn thế thái hoá và phục hồi của các thảm thực vật rừng ởmiền bắc Việt Nam (1960, 1970…)[9]
Nghiên cứu quá trình tích luỹ chất hữu cơ trong đất rừng, cũng như đặcđiểm về thành phần mùn trong các loại đất rừng, đồng thời nghiên cứu ảnhhưởng của các loại rừng khác nhau đến quá trình tích luỹ chất hữu cơ và đặc
Trang 6điểm hình thành phần mùn của đất (Nguyễn Ngọc Bình, 1968, 1978; HoàngXuân Tý, Nguyễn Đức Minh, 1978; Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, 1990…)[10].
Đỗ Đình Sâm có công trình nghiên cứu: “Cơ sở hình thái thổ nhưỡngđánh giá độ phì của đất rừng Việt Nam” đã nghiên cứu tác dụng của nhiều yếu
tố ảnh hưởng tới độ phì của đất rừng, trong đó ông nhấn mạnh tới mối quan hệgiữa đất rừng và quần xã thực vật rừng
Đỗ Đình Sâm (1984) nghiên cứu độ phì đất rừng và vấn đề thâm canhrừng trồng cho rằng đất có độ phì hoá học không cao Nơi đất còn rừng thì độphì được duy trì chủ yếu qua con đường sinh học Các trạng thái rừng khácnhau, các biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau cho thấy sự biến đổi hoá tínhkhông rõ nét (trừ yếu tố mùn, đạm) Tuy nhiên các tính chất về lý tính của đấtđặc biệt là cấu trúc và nhiệt là nhân tố dễ biến đổi và bị ảnh hưởng nhiều, có lúcquyết định đến sinh trưởng cây rừng[9]
Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nước , Việt Nam đã sớm ápdụng các phương pháp đánh giá đất đai vào thực tiễn “Trong đánh giá tiềmnăng sản xuất đất lâm nghiệp” Đỗ Đình Sâm - Nguyễn Ngọc Bình đã dựa vào 8yếu tố chuẩn đoán là: nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ trung bình thấp nhất,nhiệt độ trung bình cao nhất, lượng mưa bình quân năm, nhóm hay loại đất đaicao so với mặt biển, độ dày tầng đất và độ dốc để đánh giá mức độ thích hợpcủa cây trồng với điều kiện tự nhiên [4]
Năm 2005, Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế - Vũ Tấn Phương đã xuất bản “Hệthống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam”, các tác giả đã đưa ra 6 yếu tố chuẩnđoán bao gồm: Thành phần cơ giới đất, độ dốc, độ dày tầng đất, độ cao, trạngthái thực vật và lượng mưa bình quân năm để đánh giá mức độ thích hợp củaloài cây trồng với điều kiện tự nhiên Từng yếu tố chuẩn đoán được phân ra dựatrên việc so sánh tiêu chuẩn thích hợp của các loài cây trồng đánh giá với đặcđiểm của từng đơn vị đất đai[5] Chi tiết về phương pháp tiến hành đánh giá
Trang 7mức độ thích hợp của cây trồng dựa trên các yếu tố chuẩn đoán được Đỗ ĐìnhSâm – Ngô Đình Quế - Vũ Tấn Phương giới thiệu trong cuốn “cẩm nang đánhgiá phục vụ trồng rừng” xuất bản tháng 8/2005 của trung tâm nghiên cứu sinhthái và môi trường rừng - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam ban hành Trongcẩm nang đã đưa ra tiêu chuẩn thích hợp của 30 loài cây trồng phổ biến Dựavào tiêu chuẩn của từng loài cây trên chúng ta có thể đánh giá được mức độthích hợp của loài cây sẽ trồng tại đơn vị đất đai Còn đối với loài cây chưa cótiêu chuẩn thích hợp thì chúng ta chỉ đánh giá tính thích hợp của loài cây ởvùng đó: thích hợp (S) và không thích hợp (N)[6].
2.3 Nhận xét chung
Qua tổng quan trên ta thấy vấn đề nghiên cứu các tính chất lý hoá học củađất và đánh giá tính thích hợp của cây trồng đã thu hút được nhiều sự quan tâmnghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước Những nghiên cứu này hếtsức phong phú, đa dạng và có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn sản xuất Mọinghiên cứu đều nhằm mục tiêu chung là trên cơ sở những kết quả đạt được đề racác phương án sử dụng tài nguyên đất một cách bền vững nhất
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có thể rút ra mộtvài nhận xét sau:
+ Các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới được triển khaikhá toàn diện để nghiên cứu vấn đề về đất đai như độ phì của đất, các tính chất
lý hoá học của đất, đánh giá và phân hạng đất đai, mối quan hệ của đất đai vớiquần xã thực vật rừng…và những nghiên cứu này đã có những đóng góp to lớn,phục vụ cho việc phát triển sản xuất trên thế giới trong những năm qua
+ Các công trình nghiên cứu thường mang tính tổng hợp, có khả năng ứngdụng cao Vì vậy, có thể áp dụng những nghiên cứu này để tiến hành đánh giácho những khu vực cụ thể trong sản xuất
Trang 8PHẦN III ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
- Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc và Đô Lương
- Phía Nam giáp huyện Hương Sơn và Đức Thọ (Hà Tĩnh)
- Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên
- Phía Tây giáp huyện Thanh Chương
3.2 Địa hình
Toàn bộ diện tích tự nhiên của BQL nằm trong lưu vực hạ lưu sông Lam
chảy từ xã Nam Thượng (đầu huyện) đến xã Nam Cường (cuối huyện)
- Phía Bắc bao gồm sườn Nam dãy núi Đại Huệ với đỉnh cao nhất là470,5m, độ dốc bình quân là 320
- Phía Tây bao gồm sườn Đông Bắc dãy núi Thiên Nhẫn, dãy núi này có
độ dốc bình quân là 300, độ dốc lớn nhất là 450 tại khu vực gần đỉnh Thần Tuy
- Ngoài hai dãy núi nêu trên còn có những quả đồi hình bát úp, chân đồithoải hơn tạo nên những hình lòng chảo cục bộ gây khó khăn cho việc xây dựngcác công trình thủy lợi trong vùng
Trang 93.3 Khí hậu, thủy văn
- Khí hậu: Khu vực rừng phòng hộ Nam Đàn có khí hậu chuyển tiếp, vừamang đặc tính có mùa đông lạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mang đặc tính khíhậu nóng của miền Nam Khu vực này chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệtgió Tây khô nóng (gió Lào) kéo dài nhiều tháng Khí hậu khô nóng, độ ẩm thấp,đặc biệt là các tháng 5,6,7,8 là những tháng có nhiệt độ lên cao, có khi đến 39 -
400C Có đợt thì mưa kéo dài tập trung các tháng 7,8,9 sự phân bố lượng mưakhông đều giữa các tháng trong năm, khí hậu mang tính nóng ẩm đó là điềukiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển
- Chế độ nhiệt:
Mùa nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 9
Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau
Nhiệt độ bình quân trong năm là 24,30C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 400C,nhiệt độ thấp tuyệt đối là 6,20C
3 năm sau thường mang theo mưa phùn và gió rét
Trang 103.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra của chuyên đề "Điều tra xây dựng bản đồ lập địa"thì hiện nay, BQL rừng phòng hộ Nam Đàn đang quản lý và sử dụng 3294,7 hađất lâm nghiệp với cơ cấu như sau:
Khu vực BQL rừng phòng hộ Nam Đàn gồm 2 loại đất chính sau:
- Nhóm đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá sét Diện tích khoảng 2536,3
ha, chiếm 77% diện tích Phân bố ở hầu hết các xã có đồi núi, nhưng tập trungchủ yếu ở phía Tây-Bắc huyện Đặc điểm của nhóm đất này có thành phần cơgiới nặng, độ dày tầng đất biến động từ 20 - 80cm, quá trình feralit xảy ra mãnhliệt, tỷ lệ kết von rất cao, có thể chiếm tới 45% Một số nơi như núi Chung đãhình thành tầng đá ong rất dày
- Nhóm đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá cát hoặc đá dăm kết Diệntích hơn 758,4 ha, chiếm 23% diện tích Phân bố chủ yếu ở Khánh Sơn, NamGiang Đặc điểm nhóm đất này có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nướckém, phần lớn diện tích có tầng đất mặt bị xói mòn hoàn toàn, tỷ lệ đá nổi và đá
lộ đầu chiếm tới 50 - 70%, có những nơi trên 85%
3.5 Sinh vật
*) Thực vật
Thực vật tại khu vực BQL phụ trách khá phong phú và đa dạng
- Thực vật ở rừng trồng chủ yếu là Thông nhựa, Keo, Bạch đàn Ngoài ra,tại khu vực núi Chung thuộc BQL rừng phòng hộ Nam Đàn còn được trồng các
Trang 11loài cây bản địa hỗn giao như: Săng lẻ, Trai bà, Lim xanh, Xà cừ, Lát hoa, Longnão, Chò nâu,
- Thực vật ở rừng tự nhiên bao gồm 2 loại rừng phục hồi là trạng thái IIa
và IIb, diện tích khoảng 177,5ha Đây là những loại rừng phục hồi từ đất trốngcây bụi do được khoanh nuôi bảo vệ, tổ thành gồm các loài đặc trưng như: Giẻ,Ràng ràng xanh, Thẩu tấu,
Cây bụi thảm tươi ở khu vực nghiên cứu chủ yếu là Sim, Mua, Tế guột,
Cỏ lào,… sinh trưởng trung bình
*) Động vật: Gồm các loài vật do người dân chăn thả như Trâu, Bò, Lợn, Dê,Gà,… Động vật tự nhiên chỉ có Chuột, Giun, Dế,… ngoài ra còn có nhiều loàichim sinh sống
3.6 Tác động của con người vào khu vực nghiên cứu
Phần lớn người dân trong khu vực nghiên cứu sinh sống bằng nghề nông
là chủ yếu, vì thế các hoạt động như chăn thả gia súc, kiếm củi, quét lá, cắtcỏ… của người dân vẫn xảy ra thường xuyên; công tác quản lý bảo vệ rừngchưa nghiêm ngặt Chính những hoạt động đó của người người dân địa phương
đã làm cho tính chất đất rừng tại khu vực nghiên cứu bị xáo trộn và ảnh hưởngrất lớn Đất tại khu vực nghiên cứu bị bí chặt, kém thoát nước, giảm độ tơi xốp
do chăn thả gia súc bừa bãi; dễ xảy ra hiện tượng xói mòn do rừng bị cháy,…
Sự thay đổi về tính chất đất rừng đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinhtrưởng, phát triển chung của cây rừng, theo hướng không ổn định Và cũngchính sự không ổn định đó của cây rừng cũng có ảnh hưởng ngược lại rất lớntới đất, làm giảm độ phì của đất và giảm khả năng bảo vệ, nuôi dưỡng, duy trìđất của rừng Tác động của con người là một trong những tác nhân quan trọnglàm ảnh hưởng tới đất
Trang 12PHẦN IV MỤC TIÊU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là đất trồng 2 loài cây Thông Nhựa
(Pinus merkusii) và Keo Lá Tràm (Acacia auriculiformis) và đất trống ở 2 vị trí
đối chứng có cùng điều kiện hình thành.
Do điều kiện về thời gian nên khóa luận chỉ tiến hành nghiên cứu một sốtính chất cơ bản của đất ở độ sâu 0 - 20 cm và 20 - 50 cm mà không nghiên cứuđược ở các độ sâu lớn hơn
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Xác định ảnh hưởng của 2 loài cây trồng Thông Nhựa, Keo Lá Tràmđến tính chất lý hoá học của đất
+ Đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng tại khu vực nghiên cứu
+ Trên cơ sở đó đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý và sử dụngđất có hiệu quả cao hơn
4.3 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái phẫu diện đất
2 Nghiên cứu một số tính chất lý hoá học cơ bản của đất tại khu vựcnghiên cứu
Trang 13- Độ chua trao đổi (E,lđl/100g), độ chua thuỷ phân (H,lđl/100g)
- Tổng bazơ trao đổi (S,lđl/100g), độ no bazơ (V%)
- Hàm lượng các chất hữu cơ và các chất dễ tiêu (NH4+, P2O5, K2O)
3 Nghiên cứu ảnh hưởng của 2 loài cây trồng đến tính chất lý hoá họccủa đất
4 Đánh giá mức độ thích hợp của loài cây trồng tại khu vực nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp so sánh yêu cầu của các loài cây trồng với điềukiện tự nhiên của đơn vị đất đai, kết hợp với đánh giá tăng trưởng bình quânchung của chiều cao vút ngọn cho từng loài cây trồng
5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bềnvững tại khu vực nghiên cứu
4.4 Phương pháp nghiên cứu
4.4.1 Cơ sở lý luận
Giữa đất và cây trồng luôn tồn tại một mối quan hệ qua lại rất mật thiếtvới nhau Trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây trồng sử dụng các chấtdinh dưỡng có trong đất, khi chết đi cây trồng trả lại cho đất các chất hữu cơthông qua vật rơi rụng làm cho đất trở nên phì nhiêu và giàu chất dinh dưỡnghơn, đồng thời làm thay đổi tính chất đất theo hướng có lợi Ngược lại, các tínhchất của đất cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng Từ xưa đã có câu
"đất nào, cây ấy" , tức là một loài cây chỉ phù hợp với một hay một số loại đấtnào đó, và ngược lại một loại đất chỉ thích hợp cho một hay một số loài cây sinhtrưởng và phát triển chứ không phải là tất cả Chính vì vậy, việc hiểu biết vànắm bắt được các yêu cầu về đất đai của một loài cây nào đó, đồng thời từnhững kết quả nghiên cứu về đất ta sẽ đánh giá được mức độ thích hợp của loạiđất đó với từng loài cây trồng cụ thể là rất cần thiết Từ đó, có thể đề xuất đượcmột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững
Trang 14Sơ đồ các bước nghiên cứu
Phân tích đất trong phòng thí nghiệm
Điều tra chiều cao vút ngọn (Hvn)
Kế thừa đặc điểm ĐKTN khu
vực nghiên cứu
Xác địnhmục tiêu
Xác định các đơn vị đất đaiThu thập
số liệu
Trang 154.4.2 Công tác ngoại nghiệp
a Thu thập và kế thừa tài liệu có liên quan:
- Thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan và các thông tinphục vụ nghiên cứu đề tài như: Khí hậu, địa hình, đất, động thực vật, dân sinhkinh tế,
- Thu thập bản đồ khu vực nghiên cứu (bản đồ tỷ lệ 1/10.000 hoặc1/5.000)
- Yêu cầu sinh thái các loài cây nghiên cứu
b Điều tra đất:
- Thực hiện sơ thám khu vực nghiên cứu, xác lập ô nghiên cứu dựa trên
sự khác nhau về loài cây trồng
Đánh giá tínhthích hợp củacây trồng
Đề xuất các giải pháp sử dụng đất bền vững
Đánh giá ảnhhưởng của câytrồng đến đất
Trang 16- Xác lập ô nghiên cứu dưới 2 loài cây trồng khác nhau Cây trồng có đủtuổi để đảm bảo tính ổn định và độ tàn che cao Dưới mỗi loài cây trồng tiếnhành lập một ô nghiên cứu điển hình tạm thời và một ô đối chứng để so sánh.Các ô nghiên cứu phải giống nhau về độ cao, độ dốc, hướng phơi và đá mẹ hìnhthành đất.
- Đào và mô tả phẫu diện: Tại trung tâm ô nghiên cứu của mỗi loài câytrồng và ô đối chứng của nó ở nơi không có cây trồng, một phẫu diện đất đượcđào và mô tả Các đặc điểm hình thái phẫu diên được mô tả theo bảng mô tảphẫu diện của bộ môn Khoa Học Đất-Trường Đại học Lâm Nghiệp, trong đó cómột số nội dung chính cần quan tâm như sau:
+ Màu sắc các tầng phát sinh đất: Được xác định bằng mục trắc
+ Độ dày tầng đất: Được đo bằng thước dây
+ Độ chặt của các tầng đất: Xác định bằng dao nhọn
+ Thành phần cơ giới: Xác định bằng phương pháp xoe con giun
+ Độ ẩm các tầng đất: Xác định bằng phương pháp nắm đất trong lòngbàn tay
+ Tỷ lệ % đá lẫn, tỷ lệ % chất mới sinh (kết von) có trong đất: Xác địnhbằng mục trắc theo tỷ lệ % hoặc thể tích
+ Khả năng đâm rễ của thực vật: Xác định bằng tổng rễ cây có đườngkính nhỏ hơn 2mm trên 1dm2 (lấy giá trị trung bình)
- Lấy mẫu đất phân tích: Mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu lý hoá họcđược lấy ở 2 cấp độ sâu khác nhau là 0 - 20cm và 20 - 50cm
+ Đối với độ sâu 0 - 20cm: Lấy mẫu đất phân tích từ 9 mẫu đơn lẻ (1mẫu lấy từ thành quan sát phẫu diện chính, 8 mẫu còn lại lấy ở 8 hướng: Đông,tây, nam, bắc, đông bắc, đông nam, tây bắc, tây nam cách phẫu diện chính từ 8 -10m)
Trang 17+ Đối với độ sâu 20 - 50cm: Lấy mẫu tổng hợp từ 5 mẫu đơn lẻ ( 1 mẫulấy ở thành phẫu diện chính, 4 mẫu còn lại lấy ở 4 hướng: Đông, tây, nam, bắccách phẫu diện chính từ 8 - 10m).
+ Các mẫu phân tích được cho vào túi nilon riêng biệt có ghi ký hiệu mẫu
để phân biệt rõ
+ Mẫu đơn lẻ được lấy với lượng bằng nhau, ở cùng một cấp độ sâu vàmỗi mẫu đất tổng hợp được lấy 1kg đất Vậy số mẫu cần phân tích là 8 mẫutổng hợp
- Để xác định dung trọng ta lấy mẫu bằng ống dung trọng ( mẫu dungtrọng được lấy ở độ sâu 0 - 10cm, tại 5 vị trí: 1 mẫu ở phẫu diện, 4 mẫu ở 4hướng cách phẫu diện chính 8 - 10m)
c Điều tra cây trồng
Dưới mỗi loài cây trồng tiến hành lập một OTC diện tích 500 m2 và tiếnhành đo chỉ tiêu Hvn của tất cả các cây trung bình đến tốt trong OTC Chiềucao vút ngọn được đo bằng sào khắc vạch có độ chính xác đến dm
4.4.3 Công tác nội nghiệp
a Xử lý mẫu đất:
Mẫu đất đem về được hong khô trong bóng râm, nhặt bỏ rễ cây, đá lẫn,xác thực vật, kết von, giã nhỏ bằng cối đồng hoặc chày có đầu bằng cao su rồirây qua rây có đường kính 1mm, trộn đều rồi đưa vào phân tích Riêng đất đểphân tích mùn thì giã bằng cối và chày mã não rồi rây qua rây có đường kính0.25mm
b Phân tích mẫu đất:
- Các tính chất lý học của đất:
+ Xác định độ ẩm bằng phương pháp tủ sấy
Trang 18+ Xác định thành phần cơ giới bằng phương pháp ống hút Robinxon.+ Xác định tỷ trọng đất bằng phương pháp bình tỷ trọng (picnoomete)+ Xác định dung trọng thông qua cân sấy.
+ Xác định độ xốp thông qua tỷ trọng và dung trọng theo công thức:
+ Xác định độ chua trao đổi bằng phương pháp Đaikuhara
+ Xác định tổng bazơ trao đổi theo Kapen và Gincovic
+ Xác định mùn tổng số bằng phương pháp Chiurin
+ Xác định các chất dễ tiêu:
Đạm dễ tiêu (NH4) bằng phương pháp so màuLân dễ tiêu (P2O5) bằng phương pháp so màuKali dễ tiêu (K2O) bằng phương pháp so độ đục+ Xác định độ no bazơ theo công thức:
V% = x 100%
Trong đó: V% là độ no bazơ
S là tổng bazơ trao đổi (lđl/100gđ)
H là độ chua thuỷ phân (lđl/100gđ)
d
D
d
H S S
Trang 194.4.4 Xử lý số liệu và phân tích kết quả
- Tính toán số liệu thu thập được của từng mẫu theo từng phẫu diện chomỗi loài cây trồng
- Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích thành bảng biểu ở các độ sâu lấy mẫu
và lấy giá trị trung bình được tính bằng phương pháp bình quân gia quyền theo
độ dày lớp đất lấy mẫu
- Tiến hành lập bảng biểu và so sánh tỷ lệ biến động của các chỉ tiêu lý,hoá học của đất dưới các loài cây trồng được nghiên cứu so với đất trống cócùng điều kiện hình thành (đá mẹ, vị trí, địa hình, độ dốc, hướng dốc, hướngphơi) làm đối chứng ( Đối chứng bằng 0 ) Từ đó đưa ra được những nhận xét
về ảnh hưởng của từng loài cây trồng tới đất
- Tập hợp đơn vị đất đai tại các vị trí nghiên cứu theo " Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng " của Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn
Phương, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2005
- Đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng cho từng đơn vị đất đai dựatheo bảng tiêu chuẩn thích hợp chuẩn của khoảng 30 loài cây trồng lâm nghiệp
phổ biến (" Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng ") hoặc theo đặc điểm
sinh thái của các loài cây không có trong bảng tiêu chuẩn trên Cũng theo tàiliệu này việc tiến hành đánh giá tính thích hợp của cây trồng được thực hiệntheo phương pháp điều kiện giới hạn và được chia làm 4 cấp sau: Thích hợp cao(S1), thích hợp trung bình (S2), thích hợp kém (S3) và không thích hợp (N) Độthích hợp cây trồng được xác định dựa trên nguyên tắc yếu tố hạn chế, cụ thể là:
+ Nếu một trong 6 tiêu chí đánh giá ở mức độ không thích hợp (N) thìcây trồng thuộc cấp không thích hợp (N)
+ Nếu một trong 2 tiêu chí độ dốc, độ dày tầng đất ở cấp thích hợp kém(S3) thì cây trồng thuộc cấp thích hợp kém (S3)
Trang 20+ Nếu đa số (trên 50%) các tiêu chí đánh giá nằm ở cấp thích hợp nào thìcây trồng thuộc cấp thích hợp đó.
- Tính giá trị trung bình và giá trị tăng trưởng bình quân của Hvn, từ đóđánh giá độ thích hợp của các loài cây trồng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và sử dụng đất có hiệu quả caohơn dựa trên các số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu
Trang 21PHẦN V KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 5.1 Hình thái phẫu diện đất
Tất cả các quá trình diễn ra trong đất đều để lại dấu vết của nó Việcnghiên cứu những dấu vết có trong đất để tìm hiểu về quá trình hình thành đất
và chiều hướng phát triển của đất có vai trò rất quan trọng và có liên quan chặtchẽ đến các tính chất lý, hóa học của đất Tất cả các dấu vết có trong đất đượcthể hiện thông qua hình thái phẫu diện đất Do vậy, khi nghiên cứu về đất việcđầu tiên chúng ta cần phải làm đó là nghiên cứu và mô tả hình thái phẫu diệnđất để bước đầu có những số liệu cần thiết Dưới đây là đặc điểm hình thái của
2 phẫu diện đất dưới 2 loại rừng trồng khác nhau và 2 phẫu diện đối chứng
5.1.1 Hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Keo lá tràm và đối chứng
a) Hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Keo lá tràm.
- Vị trí: Sườn giữa của đồi Khe Điếc, xã Nam Hưng, Nam Đàn, Nghệ An
- Địa hình : Độ dốc 110; hướng dốc Tây Bắc; độ cao tuyệt đối : 135m;
độ cao tương đối : 105m; dạng địa hình : Sườn dốc thoải
- Xói mòn mặt yếu, không có đá ong và đá lộ đầu
- Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
Trang 22+ Tầng A: Độ sâu 0 - 16 cm, màu
nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây trung bình (18rễ/dm2),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, thành phần cơ
giới thịt nặng, chất mới sinh có phân mối, đá
lẫn khoảng 5-10%, có một hang mối, chuyển
lớp rõ về màu sắc
+ Tầng Bk: Độ sâu 16-80 cm, màu đỏ vàng, hơi ẩm, rễ cây rất ít(4rễ/dm2), kết cấu hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới thịt nặng, kết von giả20-25%, đá lẫn 10-15%, chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng BC: Độ sâu 80-105 cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, không có rễ cây,kết cấu hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới không xác định, kết von giả 10-15%, đá lẫn 5-10%, chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng C: độ sâu 105-120 cm, màu xám, hơi ẩm
- Tên đất : Đất xám feralit phát triển trên đá sét, tầng dày (Theo phân loạiđất Việt Nam năm 1976)
b) Hình thái phẫu diện đất trống làm đối chứng với rừng Keo lá tràm.
- Vị trí: Sườn giữa của đồi Khe Điếc, xã Nam Hưng, Nam Đàn, Nghệ An
- Địa hình: Độ dốc 110; hướng dốc Tây Bắc; độ cao tuyệt đối : 135 m;
độ cao tương đối : 105 m; dạng địa hình : Sườn dốc thoải
- Đá mẹ: Đá sét
- Thực vật: Chủ yếu là cây bụi thảm tươi như: tế guột, cỏ lá tre, độ chephủ 40%, chiều cao trung bình khoảng 0,4 m
- Xói mòn mặt trung bình, không có đá ong và đá lộ đầu
- Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
Sơ đồ phẫu diện A
Trang 23+ Tầng A: Độ sâu 0-9 cm, màu nâu
vàng, hơi ẩm, rễ cây trung bình (13rễ/dm2),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, thành phần cơ
giới thịt trung bình, đá lẫn khoảng 10-15%,
chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng Bk: Độ sâu 9-72 cm, màu đỏ
vàng, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3rễ/dm2), kết cấu
hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới thịt nặng, kết von giả 20%, đá lẫn 20%, chuyển lớp rõ về màu sắc
15-+ Tầng BC: Độ sâu 72-110 cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, không có rễ cây,kết cấu hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới không xác đh, kết von giả 10-15%, đá lẫn khoảng 5-10%, chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng C: Độ sâu 110-120 cm, màu vàng xám, hơi ẩm
- Tên đất: Đất xám feralit phát triển trên đá sét, tầng dày(Theo phân loạiđất Việt Nam năm 1976)
5.1.2 Hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Thông nhựa và đối chứng
a) Hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Thông nhựa.
- Vị trí: Sườn giữa núi Đụn, xã Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An
- Địa hình: Độ dốc 220; hướng dốc Đông Bắc; độ cao tuyệt đối : 255m;
độ cao tương đối : 215m; dạng địa hình : Sườn dốc thoải
Trang 24- Xói mòn mặt yếu, không có đá ong, đá lộ đầu khoảng 20-30%
- Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
+ Tầng A0: dày khoảng 1cm, màu xám đen
+ Tầng A: Độ sâu 0-14 cm, màu
nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây ít (9rễ/dm2),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, thành
phần cơ giới thịt nặng, có phân giun,
không có kết von, tỷ lệ đá lẫn khoảng
5-10%, chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng B:Độ sâu 14-57 cm, màu
vàng đỏ, hơi ẩm, rễ cây rất ít (3rễ/dm2), kết cấu viên hạt, đất chặt, thành phần
cơ giới thịt nặng, không có đá lẫn và kết von,chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng C: Độ sâu 57-120 cm, màu vàng, hơi ẩm, đất rất chặt
- Tên đất: Đất xám Feralit phát triển trên đá sét, tầng trung bình(Theophân loại đất Việt Nam năm 1976)
b) Hình thái phẫu diện đất trống làm đối chứng với rừng trồng Thông nhựa.
- Vị trí: Sườn giữa núi Đụn, xã Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An
- Địa hình: Độ dốc 220; hướng dốc Đông Bắc; độ cao tuyệt đối : 255m;
độ cao tương đối : 215m; dạng địa hình : Sườn dốc thoải
- Đá mẹ: Đá sét
- Thực vật: Chủ yếu là cây bụi thảm tươi như: Tế guột, sim, mua, độche phủ 40% , chiều cao trung bình khoảng 0,5m
- Xói mòn mặt yếu, không có đá ong, đá lộ đầu khoảng 25-30%
- Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
Sơ đồ phẫu diện A
Trang 25+ Tầng A: Độ sâu 0-11 cm, màu
nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây ít (10rễ/dm2),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, thành
phần cơ giới thịt trung bình, đá lẫn
khoảng 5-10%, không có kết von,
chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng B: Độ sâu 11-52 cm, màu
vàng đỏ,hơi ẩm, rễ cây ít (6rễ/dm2) kết cấu viên hạt, đất chặt, thành phần cơgiới thịt nặng, không có kết von và đá lẫn, chuyển lớp rõ về màu sắc
+ Tầng C: Độ sâu 52-120 cm, màu vàng, hơi ẩm, đất rất chặt
- Tên đất: Đất xám Feralit phát triển trên đá sét, tầng trung bình(Theophân loại đất Việt Nam năm 1976)
*) Nhận xét chung:
Từ kết quả mô tả phẫu diện đất ở khu vực nghiên cứu cho thấy: Đất ởkhu vực nghiên cứu là đất xám feralit phát triển trên đá sét
- Đất dưới tán rừng trồng Keo lá tràm là đất tầng dày, với độ dày tầng đất
>100 cm, đồng thời xuất hiện tỷ lệ kết von khá cao (khoảng 20-25%) Đất dướitán rừng trồng Thông nhựa là đất tầng trung bình, với độ dày tầng đất khoảng50-100 cm và không có kết von Nguyên nhân có thể do đất ở khu vực trồngKeo lá tràm được hình thành trước nên có độ thành thục cao hơn đất ở khu vựctrồng Thông
- Do có thực vật che phủ nên hàng năm, đất dưới tán rừng được trả lạimột lượng vật rơi rụng rất lớn Vì vậy, đất dưới tán rừng trồng của 2 loài câyđều có tầng A0, còn đất trống đối chứng không có tầng A0 Tuy nhiên, do các
Sơ đồ phẫu diện A
Trang 26cứu đều khá mỏng, như tại rừng Keo lá tràm (1,5 cm) và rừng Thông nhựa (1cm).
- Tầng A dưới tán rừng trồng của cả 2 loài cây đều khá dày (>14 cm)chứng tỏ đất dưới tán rừng ít bị ảnh hưởng bởi hiện tượng xói mòn Còn tầng Acủa đất trống đối chứng thường mỏng hơn do đất ở đây không được che phủ bởithực vật nên bị ảnh hưởng nhiều của hiện tượng xói mòn
Kết quả mô tả phẫu diện đất đã phần nào nêu lên được các tính chất đất,
sự ảnh hưởng của thực vật tới đất Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận xét sơ
bộ thông qua đặc điểm phẫu diện đất Để có những kết luận chính xác và cụ thểhơn thì phải tiến hành nghiên cứu về những tính chất lý, hóa học của đất
Việc phân loại đất theo TPCG được tiến hành dựa theo Bảng phân loạiđất theo Katrinski cho loại đất dạng đồng cỏ đỏ và vàng với hai cấp hạt là: Cátvật lý (>0,01 mm) và Sét vật lý (<0,01 mm) Ở cách phân loại này, ngoại việcphân chia theo TPCG còn phải chú ý đến loại đất tức là phải đề cập đến sự phát
Trang 27sinh và phát triển của nó nữa, do đó sẽ thể hiện tính chất đất một cách sát thựchơn.
Kết quả phân tích TPCG được thể hiện dưới biểu sau:
Bi u 01: Thành ph n c gi i đ t ểu 01: Thành phần cơ giới đất ần cơ giới đất ơ giới đất ới đất ất
Rừng trồng Độ sâu (cm) Sét vật lý (%) Cát vật lý (%) Phân loại
Trang 28Riêng chỉ có đất dưới tán rừng Thông nhựa là có hàm lượng sét tầng trên(0-20 cm) cao hơn tầng dưới (20-50 cm) Nguyên nhân có thể do đất ở đây ítchịu tác động của hiện tượng rửa trôi hơn.
Biểu đồ 01: Biến động hàm lượng sét vật lý của đất dưới 2 loại rừng trồng so
với đất trống (đối chứng bằng 0)
Biểu đồ 01 cho thấy: Hàm lượng sét vật lý của đất dưới tán rừng trồnghai loài cây đều cao hơn so với đất trống đối chứng Đất có rừng, do có sự chephủ của thực vật nên ít chịu ảnh hưởng của hiện tượng rửa trôi, vì vậy hàmlượng các hạt sét bị mất đi là ít hơn so với đất trống đối chứng
Biến động tăng hàm lượng sét vật lý so với đất trống của đất rừng trồngKeo lá tràm lớn hơn đất rừng trồng Thông nhựa
5.2.2 Tỷ trọng, dung trọng, độ xốp của đất
a) Tỷ trọng.
Tỷ trọng đất là một chỉ tiêu phụ thuộc vào thành phần khoáng vật và hàmlượng chất hữu cơ có trong đất Nếu đất có hàm lượng chất hữu cơ và mùn càngcao thì tỷ trọng càng nhỏ, và ngược lại
Tỷ trọng của đất nằm trong khoảng 2,0-2,9 (g/cm3) Theo chiều sâu phẫudiện tỷ trọng đất tăng dần và thường đạt cực đại ở tầng B
Kết quả phân tích dung trọng, tỷ trọng, độ xốp của đất được thể hiện ởbiểu sau:
0 2 4 6 8 10 12 14 16
Keo lá tràm Thông nhựa
Trang 29Bi u 02: T tr ng, dung tr ng, đ x p đ t đ sâu 0 – 20 cm ểu 01: Thành phần cơ giới đất ỷ trọng, dung trọng, độ xốp đất ở độ sâu 0 – 20 cm ọng, dung trọng, độ xốp đất ở độ sâu 0 – 20 cm ọng, dung trọng, độ xốp đất ở độ sâu 0 – 20 cm ộ xốp đất ở độ sâu 0 – 20 cm ốp đất ở độ sâu 0 – 20 cm ất ở độ sâu 0 – 20 cm ộ xốp đất ở độ sâu 0 – 20 cm
Qua biểu 02 ta thấy rằng: Đất dưới tán rừng trồng Keo lá tràm có tỷ trọng
là 2,28 g/cm3 thuộc mức nhỏ, ở các vị trí còn lại đất có tỷ trọng trong khoảng2,4 - 2,52 g/cm3 thuộc mức trung bình
Tỷ trọng của đất dưới tán rừng Keo lá tràm thấp hơn dưới tán rừng Thôngnhựa do đất dưới tán rừng Keo lá tràm có hàm lượng mùn và chất hữu cơ caohơn đất dưới tán rừng Thông nhựa
Biểu đồ 02: Biến động tỷ trọng của đất dưới 2 loại rừng trồng so với đất
trống
Biểu đồ 02 cho thấy: Tỷ trọng của đất dưới hai loại rừng trồng đều nhỏhơn so với đất trống Điều này rất phù hợp với quy luật, bởi vì đất dưới tán rừnghàng năm được thực vật trả lại một lượng vật rơi rụng lớn nên hàm lượng chấthữu cơ và mùn sẽ cao hơn so với đất trống (Xem biểu 05 và biểu đồ 09)
-6 -5 -4 -3 -2 -1
Trang 30Tỷ trọng của đất dưới tán rừng trồng của cả hai loài cây đều giảm so vớiđất trống làm đối chứng là tốt Trong đó, biến động giảm của đất rừng trồngKeo lá tràm lớn hơn đất rừng trồng Thông nhựa rất nhiều.
b) Dung trọng
Dung trọng là yếu tố đặc trưng cho độ chặt của đất Theo chiều sâu phẫudiện dung trọng tăng rõ rệt, bởi vì càng xuống sâu thì hàm lượng chất hữu cơgiảm, đất bí chặt hơn do sự rửa trôi tầng mặt, và do áp suất vĩnh cửu tầng trêngây ra
Dung trọng thường nhỏ hơn tỷ trọng Dung trọng không những phụ thuộcvào thành phần khoáng và mùn mà còn phụ thuộc vào độ xốp của đất Đất códung trọng càng nhỏ thì hàm lượng mùn và chất hữu cơ càng cao, kết cấu đấtcàng tốt, thoáng
Từ biểu 02 ta thấy: Chỉ có dung trọng của đất trống đối chứng Thôngnhựa là ở mức trung bình ( 1,22 g/cm3 ), còn dung trọng ở các ô đất còn lại nằmtrong khoảng 1,07 - 1,17 g/cm3 thuộc mức nhỏ
- Dung trọng của đất dưới tán rừng trồng Keo lá tràm thấp hơn so với đấtdưới tán rừng trồng Thông nhựa chứng tỏ đất dưới tán rừng trồng Keo lá tràmgiàu chất hữu cơ hơn đất dưới tán rừng trồng Thông nhựa Điều này rất phù hợpvới lập luận về tỷ trọng ở phần trên
Biểu đồ 03: Biến động dung trọng của đất dưới 2 loại rừng trồng so với
đất trống
-9.2 -9 -8.8 -8.6 -8.4