Việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước NSNN là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia..
Trang 1NHÓM 2
Đặng Thị Ngọc Huệ 37K13 Đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi
Lê Ngọc Uyên Phương 37K13 Làm slide
Trần Yến Thương 37K13 Thực trạng THNS nhà nước 2012 và
tổng hợp bài word Mai Thị Hương Ly 37K13 Nguyên nhân và hậu quả
Trương Thị Bích Ngân 37K13 Đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi
Nguyễn Thị Thanh Lan 37K13 Biện pháp giải quyết THNS
Nguyễn Thị Kim Yến 38K6.2 Thực trạng THNS nhà nước 2012
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta điều biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đều gặp phải Việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính , tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới…, việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các quốc gia trên thế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách và cần thiết Ở nước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngày càng tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh tế Đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ.
Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn
ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lý thâm hụt NSNN, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay?
CẤU TRÚC BÀI THUYẾT TRÌNH
A THÂM HỤT NGÂN SÁCH LÀ GÌ?
NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
B THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG NĂM 2012 ĐƯỢC SO
SÁNH QUA CÁC NĂM
C NHỮNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NGÂN SÁCH
D CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
Trang 3* THÂM HỤT NGÂN SÁCH LÀ GÌ?
NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I.THÂM HỤT NGÂN SÁCH LÀ GÌ?
Thâm hụt ngân sách nhà nước:
Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước) là tình trạng
các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước.
VD: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155 900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với GDP là 6.9 % (theo cách tính của Việt Nam).
Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
A Thu thường xuyên (thuế,
phí, lệ phí).
B Thu về vốn (bán tài sản
nhà nước).
C Bù đắp thâm hụt.
– Viện trợ.
– Lấy từ nguồn dự trữ.
Vay thuần (= vay mới – trả
nợ gốc).
D Chi thường xuyên.
E Chi đầu tư.
F Cho vay thuần (= cho vay mới – thu nợ gốc).
Trong đó: A + B +C = D + E + F Công thức tính thâm hụt NSNN của một năm sẽ
như sau:
Thâm hụt NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C
Trang 4Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cần thiết phải cân bằng theo tháng, theo năm Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bi thâm hụt qua lớn và kéo dài Tuy vậy, trong nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, các Chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách để tránh tình trạng thâm hụt.
II NGUYÊN NHÂN THÂM HỤT NGÂN SÁCH
1 Nguyên nhân khách quan
a) Tác động của chu kì kinh doanh
Chu kì kinh doanh hiểu đơn giản là sự biến động của nền kinh tế theo 3 giai đoạn: suy thoái, phục hồi, hưng thịnh.
Khi nền kinh tế phát triển thì thu của NN sẽ tăng lên, trong khi không phải chi nhiều Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thì nguồn
thu của NN sẽ co lại nhưng nhu cầu chi lại tăng lên để giải quyết những khó khăn
về kinh tế xã hội Điều đó làm tăng mức bội chi NSNN Như vậy chu kì kinh doanh tác động rất lớn đến NSNN, nó có thể làm tăng hoăc giảm mức bội chi NSNN.
Trang 5b) Tác động của những điều kiện tự nhiên, những yếu tố bất khả kháng
Các rủi ro thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, là những tác nhân xảy ra ngoài mong muốn của con người nên khi lập dự toán mặc dù các quốc gia đã có những khoản chi dự phòng nhưng cũng không tránh khỏi việc phải tăng chi để ổn định các hoạt động kinh tế xã hội Việc thâm hụt NSNN xảy ra ngoài dự toán của NN.
c) Nhu cầu đầu tư phát triển KT, cơ cấu dân số thay đổi, chi phí an sinh xã hội tăng
Trang 62 Nguyên nhân chủ quan
a) Thất thu thuế NN
Thuế là nguồn thu chủ yếu và bền vững nhất của NSNN Tuy nhiên do sự quản lý chưa chặt chẽ của các cơ quan NN đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân gian lận thuế gây thất thu cho NN mỗi năm hàng ngàn tỷ đồng Cụ thể trong giai đoạn 2007-2010, Thanh tra Tổng cục Thuế chỉ tiến hành khoảng 17.000 cuộc thanh - kiểm tra, nhưng đã kiến nghị thu vào ngân sách hơn 11.423 tỷ đồng tiền thuế và gần 1.020 tỷ đồng tiền xử phạt vi phạm hành chính về thuế Hay như mỗi năm NN thất thu 40000 tỷ đồng tiền thuế từ thuốc lá nhập lậu.
Ngoài ra thì thất thu thuế cũng có nguyên nhân 1 phần từ việc giảm thuế và miễn thuế làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách.
b) Đầu tư công kém hiệu quả
Nước ta được hỗ trợ rất nhiều về nguồn vốn ODA, FDI, để xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia Tuy nhiên trên thực tế việc đầu tư không đúng chỗ, tiến độ đầu tư chậm trễ gây lãng phí rất lớn đến NSNN
Các trường hợp điển hình như việc Tập đồn Kinh tế nhà nước Vinashin bỏ 1.000 tỉ đồng để mua tàu vận tải biển tuyến Bắc - Nam, nhưng chỉ chạy mấy chuyến rồi dừng, đang được nhắc đến như một điển hình cho sự lãng phí của đầu tư công Hay, đầu tư cảng biển dọc 600km ở bờ biển miền Trung quá dày đặc (cứ khoảng
30 - 40km lại có 1 cảng), song, các cảng biển này lại không hoạt động hết công suất…
Trang 7c) Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Việc đảm bảo nguồn chi thường xuyên để quản lý các hoạt động kinh tế, giáo dục,
y tế, và các nguồn chi đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất, luôn tạo ra
sự căng thẳng về ngân sách Cả 2 trường hợp đều tạp áp lực bội chi NSNN
d) Các khoản chi tiêu của Chính phủ nhiều
III HẬU QUẢ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
- Việc gia tăng thâm hụt NSNN có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư
tư nhân hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, giảm tăng trưởng trong dài hạn.
- Khi ngân sách thâm hụt lớn, chính phủ buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt Lượng tiền danh nghĩa tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát Tác hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại thu nhập, của cải, gây biến động về cơ cấu sản xuất và làm việc trong nền kinh tế Điều đáng buồn
là trong các nghiên cứu gần đây, Việt nam đã vượt qua tất cả các nước trong khu vực về chỉ tiêu lạm phát Năm 2011, mức lạm phát lên tới hơn 18% và năm 2012 là 6,8%
Biểu đồ mức lạm phát của Việt Nam 2011-2012
Trang 8- Gia tăng thâm hụt NSNN sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại
- Để bù lại các khoản thâm hụt, chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc phát hành trái phiếu Thuế cao khiến các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn, giảm động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh Đồng thời làm tăng các khoản nợ của chính phủ Chỉ trong 3 năm từ 2010-2012, chính phủ đã huy động vốn vay hơn 690 nghìn tỷ đồng, trong đó gần 60% là để bù đắp cho bội chi NSNN
* THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG NĂM 2012 ĐƯỢC SO SÁNH QUA CÁC NĂM
Theo Ủy ban Kinh tế (UBKT) của Quốc hội, thâm hụt ngân sách kéo dài trong khi nhiều khoản thu ngân sách không bền vững, chi tiêu ngân sách cao, kém hiệu quả sẽ để lại nhiều hệ quả đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới nếu không nhanh chóng có giải pháp cải cách tài khóa triệt để, toàn diện
Bảng thống kê tình hình thâm hụt ngân sách qua các năm (2002 – 2010)
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
Tổng thu cân đối NSNN
Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách nhà nước
Tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP
Trang 92005 283,847 313,479 40,746 4.86 %
2010
(Nguồn: Tổng hợp từ cổng TTĐT Bộ Tài chính)
Theo thống kê cho thấy, trong những năm trở lại đây, tỉ lệ thâm hụt (bội chi) ngân sách ở Việt Nam luôn nằm ở ngưỡng 5% GDP và có xu hướng tăng lên Đây là một tỉ lệ rất cao Theo kinh nghiệm quốc tế thì trong điều kiện bình thường, thâm hụt ngân sách ở mức 3% GDP được coi là đáng lo ngại, còn ở mức 5% GDP thì bị coi là đáng báo động Riêng năm 2009 tỉ lệ thâm hụt ngân sách đã lên tới 6.9% GDP Tốc độ tăng thâm hụt ngân sách cũng là khá cao từ 17 – 18% Cụ thể năm 2006 mức thâm hụt là vào khoảng 48,5 nghìn tỷ đồng thì năm 2007 đã tăng lên tới 56,5 nghìn tỷ đồng Và theo kết quả công bố Dự toán NSNN năm 2010 và 2011 thì tỉ lệ thâm hụt ngân sách lần lượt sẽ là 6.2% GDP và 5,3% GDP, có giảm so với năm 2009 nhưng vẫn còn ở mức cao Ngoài ra, những khoản chi ngoài ngân sách trong mấy năm gần đây lên tới 20 – 25 % tổng ngân sách
Giai đoạn từ năm 2002-2007, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể Tốc
độ tăng thu hằng năm bình quân là 18,8% Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt 18,5% Thâm hụt NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối
ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5% GDP
Thực tế trong các năm qua, từ năm 2002 đến nay, tốc độ tăng thâm hụt NSNN là khá cao, ở mức 17-18%/ năm Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (năm 2002: 1,6%; năm 2003: 9,7%; năm 2004: 8,1%; năm 2005: 9,0%; năm 2006: 11,1%; năm 2007: 7,8%)
Trang 10Thâm hụt ngân sách có xu hướng tăng
Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP)
Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 do UBKT công bố ngày 4/9/2012, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập
kỷ qua và có mức độ ngày càng gia tăng Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai đoạn 2003 - 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008 - 2012
CHI NHIỀU HƠN THU
Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 cho biết, trong khi nhiều khoản thu ngân sách thiếu tính bền vững, thì chi tiêu ngân sách của Việt Nam lại luôn ở mức cao
và kéo dài nhiều năm, quy mô chi tiêu ngân sách của Việt Nam chiếm tới hơn 30% GDP trong những năm gần đây
Đáng chú ý là trong tổng chi tiêu ngân sách thì chi thường xuyên chiếm tỷ trọng rất lớn, điều này thể hiện phần nào sự cồng kềnh và chi tiêu tốn kém của bộ máy công quyền
Trang 11Chi tiêu ngân sách nhà nước các năm
Giá trị (ngàn tỷ đồng)
Tốc độ tăng (%)
Chi đầu tư phát triển
Chi thường xuyên
Nguồn: Quyết toán và dự toán NSNN các năm của Bộ Tài chính
TÌNH HÌNH THU-CHI NSNN CẢ NĂM 2012 (ƯỚC ĐẠT/TỶ ĐỒNG)
Cả năm 2012 So với dự toán năm Lũy kế cả năm
Chi tiêu ngân sách lớn, cùng với tình trạng đầu tư công dàn trải, kém hiệu
quả và rủi ro từ những khoản thua lỗ khổng lồ từ khối doanh nghiệp nhà
nước đang tạo áp lực lớn đến tình trạng thâm hụt ngân sách của Việt Nam
+ Thực tế ở Việt Nam:
Tính đến 15/10/2012, thâm hụt ngân sách nhà nước ta đã lên đến 155,2 ngàn
tỷ đồng, vượt xa mức thâm hụt 140,2 ngàn tỷ đồng theo dự toán Đến hết
năm 2012, do tình hình thu ngân sách nhà nước được cải thiện nên tỷ lệ
thâm hụt ngân sách nhà nước đúng bằng mức dự toán là 140,2 ngàn tỷ đồng
Tình hình tương tự có thể xảy ra trong năm 2013 với mức thâm hụt dự kiến
là 162 ngàn tỷ đồng
Trang 12Để bù đắp bội chi Việt Nam buộc phải vay trong nước và vay nước ngoài
Do số nợ vay được sử dụng vào những mục đích không sinh lợi nên toàn bộ
số chi trả nợ gốc phải trông vào phát hành nợ mới, đặc biệt là vay trong nước và ngân sách nhà nước Việt Nam đang đứng trước “vòng xoáy” nợ nần với qui mô nợ Chính phủ ngày càng lớn
C NHỮNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NGÂN SÁCH
Vậy để giải quyết được vấn đề thâm hụt ngân sách thì NN cần thực hiện những biện pháp nào? Điều này còn tùy thuộc vào cái nhìn thực tế đang diễn ra:
Chẳng hạn:
+ Năm 2013, Chính phủ Pháp đã cam kết cắt giảm 10 tỷ Euro chi tiêu công
để giảm thâm hụt ngân sách nhà nước Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là việc cắt giảm này đã góp phần giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này + Để bù đắp thâm hụt NSNN và kích thích phục hồi kinh tế, một số nước đã
“bơm tiền” ra bằng cách kích hoạt ngân sách một khoản tiền lớn Ví dụ: Nhật Bản đã “bơm” 92.610 tỷ Yên (hơn 906 tỷ USD) cho tài khóa 2013 sau khi chỉ có 46,3% ngân sách của tài khóa hiện tại bắt nguồn từ việc phát hành công trái…v.v…
* Những ví dụ cụ thể trên phần nào cho thấy được: mỗi biện pháp khắc phục thâm hụt ngân sách đều có những ưu và nhược điểm, không phải áp dụng biện pháp nào cũng tối ưu và giải quyết được hết tất cả các vần đề
Trang 13Và tùy theo bối cảnh, tình hình kinh tế từng nước mà người ta có thể sử dụng một, hai hay nhiều biện pháp cùng kết hợp với nhau Đó là một số những biện pháp cụ thể như:
- Tăng thu giảm chi
- Vay nợ trong nước
- Vay nợ ngoài nước
- Sử dụng dự trữ ngoại tệ
- Phát hành tiền
1 Biện pháp tăng thu giảm chi: (tăng các khoản thu như từ thu thuế,…và
cắt giảm chi tiêu)
Ở Việt Nam, năm 2009 Chính phủ đã giải quyết thâm hụt ngân sách bằng cách: Tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản Liên quan tới các ưu đãi về thuế TNDN: Từ 1-1-2009 thuế suất thu hẹp lại chỉ còn 10% và 20%, bỏ thuế suất ưu đãi 15%
- Xét tăng khoản thu là từ tăng thuế thì ta thấy tăng thuế sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, như đối với tăng thuế thu nhập nó sẽ kích thích các đối tượng mở mang các hoạt động kinh tế, tăng khả năng sinh lời Trong trường hợp này, tăng thuế thu nhập có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không dễ áp dụng và rất tốn kém Tăng thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng của nền kinh tế Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì tăng thuế không những không khả thi mà còn cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh, trực tiếp làm tăng số lượng nợ đọng thuế của các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng tài chính không lành mạnh và làm giảm nguồn thu ngân sách
Đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ thường chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu Cụ thể như: Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước;
Trang 14rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp…
2/ Vay nợ
Trong 3 năm 2010-2012, Chính phủ đã huy động được tổng khối lượng vốn vay khoảng 690.910 tỷ đồng trong đó năm 2010 là 208.957 tỷ đồng; năm
2011 là 207.088 tỷ đồng; năm 2012 ước khoảng 264.865 tỷ đồng (trong số này, phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước 288.739 tỷ đồng; vay nước ngoài của Chính phủ 256.918 tỷ đồng; huy động từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong nước là 165.253 tỷ đồng)
+ Vay nợ trong nước:
Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu
Ưu điểm: - Không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế Biện pháp
này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát.
Hạn chế: Ở những nước trải qua giai đoạn lạm phát cao (như nước ta hiện nay),
giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn
+ Vay nợ nước ngoài:
- Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên
chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực