ĐẶT VẤN ĐỀ Các Vườn quốc gia (VQG) và các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) nói chung là những trung tâm đa dạng sinh học với các hệ sinh thái và hệ động thực vật phong phú và tiêu biểu cho vùng hệ sinh thái. Vì vậy mục tiêu chính của công tác bảo tồn trong mỗi khu Vườn quốc gia là phải bảo vệ tốt hệ sinh thái rừng. Nhưng việc “đóng cửa rừng” đã gây ra rất nhiều khó khăn đối với cuộc sống của người dân vùng đệm. Những người đã sống gắn bó với rừng từ hàng ngàn năm nay và nguồn sống chủ yếu của họ cũng dựa vào tài nguyên của rừng. Vì vậy, không thể tách rời người dân với rừng được, nhưng việc đảm bảo người dân sống chung với rừng và không phá rừng là một bài toán khó. Một trong những giải pháp vừa để bảo vệ được rừng vừa nâng cao đời sống cho người dân vùng đệm là hướng họ vào việc gây trồng cây lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là trồng cây thuốc vì: Cây thuốc là cây có giá trị kinh tế cao và có thị trường rộng. Cây thuốc có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân vùng đệm. Cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc là một phần văn hoá của người dân tộc thiểu số. Để tiến hành được hoạt động vận động người dân tham gia vào công tác bảo tồn loại tài nguyên này, yêu cầu trước mắt phải có được những thông tin về hiện trạng khai thác và giá trị của các loại sản phẩm mà người dân thu hái. Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở VQG Tam Đảo, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế. Trong số đó, trên 80% tổng số loài thuốc là mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng. Rừng cũng là nơi tập trung hầu hết các cây thuốc quí có giá trị sử dụng và kinh tế cao, nguyên nhân khác là nguồn gốc thuốc mọc tự nhiên ở VQG Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng. Vì vậy, bảo vệ tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng đã trở thành yêu cầu cấp bách, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hội hiện tại và tương lai. Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiện trạng và giá trị sử dụng tài nguyên của một số loài cây thuốc ở Vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc. Cơ sở cho bảo tồn và phát triển”.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Các Vườn quốc gia (VQG) và các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) nóichung là những trung tâm đa dạng sinh học với các hệ sinh thái và hệ độngthực vật phong phú và tiêu biểu cho vùng hệ sinh thái Vì vậy mục tiêu chínhcủa công tác bảo tồn trong mỗi khu Vườn quốc gia là phải bảo vệ tốt hệ sinhthái rừng Nhưng việc “đóng cửa rừng” đã gây ra rất nhiều khó khăn đối vớicuộc sống của người dân vùng đệm Những người đã sống gắn bó với rừng từhàng ngàn năm nay và nguồn sống chủ yếu của họ cũng dựa vào tài nguyêncủa rừng Vì vậy, không thể tách rời người dân với rừng được, nhưng việcđảm bảo người dân sống chung với rừng và không phá rừng là một bài toánkhó Một trong những giải pháp vừa để bảo vệ được rừng vừa nâng cao đờisống cho người dân vùng đệm là hướng họ vào việc gây trồng cây lâm sảnngoài gỗ, đặc biệt là trồng cây thuốc vì:
Cây thuốc là cây có giá trị kinh tế cao và có thị trường rộng
Cây thuốc có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ chonhân dân vùng đệm
Cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc là một phần văn hoá của ngườidân tộc thiểu số
Để tiến hành được hoạt động vận động người dân tham gia vào công tácbảo tồn loại tài nguyên này, yêu cầu trước mắt phải có được những thông tin
về hiện trạng khai thác và giá trị của các loại sản phẩm mà người dân thu hái.Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở VQG Tam Đảo, cây thuốc chiếm một vịtrí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế.Trong số đó, trên 80% tổng số loài thuốc là mọc tự nhiên, chủ yếu trong cácquần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập trung hầu hết các cây thuốc quí có giá trị
sử dụng và kinh tế cao, nguyên nhân khác là nguồn gốc thuốc mọc tự nhiên ởVQG Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng
Vì vậy, bảo vệ tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng đã trở thành yêucầu cấp bách, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hội hiện tại vàtương lai
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiện trạng và giá trị sử dụng tài nguyên của một số loài cây thuốc ở Vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc Cơ sở cho bảo tồn và phát triển”.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới
Việc sử dụng cây thuốc gắn liền với sự phát triển của nhân loại Ngay
từ khi xuất hiện trên trái đất, con người đã biết sử dụng các loài thực vật đểduy trì cuộc sống Trong quá trình đó, người ta đã phát hiện các loài thực vật
có khả năng phòng và chữa bệnh Dần dần các kinh nghiệm được tích luỹ,phổ biến Đó là cơ sở quá trình hình thành và sử dụng cây thuốc trong y họctruyền thống của các dân tộc Càng ngày tri thức của nhân loại càng đượcnâng cao, nhất là khoa học đã phát triển, việc sử dụng cây thuốc càng được
mở rộng hơn và mang lại hiệu quả to lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ conngười
Và từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền y học cổtruyền mang đặc trưng riêng
Nghiên cứu lịch sử các cây làm thuốc của các dân tộc, vùng lãnh thổđược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều bằng chứng xác thực.Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pikering đãchỉ rõ: Ngay từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN) người dân khu vựcTrung Cận Đông đã sử dụng nhiều loài cây để làm lương thực và chữa bệnh
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B.(1960) chỉ ra rằng, vàokhoảng 5000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và vì vậy là mụctiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trongcác cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc Như vậy, tầm quan trọng của các câylàm thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội cácgiống cây thuốc quý được thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh
Châu Úc được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất thếgiới Người ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn 60000
Trang 4năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây
thuốc bản xứ Nhiều loài trong số này như cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu hiệu trong
việc chữa bệnh Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bịmất đi khi người châu Âu đến định cư Ngày nay, đa phần các dược thảo ởchâu Úc bắt nguồn từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng venThái Bình Dương
Dược thảo châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y họctruyền thống cổ điển Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN),một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắcđến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc Ông đã viết hàng trămcuốn sách và đã được áp dụng trong ngành Y ở châu Âu hơn 1500 năm Ở thế
kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sáchdược thảo có tên “De material Medica” Quyển sách này bao gồm 600 loạithảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây và là sách thamkhảo chính được dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII Cuốn sách còn đượcdịch ra nhiều ngôn ngữ như: Tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tư và tiếng Hebrew.Vào thời Trung Cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa
vẻ bề ngoài của một loài cây “Dấu hiệu của thần thánh” và công dụng y học
của chúng Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống như các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi.
Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành dược thảo cổ truyền lớn hơn bất kỳchâu lục nào khác Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi
đã có từ thời xa xưa Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng Trong bảngiấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc vàcác công thức, 700 loài dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đếncác vết thương do cá Sấu cắn Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung
Trang 5Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước Từ thế
kỷ V đến thế kỷ XIII SCN, các thầy thuốc Ả Rập là những người có công đầutrong sự tiến bộ của ngành y Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn ElBeitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ởBắc Phi
Nói đến dược thảo châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia cónền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ Lịch sử nền Y họcTrung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ
để chữa bệnh như: Sử dụng nước cây Chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết
thương và tắm ghẻ Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản 1985
đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordoca cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, Hạt gấc trị sưng tấy, đau
khớp, sốt rét, vết thương tụ máu,…
Văn minh của người Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5000 năm dọctheo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ Trong bộ sử thi Vedas được viết vàonăm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ
đó Trong đó, nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành cho vịthần đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos) là cây dành chothánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có vàmay mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khỏe) và cây được trồng gần cácđền thờ
Ngoài ra, Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi Hoahồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ đểlàm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay, người ta đã chứng minhrằng trong cánh Hoa hồng có một lượng tanin, glycosid, tinh dầu đáng kể.Tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiềubệnh
Trang 6Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới.Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CIN) đã điều tranghiên cứu sàng lọc hơn 40000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc
có khả năng chữa bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có
dược tính mạnh được điều chế từ một loại Hoa hồng (Cantharanthus roseus).
Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ
em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90%
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là hợp chất tựnhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu câythuốc theo các nhóm hợp chất được tiến hành và đã thu được nhiều kết quảtốt Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiệnđại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao Do vậy, đây là các nghiên cứuđược triển khai ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới - WHO năm 1985, trong số
250000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, có gần 20000 loàithực vật được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biếnthuốc Trong đó, ở Ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc trên 5000 loài,riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài làcây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1900 loài Cũng theo WHO thì mức
độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới80% dân số sử dụng thuốc dân tộc Trung Quốc là nước đông dân nhất thếgiới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiệnnay có tới 80% số loài được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dântộc Điều này chứng tỏ đối với các nước công nghiệp phát triển thì việc sửdụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Câythuốc là loài cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiệnđại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe là con người
Trang 7Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sựphát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì cần phải có sự kết hợpgiữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại và y học cổ truyền của các dân tộc.Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khámphá những loại thuốc có ích cho tương lai.
1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích là 330541km, trải dài suốt bờ biển ĐôngNam lục địa châu Á trên 15 vĩ độ Ba phần tư lãnh thổ là đồi núi đồng bằng.Đồng bằng châu thổ Miền Bắc và Miền Nam sang Mê Công nối nhau ở miềntrung ven biển, nhiều núi và hẹp, do nằm ở mỏm chóp Đông Nam lục địa Âu-
Á nên lãnh thổ Việt Nam đồng thời chịu nhiều tác động phức tạp của hai hệthống hoàn lưu: Gió mùa Tây Nam và Đông Bắc Cho nên Việt Nam mangkiểu khí hậu nhiệt đới điển hình nóng ẩm và mưa nhiều
Với nhiều đặc trưng phong phú và kiểu khí hậu, Việt Nam khá giàu vềthành phần loài thực vật học, hệ thực vật Việt Nam có khoảng trên 12000 loài
thực vật bậc cao (Nguyễn Tiến Bân (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 2) Với hệ thực vật phong phú về thành phần loài, Việt Nam là quốc
gia có tiềm năng lớn về tài nguyên cây thuốc trong khu vực Đông Nam Á
Đồng thời nền y học cổ truyền qua hàng ngàn năm Bắc thuộc nên chịuảnh hưởng rất lớn của Y học cổ truyền Trung Quốc
Ngay từ thời Vua Hùng dựng nước (2900 năm TCN), qua các văn tựHán Nôm còn sót lại và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏlàm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dược Thần Hiệu” và
“Hồng nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh Trong tài liệu nay mô tả hơn 630 vịthuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thươnghàn Ông được coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh
7
Trang 8thuốc Nam” Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau như: “Tuệ Tĩnh ythư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng pháp”.Tới thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớnthứ hai “Y tông Tâm tĩnh” cho nước ta Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô
tả chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh
Sau cách mạng Tháng Tám 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giảiphóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việcsưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc Đỗ Tất Lợi người đã dàycông nghiên cứu nhiều năm và đã xuất bản được nhiều tài liệu về sử dụngcây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc Đáng chú ý nhất là năm 1957, ông
đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Năm
1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu nên công dụng củahơn 100 cây thuốc nam Từ năn 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bảnthành 2 tập, trong đó tác giả giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảomộc, động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục cácloài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các năm 1970,
1977, 1981, 1986, 1995,1999, 2001, 2003 Lần tái bản thứ 7 (1995) số câythuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là tái bản lần thứ
10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng,thành phần hóa học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khácnhau Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữakhoa học dân gian và khoa học hiện đaị
Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
“Cây cỏ Việt Nam” Tuy chưa giới thiệu được hết hệ thực vật Việt Nam,nhưng phần nào cũng đưa ra được công dụng làm thuốc của nhiều loài thựcvật Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốcViệt Nam” và được tái bản vào năm 2000 Công trình liệt kê gần 800 loài cây,
Trang 9con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chếbiến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng.
Năm 1966, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu câythuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họcây thuốc” và được in lần thứ hai vào năm 1976 Năm 1980, Đỗ Huy Bích,Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”, với 519 loàicây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện
Võ Văn Chi năm 1976, trong luận văn phó tiến sĩ khoa học của mình,ông đã thống kê 1360 cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở MiềnBắc Đến năm 1991, trong một báo các tham gia hội thảo quốc gia về câythuốc lần thứ II tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Tác giả giới thiệu mộtdanh sách các loài cây thuốc Việt Nam có 2280 loài cây thuốc bậc cao cómạch, thuộc 254 họ trong tám ngành Trên cơ sở các nghiên cứu của mình vàcác tài liệu đã công bố Năm 2002 ông đã biên soạn và xuất bản “Từ điển câythuốc Việt Nam” Có thể nói đây là tài liệu giới thiệu số lượng loài cây thuốclớn nhất và đầy đủ nhất của nước ta cho tới nay
Nhóm tác giả của Viện Dược liệu (2003) đã tiến hành biên soạn bộ sách
“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1000 loài, trong đó
920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc
Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thuthập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan đến cây thuốc, đáng chú
ý là 2 tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu Việt Nam” của tác giả LãĐình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụnglàm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003; 2005) đã công bố sách “Danh lụccác loài thực vật Việt Nam” đây là bộ sách có ý nghĩa quan trọng trong tracứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thành phần cây thuốc nói riêng
Trang 10Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật trong những năm qua đã có nhiềucông trình nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cácdân tộc thiểu số ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về cây thuốc cổtruyền của dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng,…đã cập nhật và bổ sung cho dữliệu về cây thuốc dân tộc Việt Nam.
Mặt khác do sức ép của thị trường tài nguyên cây thuốc bị khai thác quámức, nên ngày càng cạn kiệt và đứng trước nguy cơ bị đe dọa Chính phủ vàngành y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và tàinguyên cây thuốc nói riêng Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốchoặc mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các dự án đầu tư của Nhà nước,cũng như các dự án của tổ chức phi chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồngbào dân tộc Dao tại Ba Vì, Hà Tây - CREDEP), bảo tồn và phát triển câythuốc ở Sapa,…
Cây thuốc đã gắn liền với đời sống con người từ lâu và hiện nay thì nhucầu sử dụng nguồn tài nguyên này càng cao hơn Vì vậy mà VQG Tam Đảonói riêng và rừng Việt Nam nói chung tài nguyên cây thuốc đang bị suy giảmnghiêm trọng Mỗi năm theo ước tính có hàng trăm tấn cây thuốc bị khai thác
từ rừng tự nhiên Tam Đảo, con số này chỉ dựa trên những nghiên cứu còn rấthạn chế với số lượng nhỏ các xã, thôn nhưng trên thực tế còn cao hơn rấtnhiều
Vì vậy để bảo tồn nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này đồng thời đảmbảo cuộc sống cho người dân vùng đệm là một trong những thách thức lớnđối với các cấp, ban ngành và chính quyền địa phương nơi đây
Trang 11Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
Đánh giá được hiện trạng tài nguyên, tình hình khai thác, sử dụng câythuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm làm cơ sở đề xuất các giảipháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc trong khu vực
2.2 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là tài nguyên cây thuốc tại các xã thuộc địa bànVQG Tam Đảo – Vĩnh Phúc
2.3 Nội dung nghiên cứu.
2.3.1 Hiện trạng một số loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo
- Điều tra số lượng ngành, họ, chi, loài của các loài cây thuốc phân bố tại
khu vực nghiên cứu
- Tính đa dạng của cây thuốc về dạng sống
- Phân bố cây thuốc theo nơi sống
2.3.2 Giá trị sử dụng, tri thức cây thuốc tại cộng đồng
- Tình hình sử dụng cây thuốc tại cộng đồng
- Các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc
- Tìm hiểu những nhóm bệnh người dân vùng đệm chữa được
2.3.3 Thực trạng khai thác cây thuốc
- Giá trị cây thuốc tại thị trường địa phương
- Giá trị cây thuốc tại thị trường trong nước
- Tìm hiểu phương pháp thu hái, sơ chế, bảo quản cây thuốc
- Một số bài thuốc truyền thống và cách bào chế
- Nguyên nhân suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại Tam Đảo
- Các loài cây thuốc có nguy cơ bị đe doạ ở VQG Tam Đảo
Trang 122.3.4 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của một số loài có giá trị cao 2.3.5 Một số đề xuất bảo tồn và phát triển
2.4 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại VQG Tam Đảo Tuy nhiên đây là khu vực códiện tích lớn, nên các cuộc điều tra tập trung tại các xã mà ở đó người dân cótruyền thống khai thác, sử dụng cây thuốc nam Bao gồm 4 xã: Hồ Sơn, TamQuan, Đại Đình, Đạo Trù – huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc
2.5 Thời gian nghiên cứu:
Được tiến hành từ tháng 22/02 đến tháng 14/05 năm 2010
2.6 Phương pháp nghiên cứu
2.6.1 Phương pháp ngoại nghiệp
Tiến hành nghiên cứu bằng 3 phương pháp sau:
2.6.1.1 Phương pháp điều tra thực địa
Tiến hành điều tra theo tuyến và lập các ô tiêu chuẩn (OTC) điển hìnhđại diện cho khu vực Để tiến hành phương pháp này dựa vào bản đồ địa hình
và hiện trạng rừng để xác định các tuyến và ô cần lập
- Tuyến điều tra: Các tuyến điều tra được lập theo hệ thống các tuyếnđiển hình Các tuyến điều tra được bố trí cắt ngang theo các trạng thái, cácsinh cảnh rừng trong khu vực Khi điều tra theo tuyến cần có sự tham gia củangười dân địa phương (có thể nhờ hoặc thuê người dân đi cùng) để hỏi họ vềnhững cây mà họ thường sử dụng làm thuốc, tên địa phương và nơi chúngxuất hiện
Những cây không xác định được tên thì lấy mẫu về và xác định tên sau.Các thông tin điều tra được ghi vào Mẫu biểu 2.1
Mẫu biểu 2.1 Thống kê các loài cây thuốc theo tuyến điều tra
Tuyến số: ……… Ngày điều tra: …….……
Người điều tra: ………….…
STT Tên phổ thông Tên khoa học Dạng sống Bộ phận sử dụng Công dụng
Trang 13- Ô tiêu chuẩn (OTC)
Trong khu vực chọn những vị trí điển hình để lập các OTC, mỗi OTCvới diện tích 1000 m2
Trong OTC cũng điều tra tương tự với điều tra theo tuyến và điều tra tìnhhình phân bố của các cây thuốc Thông tin điều tra từ OTC được ghi vào cácMẫu biểu sau:
Mẫu biểu 2.2 Điều tra cây gỗ trong OTC
OTC số: ……… Trạng thái rừng: ……… Ngày điều tra:……… Ngươì điều tra: ……….
STT Tên loài H vn (m ) D 1.3 (cm ) Đánh giá sinh trưởng Ghi chú
Mẫu biểu 2.3 Điều tra cây tái sinh
OTC số: ……… Trạng thái rừng: ………
Ngày điều tra: ………… Người điều tra: …………
> 1m < 1m
Mẫu biểu 2.4 Điều tra cây bụi, thảm tươi
Số OTC:…… Ngày điều tra: ……… Người điều tra: ………
Mẫu biểu 2.5 Thống kê các loài cây thuốc trong OTC
Số OTC:…… ………… Ngày điều tra: ………
Người điều tra: …………
Dạng sống
Bộ phận sử dụng
Công dụng
Trang 142.6.1.2 Phương pháp điều tra cộng đồng
Trong quá trình điều tra nghiên cứu cộng đồng sử dụng phương phápPRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia)
Một số kĩ thuật thường sử dụng trong PRA:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được lựa chọn
- Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi bất kỳcâu hỏi nào với những câu hỏi tùy thuộc vầo hoàn cảnh khi đó, thứ tự nội dungcần hỏi có thể thay đổi tùy ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của ngườicung cấp thông tin
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một sốcâu hỏi có thể thêm vào tùy theo tình huống cụ thể
- Phỏng vấn có cấu trúc (Phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụng một
bộ câu hỏi nhất định đối với người cung cấp thông tin có chọn lọc tham gia
- Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đóchúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một qui trình sử lý hoặcchế biến nào đó
- Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của ngườikhác đưa ra trong các lần phỏng vấn trước
- Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả về bước đầu tri thức và kinhnghiệm phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm thông tin bổsung ta tiến hành thảo luận nhóm Nhóm thảo luận bao gồm cả những ngườitham gia và không tham gia thảo luận trước đó Trong khi thảo luận cán bộnghiên cứu lần lượt đưa ra những thông tin đã thu thập để mọi người tranhluận Nhiều kinh nghiệm đã được chỉnh lý và bổ xung trong quá trình này Cácthông tin được ghi vào các mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 2.6 Tình hình gây trồng, thu hái, bộ phận sử dụngs
trồng Thu hái
Trang 15Mẫu biểu 2.7 Mùa thu hái, cách chế biến và bảo quản cây thuốc
Người phỏng vấn:……… Ngày:………
STT Tên chủ hộ Tên cây Bộ phận Mùa thu hái Chế biến Bảoquản
2.6.1.3 Phương pháp kế thừa tài liệu
Thu thập số liệu sẵn có của các nghiên cứu trước đây ở VQG Tam Đảo:Bản đồ, báo cáo của các dự án có liên quan, các báo cáo khoa học
2.6.2 Phương pháp nội nghiệp
Từ kết quả thu được ngoài thực địa, tôi tiến hành công tác nội nghiệp nhưsau:
- Xác định tên của những mẫu cây thuốc chưa biết bằng cách hỏi nhữngngười có chuyên môn về cây thuốc
- Tổng hợp số liệu thu được từ thực tế và các tài liệu có liên quan để phântích và đưa ra nhận xét những kết quả đạt được
- Phân loại các loài cây thuốc theo bộ phận, công dụng, giá trị và dạngsống của chúng
- Bằng các phương pháp toán học chúng ta xử lý số liệu, viết báo cáothực tập
2.6.3 Đánh giá mức độ đe dọa
Dựa trên các tài liệu đã ban hành về sự nguy cấp của thực vật để đánhgiá mức độ bị đe dọa của các loài thực vật có ích Các tài liệu đó là: Sách đỏViệt Nam năm 1996; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng,động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Ngoài ra còn căn cứ vào tình hình khai
Trang 16thác, sử dụng và buôn bán ở địa phương để chỉ ra các loài có nguy cơ bị đe dọatrong khu vực nghiên cứu.
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
Khu vực nghiên cứu là 4 xã thuộc phía Đông của VQG Tam Đảo đó làcác xã: Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù
Phía bắc giáp xã Quân Chu
Phía nam giáp xã Hướng Đạo
Phía đông giáp xã Minh Quang
Phía tây giáp xã Ninh Lai
3.1.1 Địa hình
Địa hình Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắtsâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính Phía ĐôngBắc các suối chính đều chảy về sông Công tạo nên vùng bồn địa Đại Từ PhíaTây Nam, các lưu vực suối đề đổ về sông Phó Đáy Núi Tam Đảo chạy dàitheo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm trên 20 đỉnh núi được nối với nhaubằng đường dông sắc nhọn
Nó như một bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồngbằng Các đỉnh có độ cao trên dưới 1000m Đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắccao 1592m Ba đỉnh núi nổi tiếng của Tam đảo là Thiên Thị (1375m), ThạchBàn (1388m), và Phù Nghĩa (1300m) Chiều ngang của khối núi rộng từ 10 -15km, sườn rất dốc và chia cắt mạnh, độ dốc bình quân từ 16 - 350 nhiều nơi
có độ dốc trên 350 Độ cao của núi giảm nhanh về phía đông bắc xuống lòngchảo Đại Từ tạo nên những mái dông đứng Hướng Đông Nam có xu hướnggiảm dần đến giáp địa phận Hà Nội Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực sôngPhó Đáy
Trang 173.1.2 Địa chất và thổ nhưỡng
Trong quá trình điều tra lập địa có 4 loại đất chính ở Tam đảo đã đượcphát hiện (Nguồn số liệu dự án VQG Tam Đảo)
- Đất Feralit mùn vàng nhạt phân bố ở độ cao trên 700m
- Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố xung quanh sườn núi Tam Đảo ở độcao từ 400 - 700m
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau như đáShale, Mica, Phillite và đá cát phân bố trên các đồi cao từ 100 - 400m
- Đất phù sa và dốc tụ phân bố ven chân núi và thung lũng hẹp giữa núi
và ven sông, suối lở Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầngdày, độ ẩm cao, màu mỡ đã được khai phá trồng lúa và hoa màu
3.1.3 Khí hậu
Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa vùng núi.Điều kiện khí tượng thuỷ văn mỗi vùng khác nhau Có thể coi trạm khí tượngTuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây Trạm Đại
Từ đặc trưng cho khí hậu sườn phía Đông Trạm Thị trấn Tam Đảo ở độ cao900m đặc trưng cho khí hậu vùng cao và khu nghỉ mát
Bảng 3.1 Khí hậu vùng Tam Đảo
Quang
Trạm Đại Từ
Trạm Vĩnh Yên
Trạm Tam Đảo
Nhiệt độ bình quân (0C) 22,9 22,9 23,7 18,0Nhiệt độ tối cao tương đối 41,4 41,3 41,5 33,1Nhiệt độ tối thấp tương đối 4,0 3,0 3,2 -0,2Lượng mưa bình quân năm (mm) 1641,4 1906,2 1603,5 2630,3
Lượng mưa cực đại trong ngày(mm) 150,0 352,9 284,0 299,5
Trang 18Lượng bốc hơi (mm) 760,3 985,5 1040,1 561,5
(Nguồn: Số liệu dự án thành lập VQG Tam Đảo)
3.1.4 Thủy văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
và sông Công ở phía Đông Đường phân thủy của hai hệ thống sông trênchính là dông núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ khê (BìnhXuyên)
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống hai sông chính nhưchân rết khá dày và ngắn, và cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi,lưu lượng nước lớn Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc theocác chân thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng
Sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thủy, chỉ có khảnăng làm thủy điện nhỏ Việc đắp đập tạo hồ có thể thực hiện được ở nhiềunơi quanh chân núi phục vụ sản xuất (Nguồn: Số liệu dự án thành lập VQGTam Đảo)
3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
+ Hệ thực vật rừng Tam Đảo
Tam Đảo nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam, là một trong chín vùngđịa lý sinh học có sự đa dạng cao về thành phần khu và hệ thực vật Hơn nữađây còn là nơi giao lưu của các vùng địa lý sinh học khác như: Hoàng LiênSơn, Bắc Trung Bộ Đặc điểm về địa hình, hướng phơi, độ cao, khí hậu, thủyvăn, tác động của con người kết hợp với đặc tính sinh thái của từng loài câylàm cho tính đa dạng và phong phú của hệ thực vật VQG Tam Đảo càng cao
Đến nay thống kê sơ bộ hệ thực vật rừng Tam Đảo (chỉ tính thực vậtbậc cao có mạch) gồm 213 họ 478 chi và 904 loài Trong đó có 38 loài mangnguồn gen quí hiếm và nguy cấp được Sách đỏ Việt Nam ghi nhận, cần ưutiên trong bảo tồn Tam Đảo cũng có khá nhiều nhóm cây có giá trị kinh tế
Trang 19như nhóm cây gỗ, cây thuốc, cây làm rau, cây cung cấp tanin, cây cho hoaquả và cây cảnh
Bảng 3.2 Phân chia hệ thực vật Tam Đảo dựa vào giá trị kinh tế
(Nguồn: Số liệu dự án thành lập VQG Tam Đảo).
+ Hệ động vật rừng Tam Đảo
Trong khu vực Tam Đảo đến nay đã phát hiện 840 loài động vật đượcphân loại cụ thể theo Bảng 3.3 dưới dây Trong đó có 39 loài và phân loài đặchữu
Trang 203.2 Tình hình dân sinh – kinh tế xã hội dân cư vùng đệm
3.2.1 Đặc điểm chung của vùng đệm
Vùng đệm VQG Tam Đảo nằm trên địa phận 23 xã, thuộc 6 huyện thịcủa 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên Với diện tích: 35.469 ha
và dân số là: 183.966 người (số liệu năm 2004) Dân bản địa khu vực nàygồm hai thành phần chính là người kinh và nhóm cộng đồng các dân tộc thiểu
số gồm: Dân tộc Sán Dìu, Dao, Nùng, Hoa, Sán Chỉ và Tày
Đây là vùng tập trung dân cư đông đúc có tác động lớn và liên quanmật thiết đến sự suy giảm hay phát triển của hệ sinh thái rừng trong VQGTam Đảo
“phát, đốt, chọc, tỉa” một loại hình khai phá rừng để gieo trồng đơn giản nhất
Ngoài tập quán canh tác nương rẫy người Sán Dìu và người Dao trongkhu vực núi Tam đảo còn có tập quán truyền thống khác là săn bắt động vậthoang dã theo mùa vụ
Trang 21Chương 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 4.1 Hiện trạng các loài cây thuốc tại VQG Tam Đảo
4.1.1 Số lượng ngành, họ, chi, loài của các loài cây thuốc phân bố tại khu vực nghiên cứu
4.1.1.1 Đa dạng về bậc ngành
Qua kết quả điều tra và tổng hợp các tài liệu đã được nghiên cứu cho thấy tạivùng đệm VQG Tam Đảo, số loài cây thuốc được người dân ở đây dùng để chữabệnh là 461 loài, thuộc 4 ngành thực vật bậc cao và được phân bố cụ thể như sau:
- Ngành Tháp Bút – Equisetophyta: 1 họ, 1 chi, 1 loài
- Ngành Dương Xỉ – Polypodiophyta: 4 họ, 4 chi, 4 loài
- Ngành Hạt Trần – Pinophyta: 2 họ, 2 chi, 2 loài
- Ngành Ngọc Lan – Magnoliopsida: 112 họ, 337 chi, 454 loài
- Từ đó ta thấy thành phần loài cây thuốc ở đây rất đa dạng không chỉ với
số lượng loài mà còn đa dạng trong sự phân bố ở các ngành khác nhau Kếtquả được thể hiện trong Bảng 4.1 và Biểu đồ 4.1
Bảng 4.1 Sự phân bố và tỷ lệ cây thuốc trong các ngành khác nhau
Ngành
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Trang 22Biểu đồ 4.1 Sự phân bố tỷ lệ cây thuốc trong các nghành
Khi đi sâu nghiên cứu thành phần cây thuốc ở Tam Đảo, ta thấy rằng: Sốloài cây thuốc phân bố ở các ngành không đồng đều nhau, chủ yếu tập trung ởngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Với 112 họ (chiếm 94,12%), 337 chi(chiếm 97,97%), 454 loài (chiếm 98,48%) Các ngành còn lại chỉ chiếm một
tỷ lệ rất nhỏ.Trong ngành Ngọc Lan thì lại phân ra làm 2 lớp: Lớp 2 lá mầm
và lớp 1 lá mầm, lớp 2 lá mầm chiếm số lượng cao hơn lớp 1 lá mầm với sốloài cụ thể như sau:
- Lớp 2 lá mầm: 92 họ, 287 chi, 332 loài
- Lớp 1 lá mầm: 20 họ, 50 chi 122 loài
Tuy lớp 1 lá mầm chiếm số lượng nhỏ hơn nhưng lớp này lại bao gồm rấtnhiều loài cây có giá trị như: Thiên niên kiện, Hoàng tinh hoa trắng, Mía dò,Kim tuyến, Râu hùm hoa tía, Bảy lá 1 hoa, Sa nhân,
4.1.1.2 Đa dạng về bậc họ
Qua điều tra, thống kê cho thấy, tại VQG Tam Đảo có 119 họ thực vật bậccao có mạch được sử dụng làm thuốc Để đánh giá sự đa dạng về bậc họ tôi đãchọn ra 10 họ có số loài nhiều nhất và được thống kê ở Bảng 4.2
Trang 23Bảng 4.2 10 họ có số loài nhiều nhất tại VQG Tam Đảo và 1 số xã vùng
m đệm
Stt
Tên khoa học Tên phổ thông lượng Số Tỷ lệ % lượng Số Tỷ lệ %
họ có số loài nhiều nhất,s tôi chỉ lấy đại diện 1 loài, 6 họ có 9 loài bao gồm
các họ: Bầu bí (Cucurbitaceae), Ráy (Araceae), Gai (Urticaceae), Cà phê (Rubiaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Ngũ gia bì (Araliaceae).
Để đánh giá mức độ đa dạng về bậc họ tôi sử dụng công thức:
P% =
N
n
x100 (của TolmachoVA.L,1974)Trong đó:
- P%: Tỷ lệ% tổng số loài trong 10 họ có số lượng loài lớn nhất so vớitổng số loài đã điều tra được
- n: Tổng số loài trong 10 họ có số loài lớn nhất
- N: Tổng số loài điều tra được trong khu vực nghiên cứu
Trang 24Nếu: P% < 50% tổng số loài điều tra được thì kết luận khu vực nghiêncứu có thành phần cây thuốc đa dạng về họ.
P% > 50% tổng số loài điều tra được thì kết luận khu vực nghiêncứu có thành phần cây thuốc không đa dạng về họ
Trong đó tổng số loài của 10 họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc nhất chỉchiếm 37,54% < 50 % tổng số loài trong khu hệ Như vậy ta có thể khẳngđịnh rằng thành phần loài cây thuốc tại khu vực đa dạng ở bậc họ
4.1.1.3 Đa dạng về bậc chi
Sự phân bố cây thuốc trong các chi không đều nhau; chi nhiều loài nhất
là chi Ficus chứa 9 loài, chi ít loài nhất có 01 loài
Để đánh giá tính đa dạng về bậc chi, tôi đã chọn ra 10 chi có số loài nhiềunhất và được thể hiện trong Bảng 4.3 và Biểu đồ 4.2
Bảng 4.3 B ng ánh giá tính a d ng v b c chi ảng đánh giá tính đa dạng về bậc chi đ đ ạng về bậc chi ề bậc chi ậc chi
Trang 25Biểu đồ 4.2 Sự đa dạng về bậc chi
Theo thống kê, hai chi Ficus và Euphorbia có số loài nhiều nhất (9 và 8)loài 10 chi có số loài được sử dụng làm thuốc nhiều nhất là 49 loài chiếm10,63 % tổng số loài đã điều tra Như vậy có thể kết luận rằng hệ thực vật ởVQG Tam Đảo và 1 số xã vùng đệm rất đa dạng về bậc chi
4.1.1.4 Đa dạng về bậc loài
Mặc dù chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ trên bản đồ Việt Nam, nhưngthành phần thực vật làm thuốc ở Tam Đảo lại chiếm một tỷ lệ đáng kể trongthành phần cây thuốc của nước ta là 11,98% (461 so với 3849 loài) Mặc dùvậy, tôi cho rằng đây mới chỉ là số liệu ban đầu Trong tương lai số lượng loàicây thuốc tại VQG Tam Đảo nếu được tiếp tục điều tra chắc chắn sẽ còn tănglên
So với các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu của tôi đã bổ sung thêm 86loài trong Danh lục cây thuốc của VQG Tam Đảo (Số liệu trước đây là 375loài)
Trang 264.1.2 Tính đa dạng của cây thuốc về dạng sống
Qua quá trình điều tra cho thấy cây thuốc ở VQG Tam Đảo có ở hầu hếtcác dạng sống như: Cây bụi, Cỏ leo, Cỏ trườn, Cỏ 1 năm, Cỏ hàng năm, Câygỗ, Kết quả thống kê được ghi lại ở Bảng 4.4 và Biểu đồ 4.3
Bảng 4.4 B ng th ng kê d ng sông c a các lo i ảng đánh giá tính đa dạng về bậc chi ống kê dạng sông của các loài ạng về bậc chi ủa các loài ài
Biểu đồ 4.3 Dạng sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
Dạng sống có số lượng lớn nhất là cây Thân thảo với 192 loài (chiếm41,64%) Dạng sống có số lượng loài đứng thứ hai là Cây bụi với 124 loài(26,90%); tiếp theo là cây Gỗ 98 loài (21,26%) và Dây leo 47 loài (10,20%).Qua đó ta có thể thấy, với tài nguyên cây thuốc thì cây thân cỏ chiếm vị trí rất
Trang 27quan trọng, như: Sâm nam (Abelmoschus tuberosus (Span.) Borss); Nghể răm (Polygonum hydropiper L); Nhân trần (Adenosma caeruleum R Br),
Cây bụi cần được quan tâm nhiều, còn tiềm ẩn nhiều giá trị, như: Đơn đỏ
(Excoecaria cochinchinensis Lour); Gối hạc (Leea guineensis G Don); Tuy
nhiên, với số lượng khá lớn số loài cây thuốc là cây gỗ (98 loài), nếu khôngđược sự quản lý tốt có thể việc khai thác quá mức làm ảnh hưởng tới các thảm
thực vật rừng hiện có, như: Gù hương (Cinnamomum banlansae Lecomte); Nhội (Bischofia javanica Blume); Vàng tâm (Manglietia fordiana Oliv),
Việc phân tích tính đa dạng về dạng sống của cây thuốc giúp chúng ta cóthể định hướng được trong việc gây trồng, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyênquý báu này
4.1.3 Sự phân bố cây thuốc theo nơi sống
Cây thuốc được người dân vùng đệm VQG Tam Đảo sử dụng phân bố ởtất cả các sinh cảnh điển hình của vùng núi Tam Đảo và vùng đệm Tuynhiên, số lượng loài thường gặp ở các sinh cảnh không đồng đều nhau Một
số loài có thể phân bố trong nhiều sinh cảnh, ngược lại có những loài chỉ phân
bố trong một kiểu sinh cảnh nhất định
Kết quả thống kê sự phân bố của cây thuốc theo nơi sống được tổng hợp ởBảng 4.5 và Biểu đồ 4.4
Bảng 4.5 Sự phân bố của cây thuốc theo nơi s ng ống kê dạng sông của các loài
Trang 28Chú giải ký hiệu:
R: Rừng
Lx: Làng xóm, trên nương rẫy, đồng rộng
Đtr: Đất trống, đồi cây bụi, trảng cỏ
Biểu đồ 4.4 Phân bố số cây thuốc theo nơi sống
Thống kê cho thấy có tới 193 loài chiếm tới 41,87% loài cây thuốcmọc ở trong làng xóm, trên nương rẫy, đồng rộng; 268 loài sống trong Rừng(trồng, tái sinh, tự nhiên) chiếm 58,13%; 77 loài chiếm 16,70% sống ở vensuối; 165 loài chiếm 35,79% sống ở vùng đất trống, đồi cây bụi, trảng cỏ Vàchỉ có 3 loài cây được người dân mang giống từ nơi khác đem về trồng chiếm
0,65%, là: Xuyên bạch chỉ (Angelica anomala Ave-Lall.); Bạch chỉ (Angelica decursiva (Miq.) Franch & Sav.); Xuyên khung (Ligusticum wallichii
Franch)
Trang 294.2 Giá trị sử dụng và tri thức cây thuốc taị cộng đồng
4.2.1 Tình hình sử dụng cây thuốc tại cộng đồng
Tại khu vực sinh sống của người đồng bào dân tộc thiểu số, y học truyềnthống và cây thuốc hoang dại có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì:
- Chữa bệnh bằng thuốc nam là một tập quán lâu đời của họ
- Chữa bệnh bằng cây thuốc nam không mất nhiều tiền
- Thuốc nam chữa được hầu hết các bệnh thông thường
Kết quả điều tra tại 4 xã vùng đệm cho thấy, hơn 90% người dân vẫndùng cây thuốc nam và kinh nghiệm truyền thống để phòng và chữa các bệnhthông thường
Cũng theo kết quả thống kê danh lục cây thuốc người dân sử dụngtrong vùng đệm cho thấy 80% cây thuốc người dân thu hái là mọc tự nhiên vàchủ yếu là trong các quần hệ rừng Vì vậy việc khai thác cây thuốc trong rừng
tự nhiên vẫn diễn ra thường xuyên
Qua kết quả điều tra 120 hộ gia đình, chúng tôi nhận thấy có một sốloài cây thuốc thường thu hái về để chữa bệnh được thể hiện qua Bảng 4.6
Như vậy, mặc dù nhiều loài thuốc được người dân khai thác để chữabệnh tại cộng đồng, nhưng chỉ có 10 loài được nhiều hộ gia đình thu hái (từ7,25 % số hộ gia đình trở lên), loài có nhiều hộ thu hài nhất cũng chỉ đạt
14,50 % là Na rừng (Kadsura coccinea)
Có thể nhận thấy việc khai thác cây thuốc để chữa bệnh trong cộngđồng không quá tập trung vào một số loài
Trang 30Bảng 4.6 M t s lo i cây thu c ng ột số loài cây thuốc người dân thu hái nhiều nhất ống kê dạng sông của các loài ài ống kê dạng sông của các loài ười dân thu hái nhiều nhất i dân thu hái nhi u nh t ề bậc chi ất
Tỉ lệ %
1 Na rừng Kadsura coccinea Schisandraceae 48 14,50
3 Gối hạc Leea guineensis Leeaceae 36 10,88
4 Dây đauxương Tinosporasinensis Menispermaceae 34 10,27
5 Huyếtđằng Sargentodoxa cuneata Sagentodoxaceae 32 9,.67
6 Hoàngđằng Fibraurea tinctoria Menispermaceae 31 9,36
7 Sâmnam Schefflera heptaphylla Araliaceae 30 9,06
8 Mía dó Costus speciosus Costaceae 27 8,16
9 Ba kích Morinda officinalis Rubiaceae 26 7,85
10 Sa nhân Amomum longiligulare Zingiberaceae 24 7,25(*): Tổng số hộ gia đình điều tra là 120
Kết quả điều tra từ 120 hộ cho thấy, trung bình mỗi hộ gia đình thu hái
và sử dụng khoảng 30 - 45 kg cây thuốc tươi trên tháng Như vậy mỗi nămngười dân vùng đệm chỉ sử dụng khoảng 36 - 54 tấn cây thuốc Do vậy hoạtđộng này đã đe dọa đến các loài cây thuốc trong tự nhiên
4.2.2 Các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc
Việc nghiên cứu sử dụng các bộ phận của cây thuốc không chỉ chothấy tính chất phong phú và đa dạng trong khả năng phòng và chữa bệnh của
Trang 31các bộ phận khác nhau, mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo tồn.Qua việc nghiên cứu về các bộ phận được sử dụng để làm thuốc có thể phầnnào đánh giá được tính bền vững trong thực trạng khai thác và sử dụng tàinguyên cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Một thực tế là, việc sử dụng các bộ phận của cây để làm thuốc củangười dân vùng đệm VQG Tam Đảo là rất đa dạng và phong phú
Việc thống kê cụ thể các bộ phận được sử dụng là rất khó khăn do mỗigia đình thường có cách sử dụng các bôn phận của cây là khác nhau Mặtkhác, do một số loài đã trở nên khó tìm nên người dân đã sử dụng cả cây đểlàm thuốc Nhất là các cây dạng cỏ
Kết quả điều tra được thể hiện qua Bảng 4.7 và Biểu đồ 4.5
Bảng 4.7 Các b ph n c a cây ột số loài cây thuốc người dân thu hái nhiều nhất ậc chi ủa các loài được sử dụng làm thuốc ử dụng làm thuốc ụng làm thuốc c s d ng l m thu c ài ống kê dạng sông của các loài
Trang 32(Tỉ lệ % trong bảng lớn hơn 100% do có nhiều loài có thể sử dụng nhiều bộphận khác nhau để làm thuốc).
Biểu đồ 4.5 Bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc
Qua bảng và biểu trên ta thấy, Lá là bộ phận thường xuyên được ngườidân sử dụng làm thuốc nhất, với 154 loài, chiếm 33,55%; thứ hai là Rễ và
Củ, với 123 loài chiếm 26,80%; thứ ba là những loài mà người dân sử dụng
Cả cây, với 118 loài, chiếm 25,71% Thực trạng người dân sử dụng Rễ, Củ,
Cả cây của nhiều loài để làm thuốc dẫn đến nguy cơ suy giảm của một số loàicây thuốc
Do vậy đối với những người dân sử dụng cả cây hay Rễ, Củ thì cầnphải tìm ra những biện pháp bảo vệ những cá thể còn lại trong rừng tự nhiênkết hợp với nhân giống, gây trồng với số lượng lớn để có thể giảm nguy cơ
biến mất các loài cây này tại VQG Tam Đảo, như: Cốt toái bổ (Drynaria fortunei); Vuốt hùm (Caesarpinia minax); Sâm trâu (Callerya speciosa); Gù hương (Cinnamomum banlansae);
Trang 334.2.3 Tìm hiểu các nhóm bệnh người dân vùng đệm chữa được
Các loại bệnh mà người dân địa phương chữa được bằng cây thuốc rấtphong phú và đa dạng, theo cách chữa của người dân có thể chia thành cácnhóm bệnh sau Thể hiện qua Bảng 4.8
Bảng 4.8. Các nhóm bệnh người dân vùng đệm chữa được
STT Nhóm các bệnh chữa trị được Tỉ lệ có thể chữa được bệnh (%)
1 Bệnh về đường tiêu hóa (tả, lị, rối loạn tiêu hóa,
ngộ độc thức ăn…)
70
2 Bệnh do thời tiết (cảm cúm, đau đầu, sốt ) 72
3 Bệnh ngoài da (nhiễm trùng, ghẻ , lở, mụn, nhọt…) 80
4 Bệnh về hô hấp ( ho, hen, phế quản, phổi,…) 63
5 Bệnh về xương (gãy xương,sai khớp, bong gân,…) 38
6 Bệnh về thận (viêm thận, sỏi thận, lợi tiểu, tiết
niệu,…)
42
8 Bệnh của phụ nữ ( sinh đẻ, băng huyết, dạ con, ) 63
9 Bệnh về thần kinh (bại liệt, thần kinh, ) 19
11 Bệnh về gan (viêm gan A, B, C, Ugan,…) 43
12 Bệnh của trẻ em (còi xương, giun, sài, sởi,…) 40
Trang 34Nói chung, tri thức sử dụng cây thuốc của người dân vùng đệm là rất đadạng, không thể nghiên cứu hết được trong phạm vi của khóa luận Bước đầu
có thể nhận thấy việc phân chia các nhóm bệnh của người dân khu vực TamĐảo có nét tương đồng với một số khu vực đã được các tác giả nghiên cứu, ví
dụ: “Tạ Quang Thiệp (2005), Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Sán Dìu huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, luận
văn thạc sĩ sinh học, trường đại học KHTN, Hà Nội” Tỉ lệ cao các hộ có khảnăng chữa bệnh ngoài da, tiêu hóa và cảm cúm là đặc điểm chung về kinhnghiệm chữa bệnh của các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi
Đề tài mớichỉ nghiên cứu đánh giá tổng quát chứ chưa đi sâu nghiên cứutri thức sử dụng cây thuốc của người dân vùng đệm được
4.3 Thực trạng khai thác cây thuốc vì mục đích thương mại tại VQG Tam Đảo
4.3.1 Giá trị cây thuốc tại thị trường địa phương
Có thể nói, thị trường cây thuốc tại vùng đệm VQG Tam Đảo đượchình thành nên bởi nhu cầu giữa người mua là thầy lang có tiếng trong vùng,
do phải khám chữa bệnh cho bệnh nhân nên không có thời gian đi tìm kiếm
và thu hái cây thuốc với người bán là những người dân nghèo trong vùng.Những người dân sau khi nhận được lời đề nghị sẽ vào rừng lấy cây thuốc vềbán lại cho thầy lang Mỗi lần đi rừng, một người dân có thể lấy được khoảng
10 - 15 loài cây thuốc, với khối lượng khoảng 30 - 45 kg theo yêu cầu củathầy lang
Trong vùng đệm các giao dịch giữa các thầy lang trên với người dân làrất phổ biến chiếm đến trên 90% tổng số giao dịch về cây thuốc trong vùng
Theo các thầy lang cho biết giá cả của cây thuốc nguyên liệu trongvùng đã tăng lên rất nhiều trong thời gian qua, do:
Trang 35- Việc tìm kiếm các loài cây thuốc này khó khăn hơn do nguồn câythuốc trong tự nhiên khan hiếm (thể hiện ở quãng đường đi thu hái dài hơn,thời gian thu hái lâu hơn, công sức phải bỏ ra để thu hái cây thuốc nhiềuhơn…)
- Kiểm lâm quản lý ngày càng chặt hơn
- Do giá cả sinh hoạt tăng, nên giá cây thuốc cũng tăng theo
Với những lý do trên giá cả cây thuốc tại vùng đệm VQG Tam Đảotăng lên rất nhanh trong những năm vừa qua Trong khoảng 5 năm, giá nhiềuloại dược liệu tăng lên 4 lần (Huyết đằng, Cốt toái bổ) có loại tăng tới 5 lần(Hà thủ ô đỏ)
Sự biến động giá cả của một số loài cây thuốc qua điều tra phỏng vấn,cho thấy khối lượng, giá trị của 20 loài cây thuốc thường xuyên đựơc muabán giữa các thầy lang và người dân địa phương năm 2009, các loài cây đượcsắp xếp theo giá trị từ trên xuống dưới được thể hiện qua Bảng 4.9
Trong 20 loài cây thuốc đó thì giá của Ba kích, Thạch xương bồ và Hàthủ ô đỏ là cao nhất (từ 100 - 120 nghìn VNĐ (Kg) nhưng lại được bán trênthị trường với khối lượng tương đối nhỏ so với các loại khác Điều này chothấy chữ lượng các loài này đã cạn kiệt trong tự nhiên Loài cây có số lượngbuôn bán nhỏ nhất trên thị trường là Ba kích, theo người dân địa phương thì
Ba kích còn rất ít trong rừng tự nhiên Tam Đảo
Ba loài cây có giá trị nhất trên thị trường là: Dây đau xương, khốilượng buôn bán trên thị trương khoảng 10 tấn, tương đương 200 triệu VNĐ;Huyết đằng 3 tấn tương đương 180 triệu VNĐ; Thạch xương bồ 2 tấn tươngđương 180 triệu VND; Na rừng 11 tấn tương đương với 165 triệu VNĐ Đây
là các loài cây hay được các thầy lang sử dụng, đặc biệt được sử dụng nấu cao
lá Riêng xã Đạo Trù huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc đã thu hái loài câyHuyết đằng với khối lượng khoảng 500 Kg tươi / tháng, khi nghiên cứu vềmức độ sẵn có thì hầu hết người dân cho rằng hiện nay rất khó gặp và thu hái
Trang 36các loài cây này Điều này cho thấy các loài cây này đang đứng trước nguy cơbiến mất khỏi VQG Tam Đảo nếu không có biện pháp bảo tồn thích hợp.
Bảng 4.9 Giá trị bằng tiền của 20 loài cây thuốc được buôn bán ở vùng
đệm VQG Tam Đảo
Stt Tên thường dùng Tên khoa học
Giá (1000 VNĐ /Kg khô)
Khối lượng (tấn)
Giá trị (triệu VNĐ)
1 Dây đau xương Tinospora sinensis 20 10 200,00
2 Huyết đằng Sargentodoxa cuneata 60 3 180,00
5 Mộc hương nam Aristolochia balasae 40 2,8 112,00
7 Hoàng đằng Fibraurea tinctoria 50 1,5 75,00
9 Thiên niên kiện
tía
13 Sâm nam Schefflera heptaphylla 55 0,65 35,75
15 Hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora 110 0,3 33,00
16 Cam thảo dây Glycyrrhiza uralensis 20 1,6 32,00
17 Ngũ gia bì gai Acanthopanax
trifoliatus
20 Ba kích Morinda officinalis 120 0,15 18,00
Trang 37Tổng 1493,7
5
Sau khi tính toán sơ bộ có thể thấy rằng, tổng khối lượng của 20 loàicây thuốc được buôn bán nhiều nhất tại thị trường địa phương là 46,65 tấnkhô với giá trị lên đến gần 1,5 tỉ VNĐ Điều này cũng cho thấy áp lực củangười dân vùng đệm lên nguồn tài nguyên cây thuốc trong rừng VQG TamĐảo là rất lớn
4.3.2 Giá trị cây thuốc tại thị trường trong nước (vùng)
Qua quá trình điều tra phỏng vấn cho thấy, mặc dù vùng núi Tam Đảo
là “kho tài nguyên” chung của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, TuyênQuang, nhưng các đại lý dược liệu, các bệnh viện y học cổ truyền trên tỉnhhầu như không tham gia vào thị trường buôn bán cây thuốc có nguồn gốc từVQG Tam Đảo Điều này có thể lý giải bởi:
- Tại các đại lý này chỉ làm chức năng buôn bán, kinh doanh cây thuốc
để kiếm lợi nhuận, mà không chế biến cây thuốc Vì vậy chỉ buôn bán cáchàng dược liệu chế biến sẵn
- Còn đối với công ty dược, các bệnh viện y học cổ truyền luôn cần mộtkhối lượng hàng lớn, theo các tiêu chuẩn nhất định và hợp pháp Do vậynguồn gốc cây thuốc có nguồn gốc từ rừng Tam Đảo không đáp ứng đượcyêu cầu này
Khi nghiên cứu tìm hiểu về thị trường cây thuốc được buôn bán ra ngoàiphạm vi ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang Tôi nhận thấy câythuốc từ VQG Tam Đảo chủ yếu cung cấp cho thị trường sau đây:
4.3.2.1 Cây thuốc được bán tại tỉnh Lạng Sơn
Cây thuốc được bán ở đây chủ yếu là dạng các gói thuốc thành phẩm.Hoạt động buôn bán này chỉ do một số Bà Mế tại xã Đạo Trù thuộc huyện
Trang 38Tam Đảo đi bán Khối lượng cây thuốc được buôn bán theo dạng này là rấtnhỏ và khó thống kê Do hoạt động buôn bán này nhỏ lẻ và tự phát.
4.3.2.2 Thị trường cây thuốc thô bán đi Ninh Hiệp, Nghĩa Trai
Quá trình điều tra, phỏng vấn và thống kê khối lượng buôn bán của 4
xã vùng đệm năm 2009 đã thu được kết quả: Hai xã Nghĩa Trai (Văn Lâm Hưng Yên) và Ninh Hiệp (Gia Lâm – Hà Nội) là các đầu mối thu gom dượcliệu được tập trung từ nhiều khu vực và phân phối tới các địa phương (các cơ
-sở buôn bán nhỏ, các thầy lang…) và xuất khẩu
Hầu hết nguồn dược liệu thu hái tại Tam Đảo được tiêu thụ tại hai cơ
sở này
a Thị trường Ninh Hiệp
Qua quá trình điều tra phỏng vấn cho thấy rừng Tam Đảo thườngxuyên cung cấp khoảng 15 loài cây thuốc cho thị trường Ninh Hiệp và tổngkhối lượng buôn bán mỗi năm được ước tính khoảng 216,85 tấn Trong đó
Huyết Đằng (Saragentodoxa cuneata) là loài được buôn bán với khối lượng lớn nhất khoảng 35tấn; tiếp theo là Na rừng (Kadsura coccinea), khoảng 32
tấn Các loài khác cũng có khối lượng buôn bán rất lớn là: Thổ phục linh
(Smilax glabra) khoảng 27 tấn; Ích Mẫu (Leonurus japonicus), khoảng 19,5
tấn Đây đều là các loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (1996), Danh lục đỏcây thuốc (2001) và nghị định 32/2006/NĐ-CP Do vậy, cần phải thực hiệncác biện pháp bảo vệ cấp thiết đối với các loài cây này tại VQG Tam Đảo Cụthể các loài này được thể hiện qua Bảng 4.10
Trang 39Bảng 4.10 Danh mục cây thuốc Tam Đảo được buôn bán ở Ninh Hiệp
5 Dây đau xương Tinospora sinensis 19,50
8 Thiên niên kiện tía Homalomena occulta 12,50
9 Mộc hương nam Aristolochia balasae 10,00
10 Ngũ gia bì gai Acanthopanax trifoliatus 9,55
Trong đó tại 4 xã thuộc khóa luận nghiên cứu đóng góp cung cấp câythuốc cho thị trường Ninh Hiệp là khoảng 97,3 tấn, cụ thể được thể hiện tạiBảng 4.11
Trang 40Bảng 4.11 Danh lục cây thuốc của 4 xã khóa luận nghiên cứu được buôn
bán tại Ninh Hiệp năm 2009
bán (tấn)
8 Thiên niên kiện tía Homalomena occulta 4,00
9 Mộc hương nam Aristolochia balasae 3,50
10 Ngũ gia bì gai Acanthopanax trifoliatus 2,00
b Thị trường Nghĩa Trai
Qua quá trình điều tra phỏng vấn cho thấy rừng Tam Đảo thườngxuyên cung cấp cây thuốc cho thị trường Nghĩa Trai và tổng khối lượng buôn
bán mỗi năm ước tính khoảng 133,4 tấn Trong đó loài Na rừng (Kadsura coccinea) là loài cây buôn bán nhiều nhất, với khối lượng lên tới 25 tấn; tiếp theo là: Thóc lép (Desmodium gangeticum (L.) DC.), 22 tấn; Thổ phục linh