Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, trong vài chục năm trở lại đây, sự ô nhiễm bởi các nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, nuôi trồng thuỷ sản kéo theo sự nở r
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
VŨ THỊ NGUYỆT
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC, BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VI KHUẨN LAM ĐỘC TRONG HỒ NÚI CỐC VÀ
GIẢI PHÁP XỬ LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
VŨ THỊ NGUYỆT
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC, BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VI KHUẨN LAM ĐỘC TRONG HỒ NÚI CỐC VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Trang 3Luận văn Thạc sỹ Ngành: Khoa học Môi trường
1.1.3 Các loài VKL độc, độc tố và tác động độc hại của chúng lên sức
kh ỏe con người, vật nuôi và môi trường sinh thái.60T 8
2.2.2 Các khu v ực có phát triển của vi khuẩn lam độc và những nghiên
c ứu đã có về hiện tượng VKL độc ở Việt Nam.60T 15
2.2 Phương pháp thu thập các số liệu về chất lượng nước thải từ các nguồn
th ải trong lưu vực60T 28
Trang 54.4.2.1 Qu ản lý tổng hợp tài nguyên nước nhằm đảm bảo khối lượng
nước cho các nhu cầu sử dụng60T 87
Trang 6Luận văn Thạc sỹ Ngành: Khoa học Môi trường
B ảng 4.6: Giá trị dinh dưỡng của nước mặt Hồ Núi Cốc chịu ảnh hưởng trực tiếp
của nước thải khu khách sạn.U 82
Trang 7Luận văn Thạc sỹ Ngành: Khoa học Môi trường
- trung bình hồ Núi Cốc từ năm 2009 - 2011U 37
Trang 8Luận văn Thạc sỹ Ngành: Khoa học Môi trường
Hình 3.29: Phân tích hợp phần (Principal Component Analysis) dựa trên các thông
số thuỷ lý, thuỷ hoá và thủy sinh tại hồ Núi Cốc 4/2009-11/2011.U 63
Hình 4.5: Giá trị trung bình của hàm lượng các chất dinh dưỡng của các mẫu nước
thải sản xuất công nghiệp – dịchU 78
60TU
Hình 4.6: Giá trị trung bình của hàm lượng các kim loại nặng của các mẫu nước
thải sản xuất công nghiệp –dịch vụU 79
60TU
Hình 4.7: Giá trị trung bình của BOD và COD trong các mẫu nước thải sản xuất –
dịch vụU 80
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 9Luận văn Thạc sỹ Ngành: Khoa học Môi trường
Trang 10Luận văn Thạc sỹ Ngành: Khoa học Môi trường
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới: TS Dương Thị Thủy, cán bộ nghiên cứu Viện Công nghệ môi trường và PGS,TS Lê Đình Thành, giảng viên Trường Đại học Thủy Lợi, đã trực
tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Lãnh đạo Khoa Môi trường, trường Đại học Thủy lợi, cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, trong trường đã dạy cho tôi những kiến thức, kỹ năng quan trọng
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Lãnh đạo Phòng Thủy sinh học môi trường, Lãnh đạo Viện Công nghệ môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được
học tập và nghiên cứu
Tôi chân thành cảm ơn đồng nghiệp của tôi, những cán bộ của Phòng Thủy sinh học Môi trường đã giúp đỡ và ủng hộ để tôi hoàn thành tốt luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong
thời gian qua
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Học viên
Vũ Thị Nguyệt
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 11Luận văn Thạc sỹ 1 Ngành: Khoa học Môi trường
MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam v64Tiệc gia tăng dân số, phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp đã và đang làm gia tăng nguồn dinh dưỡng đáng kể trong các thủy vực Khi nguồn nước mặt giàu dinh dưỡng đặc biệt là phốt pho thường dẫn đến sự thay đổi
của quần xã thực vật nổi và quần xã có xu hướng thống trị bởi vi khuẩn lam (hay còn gọi là hiện tượng nở hoa của nước) “Nở hoa” của vi khuẩn lam (VKL) gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước như gây mùi khó chịu, làm giảm, thậm chí làm cạn
kiệt hàm lượng ôxy hòa tan trong nước, làm giảm đa dạng sinh học và gây tắc nghẽn các hệ thống cấp nước Ngoài ra, vi khuẩn lam có khả năng sản sinh các chất
có độc tố 64Tđược xếp vào loại các hợp chất rất độc có nguồn gốc sinh học Sự có mặt các chất có độc tố này trong các thủy vực phục vụ cung cấp nước nuôi trồng thủy
sản và nước sinh hoạt là một mối nguy hiểm tiềm tàng đối với sức khỏe con người,
thủy sản và động vật nuôi trong lưu vực
Trong các hồ chứa của nước ta, hồ Núi Cốc thuộc lưu vực sông Công, có
diện tích mặt nước vào loại trung bình (2500 ha ứng với mức nước dâng bình thường), diện tích hứng nước của lưu vực đến tuyến đập chính là 535kmP
2 P
, hồ chứa
với dung tích đạt 175,5 triệu mP
3 P
, dung tích hoạt động là 168 triệu mP
3 P
Theo QĐ số 234/TTg ngày 6/10/1971 của Thủ tướng chính phủ, Hồ Núi Cốc có các nhiệm vụ chính:
- Cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư thành phố Thái Nguyên
- Cấp nước cho các hoạt động công nghiệp khu vực thành phố Thái Nguyên
- Tưới cho 12.000 ha ruộng lúa của các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ và Phú Bình,
kết hợp nuôi cá và làm du lịch Hiện nay còn có thêm thủy điện với công suất lắp máy 1,5 MW
Khác với những thuỷ vực nhân tạo lớn như hồ Hoà Bình, Thác Bà… được xây dựng với mục đích chính là thuỷ điện Hồ Núi Cốc là hồ nhân tạo có diện tích
vừa phải để điều tiết và thực hiện chức năng cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, nuôi Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 12Luận văn Thạc sỹ 2 Ngành: Khoa học Môi trường
trồng thuỷ sản và du lịch Loại thuỷ vực này có ở hầu khắp các tỉnh trong nước, bởi
vậy tính điển hình của hồ Núi Cốc rất lớn, hơn nữa, với sự phát triển kinh tế xã hội
hiện nay của khu vực, vai trò và ý nghía của thuỷ vực này càng được coi trọng Theo các nghiên cứu gần đây chất lượng môi trường nước và hệ sinh thái hồ Núi Cốc đã và đang bị suy giảm Các kết quả khảo sát trong những năm gần đây cho thấy môi trường nước hồ đã xuất hiện các yếu tố gây phì dưỡng: hàm lượng nitrat và phốtphát trong nước hồ tương đối cao [16,17] Đối với hồ chứa được xây
dựng đa mục đích như hồ Núi Cốc, nếu bị phú dưỡng thì sự phát triển mạnh của
thực vật phù du (TVPD) nói chung và tảo độc nói riêng rất dễ xảy ra và khi đó quá trình xử lý để cung cấp nước uống sẽ gặp nhiều khó khăn hơn cả về kinh tế và công nghệ Những nghiên cứu sơ bộ đầu tiên về thực vật nổi tại hồ cho thấy VKL độc, đặc biệt là chi Microcystis xuất hiện thường xuyên Đôi khi chúng tạo nên hiện tượng nở rộ thực vật nổi với mật độ tế bào có thể đạt tới 5,6 x 10P
5 P
tế bào.LP
-1 P
[6]
Vì vậy việc “nghiên cứu hiện trạng môi trường nước, biến động thành phần
loài VKL độc trong hồ Núi Cốc và giải pháp xử lý” là cần thiết và cấp bách hiện
nay Đây là cơ sở khoa học cho việc quản lý, giảm thiểu sự có mặt cũng như tác động xấu của VKL độc tới môi trường, nuôi trồng thủy sản và sức khỏe của con người của hồ chứa nói trên, cũng như các hồ chứa loại vừa và lớn ở miền Bắc Việt Nam
2 M ục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
- Đưa ra được hiện trạng và diễn biến chất lượng nước của hồ Núi Cốc
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến biến động thành phần loài, số lượng VKL độc trong mối liên quan với điều kiện môi trường
- Đề xuất một số biện pháp quản lý chất lượng nước hồ Núi Cốc có tính thực
tế và khả thi
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 13Luận văn Thạc sỹ 3 Ngành: Khoa học Môi trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực vật phù du trong đó có nhóm VKL và VKL
độc tại hồ Núi Cốc
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong thời gian từ năm 2009 đến năm
2010
4 Phương pháp nghiên cứu và công cụ sử dụng
* Phương pháp nghiên cứu:
đến đề tài, thu thập tất cả các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, hiện trạng khai thác sử dụng nước và các nguồn thải
trạng chất lượng nước và số liệu về thành phần, mật độ thực vật nổi và VKL độc
kê, phương pháp phân tích tương quan v.v để xử lý số liệu, nghiên cứu mối quan hệ
giữa các yếu tố trong quá trình làm luận văn
ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới sự phát triển của VKL độc và đề xuất các
giải pháp quản lý bền vững tài nguyên nước hồ Núi Cốc
* Công cụ ứng dụng:
- Tin học: sử dụng tin học trong tính toán cho kết quả nhanh hơn, chính xác hơn
5 N ội dung của luận văn tập trung vào 4 nội dung như sau:
1 Khảo sát và đánh giá hiện trạng chất lượng nước hồ Núi Cốc
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 14Luận văn Thạc sỹ 4 Ngành: Khoa học Môi trường
2 Xác định các yếu tố môi trường liên quan đến sự biến động thành phần loài cũng như biến động số lượng VKL độc
3 Ảnh hưởng của các nguồn thải trong lưu vực tới chất lượng nước hồ
4 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước hồ Núi Cốc
Với 4 nội dung như trên, ngoài phần mở đầu và phần kết luận luận văn còn
có 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu vi khuẩn lam và giải pháp ngăn ngừa, xử lý Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Ảnh hưởng của các nguồn thải tới chất lượng nước hồ và đề xuất một số
biện pháp quản lý chất lượng nước hồ
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 15Luận văn Thạc sỹ 5 Ngành: Khoa học Môi trường
CHƯƠNG 1
VÀ GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA, XỬ LÝ
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Sự xuất hiện của VKL độc trong các thủy vực nước
Trong môi trường nước ngọt, vi khuẩn lam (VKL) - còn được gọi là tảo lam
là nhómvi tảo duy nhất sản ra độc tố Sự nở rộ VKL tại các thuỷ vực không phải là
hiện tượng mới Con người nhận biết nó từ khoảng thế kỷ thứ 12 (Codd, 1996) Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, trong vài chục năm trở lại đây, sự ô nhiễm
bởi các nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, nuôi trồng thuỷ sản kéo theo sự nở rộ của VKL, chủ yếu là VKL độc trong các thuỷ vực khác nhau xảy
ra ngày càng thường xuyên hơn và đã trở thành mối đe doạ cho các ngành công nghiệp nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản, các hoạt động giải trí dưới nước, sức khoẻ con người và là nguyên nhân gây chết động vật nuôi cũng như động vật hoang
dã và cả của con người ở nhiều nơi trên toàn thế giới [6,8] Hiện tượng phú dưỡng
tại các thuỷ vực nội địa dưới tác động của các yếu tố tự nhiên (hiện tượng xói mòn,
rửa trôi,,,,) hoặc do các hoạt động của con người (sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, quá trình đô thị hoá,,,) đang là mối quan tâm bức thiết trong công tác quản lý môi trường nước tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển Một nghiên cứu mới đây của ILEC/Viện nghiên cứu hồ Biwa cho
thấy tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, 54% hồ hoặc hồ chứa bị phú dưỡng
Tỷ lệ này tại châu Âu, châu Phi, Bắc và Nam Mỹ là 53, 28, 48 và 41 %, tương ứng (Chorus, Bartram 1999) Nguồn thải từ các đô thị (công nghiệp, sinh hoạt) đã đóng góp một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng đổ vào hệ thống các sông hồ Nước thải công nghiệp ở các ngành sản xuất khác nhau với thể tích nước thải và mức độ xử lý nước thải khác nhau là nguồn dinh dưỡng cho các thủy vực Ví dụ, ngành chế biến
thực phẩm và ngành công nghiệp len thường có nước thải chứa nhiều nitơ và Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 16Luận văn Thạc sỹ 6 Ngành: Khoa học Môi trường
phốtpho….Tại các đô thị, bột giặt chứa phốtpho từ nước thải sinh hoạt là một trong
số những nguồn phốtpho rất quan trọng đổ vào các thủy vực Theo Zaimes và Schultz, 2002, lượng các chất dinh dưỡng đổ vào các hệ thủy văn có nguồn gốc từ nông nghiệp lớn hơn lượng dinh dưỡng có nguồn gốc từ nguồn thải điểm Ở Mỹ, vào những năm đầu thập niên 1980, đất trồng trọt, đồng cỏ và đất đồi đã góp phần chuyển tải 68% tổng P từ nguồn thải phân tán tới môi trường nước mặt Ở Châu Âu, khoảng 37-82% tổng nitơ và 27-38% tổng phốtpho được chuyển tải vào môi trường nước mặt từ các hoạt động nông nghiệp Trong 270 dòng sông được quan trắc ở Đan Mạch, 94% tổng nitơ và 52% tổng phốtpho có nguồn gốc từ nguồn thải phân tán, chủyếu từ các hoạt động nông nghiệp Như vậy, có thể thấy rằng các hoạt động
của con người có ảnh hưởng lớn tới quá trình chuyển tải các chất dinh dưỡng từ đất vào môi trường nước mặt
Sự ô nhiễm dinh dưỡng ngày càng nghiêm trọng tại các thuỷ vực nước ngọt luôn đi kèm với hiện tượng nở hoa nước (water blooms) mà bản chất là sự phát triển
ồ ạt của thực vật nổi, chủ yếu là các VKL Phần lớn (50 -75%) các VKL gây nở hoa nước có khả năng sản ra độc tố, gọi là độc tố VKL (ĐTVKL) ĐTVKL được xếp vào loại các hợp chất độc nhất có nguồn gốc sinh học Các chất độc này ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, thuỷ sản, vật nuôi, huỷ hoại nguồn nước mặt và các hoạt động du lịch, thể thao dưới nước (Codd, 1996; 1997)
1.1.2 Các y ếu tố môi trường liên quan đến sự xuất hiện và phát triển mạnh của VKL độc
Hiện tượng nở rộ VKL cũng như khả năng sản ra độc tố của VKL xảy ra do tác động kết hợp của các yếu tố môi trường Việc xác định các yếu tố môi trường có liên quan đến sự phát triển bùng phát của vi tảo trong thuỷ vực có ý nghĩa rất quan
trọng về mặt khoa học và thực tiễn Nguyên nhân dẫn đến sự nở hoa của nước bao
gồm: nồng độ các chất dinh dưỡng trong thuỷ vực cao, đặc biệt là các muối đa lượng Nitơ và Phốt pho như nồng độ amonium nitrogen cao (Blomqvist và cs, 1994); nhiệt độ nước ấm; cường độ chiếu sáng, pH cao, hàm lượng COR 2 R thấp
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 17Luận văn Thạc sỹ 7 Ngành: Khoa học Môi trường
(Zimba và cs, 2006) Tuy nhiên nhiệt độ cao và hàm lượng các chất dinh dưỡng cao trong các thủy vực được coi là những yếu tố môi trường quan trọng nhất quyết định
sự phát triển lấn át của VKL trong thủy vực, trong đó tỷ lệ T-N/T-P thấp (< 29) là
yếu tố chủ đạo kích thích sự phát triển của VKL trong khi tỷ lệ N-NOR 3 R/ T-P thấp (< 5) được coi là yếu tố đáng tin cậy để dự báo sự nở rộ của VKL (Rapala, 1998) Trong khi ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng như N & P đối với sự phát triển
của VKL đã được công bố nhiều thì còn rất ít nghiên cứu về ảnh hưởng của những
yếu tố kim loại đến sự nở rộ VKL Một số nghiên cứu của Rapala (1998) cho thấy
Mo, Fe và Zn là những yếu tố kích thích sự phát triển của VKL Khả năng sản sinh độc tố của VKL cũng chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của các yếu tố môi trường Phản ứng của các loài VKL với các yếu tố môi trường khác nhau cũng rất khác nhau Một
số VKL tăng cao khả năng sản độc tố ở những điều kiện stress, tuy nhiên tuyệt đại
đa số VKL sản ra nhiều độc tố ở những điều kiện sinh trưởng tối ưu Chẳng hạn nhiệt độ sinh trưởng tối ưu của một số chủng VKL thuộc các chi Microcystis,
o P
C Hàm lượng độc tố cũng như độc tính cao
nhất thường đạt ở nhiệt độ từ 20-25P
o P
C Ở nhiệt độ cao hơn, độc tính có thể giảm đi 6
lần (Rapala, 1998), Thông thường độc tính gan và độc tính thần kinh của các chủng VKL thường cao nhất ở ánh sáng tối ưu hoặc dưới tối ưu một chút (12-14,5 µmol,
ở pH kiềm hoặc axit nhẹ (Rapala, 1998) Các yếu tố dinh dưỡng như N, P đều có tác động lên sự sản độc tố của VKL, Hàm lượng độc tố microcystins (MCs) tăng tỷ lệ thuận với hàm lượng T-P và P hoà tan (Wang và cộng sự, 2003) Hàm lượng MCs
trong Oscillatoria agardhii tăng lên 2 lần trong các tế bào sinh trưởng trên môi trường có hàm lượng P cao (5,5 mg P,LP
-1 P
) so với tế bào sinh trưởng trên môi trường
ít P (0,01 P,LP
-1 P
) Hàm lượng MCs của Microcystis aeruginosa và Oscillatoria
của Nodularia spumigena (là VKL có khả năng cố định Nitơ) lại cao nhất trong môi
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 18Luận văn Thạc sỹ 8 Ngành: Khoa học Môi trường
trường không chứa hoặc chứa rất ít nitơ vô cơ Ngoài ra, sự nở hoa nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và đồng thời không chỉ của các điều kiện ngoại cảnh như các các
yếu tố dinh dưỡng, tính chất thuỷ lý, thuỷ hoá của cột nước, điều kiện thời tiết, mà còn cơ chế bên trong tế bào của các loài gây nở hoa đảm bảo cho khả năng phát triển chiếm ưu thế trong những điều kiện stress [7,9] Đối với tảo silic - nhóm tảo có nhiều loài thường được sử dụng làm các chỉ thị sinh học cho ô nhiễm môi trường nước, ngoài các thông số như nitơ (N), phốtpho (P), silic (Si), các tỷ số Si/N và Si/P cũng rất được quan tâm Trong các thủy vực bị phú dưỡng (giàu hàm lượng P
và N), hàm lượng silic sẽ bị giảm mạnh trong suốt quá trình phát triển mạnh mẽ của
tảo Khi tỉ số N/P trong thuỷ vực lớn hơn 16 và các tỉ số (Si/N; Si/P) nhỏ hơn 1 thì silic sẽ trở thành yếu tố giới hạn sự phát triển của tảo, khi đó tảo silic (sử dụng silic cho sự phát triển của chúng) sẽ không phát triển được và thay vào đó là sự phát triển của các loài tảo khác, chủ yếu là VKL tạo nên hiện tượng nở rộ VKL (Cyanobacterial blooms), trong đó có nhiều loài có khả năng sản ra độc tố
1.1.3 Các loài V KL độc, độc tố và tác động độc hại của chúng lên sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường sinh thái
Cho đến nay người ta đã phát hiện được khoảng 60 loài VKL độc nước ngọt
chủ yếu thuộc các chi Microcystis, Anabaena, Aphanizomenon, Oscillatoria,
xuất hiện thường xuyên ở hầu khắp các thủy vực nước ngọt trên thế giới Các độc tố
do VKL sản ra được chia thành những nhóm chính sau theo tác động của chúng :
- Các độc tố gan (Hepatotoxins) như microcystins, nodularins Đây là những peptide mạch vòng cấu tạo từ 7 axit amin (microcystins hay MCs) có cấu trúc chung
là vòng D- Ala- L-X-D- MeAsp-L-Z-Adda-D-glu-Mdha, trong đó L-X và L-Z là các amino axit biến đổi hoặc 5 axit amin (nodularin hay NOD) cũng chứa 3 loại axit amin giống như trong phân tử MCs là Me-AspP
1 P
, AddaP
3 P
D-GluP
4 P
Nhiều loài VKL có khả năng sản ra microcystin trong đó
chi Microcystis là những cơ thể chủ yếu sản ra độc tố này Cho đến nay khoảng hơn
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 19Luận văn Thạc sỹ 9 Ngành: Khoa học Môi trường
70 loại MCs khác nhau đã được phát hiện trong khi cơ thể duy nhất sản ra NOD là
- Các độc tố thần kinh (Neurotoxins), Saxitoxins (PSPs), Anatoxin–a, Anatoxin–a(S), Homoanatoxin–a, thường do đại diện của chi Anabaena như A, flos-
- Các độc tố tế bào: Cylindrospermopsin do đại diện duy nhất là
- Các độc tố gây ngứa da, tiêu chảy (Aplysiatoxins, debromoaplysiatoxins,
các lipopolysacharides (LPS) thường do các loài VKL như Lyngbya majuscula,
Tác động độc hại của VKL độc và độc tố của chúng lên sức khỏe con người,
vật nuôi và môi trường sinh thái đã được chứng minh bằng nhiều ví dụ trên thực tế qua hiện tượng nhiễm độc cấp tính hoặc trường diễn của người và vật nuôi cũng
như qua các nghiên cứu độc tố học Những ví dụ rõ rệt nhất là tại Trung tâm thẩm tích máu ở Caruaru, Brazil (1996) 117 trên tổng số 136 bệnh nhân (86%) đã bị nhiễm độc khi được thẩm tích máu bằng nước cất có nhiễm microcystin, trong đó
100 người bị suy gan cấp và 50 người trong số đó đã bị chết (Chorus & Bartram,1999) Tại Australia, 140 trẻ em và 10 người lớn phải nhập viên khẩn cấp
với những triệu chứng suy gan, tiêu chảy ra máu và suy thận Thủ phạm là C,
trong nguồn nước họ sử dụng với mật độ tới 300,000 tế bào/l (Hawkins &Griffiths, 1993) Tại Canada (1959) 13 người bị nhiễm độc và nhiều vật nuôi bị chết do bơi và
uống phải nước trong hồ nhiễm nhiều tế bào Microcystis spp, và Anabaena
độc sau khi bơi và luyện tập trong nước hồ có mật độ Microcystis spp, dày đặc
(Turner và cộng sự, 1990) và ở Australia (1995) 852 người tham gia hoạt động giải trí tiếp xúc với nước đã mắc phải các triệu chứng nhiễm độc trong 7 ngày sau đó (Pilotto và cộng sự 1997)
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 20Luận văn Thạc sỹ 10 Ngành: Khoa học Môi trường
Việc gia súc nhiễm độc và chết do VKL gây ra đã được thông báo ở nhiều
nơi trên thế giới, Một số ví dụ điển hình trình bày trên bảng sau (trích dẫn từ nguồn Chorus & Batram, 1999):
Gorham, 1978 Canada Chim nước Nhiễm độc thần kinh,
Person và cs,1984
Phần lan Chim nước,
cá, chuột xạ
Nhiễm độc gan, hỏng mang cá
Planktothrix agardhii
Eriksson và cs,
1986
Na Uy Gia súc có
sừng
Nhiễm độc gan, MCs M aeruginosa Skulberg, 1979
Anh Chó chăn cừu Nhiễm độc gan, MCs M.aeruginosa Pearson và cs, 1990 Scotland Chó Nhiễm độc thần kinh,
1.1.4 Các giải pháp ngăn ngừa và xử lí tảo độc.
Việc giám sát VKL độc và độc tố của chúng tại các thuỷ vực nước mặt làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư đã được thực hiện chặt chẽ từ nhiều thập kỷ nay tại các nước phát triển (Australia, Mỹ, Anh, Nhật, Canada…) Để
giảm thiểu tác động độc hại của VKL độc và độc tố VKL những giải pháp xử lí tức
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 21Luận văn Thạc sỹ 11 Ngành: Khoa học Môi trường
thì thường được sử dụng khi thủy vực đã bị ô nhiễm nặng (tức là khi đã xuất hiện
hiện tượng nở hoa nước) Khi đó người ta sử dụng những phương pháp hóa học như dùng các chất diệt tảo, hóa chất (CuSOR 4 R), để diệt tảo kết hợp với những phương pháp cơ học (hớt váng, che mái…) Tuy nhiên những phương pháp này khá tốn kém
và khó tiến hành triệt để, đặc biệt là trong những thủy vực lớn Việc ngăn ngừa và
giảm thiểu tác động của các tác nhân môi trường , đặc biệt là các yếu tố dinh dưỡng lên sự phát sinh, phát triển của tảo độc là giải pháp khoa học và kinh tế hơn việc xử
lí nước đã bị ô nhiễm tảo độc và độc tố của chúng Đây là những phương pháp thân thiện môi trường theo hướng phát triển môi trường sinh thái bền vững Một trong
những biện pháp này là tiến hành kiểm tra những nguồn gây ô nhiễm dinh dưỡng từ bên ngoài vào hồ, ví dụ: sự rửa trôi và xói mòn từ những vùng canh tác nông lâm nghiệp, xói mòn do sự tàn phá rừng và từ nguồn nước thải sinh hoạt, công nghiệp…
để có những đối pháp thích hợp như trồng rừng, sử dụng thảm cỏ hoặc các giải đất
hẹp quanh hồ để ngăn ngừa xói mòn và rửa trôi, đồng thời có biện pháp sử dụng phân bón hợp lý, giảm mất mát phân và nâng cao hiệu quả, lập trạm xử lí nước thải trước khi thải ra hồ đối với các nguồn tập trung…
Để ngăn ngừa hiện tượng phú dưỡng và sự nở rộ độc hại của VKL, ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương kỹ thuật Công nghệ sinh học - sinh thái đã và đang được phát triển và hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc…
Công nghệ sinh học - sinh thái dựa trên cơ sở hoạt động của các hệ thống sinh thái tự nhiên và nhân tạo (bao gồm động - thực vật và vi sinh vật), thân thiện với môi trường, đòi hỏi ít năng lượng, có tính phổ cập cao (Y Inamori, 2002) và rất khả thi đối với điều kiện nước ta, trong đó phương pháp sử dụng thực vật thuỷ sinh (TVTS) được coi là có hiệu quả cả về kinh tế và xã hội
TVTS sử dụng nitơ, phốtpho và các nguyên tố vi lượng khác trong trao đổi
chất Tại các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc…,các công nghệ xử lý nước thải sử dụng TVTS đã được phát triển rất thành công Tại Pháp
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 22Luận văn Thạc sỹ 12 Ngành: Khoa học Môi trường
chẳng hạn, năm 1993 đã có tới 2600 trạm xử lý nước thải kết hợp sử dụng ao ổn định Bắt đầu từ những năm 1980 rất nhiều cơ sở xử lí nước thải tại các bang nước
Mỹ đã phát triển và ứng dụng công nghệ xử lí ô nhiễm với việc sử dụng các loài
thực vật nổi và hệ thống hồ ổn định Phương pháp xử lí ô nhiễm hữu cơ và vô cơ tại vùng rễ của một số TVTS - còn gọi là “Phương pháp vùng rễ”, đã được các nhà khoa học Đức nghiên cứu và triển khai có hiệu quả tại nhiều nơi Các nhà khoa học
Nhật Bản đã thiết kế những hệ thống làm sạch nước ô nhiễm sử dụng hệ sinh thái TVTS dưới dạng Bio-park để giảm bớt ô nhiễm các hồ lớn, thông qua đó kiểm soát
hiện tượng nở hoa của nước do vi tảo phát triển trong đó có tảo độc (Greenway, 2003; Seabloom, 2003; Rittmann, 2001; Ran et al., 2004)
Các loại hình công nghệ chủ yếu xử lý ô nhiễm nước có sử dụng loài TVTS như sau:
1 Sử dụng hồ có mặt thoáng tự do, TVTS trong trường hợp này có rễ bám đất, thân và lá nổi bên trên mặt nước Độ sâu của nước khoảng 10 - 45 cm Các loại TVTS điển hình được sử dụng là Lau, Sậy, cỏ Lác, cỏ Nến, Cải soong…Trong trường hợp này TVTS tham gia trực tiếp vào giai đoạn xử lý bậc hai hoặc giai đoạn
cuối của qui trình
2.“Phương pháp vùng rễ” hoặc công nghệ xử lý nước thải chảy qua vùng rễ
của TVTS Ưu thế của công nghệ là không cần diện tích lớn và khử được mùi hôi Trong trường hợp này TVTS thường là lau, sậy, cỏ lác đâm rễ chìm trong nền cát -
sỏi với độ sâu khoảng 0,5 - 1 m Nước thải chảy qua hệ thống lỗ trong nền cát - sỏi
và được khử độc nhờ hệ thống rễ cây và hệ vi sinh vật bám quanh rễ Trong phương pháp vùng rễ có 2 dạng công nghệ là dòng chảy ngang và dòng thẳng đứng
3 Hệ thống thực vật nổi Đây là công nghệ được nghiên cứu kỹ nhất và được ứng dụng nhiều nhất TVTS điển hình tham gia quy trình xử lý ô nhiễm là bèo Tây, bèo Cái, bèo Tấm, rau Muống… Ngoài việc tham gia loại bỏ các chất hữu cơ,
chất thải rắn, nitơ, phôtpho, kim loại nặng, các tác nhân gây bệnh…các loài TVTS
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 23Luận văn Thạc sỹ 13 Ngành: Khoa học Môi trường
này tham gia trực tiếp việc hạn chế phát sinh hiện tượng nước nở hoa trong ao hồ do
cạnh tranh ánh sáng với thực vật phù du
Trong thực tiễn sử dụng, tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể áp dụng một loại hình hay phối hợp với nhau
Ngay tại châu Á, công nghệ sinh thái sử dụng TVTS đang được ứng dụng ở nhiều nước (Nakazato, 1998; Oshima và cs, 2001) Tại Nhật Bản, nhiều hồ lớn (ví
dụ hồ Kasumigaura, hồ lớn thứ 2 của Nhật) đã có các hệ thống TVTS kiểu đảo nổi
để làm sạch nước Tại Trung Quốc, các hồ như Xuan Wu Hu Tai Hu đã xây dựng các đảo nổi TVTS để giảm thiểu sự phì dưỡng nước hồ Tại Thái Lan TVTS nổi sử
dụng tại các lạch sông ở ngoại ô Băng Cốc
Trong công nghệ sinh thái, vai trò chủ yếu của TVTS là:
- Làm giá thể cho vi sinh vật sinh sống: Quần thể vi sinh vật là động lực cho quá trình xử lý
- Tạo điều kiện cho quá trình nitrat hoá và phản nitrat hoá
- Chuyển hoá nước và chất ô nhiễm
- Sử dụng chất dinh dưỡng thành sinh khối
- Nguồn che sáng: Sự có mặt của thực vật thuỷ sinh giúp điều hoà nhiệt độ của nước và ngăn chặn sự phát triển của các nhóm tảo, qua đó hạn chế được sự dao động lớn
của pH và lượng ôxi hoà tan giữa ban ngày và ban đêm
Việc làm sạch nước bắt đầu bằng VSV tạo thành lớp màng sinh học (biofilms) trên bề mặt của rễ TVTS VSV phân giải các chất hữu cơ trong nước và làm trong nước, sau đó TVTS hấp thu chất dinh dưỡng như N và P
Trong tự nhiên, việc sử dụng thực vật thuỷ sinh cho xử lý nước thải có thể được tiến hành trong các kênh rạch với độ sâu từ 20 – 50 cm hoặc trong các ao có
độ sâu từ 50 cm – 2m Để xác định loài thực vật cho xử lý nước thải cần phải xem xét đến đặc điểm sinh trưởng, khả năng chống chịu của thực vật, các nhân tố môi trường Ngoài ra cũng cần xem xét đến đặc điểm của nước thải, yêu cầu về chất
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 24Luận văn Thạc sỹ 14 Ngành: Khoa học Môi trường
lượng dòng thải, loại hệ thuỷ sinh, cơ chế loại bỏ ô nhiễm, lựa chọn quy trình, thiết
kế quy trình, độ tin cậy của quá trình (Greenway, 2003; Silvana, 1994) [15].
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.2 1 Ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam (hiện tượng phú dưỡng)
Phú dưỡng là một quá trình tự nhiên xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc mà hồ tồn tại,
có thể ảnh hưởng lớn do các hoạt động của con người [10]
Sự phú dưỡng tự nhiên có khuynh hướng xảy ra đều đặn nhưng rất chậm, thường là qua một giai đoạn hàng trăm năm Những hoạt động của con người thường gây ra sự phú dưỡng nhanh chóng do các chất thải sinh hoạt, hệ thống thoát nước nông nghiệp và các chất thải công nghiệp thực phẩm hoặc sự phân hủy các sản
phẩm của chúng được đổ vào các hồ và hồ chứa
Hiện tượng phú dưỡng chỉ thực sự rõ ràng trong khoảng 30 năm trở lại đây, với sự bùng nổ mạnh mẽ của tảo, sự xuất hiện những “tấm thảm tảo” dày trên bề
mặt hồ cùng với sự sinh trưởng của một số loài thực vật bậc cao khác
Theo quan điểm khoa học, hồ phú dưỡng có đặc điểm là thường nông và có một vùng bờ rộng lớn với sự sinh trưởng mạnh mẽ của các loài thực vật Hàm lượng các chất dinh dưỡng cơ bản trong hồ cao, hàm lượng trung bình hàng năm của các dạng nitơ vô cơ lớn hơn 0,3mg/l, photpho vô cơ lớn hơn 0,015mg/l Độ kiềm thay đổi từ 50–100mg/l, nước có độ cứng vừa Các hồ này là môi trường sống lí tưởng của rất nhiều loại thực vật nổi, một số loài có thể nở hoa phổ biến và thường xuyên trong mùa sinh trưởng Nhìn chung, tổng sản lượng sơ cấp trong những hồ phú dưỡng dao động từ 0,5–5,0g chất hữu cơ khô/mP
2 P
/ngày trong mùa sinh trưởng thuận lợi nhất, trong khi sản lượng sơ cấp của cacbon hữu cơ là 480tấn/kmP
2 P
/năm [10] Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ làm giàu chất dinh dưỡng (sự phú dưỡng) của hồ gồm có các yếu tố tự nhiên và nhân tạo Các yếu tố tự nhiên gồm đặc điểm địa hóa của thủy vực, kiểu đất, kích thước của thủy vực, thời gian lưu giữ nước trong hồ, thành phần nước ngầm và các điều kiện khí hậu Các yếu tố nhân tạo gồm
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 25Luận văn Thạc sỹ 15 Ngành: Khoa học Môi trường
nước thải sinh hoạt, các dòng nước chảy qua các vùng canh tác nông nghiệp, các hoạt động khai thác mỏ, các chất thải công nghiệp, các dòng thải ở vùng đô thị, các chất dinh dưỡng dò rỉ từ các hệ thống cống rãnh và từ các bãi rác, nước từ nhà máy
hệ thống cống rãnh của đô thị, các bể tự phân hủy, nước thải và chất thải công nghiệp, các nhà máy xử lý nước thải được đổ vào hồ, sông, suối làm cho lượng photpho và nitơ trong hồ quá dư thừa, dẫn đến sự phú dưỡng của hồ Những chất này kích thích sự tăng trưởng của một số loài thực vật có rễ ở nước, các thực vật thủy sinh khác và đặc biệt là tảo Một số tảo sống ở tầng nước mặt có khả năng phát triển số lượng cá thể rất nhanh ở những khoảng thời gian nhất định tạo thành dạng kết tự xốp có thể nhìn thấy được gọi là “nở hoa” và có thể bao phủ trên một vùng diện tích rất lớn của hồ và hồ chứa, thậm chí ở trong suối
2.2.2 Các khu vực có phát triển của vi khuẩn lam độc và những nghiên cứu đã có
về hiện tượng VKL độc ở Việt Nam
Những khảo sát về phân loại thực vật phù du trong các thủy vực ở Việt nam không nhiều, có thể kể đến các công trình của Hoàng Quốc Trương (1962-1963), Shirota (1966), Trương Ngọc An (1993) Các nghiên cứu về VKL ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1960 Danh mục thành phần loài của 205 loài và dưới loài VKL phân bố ở nước ngọt, mặn và đất được thống kê trong các nghiên cứu của các tác
giả Cao (1964), Phùng Thị Nguyệt Hồng (1992) và Dương Đức Tiến (1996) Nghiên cứu về vi tảo gây hại ở Việt nam mới chỉ bắt đầu trong vài năm gần đây
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 26Luận văn Thạc sỹ 16 Ngành: Khoa học Môi trường
Nguyễn Ngọc Lâm và Đoàn Như Hải (1996) đã báo cáo về sự nở hoa của tảo hai roi
loài tảo có khả năng gây hại khác trong vịnh Vân Phong Nguyễn Thị Minh Huyền
và Chu Văn Thuộc (1997) đã đề cập đến các loài tảo có khả năng gây hại trong vịnh
Bắc Bộ Công bố có hệ thống và đầy đủ về tảo độc hại ở Việt nam từ trước đến này
là công trình của Larsen và cs, 2004 “Nghiên cứu các loài vi tảo có khả năng độc
hại trong các thủy vực ven bờ ở Việt nam” Công trình này mô tả 70 loài dựa trên
những quan sát mẫu vật thu thập từ các thủy vực ven bờ Việt Nam Yoshida và cs
(2000) đã tìm thấy độc tố của loài tảo giáp Alexandrium minitum trong các ao nuôi
tôm ở Quảng Ninh
Ngoài các nghiên cứu mang tính chất điều tra sự phân bố của tảo độc trong môi trường nước biển ven bờ và một số vùng nuôi thủy sản tập trung ven biển được
tiến hành tại Viện Hải dương học Nha Trang và Viện tài nguyên biển, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam kể trên thì các nghiên cứu về tảo độc nước ngọt còn là mảng đề tài khá mới và chưa được đề cập nhiều Những nghiên cứu đầu tiên
về VKL độc ở Việt nam là đề tài khoa học cấp viện Khoa học Việt nam, được tiến hành trong giai đoạn 1998-2003 do Viện Công nghệ môi trường (trước đây là phòng Công nghệ tảo, Viện Công nghệ Sinh học) thực hiện Bước đầu, đề tài chỉ mới tập trung khảo sát điều tra phân loại về thành phần loài, biến động số lượng vi khuẩn lam và thực vật phù du trong trong một số hồ ở Hà Nội, các ao nuôi cá trọng điểm
và tại hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An Nở hoa của các loài VKL độc chủ yếu là các loài thuộc các chi Microcystis, Anabaena, Aphanizomenon, Oscillatoria được ghi nhận
thường xuyên tại các ao nuôi cá Đình Bảng và Thanh Liệt (Đặng Hoàng Phước
Hiền và cs., 2002) Nghiên cứu độc tính của các mẫu VKL gây nở hoa nước ngoài
tự nhiên và một số mẫu được phân lập trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp
thử sinh học trên Artemia salina cho thấy nhiều mẫu có độc tính đối với động vật
thí nghiệm Độc tố microcystin với các dạng (MC-RR, -YR, -YR, -LA, -LW, -LF)
đã được tìm thấy trong các mẫu nước nở hoa và một số chủng VKL phân lập từ các
thủy vực nghiên cứu trên với hàm lượng dao động từ 0,002 – 3,58 mg/g trọng lượng
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 27Luận văn Thạc sỹ 17 Ngành: Khoa học Môi trường
khô (Đặng Hoàng Phước Hiền và cs, 2000; Hummert và cs 2001; Đặng Hoàng Phước Hiền và cs, 2003) Trần Thị Tho và các cộng sự cũng đã ghi nhận sự có mặt
của một số loài tảo gây hại trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển bùng phát của một
số loài VKL trong các ao nuôi tôm thâm canh Mật độ tế bào VKL Aphanizomenon
nhân) Trong một nghiên cứu khác, sự hiện diện của VKL độc, độc tính và độc tố microcystin trong các mẫu nước nở hoa và phân lập từ các thủy vực nước ngọt (trong đó có một số hồ và hồ chứa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho cộng đông dân cư) miền bắc Việt Nam đã được khẳng định (Đặng Hoàng Phước Hiền và cs, 2008.) Theo Christensen và cs, 2006 và Đào Thanh Sơn và cs, 2010, độc tố microcystin với 4 dạng khác nhau cũng đã được tìm thấy trong nước hồ Trị An Tai
Huế, hiện tượng nở hoa do VKL cũng thường xuyên bắt gặp ở sông Hương, hồ
chứa Hoa mỹ (thành phố Huế) Nguyễn Thị Thu Liên và cs, (2007) đã xác định 6 loài VKL thuộc chi Microcystis và độc tố microcystin trong các mẫu nước nở hoa
và phân lập từ các thủy vực trên cũng đã khẳng định qua các phân tích ELISA và
HPLC [5]
2.2.3 C ác giải pháp ứng dụng để ngăn ngừa, giảm thiểu
Để ngăn ngừa, giảm thiểu tác động độc hại của vi khuẩn lam độc và độc tố vi khuẩn lam một số phương pháp kiểm soát đã được tiến hành bao gồm kiểm soát
bằng phương pháp hóa học, vật lý và sinh học Tuy nhiên mỗi phương pháp sử dụng đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Ở Việt Nam hiện nay mới chỉ áp dụng
biện pháp dùng đồng ở dạng CuSOR 4 R.5HR 2 RO để diệt tảo do khả năng ức chế quang
hợp, quá trình hấp thu P và cố định NR 2 R Ưu thế của giải pháp này là Cu tác động lên VKL mạnh hơn lên tảo lục, gây tác động nhanh và giá thành tương đối thấp, tuy nhiên giải pháp này có nhiều hạn chế do các tác động xấu lên môi trường, những sinh vật khác trong thuỷ vực, nhất là khu vực nuôi trồng thuỷ sản Thông thường sinh trưởng của tảo bị ức chế ở nồng độ 5-10 µgLP
-1 P
, tuy nhiên tại hiện trường để diệt
tảo nồng độ này cao hơn nhiều ( > 1mg.LP
-1 P
), đôi khi trong trường hợp nở hoa nước
mạnh nồng độ Cu tới 30-300mg Cu.LP
-1
P cũng không đạt hiệu quả mong muốn Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 28Luận văn Thạc sỹ 18 Ngành: Khoa học Môi trường
(Stepánek &Cervenka, 1974) Do vậy giải pháp này cũng rất ít được ứng dụng Ngoài phương pháp trên tại một số hồ như hồ Hòa Bình khi có hiện tượng nở hoa
của nước đã sự dụng phương pháp cơ học như hớt váng tảo, phương pháp này đơn
giản nhưng tốn công và hiệu quả không cao Ngoài 2 phương pháp trên trong một vài năm gần đấy một số phương pháp công nghệ sinh thái sử dụng thực vật thuỷ sinh (bèo Tấm, bèo Lục bình, bèo Cái, Thủy trúc, Cải soong,…) cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm Năm 2009, 2010 TS Trần Văn Tựa đã tiến hành nghiên
cứu sự dụng thực vật thủy sinh đển loại bỏ vi tảo và vi khuẩn lam có tiềm năng độc
tại hồ Núi Cốc Kết quả nghiên cứu đã đưa ra Hiệu quả loại bỏ vi tảo và vi khuẩn lam có tiềm năng độc như sau: Nói chung mô hình loại bỏ khá hiệu quả lượng vi tảo trong nước đầu vào Cụ thể với lô Cải soong loại được 55.4% VKL và 54.09% tổng
số vi tảo Ở lô Ngổ Trâu, hiệu quả loại bỏ cũng tương đương với Cải Soong với các
số liệu tương ứng là 51.64%; 54.12 % Vơi Rau Muống con số thu được có thấp hơn so với lô Cải Soong và Ngổ Trâu, với các giá trị tương ứng là 49.22 %và 47.39% [15] Tuy nhiên, phương pháp này mới chỉ là nghiên cứu ban đầu, cần phải
có nhiều nghiên cứu sâu hợn nữa nên chưa tạo được hiệu quả triệt để và tính khả thi
để nhân rộng chưa cao
2.2.4 Những tồn tại chưa giải quyết của các nghiên cứu đã có và hướng nghiên cứu của đề tài
Hồ Núi Cốc có diện tích mặt hồ rộng 25 km², đóng vai trò quan trong trong đời sống kinh tế xã hội của người dân Các hồ chứa này được xây dựng với nhiều
mục đích: thủy điện, tưới tiêu, cung cấp nước cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp trong lưu vực, cung cấp nguốn nước mặt cho cộng đồng dân cư, nuôi
trồng thủy sản, du lịch Các nghiên cứu trước đây của chúng tôi cho thấy mức độ ô nhiễm dinh dưỡng tại hồ Núi Cốc cao Tần suất bắt gặp hiện tượng nở hoa nước chủ
yếu là VKL thuộc chi Microcystis thường xuyên và sự có mặt của độc tố VKL (microcystin) tại các hồ này là một thực tế đáng lo ngại Tuy nhiên, do tần suất quan
trắc thưa nên kết quả quan trắc tảo độc có được còn hạn chế và mang tính chất định tính Đánh giá mối nguy hiểm có thể xảy ra từ sự nở hoa của các loài VKL gây hại Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 29Luận văn Thạc sỹ 19 Ngành: Khoa học Môi trường
không những chỉ dựa trên cơ sở về thành phần loài mà còn dựa trên sự phong phú
của loài Những công trình trước đây nghiên cứu về hồ Núi Cốc chưa đề cập đến các nghiên cứu định lượng các loài tảo độc hại trong thủy vực Hơn nữa, hiện tượng VKL phát triển mạnh mẽ tạo thành váng tại các thủy vực đã khảo sát có thể thay đổi
giữa các vị trí thu mẫu, mùa, tuần thậm chí trong ngày Sự thay đổi trên có thể là do
sự thay đổi trong thành phần loài, sản xuất độc tố với các dạng độc tính của cùng
một loài hay do ảnh hưởng của các nhân tố môi trường (Oberholster và cs., 2006) Chính vì vậy, cần phải có các đánh giá về biến động về số lượng và thành phần loài theo thời gian của VKL độc (chủ yếu là các loài thuộc chi Microcystis) để tìm quy
luật xuất hiện của nhóm VKL này trong mối tương quan với các yếu tố môi trường Hơn nữa đây là vấn đề rất cần thiết như là cơ sở khoa học cho việc quản lý, giảm thiểu tác động xấu của VKL độc tới môi trường, nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy
sản và sức khỏe của cộng đồng
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 30Luận văn Thạc sỹ 20 Ngành: Khoa học Môi trường
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực vật phù du trong đó có nhóm VKL và VKL độc tại hồ Núi Cốc
2.2 Giới thiệu chung về hồ Núi Cốc
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Hồ Núi Cốc được tạo nên bởi đập ngăn tại km 56 trên sông Công (xã Phúc Trìu, TP Thái Nguyên) được xây dựng trong những năm 1973 – 1982 với dung tích
176 triệu mP
3
P
Vị trí địa lý của hồ Núi Cốc ở toạ độ 21º 34’ vĩ độ bắc, 105º 46’ kinh
độ đông Hồ giáp các xã Tân Thái (Đại Từ), Phúc Xuân, Phúc Trìu (TP.Thái Nguyên) Hồ có diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước 20-176 triệu m³ Mặt hồ rộng với hơn 89 hòn đảo lớn nhỏ Khác với những thuỷ vực nhân tạo
lớn như hồ Hoà Bình, Thác Bà…hồ Núi Cốc được xây dựng với mục đích chính là thuỷ điện Hồ có diện tích vừa phải để điều tiết và thực hiện chức năng cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, nuôi trồng thuỷ sản và du lịch Loại thuỷ vực này có ở hầu khắp các tỉnh trong nước, bởi vậy tính điển hình của hồ Núi Cốc rất lớn, hơn nữa, với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay của khu vực, vai trò và ý nghĩa của thuỷ vực này càng được coi trọng Trong những năm gần đây, việc khai thác hồ chứa mang tính
chất tự phát, chưa có những quy hoạch cụ thể cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu
đã tác động mạnh mẽ đến chất lượng nước hồ Nhiều thế mạnh của vùng hồ như nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, trồng và bảo vệ rừng bị suy giảm do biến đổi chất lượng nước hồ
Việc đắp đập ngăn sông tạo thành hồ chứa đã làm thay đổi sâu sắc chế độ thuỷ văn - thuỷ lực của dòng chảy Tốc độ dòng chảy khi vào hồ bị giảm đột ngột
dẫn đến phần lớn phù sa bị lắng đọng lại trong hồ, làm biến đổi sinh thái lòng hồ và
ảnh hưởng đến hệ sinh thái càng lớn, đặc biệt chất lượng nước
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 31Luận văn Thạc sỹ 21 Ngành: Khoa học Môi trường
2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Trước những năm 1930, đây là khu vực cư trú của người Dao (Mán) với hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp tự nhiên Nhưng từ những năm 1930 trở lại đây đặc biệt trong giai đoạn 1950 – 1960, một số lượng người kinh rất lớn từ khu
vực Đồng Bằng sông Hồng đã di cư lên, người Tày, Nùng ở khu vực Cao Bằng,
Lạng Sơn xuống, làm cho địa bàn cư trú của người dân tộc bản địa thu hẹp lại và lùi sâu vào những vùng núi cao phía Tây Đặc điểm của quá trình di dân này là nông – lâm nghiệp, hoạt động kinh tế chủ yếu của người dân trước và sau khi di cư là nông nghiệp Các cộng đồng di cư mang theo những tập quán sinh hoạt, sản xuất, nền văn hóa riêng của dân tộc mình đến vùng đất mới, trên cơ sở khai thác tổ hợp các điều
kiện tự nhiên mới, trong một không gian sinh hoạt, sản xuất mới Qua quá trình sinh
sống, sản xuất lâu dài các cộng đồng này không biệt lập với nhau mà có sự gắn kết, hòa nhập với nhau Kết quả là một bản sắc văn hóa mang tính tổng hòa từ những
nền văn hóa tưởng chừng khác biệt được tạo nê, nó thể hiện trong đời sống sản xuất, sinh hoạt, tinh thần của người dân Một minh chứng rõ ràng là qua những lễ hội đầu xuân của người dân trong vùng, ta thấy có sự xuất hiện của những trò chơi dân gian
của người Kinh (chọi gà, đánh đu), bên cạnh những trò của người Tày, Nùng (ném còn)… Đây là những nét văn hóa hết sức độc đáo, tạo nên sắc thái riêng và khả năng thu hút sự tò mò của du khách
Khu vực Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển du
lịch sinh thái, tuy nhiên trước yêu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển du lịch bền vững, đồng thời khai thác tối đa được các điều kiện tự nhiên, nhân văn sẵn có mang lại lợi ích tối đa cho cộng đồng địa phương, buộc chúng ta phải có
một phương pháp tổ chức du lịch mới, dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc sinh thái
cảnh quan
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 32Luận văn Thạc sỹ 22 Ngành: Khoa học Môi trường
2.3 Các phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Vị trí và thời gian lấy mẫu
33.529 N, 105P
0 P
43.537 E)
- NC2: Gần đảo Cò (21P
0 P
35.008 N, 105P
0 P
41.311 E)
- NC3: Giữa hồ, gần cổng chùa (21P
0 P
34.100 N, 105P
0 P
42.723 E)
- NC4: Cửa sông Công (21P
0 P
36.018 N, 105P
0 P
40.220 E)
- NC5: Rẽ vào nhánh, gần trại vịt của trung tâm cai nghiện (21P
0 P
35.506 N, 105P
0 P
40.946 E)
+ Thời gian thu mẫu: Thời gian thu mẫu được tiến hành từ tháng 4 năm 2009 đến
tháng 11 năm 2011
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 33Luận văn Thạc sỹ 23 Ngành: Khoa học Môi trường
2.3 2 Phương pháp thu mẫu và cố định mẫu
+ Phương pháp thu và cố định mẫu nước:
Các mẫu nước được lấy theo đúng tiêu chuẩn Việt Nam 5996-1995 và được
lọc ngay bằng giấy lọc GF/F (Whatman) Phần mẫu nước lọc được bảo quản riêng
biệt trong lọ nhựa (PE) để phân tích các chất dinh dưỡng; bảo quản trong lọ thủy tinh với axit Mẫu nước không lọc dùng để phân tích phốtpho tổng và coliforms Các mẫu khi chưa có điều kiện được phân tích ngay thì được bảo quản lạnh sâu
Với các mẫu nước để phân tích vsv được đựng trong các chai nhựa 500 ml
vô trùng Mẫu được phân tích ngay trong vòng 24 giờ sau khi đưa về phòng thí nghiệm Với các mẫu bùn được lấy bằng thiết bị lấy bùn chuyên dụng Bùn được đựng trong các túi nilon đưa về phòng thí nghiệm và được phân tích ngay trong vòng 24 giờ
Lưới thu mẫu thực vật nổi: Đây là loại chuyên dụng dùng để thu các loại sinh
vật nổi Lưới thu mẫu sinh vật nổi bao gồm nhiều loại, nhưng đều bắt nguồn từ 4
loại chính: lưới hình chóp đơn giản, lưới Hensen, lưới Apstein và lưới Juday Mặc
dù có sự sai khác nhất định, song cấu tạo của lưới gồm 3 phần chính:
• Phần miệng lưới: Gồm vòng đai miệng (đường kính từ 15-30cm), tiếp đến là bao vải hình chóp cụt Vòng đai miệng được nối với dây kéo lưới, còn phần
vải hình chóp cụt nối với thân lưới
• Phần thân lưới (phần lọc nước): Thân lưới có chiều dài gấp 2-3 lần đường kính miệng lưới (Karltangen, 1978), được làm từ loại vải đặc biệt có mắt lưới
cực nhỏ (5-25, thậm chí 315 micromet tuỳ theo lưới vớt TVN hay ĐVPD)
khả năng thoát nước phải cao Thân lưới nối với miệng lưới ở phía trên và
nối với ống đáy ở phía dưới (qua một manset bằng vải)
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 34Luận văn Thạc sỹ 24 Ngành: Khoa học Môi trường
• Ống đáy: Thường là loại ống kim loại hay bằng nhựa (composite) có thể tích khoảng 150-200 ml (có thể giữ lại một lượng cả nước lẫn mẫu) Ngoài ra
phải có khoá điều chỉnh (đóng mở) để có thể lấy được mẫu ra, sau khi đã kéo lưới thu mẫu trong vực nước
Các dụng cụ khác: Xô (V=5L); Chậu (V=10-20L); Lọ (can) đựng mẫu (V=250-5000 ml, bằng nhựa hay thuỷ tinh có nắp vặn hay nút mài)
+ Dung dịch formalin 2-5%: Pha 95-98% nước cất và 2-5% formalin đặc + Dung dịch lugol:
Pha 100g KI với 1 lít nước cất (1)
50 gam Iod dạng tinh thể pha vào 100 ml axít acetic(2)
Trộn đều dung dịch (1) và dung dịch (2)
Khi sử dụng dung dịch lugol để bảo quản mẫu: cho 0,4 ml dung dịch lugol
vào 200 ml nước mẫu, nếu màu nước chuyển sang màu nâu nhạt là được Trong trường hợp nước chưa đổi màu thì tiếp tục bổ sung dung dịch lugol, nhưng không được vượt quá 0,8% (như vậy: khoảng 2 - 4ml dung dịch lugol/1000ml nước mẫu)
+ Phương pháp thu mấu TVN (phytoplankton):
a) Mẫu định tính (xác định thành phần loài TVN): Tại mỗi điểm thu mẫu
dùng lưới vớt thực vật nổi với kích thước mắt lưới từ 40 micromet kéo đứng để thu được tất cả các thực vật nổi phân bố trong cột nước hoặc đặt miệng lưới cách mặt nước 15-20cm rồi kéo lưới theo hình số tám hay ziczắc Mẫu sau khi thu được cố định ngay bằng dung dịch formol 2-5%
b) Mẫu định lượng (xác định mật độ tế bào): Một thế tích nhất định nước hồ
được thu và cố định bằng dung dịch Lugol axit Mẫu được để lắng trong tối và mẫu
phụ được thu sau 48h để lắng (Karlson, et al., 2010)
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 35Luận văn Thạc sỹ 25 Ngành: Khoa học Môi trường
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu
+ Phương pháp đo các chỉ tiêu thủy lý
6 chỉ tiêu thủy lý (nhiệt độ, pH, độ đục, DO, độ dẫn, muối) được đo ngay tại
hiện trường bằng máy kiểm tra chất lượng nước TOA (Nhật Bản sản xuất)
+ Phương pháp phân tích thủy hóa
Các chỉ tiêu: NHR 4 RP
+ P
(mgN/l), NOR 3 RP
- P
(mgN/l), NOR 2 RP
- P
(mgN/l), POR 4 RP
3- P
(mgP/l), P
tổng (mgP/l) và Si hòa tanR R(mgSi/l) được xác định bằng phương pháp so màu trên
máy đo quang UV-Vis 2450, Shimadzu-Nhật
Xác định hàm lượng các chỉ tiêu nói trên dựa theo các phương pháp tiêu chuẩn của Mỹ [APHA, 1995] và theo các phương pháp tiêu chuẩn của phòng thí
nghiệm UMR Sisyphe, trường Đại học Paris VI (Pháp), cụ thể như sau:
C tạo ra một phức màu vàng Phép so màu được thực hiện ở bước
phản ứng với amoni molybdat tạo thành phức chất phốtphomolybdic Phức chất này phản ứng với axit ascobic cho dung dịch màu xanh Phức chất kali antimoin tartrat được cho thêm vào để thúc đẩy phản ứng và nhằm hạn chế ảnh hưởng của quá trình thuỷ
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 36Luận văn Thạc sỹ 26 Ngành: Khoa học Môi trường
phân một số chất hữu cơ trong quá trình phản ứng Phép so màu được thực hiện ở
bước sóng 885 nm
Xác định SiOR2 R(mg/l): Các ion silicate SiOR 3 RP
2-Ptrong môi trường axit phản ứng
với molybdate tạo thành axit silico-molybdic có màu vàng Chất này bị khử bởi axit ascobic tạo thành anhydric silico-molybdic có màu xanh Ảnh hưởng của phốtphát trong mẫu sẽ được loại bỏ khi cho thêm axit oxalic Phép so màu được thực hiện ở bước sóng 610 nm
Xác định P tổng (mg/l): Xác định hàm lượng phốt pho tổng trong các mẫu
dựa vào phương pháp xác định hàm lượng phốtphát như đã nêu trên, sau khi đã tiến hành quá trình chuyển hoá toàn bộ phốtpho hữu cơ trong mẫu về dạng phốtphat vô
cơ trong môi trường axit với sự có mặt của natri persunphate NaR 2 RSR 2 ROR 8 R
- Định tính thực vật nổi (xác định tên khoa học dựa trên đặc điểm hình thái)
bằng phương pháp hình thái so sánh dưới kính hiển vi có độ phóng đại 400x và
1000 x, sử dụng trắc vi vật kính và trắc vi thị kính để đo kích thước trung bình của
tảo, quan sát chi tiết và mô tả chúng bằng hình vẽ, sau đó xác định loài theo các tài
liệu phân loại của Việt Nam, Nga, Đức, Pháp, Nhật, Anh Mỹ Phân loại VKL dựa vào hệ thống phân loại của Hoffmann và cs 2005 Tài liệu chính sử dụng để phân
loại VKL: Cronberg, G (2006), Komarek, J và cộng sự (1986, 1999, 2003 và 2005) [23-25]
- Phân tích định lượng thực vật nổi: Mật độ tế bào thực vật nổi được đếm
trên buồng đếm Sedgwick – Raffter (20mm * 50mm * 1mm) Số tế bào được đếm trong 1 ml [26]
Số lượng tế bào được tính theo công thức như sau:
NR 0 R/ml = C * A
1000 mm3 LxDxWxSE A Trong đó: C: Số lượng tế bào đếm được
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 37Luận văn Thạc sỹ 27 Ngành: Khoa học Môi trường
L: Chiều dài của mỗi thước
D: Chiều sâu của thước
W: Chiều rộng của thước
S: Số thước đếm
hoặc: NR 0 R/ml = C * A
1000
số ô E Trong đó: C: Tổng số lượng tế bào đếm được trong tất cả số ô đếm
Số lượng tế bào/1ml = A
C x 1000
S x L x D x WE A x K K: Hệ số pha loãng
Lorezen (1967) Mẫu nước hồ được lọc qua giấy lọc GF/C với kích thước lỗ 45 µm (Whatman GF/C, Anh) Mẫu được chiết bằng acetone (90%)
- Phân tích độc tố microcytin: Để phân tích độc tố microcytin, một thể tích
nước hồ xác định được lọc qua giấy lọc GF/C (0,47 µm, Whatman) Mẫu giấy sau khi lọc cùng với sinh khối của các mẫu nước nở hoa (thành phần thực vật nổi chủ
yếu là Microcystis) được đông khô ở -55P
0 P
C trong 24 h và được giữ trong – 20P
0 P
C trước khi phân tích độc tố [21]
Tách chiết và phân tích độc tố: trích ly mẫu theo phương pháp của Fastner và
cs Mẫu VKL thu được trên màng lọc sợi thủy tinh được cắt nhỏ và l y trích lần thứ nhất trong dung dịch MeOH 70% chứa 5% axit axetic và 0,1% axit triflouraxetic Sau đó, mẫu được tiếp tục ly trích 3 lần liên tiếp trong MeOH 90% Sau mỗi bước
ly trích , mẫu được ly tâm (4500 vòng/phút, 10 phút, 4°C) Dịch chiết được gộp chung lại và cho bay hơi tự nhiên ở 35ºC Sau đó, mẫu được hòa tan trong MeOH
và ly tâm (14000 vòng/phút, 10 phút, 1ºC) Dịch trong được thu giữ và lưu trữ ở
-20ºC cho đến khi phân tích trên máy HPLC Độc tố microcystin được xác định theo phương pháp của Pflugmacher và cs [28]
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 38Luận văn Thạc sỹ 28 Ngành: Khoa học Môi trường
2.2 P hương pháp thu thập các số liệu về chất lượng nước thải từ các nguồn thải trong lưu vực
Thu thập các số liệu về chất lượng nước thải từ các nguồn thải trong lưu vực theo các tài liệu nghiên cứu trước đây Trong thời gian gần đây, các báo cáo đề tài nghiên cứu liên quan đến chất lượng môi trường lưu vực hồ Núi Cốc của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên, Bộ Tài nguyên và môi trường … đã được thu thập để bổ sung vào cơ sở dữ liệu chất lượng nước thải
Đặc điểm (quy mô và chất lượng nước) các nguồn nước thải sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch dịch vụ trong lưu vực hồ Núi Cốc rất quan
trọng, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu, đánh giá ảnh hưởng của các tác động của con người tới chất lượng nước hồ
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mền Acrgis 9.3 để xây dựng bản đồ mô tả sự phân bố của các
yếu tố thủy lý, thủy hóa trên hồ trong thơi gian nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích hợp phần (PCA, Principal Component Analysis), phương pháp phân tích tương quan đa yếu tố để phân tích mối tương quan giữa VKL, thực vật nổi và các yếu tố môi trường (SPAD 5.1) Các số liệu về
biến động thành phần loài, mật độ tế bào sinh vật nổi được tính toán và vẽ biểu đồ
sử dụng phần mềm Microsoft Excel
- Sau khi thu thập số liệu từ các tài liệu nghiên cứu trước đây, kết hợp với kết
quả đo đạc để xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng nước thải công nghiệp và nông nghiệp trong lưu vực Các kết quả phân tích được thể hiện qua các bảng tính và hình
vẽ về chất lượng nước một số nguồn thải trong lưu vực hồ Núi Cốc, từ đó so sánh các giá trị thu được với các giá trị tiêu chuẩn Việt Nam để xác định mức độ ô nhiễm
của các nguồn nước thải
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 39Luận văn Thạc sỹ 29 Ngành: Khoa học Môi trường
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hiện trạng chất lượng nước qua các chỉ tiêu hóa lý và chất rắn lơ lửng
3.1 1 Nhiệt độ
Nhiệt độ nước hồ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thực vật nổi
của hồ Mỗi loài thực vật nổi chỉ tồn tại và phát triển trong một giới hạn nhiệt độ
nhất định Ở trong khoảng nhiệt độ cực thuận thì chúng sinh trưởng và phát triển tốt
nhất
Hình 3.1: Phân bố nhiệt độ trung bình hồ Núi Cốc từ năm 2009 - 2011
Qua các đợt thu mẫu từ năm 2009 - 2011, ta thấy nhiệt độ nước hồ dao động
C với giá trị trung bình năm 26,7P
o P
C, thấp nhất là 17,9P
o P
C (tháng 3/2011) và cao nhất là 33,1P
O P
C (tháng 9/2009) (xem hình 3.1) Nhiệt độ nước hồ
chịu sự chi phối của nhiệt độ không khí
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT
Trang 40Luận văn Thạc sỹ 30 Ngành: Khoa học Môi trường
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các điểm nghiên cứu không đáng kể (p>0,05)
Tại các hồ và hồ chứa có độ sâu lớn, sự phân tầng về nhiệt độ trong mùa hè biểu
hiện rõ nhất giữa tầng mặt và tầng đáy (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2002) Tuy nhiên,
tại hồ Núi Cốc chúng tôi ghi nhận không có sự phân tầng về nhiệt độ đáng kể giữa
tầng mặt và tầng 5m (p>0,05) Phần lớn thời gian nghiên cứu (trừ tháng 1/2010, tháng 3/2011) nhiệt độ ở mức >20°C là nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các thực vật nổi cũng như VKL phát triển [15]
3.1.2 pH
Độ pH của thủy vực có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của thủy sinh vật, đặc biệt tới khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng Nếu pH quá thấp hoặc quá cao sẽ làm rối loạn quá trình trao đổi muối và nước giữa cơ thể sinh vật với môi trường ngoài do sự thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào
Hình 3.2: Phân bố pH trung bình hồ Núi Cốc từ năm 2009 -2011
Học viên: Vũ Thị Nguyệt Lớp: CH18MT