1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài chiến thắng lịch sử điện biên phủ

74 611 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp điều tra: Tiến hành điều tra bằng cách trực tiếp nói chuyện với GV và HS ở trường Tiểu học nhằm nắm được thực trạng việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy bài “Chiến thắn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON

ĐOÀN THỊ HIỀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN KHI DẠY BÀI 17:

“CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ” SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5

Sơn La, tháng 05 năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON

ĐOÀN THỊ HIỀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN KHI DẠY BÀI 17:

“CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ” SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên - Xã hội

Người hướng dẫn: TS Phạm Văn Lực

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành khóa luận này, em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Phạm Văn Lực Em cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Tiểu học – Mầm non và các bạn sinh viên lớp K51A Đại học giáo dục Tiểu học

đã ủng hộ và động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào tạo, Thư viện trường Đại học Tây Bắc cùng toàn thể các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Quyết Tâm và Trường Tiểu học Quyết Thắng - thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La

đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này

Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận của em được hoàn thiện hơn

Người thực hiện

Đoàn Thị Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài 3

4 Đối tượng, phạm vi đề tài, cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Khách thể nghiên cứu 4

4.2 Đối tượng nghiên cứu 4

4.3 Giả thuyết khoa học 4

4.4 Phạm vi nghiên cứu 4

4.5 Cơ sở tài liệu 4

4.6 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc của khóa luận 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1 Cơ sở lí luận 6

1.1 Mục tiêu và những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường Tểu học hiện nay 6

1.2 Khái quát về phân môn Lịch sử ở tiểu học 7

1.3 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học ảnh hưởng đến việc học tập môn Lịch sử 12

1.4 Hứng thú học tập của học sinh tiểu học 13

2 Cơ sở thực tiễn 16

2.1 Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở tiểu học hiện nay 16

2.2 Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở trường tiểu học ở tỉnh Sơn La 18

2.3 Thực tiễn về tình hình học tập phân môn Lịch sử của học sinh tiểu học hiện nay 19

2.4 Thực tiễn về việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học phân môn Lịch sử cho HSTH 20

Trang 6

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN TRONG DẠY HỌC BÀI

17 “CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ” 23

2.1 Quan niệm về chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử 23

2.2 Xây dựng và sử dụng câu hỏi phát vấn khi dạy bài 17:“Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ" 27

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 50

3.1 Mục đích thực nghiệm 50

3.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 50

3.3 Nội dung thực nghiệm 50

3.4 Phương pháp thực nghiệm 50

3.5 Tổ chức thực nghiệm 50

3.6 Kết quả thực nghiệm 51

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1 Kết luận 54

2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền văn minh và hội nhập Xã hội càng phát triển thì yêu cầu đặt ra đối với ngành giáo dục lại càng cao Giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu của công cuộc CNH – HĐH đất nước, của quá trình mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong thời kỳ của nền kinh tế tri thức Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp, tăng cường thông tin để nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là yêu cầu bức thiết đặt ra cho ngành giáo dục Môn Lịch sử với tư cách là một môn Khoa học – Xã hội, có ưu thế đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường tiểu học Môn Lịch sử thực hiện chức năng và nhiệm vụ do đặc trưng của nó qui định Tri thức lịch sử là một bộ phận của ý thức xã hội, là hành trang không thể thiếu được của mỗi con người khi bước vào đời

Ở học sinh tiểu học, lịch sử không chỉ khơi dạy cho các em lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước kiên cường, bất khuất, ý thức trách nhiệm đối với đất nước mà còn giúp các em độc lập tư duy, từng bước hình thành nhân cách con người Việt Nam, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước

Lịch Sử là một trong những lĩnh vực kiến thức quan trọng cần phải trang bị cho học sinh tiểu học Tuy nhiên trong xã hội hiện nay, môn Lịch sử vẫn chưa thực sự được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mức Môn Lịch sử vẫn bị coi là một môn học phụ, đứng sau hai môn học chính là Toán và Tiếng Việt

Mặt khác, đối với học sinh tiểu học, việc học môn Lịch sử gây cho HS rất nhiều khó khăn và đối tượng HS là lứa tuổi có nhiều đặc điểm đặc biệt về tâm –sinh lí và nhận thức

Có thể nói, một trong những nguyên nhân sâu xa khiến thế hệ trẻ ngày nay không hứng thú với môn Lịch sử cũng có một phần trách nhiệm của các nhà giáo dục nói riêng và của cả xã hội nói chung Chúng ta dạy cho HS biết về lịch

sử nhưng việc dạy học môn Lịch sử chưa thực sự có hiệu quả Một phần là do các nhà giáo dục chưa có giải pháp để giúp các em ghi nhớ về các sự kiện lịch

sử, các nhân vật lịch sử tiêu biểu, HS chỉ đọc và học thuộc lòng một cách sáo

Trang 8

rỗng những bài học lịch sử Chính vì vậy, các em HS không nắm chắc kiến thức lịch sử nền tảng ngay từ đầu nên càng lên những lớp cao, kiến thức lịch sử cứ thế trống rỗng dần Vì vậy vấn đề cấp bách hiện nay là phải khắc phục lối dạy học lạc hậu, một chiều, áp đặt, phải kết hợp một cách linh hoạt PPDH truyền thống và hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ và sáng tạo cho HS

Đa số HS tiểu học chưa thực sự hứng thú và đam mê với môn Lịch sử vì các em cho rằng môn Lịch sử vừa khô khan, khó học lại khó nhớ rõ và chính xác từng sự kiện, từng mốc son lịch sử Mặt khác, GV chưa thực sự biết cách đặt câu hỏi gợi mở để HS trả lời, giúp HS nắm vững và khắc sâu nội dung của từng bài học một cách nhẹ nhàng

Xuất phát từ tình hình thực tế của việc dạy và học môn Lịch sử nói trên, tôi

đã mạnh dạn lựa chọn khoá luận: “Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nhằm góp phần giúp cho HS ghi nhớ và

khắc sâu nội dung bài học, qua đó tạo cho các em niềm đam mê khi học môn Lịch sử

+ Đặng Quốc Bảo (chủ biên) trong cuốn Giáo dục Việt Nam hướng tới

tương lai vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004, khi

Trang 9

đặt ra, tác giả nhấn mạnh: “Nội dung môn học sẽ được tinh giản, chọn lọc kiến thức cơ bản, kiến thức nền tảng, chủ yếu là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tư duy, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng biểu thị, diễn đạt, phương pháp tự học, tự khai thác thông tin.” [4.1.4, tr 247] Khi bàn về các giải pháp phát triển giáo dục, vấn

đề đổi mới chương trình, tác giả đã nhấn mạnh: “Bảo đảm tính thống nhất về chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ” [4.1.2, tr 245]

+ Cuốn giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1, do GS.TS Phan

Ngọc Liên (Chủ biên), NXB Đại học Sư phạm xuất bản năm 2009, đã dành toàn

bộ chương IV để đi sâu phân tích nội dung kiến thức cơ bản của chương trình lịch sử phổ thông Trọng tâm của chương này, các tác giả đã làm rõ vấn đề, xác định độ chuẩn kiến thức cơ bản trong chương trình lịch sử bao gồm những căn

cứ, nguyên tắc xác định độ chuẩn kiến thức, nội dung những kiến thức cơ bản, chuẩn trong chương trình và sách giáo khoa [II, trang 107]

Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề này một cách hoàn chỉnh, hệ thống; nhiều vấn đề về đổi mới phương pháp, tăng cường thông tin cho HS, nhất là xây dựng câu hỏi phát vấn cho HS tiểu học vẫn chưa được làm rõ

3 Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài

- Xuất phát từ tình hình thực tế của việc dạy và học lịch sử ở trường Tiểu học nói chung, ở chương trình lịch sử lớp 5 nói riêng Tôi thấy việc sử dụng câu

hỏi phát vấn trong dạy học Lịch Sử ở lớp 5 nói chung, trong bài “Chiến thắng

lịch sử Điện Biên Phủ” nói riêng chưa thực sự đầy đủ và hiệu quả Vì vậy, tôi

mạnh dạn nghiên cứu khóa luận này nhằm: Xây dựng hệ thống câu hỏi phát vấn

khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”

Trong quá trình nghiên cứu khóa luận này cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Sưu tầm và tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến khóa luận để xây dựng

cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu

- Khảo sát tình hình thực tế, điều tra thực trạng việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học môn Lịch Sử ở lớp 5 nói chung và trong bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nói riêng nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu

Trang 10

- Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”

- Thiết kế giáo án, thực nghiệm sư phạm

- Đóng góp của đề tài:

+ Cụ thể và làm phong phú thêm hệ thống các PPDH lịch sử ở trường Tiểu học + Thiết thực đổi mới phương pháp, tạo sự sinh động cho bài giảng, gây hứng thú học tập cho học sinh

+ Nâng cao chất lượng bài học lịch sử, đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục, khắc phục tình trạng chán học môn Lịch sử

4 Đối tượng, phạm vi đề tài, cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Bài 17: “ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” – SGK Lịch sử lớp 5

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Câu hỏi phát vấn khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”

4.3 Giả thuyết khoa học

Sau khi hoàn thành xong khóa luận Nếu xây dựng được câu hỏi phát vấn

khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” sẽ giúp HS ghi nhớ và nắm chắc nội dung bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nói riêng và tạo cho

HS niềm say mê, hứng thú khi học môn Lịch sử nói chung Khóa luận “Xây

dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” hoàn

thành cũng là tài liệu tham khảo cực kì hữu ích cho GV tiểu học và các bạn sinh viên ngành Giáo dục tiểu học

4.4 Phạm vi nghiên cứu

Tôi tiến hành nghiên cứu trong phạm vi là địa bàn thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La

4.5 Cơ sở tài liệu

- Để thực hiện khóa luận này, tôi đã dụng các tài liệu lưu trữ ở trung ương

và địa phương kết hợp khai thác các tài liệu đã được công bố trong các công trình nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa trong danh mục tài liệu tham khảo

- Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 5

Trang 11

4.6 Phương pháp nghiên cứu

Khi tiến thành khóa luận này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Tìm hiểu các nguồn tài liệu, sách tham khảo, báo chí, tìm kiếm nguồn thông tin trên mạng Internet…về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu, nghiên cứu chương trình và SGK môn Lịch sử lớp 5

 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy của GV và hoạt động học

của HS để thu thập các thông tin thiết thực nhất phục vụ cho quá trình nghiên cứu

- Phương pháp điều tra: Tiến hành điều tra bằng cách trực tiếp nói chuyện

với GV và HS ở trường Tiểu học nhằm nắm được thực trạng việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” của GV và hiệu quả của việc nắm vững nội dung bài học “Chiến Thắng lịch sử Điện Biên Phủ” của HS

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm xây dựng câu

hỏi phát vấn thông qua việc soạn giáo án và dạy – học bài “Chiến thắng lịch sử

Điện Biên Phủ”

 Phương pháp thống kê toán học

Nhằm thu thập và xử lý số liệu, rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu

5 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài 17: “Chiến thắng lịch

sử Điện Biên Phủ”

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

1.1.1 Mục tiêu của phần Lịch sử ở trường Tiểu học

Lịch sử là một trong những môn học cơ bản được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông từ lớp 4 đến lớp 12 Về mặt lí luận cũng như thực tiễn đã khẳng định phần lịch sử góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông Trên cơ sở đó, mục tiêu dạy học bộ môn được xác định trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ

* Về kiến thức, giúp học sinh:

- Biết được những sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những nội dung quan trọng của lịch sử dân tộc từ thời nguyên thuỷ đến nay

- Có những hiểu biết đúng đắn về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay, trên cơ sở nắm được những sự kiện tiêu biểu của từng thời

kì, những chuyển biến lịch sử và phát triển hợp quy luật của dân tộc trong sự phát triển chung của lịch sử thế giới

học sinh những kĩ năng cơ bản như:

- Xem xét các sự kiện lịch sử trong các quan hệ không gian, thời gian

- Có ý niệm về phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, bước đầu đánh giá các

sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử

- Hình thành năng lực tự học, tự làm giàu tri thức lịch sử cho học sinh thông qua các nguồn sử liệu khác nhau (đã có và phát hiện mới…)

học sinh:

- Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân

Trang 13

lịch sử đấu tranh chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình

- Trân trọng các nền văn hoá của dân tộc, có tinh thần quốc tế chân chính vì hoà bình, và tiến bộ xã hội

- Có những phẩm chất cần thiết của người công dân: thái độ tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước - cộng đồng; yêu lao động; sống nhân ái, có kỉ luật, tôn trọng và làm theo pháp luật, đoàn kết dân tộc

1.1.2 Những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng là chuyển từ mô hình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình “lấy học sinh làm trung tâm” Lấy học sinh làm trung tâm trong dạy học lịch sử thực chất là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của người học, trong đó chủ yếu là tư duy

Như vậy yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử là vấn đề đang đặt

ra cấp thiết Khắc phục lối dạy học cũ truyền thụ một chiều áp đặt, thầy đọc trò chép sang lối dạy học tăng cường thông tin, phát huy tính tích cực, chủ động của người học

1.2 Khái quát về phân môn Lịch sử ở tiểu học

1.2.1 Mục tiêu của phân môn Lịch sử

Phân môn Lịch sử ở nhà trường Tiểu học có một vị trí cực kì quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện Việc dạy học phân môn Lịch

sử nhằm đạt được các mục tiêu sau:

a Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu ở các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam

từ buổi đầu dựng nước tới nay

b Bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS các kĩ năng:

- Quan sát sự vật, hiện tượng

- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp

- Phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử

Trang 14

- Thông báo những kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…

- Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

c Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS những thái độ và thói quen:

- Ham học hỏi, ham hiểu biết thế giới xung quanh

- Yêu thiên nhiên, con người, đất nước

- Có ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên và các di sản văn hoá

1.2.2 Một số vấn đề nội dung, chương trình phân môn Lịch sử ở tiểu học

Một số sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của lịch sử dân tộc qua các thời kỳ

- Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858 – 1945) + Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược: Trương Định

+ Đề nghị canh tân đất nước: Nguyễn Trường Tộ

+ Cuộc phản công ở kinh thành Huế Phong trào Cần Vương: Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật…

+ Sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội Việt Nam và cuộc đấu tranh chống Pháp đầu thế kỉ XX

+ Nguyễn Ái Quốc

+ Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

+ Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945: Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

- Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) + Việt Nam những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám

+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

+ Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến

+ Chiến thắng Việt Bắc thu – đông năm 1947: Chiến thắng Biên giới thu – đông 1950 Hậu phương của ta

+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

- Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975)

Trang 15

+ Bến Tre đồng khởi

+ Miền Bắc xây dựng: nhà máy cơ khí Hà Nội

+ Hậu phương và tiền tuyến: đường Trường Sơn

+ Chiến dịch Hồ Chí Minh

- Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước (1975 đến nay)

+ Hoàn thành thống nhất đất nước

+ Xây dựng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình

1.2.3 Đặc trưng bộ môn Lịch sử; các định hướng và giải pháp đổi mới PPDH lịch sử

Đổi mới PPDH ở trường phổ thông là quá trình áp dụng các PPDH hiện đại vào nhà trường trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của PPDH truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của HS; chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo; chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để đổi mới phương pháp học tập của HS tất nhiên phải đổi mới phương pháp giáo dục của GV và đổi mới môi trường diễn ra các hoạt động giáo dục Đổi mới phương pháp giáo dục là quá trình:

- Chuyển từ giáo dục truyền thống một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của GV Những gì mà HS nghĩ được, nói được, làm được, GV không làm thay, nói thay

Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của HS trở nên

lí thú, gắn với thực tiễn, gắn với cuộc sống; kết hợp dạy học cá nhân với dạy học theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa HS trong quá trình giáo dục

Cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường Tiểu học là làm cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, thay đổi thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc Nhà trường phổ thông cần phải làm mọi cách để HS ngày hôm nay được

Trang 16

suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, bày tỏ ý kiến nhiều hơn và hợp tác học tập với nhau nhiều hơn.

Cũng như các môn học khác trong trường phổ thông, PPDH Lịch sử cũng đổi mới theo các định hướng bao quát Tuy vậy, cần xem xét những yếu tố thuộc đặc trưng bộ môn

Quan niệm về PPDH Lịch sử hiện đại được xác lập trên 2 tiền đề cốt lõi:

- Tiền đề thứ nhất: Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, có thật và tồn tại

khách quan trong quá khứ Do đó, không thể phán đoán, suy luận, tưởng tượng

để nhận thức lịch sử Nhận thức lịch sử phải thông qua những “dấu tích” của quá khứ, những chứng cứ về sự tồn tại của các sự việc đó diễn ra Do đó, việc đầu tiên, tất yếu, không thể không tiến hành là cho HS tiếp nhận thông tin từ sử liệu bằng nhiều hình thức khác nhau Ở tiểu học, HS cần phải có biểu tượng về “các

sự kiện đã diễn ra” Cần phải tạo ra được ở nhận thức của HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, rõ nét về các nhân vật lịch sử và hoạt động của họ trong thời gian, không gian, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, những quan hệ xã hội cụ thể Những biện pháp tổ chức cho HS tiếp nhận thông tin từ sử liệu:

+ GV kể lại các câu chuyện lịch sử, tường thuật lại diễn biến các sự kiện lịch sử, miêu tả các sự vật, đối tượng, thiết chế…đã tồn tại trong lịch sử

+ Sử dụng các phương tiện trực quan: tranh ảnh, bản đồ, phục chế hiện vật…Nếu có các phương tiện nghe nhìn như: phim video, radio, casseett, máy chiếu qua đầu…càng tốt

+ HS kể lại, thuật lại điều mình đã biết trước cho các bạn nghe

+ HS làm việc với các sử liệu có trong SGK hoặc những sử liệu do GV cung cấp khi giao việc, được in trong phiếu học tập

- Tiền đề thứ hai là quan niệm về học tập lịch sử Học tập lịch sử theo quan

niệm hiện đại không phải là sự học thuộc, nạp vào trí nhớ của HS theo lối thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe, HS học thuộc lòng theo thầy, theo SGK mà là:

HS thông qua quá trình làm việc với sử liệu, tự tạo cho mình các hình ảnh lịch

sử, tự hình dung về lịch sử đó diễn ra trong quá khứ “Ngay ở Tiểu học, HS cũng

Trang 17

các nhà sử học, dù mức độ của nó chỉ dừng lại ở các hình thức sơ đẳng nhất Điều đó cũng có nghĩa là, ngay ở Tiểu học, quan niệm học tập lịch sử đồng nghĩa với kể chuyện lịch sử cần được bỏ đi, phải được thay thế bằng quan niệm mới: học tập lịch sử là làm việc với các nguồn tư liệu lịch sử theo nghĩa rộng của nó” (Nhiều tác giả Sách tra cứu về lí luận dạy học Lịch sử Duesseldorf, 1992 (tiếng Đức), [4, Tr 544]

Dạy học lịch sử ở Tiểu học nước ta cần tạo điều kiện cho HS làm việc độc lập, tích cực, tự lực nhiều hơn nữa Hãy để cho HS suy nghĩ nhiều hơn, trình bày

ý kiến của mình nhiều hơn Trên cơ sở các thông tin từ sử liệu, cần nêu lên những câu hỏi, những vấn đề vừa sức để các em tự giải quyết vấn đề Ở đây, việc sử dụng câu hỏi phát vấn để giúp HS khai thác thiệt để nội dung bài học, dễ dàng nắm bắt và ghi nhớ sâu sắc nội dung bài học có vai trò rất quan trọng Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học lịch sử Chú ý phối hợp với các hình thức dạy học chung cả lớp, theo nhóm, học cá nhân, đối thoại thầy trò, trò chơi đóng vai…quan tâm tổ chức các cuộc thảo luận ở nhóm học tập hoặc chung cả lớp để HS trình bày kết quả làm việc của mình với các tư liệu lịch sử, phát huy tinh thần độc lập, suy nghĩ, sáng tạo, mạnh dạn trình bày ý kiến riêng, hăng hái và biết cách bảo vệ ý kiến của mình, đồng thời biết lắng nghe ý kiến của người khác, chia sẻ kết luận và cơ sở lập luận của bạn, hợp tác công việc với bạn Điều quan trọng đối với HS tiểu học là gợi cho các em về các sự kiện, nhân vật lịch sử có liên quan, gần gũi với cuộc sống của các em Vì vậy, cần thường xuyên gắn nội dung dạy học lịch sử với tên đường phố, tên trường, tên quê hương, tên các danh nhân lịch sử…

Đối mới PPDH Lịch sử ở Tiểu học theo sự trình bày ở trên đòi hỏi cần phải đổi mới cách thức hoạt động của thầy, của trò, đổi mới cấu trúc và phương pháp trình bày của SGK, các phương tiện DH, cách thức đánh giá kết quả học tập…Đây là những vấn đề đòi hỏi nhiều công sức nghiên cứu, thử nghiệm, đòi hỏi sự tham gia của đông đảo cán bộ quản lý và GV

Trang 18

1.3 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học ảnh hưởng đến việc học tập môn Lịch sử

Bước vào trường Tiểu học là một “bước ngoặt” mới trong cuộc đời của một đứa trẻ Giai đoạn này, trẻ gặp rất nhiều khó khăn khi phải chuyển hoạt động chủ đạo từ “vui chơi” sang “học tập” Đặc điểm của chế độ học tập: phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học, phải ngồi yên lặng, phải thực hiện đúng hạn bài tập ở nhà…Tính chất quan hệ qua lại giữa GV với trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với gia đình cũng thay đổi, điều này gây cho trẻ rất nhiều khó khăn trong việc thích ứng với môi trường mới trong giai đoạn đầu của giáo dục phổ thông Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là hoạt động học tập, nó làm thay đổi một cách cơ bản những hành động của hành vi trẻ, nó mở ra những nguồn phát triển mới của sức mạnh nhận thức và đạo đức của trẻ Hành động học phải được xem như là đối tượng để lĩnh hội, sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức, khái niệm khoa học Cách học vừa là tiền đề, công cụ, phương tiện, vừa là mục đích của dạy học Hoạt động học bắt đầu nảy sinh ở lớp 1 và 2, hình thành ở lớp

3 và 4 và dần dần định hình vào lớp 5

Tri giác mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết (lớp 1 và 2), tuy nhiên trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, phải cầm nắm, sờ mó sự vật thì tri giác sẽ tốt hơn

Tri giác và đánh giá không gian, thời gian cũng hạn chế: chi giác chưa chính xác độ lớn của các vật quá lớn hoặc quá nhỏ Tri giác thời gian cũng hạn chế

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào đặc điểm bên ngoài Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Khi khái quát, HS tiểu học thường dựa vào chức năng và công cụ của sự vật hiện tượng, trên cơ sở này chúng tiến hành phân loại, phân hạng

Ở giai đoạn lớp 4, lớp 5 HS phát triển khả năng tư duy trừu tượng, khả năng phân tích tổng hợp ở mức độ cao Đây là một thuận lợi để GV truyền đạt kiến thức lịch sử cho HS được tốt hơn

Trang 19

Chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có chủ định cũng yếu và thiếu bền vững Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động học tập

HS tiểu học thường bị lôi cuốn với những gì mới mẻ, sinh động, màu sắc bắt mắt Chính vì vậy, GV có thể giúp HS chú ý và bị lôi cuốn vào bài học bằng việc sử dụng các đồ dùng trực quan như: tranh ảnh, tranh vẽ, lược đồ…

Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic Nhiều HS tiểu học cũng chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Ghi nhớ gắn với mục đích nào đó giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn Đặc biệt, HS tiểu học nghe giảng hiểu nhanh nhưng rất mau quên Vì vậy, người GV phải biết tạo sự hứng thú, lôi cuốn cho

HS Đặc biệt môn học Lịch sử đòi hỏi sự ghi nhớ chính xác Đây là vấn đề khó đối với các em Vì vậy, có một số HS có tâm lí lo sợ, không thích học Lịch sử

Từ đó ảnh hưởng đến kết quả học tập phân môn Lịch sử của HS

Việc hiểu đặc điểm tâm lí HS giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí chúng thì cũng như chúng ta đập búa trên một thanh sắt nguội Chính vì vậy trong quá trình dạy học, GV cần phải lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực, phải biết khai thác ở HS, giúp các em chủ động nắm bắt kiến thức bài học, giúp các em hào hứng, sôi nổi trong giờ học Lịch sử và chất lượng học tập môn Lịch sử sẽ được tăng cao

1.4 Hứng thú học tập của học sinh tiểu học

1.4.1 Một số đặc điểm của hứng thú học tập

Hứng thú học tập là một dạng đặc biệt của hứng thú, hứng thú học tập có đầy đủ đặc điểm của hứng thú Bên cạnh đó, hứng thú học tập có những đặc điểm riêng như sau:

- Hứng thú học tập có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của hoạt động học tập Hứng thú có thể rất rộng, phân tán nhằm thu lượm thông tin nói chung hoặc nhận biết các mặt mới của đối tượng, hoặc đi sâu vào một lĩnh vực nhận thức nhất định, vào cơ sở lí luận của nó, vào những mối liên hệ và quy luật quan trọng của nó

Trang 20

- Trong nhà trường, đối tượng của hứng thú học tập của HS chính là nội dung các môn học, và việc tiếp thu những nội dung đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động học tập Vì vậy, hứng thú học tập không những chỉ có kiến thức mà HS tiếp thu, mà còn là cả quá trình học tập nói chung

- Hứng thú học tập có nhiệm vụ quan trọng là nhiệm vụ nhận thức, đòi hỏi chủ thể phải hoạt động tích cực, tìm tòi, sáng tạo Lúc đầu, hứng thú học tập hướng tới nội dung tri thức khoa học, sau đó hướng tới các phương pháp khám phá nội dung đó

- Hứng thú học tập là sự biểu hiện của một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy HS trong quá trình học tập, giúp HS luôn nhận thức vấn đề học tập một cách rõ ràng, đúng đắn và nhanh chóng

1.4.2 Các loại hứng thú học tập

Có rất nhiều căn cứ để phân chia các loại hứng thú học tập, tuy nhiên có một số cách chia tiêu biểu như sau:

- Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú, chia làm 2 loại:

+ Hứng thú thụ động: là loại hứng thú chỉ dừng lại ở việc ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú

+ Hứng thú tích cực: chủ thể chiêm ngưỡng đối tượng, đồng thời hoạt động với mục đích chiếm lĩnh đối tượng Đó là một nguồn kích thích sự phát triển nhân cách, hình thành kĩ năng kĩ xảo, nguồn gốc của sự sáng tạo

- Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú, chia thành 2 loại:

+ Hứng thú sâu sắc: thường thể hiện thái độ thận trọng, có trách nhiệm với công việc, với hoạt động, mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức để nắm vững được đối tượng đó

+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: thể hiện sự qua loa đại khái trong quá trình nhận thức

- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú, chia làm 2 loại:

+ Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập: là hứng thú đối với nội dung tri thức, quá trình học tập và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những tri

Trang 21

thức đó Hay nói cách khác, hứng thú trực tiếp là sự say mê hướng vào đối tượng và cách thức chiếm lĩnh đối tượng

+ Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập: là hứng thú với kết quả của hoạt động

1.4.3 Biểu hiện của hứng thú học tập

- Hứng thú học tập biểu hiện ở 2 mức độ:

+ Mức độ 1: HS chỉ dừng lại ở việc nhận thức về vấn đề học tập Chưa có cảm xúc, tình cảm với vấn đề đó, chưa có những hoạt động để chiếm lĩnh vấn đề đó + Mức độ 2: HS tiến hành các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức

Hứng thú học tập biểu hiện ở nội dung của nó như: sự thích thú và tính tích cực trong hoạt động học tập với môn học Hứng thú học tập bao gồm ba mặt biểu hiện: nhận thức, thái độ, hành vi đối với môn học:

+ Nhận thức: tức là HS phải nhận thức được ý nghĩa của môn học, hiểu được nội dung môn học, lĩnh hội được những kiến thức của môn học

+ Thái độ: bao gồm những xúc cảm tích cực của HS đối với môn học và hoạt động học bộ môn Cụ thể là:

Tâm trạng háo hức chờ đến giờ học

Có niềm vui nhận thức cùng sự thích thú khi tiếp nhận bài học

Thích thú thực hiện các nhiệm vụ học tập

Vui sướng với thành công trong học tập

+ Hành vi: là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của hứng thú học tập Là sự

nỗ lực vượt khó và tính tích cực tiến hành các hoạt động để đạt được kết quả trong học tập Cụ thể là:

Trong lớp chú ý nghe giảng, phát biểu ý kiến

Tích cực tham gia thảo luận cùng bạn bè

Sưu tầm thêm các thông tin, tìm đọc sách, tài liệu tham khảo

Vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn

Như vậy, chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong giờ học là dấu hiệu đầu tiên của hứng thú học tập, hoạt động học là hoạt động căng thẳng nên nếu chỉ có ý thức nghĩa vụ và ý thức tổ chức kỉ luật thì không đủ để HS chú ý

Trang 22

thường xuyên, lâu dài Chỉ có hứng thú thì HS mới tập trung, chú ý lâu vào bài học và hoàn thành các nhiệm vụ học tập GV giao

- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách sáng tạo Khi được phát triển ở mức độ cao, sâu sắc, hứng thú biến thành nhu cầu cấp bách Khi đó, cá nhân HS sẽ cảm thấy cần phải hành động để thoả mãn nhu cầu

và tự giác bắt tay vào hoạt động học tập

- Hứng thú còn là sự biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người Trong đó, hứng thú nhận thức có thể được xem là sự biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tập của HS Với mỗi HS, hứng thú nhận thức với mỗi môn học là khác nhau Vì vậy, kết quả học tập ở mỗi môn học là không giống nhau Khi có hứng thú với môn học nào thì các em sẽ học môn đó một cách thích thú và đạt kết quả cao hơn

- Mặt khác, hứng thú học tập còn góp phần hình thành nhân cách và những thuộc tính bền vững của cá nhân HS, đặc biệt còn là một trong những yếu tố quyết định việc hình thành và phát triển năng lực của HS

Như vậy, hứng thú có một vai trò đặc biệt quan trọng và quyết định tới hiệu quả dạy học môn Lịch sử Do vậy để kết quả học tập môn Lịch sử được nâng cao, cần chú trọng bồi dưỡng hứng thú cho HS

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở tiểu học hiện nay

Trang 23

Bên cạnh những mặt đã đạt được, nằm trong thực trạng chung của nền giáo dục, chất lượng dạy học lịch sử hiện nay đang tồn tại rất nhiều vấn đề cần khắc phục Có thể nói bộ môn chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước

Qua thực tiễn dạy học bộ môn cho thấy, một bộ phận không nhỏ HS xa rời, coi thường bộ môn là do việc giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá mang tính chất hình thức, đối phó Điều này nghiêm trọng hơn ở những vùng miền còn nhiều khó khăn Hiện tượng HS nhớ nhầm, hiểu sai kiến thức hoặc “mù” về lịch

sử là khá phổ biến

Theo phân tích của các nhà giáo dục lịch sử, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có nhiều Do thái độ đối với bộ môn Lịch sử nói chung là chưa coi trọng đúng mức, do quan niệm thực dụng trong học tập và thi cử của hầu hết phụ huynh và HS, do chương trình, sách giáo khoa còn nặng nề và mang tính hàn lâm, giáo điều, thiếu hấp dẫn… Nhưng những nguyên nhân căn bản thể hiện ở mấy điểm sau:

Thứ nhất, nhiều GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới

phương pháp dạy học lịch sử và hướng đổi mới là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của HS trong học tập

Thứ hai, một số GV nhận thức được điểm mấu chốt của việc đổi mới

phương pháp dạy học là chuyển sang mô hình dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”, nhưng biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học bộ môn thì mang nặng tính hình thức và máy móc Nhiều GV đã biến giờ học lịch

sử thành giờ “hỏi - đáp” khiến giờ học trở nên căng thẳng và khô khan, hoặc coi hoạt động nhóm là biểu hiện duy nhất của đổi mới phương pháp, khiến các tiết học bị xáo trộn…

Thứ ba, không ít GV nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, do hạn chế về

thông tin nên còn chưa nhận thức được yêu cầu đổi mới phương pháp hoặc lấy lí

do HS yếu kém nên vẫn duy trì tình trạng dạy học truyền thống “thầy đọc trò chép”, nhồi nhét kiến thức, khiến giờ học trở nên nặng nề, buồn tẻ Việc kiểm tra, đánh giá còn mang tính hình thức, thiếu khoa học và tính giá trị

Trang 24

Thứ tư, phương pháp dạy học ở trường Tiểu học hiện nay, đặc biệt là ở

những vùng sâu, vùng xa chưa theo kịp chương trình và SGK Hầu hết GV vẫn quá phụ thuộc vào SGK, nhất là phần kênh chữ Điều này làm cho bài học trở nên nặng nề, thiếu trọng tâm và xa rời mục tiêu Việc giáo dục và phát triển HS thì được tiến hành một cách hình thức, máy móc và mang tính áp đặt khiến HS càng cảm thấy chán nản và nhiều áp lực Nói cách khác GV không đánh giá đúng trình độ HS, không xác định được những kiến thức cần thiết (chuẩn kiến thức) và mức độ kĩ năng (chuẩn kĩ năng) và thái độ cần hình thành cho HS qua dạy học những nội dung, bài học cụ thể theo quy định của chương trình

2.2 Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở trường tiểu học ở tỉnh Sơn La

- Đặc điểm của tỉnh Sơn La:

Sơn La là một tỉnh nằm trong khu vực Tây Bắc của Tổ quốc, có diện tích tự

90% diện tích là đồi núi Đây là địa bàn sinh sống của 12 dân tộc anh em: Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, Tày, Nùng, La Ha, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La Hủ, Lào, Mường, Dao… Trong đó, người Thái là thành phần dân tộc chủ yếu (54%, Hmông là 13%) Nằm trong tình hình chung của khu vực, Sơn La là một trong những tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giáo dục còn nhiều yếu kém Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 359 USD/người/năm, so với bình quân cả nước là 833 USD/người/năm Tỉ lệ HS đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ đạt 24,33% Năm 2009, Sơn La là tỉnh có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp thấp nhất cả nước Duy nhất là tỉnh có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp dưới 50% (chỉ đạt 40%), trong khi bình quân cả nước đạt trên 84% Thực trạng trên càng đặt ra nhiều thách thức to lớn cho giáo dục Sơn La trong đó có giáo dục lịch sử

Qua thực tiễn dạy học lịch sử cho thấy hầu hết các HS gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp thu các sự kiện lịch sử thế giới và trong những điều kiện tự nhiên khác biệt với môi trường sống của các em, đặc biệt là việc tiếp thu những kiến thức mang tính chất trừu tượng, khái quát cao Ngoài ra, do ảnh hưởng của tập quán, lối sống, phần lớn các em không có hứng thú với việc đi học, nếu có thì

Trang 25

cũng thường xuyên bị chi phối bởi những yếu tố gia đình và xã hội nên thiếu sự tập trung, quyết tâm trong học tập

- Thực tiễn dạy học lịch sử ở Sơn La:

Từ những kết quả điều tra cho thấy rằng, nằm trong tình trạng chung của cả nước và có phần trầm trọng hơn trong thái độ đối với bộ môn Lịch sử của thầy

và trò ở Sơn La là rất coi thường Cách nhìn nhận lịch sử là môn phụ, môn học thuộc còn phổ biến Do đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học chưa được quan tâm đúng mức Phương pháp truyền thống “đọc - chép” vẫn ngự trị trong giảng dạy Do nhiều nguyên nhân, HS còn thiếu tích cực trong học tập, còn cảm thấy nhiều áp lực trong học tập bộ môn Hệ quả là chất lượng dạy học lịch sử rất thấp, mục tiêu giáo dục bộ môn chưa được đảm bảo

Để cải thiện thực trạng trên, một là cần nâng cao nhận thức của GV và HS

ở Sơn La về vai trò, vị trí của bộ môn, về yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Trong đó vấn đề mấu chốt là cần giúp GV và HS nhận thức đầy đủ, đúng đắn về chuẩn kiến thức, kĩ năng và các biện pháp sư phạm nhằm thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng cho HS Sơn La trên cơ sở phát huy tính tích cực, tự giác của HS trong nhận thức Hai là cần tăng cường tài liệu, nguồn thông tin về

lí luận giáo dục bộ môn và tài liệu lịch sử cho GV và HS qua nhiều kênh thông tin khác nhau nhằm tạo ra những đột phá cho chất lượng dạy học lịch sử ở Sơn

La Cần có sự nghiên cứu, điều tra toàn diện để có những căn cứ khoa học cho những biện pháp chiến lược và ngắn hạn để cải thiện chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạy học bộ môn nói riêng cho tỉnh

2.3 Thực tiễn về tình hình học tập phân môn Lịch sử của học sinh tiểu học hiện nay

Tuổi trẻ bây giờ được sinh ra và lớn lên trong thời bình, dường như các em chưa quan tâm nhiều đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông

ta Các em chưa biết quan tâm nhiều đến việc tìm tòi, nghiên cứu nguồn sử liệu

về lịch sử Ở HS Tiểu học, các em chỉ dành nhiều thời gian, tâm sức cho môn Toán và môn Tiếng Việt Dường như các em thấy thờ ơ đối với môn Lịch sử, một phần vì các em thấy môn này khô khan, khó học, khó nhớ Mặt khác, các

Trang 26

em chưa thực sự biết cách học môn Lịch sử Dẫn đến kết quả học tập môn Lịch

sử giảm sút Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng của môn Lịch sử ? Đó là nỗi lo âu, trăn trở của mỗi chúng ta khi giảng dạy môn học này

2.4 Thực tiễn về việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học phân môn Lịch sử cho HSTH

* Về phía giáo viên

- Đa số GV chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học tức là sau khi kiểm tra bài cũ, GV vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua việc nêu câu hỏi nhận thức Điều này làm giảm bớt sự tập trung, chú ý vào bài học của HS ngay từ hoạt động đầu tiên

- Một số tiết học, GV chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số HS khá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi dành cho đối tượng HS yếu kém Cho nên đối tượng HS yếu kém ít được chú ý và không được tham gia hoạt động, điều này làm cho các em

thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn học của mình

- Một số câu hỏi, GV đặt ra hơi khó, HS không trả lời được nhưng GV lại không có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi phải trả lời thay cho HS Vấn đề này được thể hiện rất rõ trong hoạt động thảo luận nhóm, GV chỉ biết nêu ra câu hỏi nhưng lại không hướng dẫn HS trả lời câu hỏi đó như thế nào vì không có hệ thống câu hỏi gợi mở vấn đề

* Về phía học sinh

- HS thường trả lời câu hỏi GV đặt ra thông qua việc nhìn SGK và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy Một số HS còn đọc nguyên si SGK để trả lời câu hỏi

- HS còn lười học và chưa có sự say mê môn học, một số bộ phận

HS không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ, trên lớp, các em thiếu tập trung suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu

- HS chỉ trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì HS còn rất lúng túng, khi trả lời thì mang tính chất chung chung

Trang 27

TIỂU KẾT

HS tiểu học là lứa tuổi đang từng bước hoàn thiện cả về mặt tâm lí và mặt trí tuệ Để giúp các em phát triển một cách toàn diện, đòi hỏi người GV trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Lịch sử nói riêng phải biết cách lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp, làm sao có thể phát huy cao nhất năng lực chủ động, sáng tạo của các em Đặc biệt là cần hình thành ở các

em phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động Có như vậy kết quả học tập môn Lịch sử mới được cải thiện

Môn Lịch sử ở trường Tiểu học ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng của mình trong cuộc sống Môn học này giúp HS hoàn thiện cả về mặt tri thức và đạo đức Tuy nhiên HS vẫn chưa thấy được vị trí và tầm quan trọng của môn học này Các em thờ ơ và không mấy hứng thú với môn học Lịch sử Chính

vì vậy người GV phải làm sao để khơi nguồn cảm hứng ở các em, giúp các em thấy hứng thú với môn Lịch sử

Khi người GV làm cho các em thấy được sự hứng thú với với môn học thì

sự hứng thú đó sẽ tác động đến mọi mặt của quá trình nhận thức và làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức của HS trong quá trình học tập Hứng thú sẽ giúp các em say mê học tập, học không mệt mỏi Trong quá trình học tập nếu

HS có hứng thú và học với một niềm đam mê thực sự thì tri thức mà các em lĩnh hội được sẽ rất bền vững, khó mất đi và rất dễ tái hiện Vì vậy, để học môn Lịch

sử đạt kết quả cao, GV phải biết khơi nguồn cảm hứng, giúp các em tìm thấy niềm đam mê đối với môn học

Qua tìm hiểu thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trường Tiểu học hiện nay, tôi thấy người GV đã biết sử dụng câu hỏi trong mỗi bài học lịch sử, để giúp HS học tập một cách chủ động theo đúng tinh thần của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Tuy nhiên việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học môn Lịch sử còn nhiều hạn chế, không ít GV chưa biết cách khai thác triệt để nội dung bài học thông qua hệ thống câu hỏi phát vấn Mặt khác, câu hỏi phát vấn được sự dụng chưa thực sự phù hợp với đại trà trình độ của HS trong lớp, chưa phát huy hết được năng lực của các em

Trang 28

Chính vì những tồn tại trên đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đó là phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phát vấn phù hợp với nội dung của từng bài học cụ thể, sao cho giúp HS khai thác một cách đầy đủ nội dung của từng bài học trong SGK

mà tác giải viết sách đã gửi gắm Từ đó tạo cho HS niềm đam mê với môn Lịch sử

Trang 29

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN TRONG DẠY HỌC

BÀI 17 “CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ”

2.1 Quan niệm về chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử

Chuẩn là mức độ tối thiểu mà HS phải đạt được theo quy định của chương trình Chuẩn là chuẩn chung cho HS cả nước, trên cơ sở đó căn cứ vào những điều kiện khác nhau mà GV và nhà trường có thể thực hiện ở mức cao hơn nhưng không được thấp hơn mức chuẩn Việc đạt chuẩn phải đảm bảo trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ

2.1.1 Kiến thức lịch sử

Cũng như các bộ môn khoa học khác, những hiểu biết về lịch sử tồn tại

dưới hai dạng cơ bản đó là tri thức lịch sử và kiến thức lịch sử

- Tri thức lịch sử chỉ toàn bộ những nhận thức, hiểu biết của con người về

quá khứ xã hội loài người và dân tộc, là sự phản ánh hiện thực lịch sử vào trong

óc của con người Chính vì chỉ toàn bộ những nhận thức, hiểu biết của con người về quá khứ nên tri thức có thể đúng, có thể sai Tri thức xuất hiện ngay từ khi con người bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh Nó không ngừng được tích luỹ, phản ánh qua các dạng khác nhau từ thấp lên cao: qua truyền thuyết, thần thoại, hoạt động văn hoá lễ hội, các hình thức nghệ thuật dân gian…qua các công trình văn hoá vật chất, tài liệu thành văn…

- Kiến thức lịch sử hẹp hơn so với tri thức Nó cũng chỉ những hiểu biết của

con người về hiện thực quá khứ nhưng đã được khoa học xác nhận tính đúng đắn Nói cách khác, kiến thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá khứ đạt tới chân lí tương đối, xét về tính chất nó là khoa học lịch sử

Kiến thức bộ môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông, là một bộ phận của khoa học lịch sử được lựa chọn, biên soạn, đưa vào chương trình và SGK phù hợp với mục tiêu dạy học Như vậy kiến thức bộ môn là sự lựa chọn có mục đích nhằm đáp ứng mục tiêu dạy học, phù hợp với trình độ HS và nhiệm vụ của cấp học, bậc học

Trang 30

2.1.2 Chuẩn kiến thức Lịch sử ở Tiểu học

Theo Giáo sư Phan Ngọc Liên thì “chuẩn của chương trình thể hiện ở chỗ cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản nhất của khoa học tương ứng với nội dung môn học, có tác dụng đối với việc giáo dục tư tưởng, đạo đức và phát triển

tư duy, năng lực thực hành của HS… Việc xác định tính cơ bản của chương trình phải thể hiện “tính tối ưu” của việc dạy học, nghĩa là trong những điều kiện

cụ thể nhất định, kết quả giáo dục, giáo dưỡng và phát triển HS phải đạt đến mức cao nhất”

Như vậy, chuẩn kiến thức là mức độ tối thiểu về mặt kiến thức mà HS phải đạt theo quy định của chương trình, với các mức độ: nhận biết (tái hiện và biểu tượng), thông hiểu (hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng và quá trình lịch sử…)

và vận dụng (HS có khả năng vận dụng những hiểu biết vào trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn…) Căn cứ vào đặc trưng của bộ môn, của nhận thức lịch sử, chuẩn kiến thức cũng phải đảm bảo các yêu cầu:

- Tính chính xác, phản ánh một cách chân thực, khách quan những sự kiện

hiện thực trên cơ sở những tư liệu đáng tin cậy, đã được khoa học xác nhận Đảm bảo tính chính xác là đảm bảo tính khoa học, có giá trị giáo dục và phát triển HS

- Tính điển hình, những kiến thức tiêu biểu, chủ yếu, không chỉ phản ánh

được đúng đắn sự kiện, tái hiện lại bức tranh quá khứ mà qua đó còn giúp HS hiểu được bản chất của lịch sử đồng thời mang tính tối ưu trong giáo dục lịch sử

- Tính cơ bản là lựa chọn được những kiến thức cần thiết để không chỉ giúp

HS biết mà còn phải hiểu lịch sử, nhằm thực hiện mục tiêu dạy học bộ môn, chương, bài Việc xác định cái “cơ bản” trong chương trình lịch sử phải tuỳ thuộc vào mục tiêu đào tạo, yêu cầu của trình độ HS để phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ đất nước, xuất phát từ nội dung, đặc điểm của kiến thức lịch sử cần cung cấp cho HS

2.1.3 Chuẩn kĩ năng, hướng thái độ trong dạy học phần lịch sử ở tiểu học

a Chuẩn kĩ năng

Trải qua quá trình nhận thức, các năng lực nhận thức của HS không ngừng được phát triển nhất là trí tưởng tượng Phát triển năng lực vừa là mục tiêu, nhiệm

Trang 31

mục tiêu, nội dung, trình độ và năng lực của HS Trên cơ sở chuẩn kiến thức, GV phải thông qua những biện pháp cần thiết để thực hiện chuẩn kĩ năng trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực hoạt động, nhất là trong nhận thức của

HS Như vậy chuẩn kĩ năng là những kĩ năng tối thiểu mà HS phải đạt được sau

khi học tập bộ môn, chương, bài… bao gồm kĩ năng tư duy, kĩ năng thực hành bộ

môn và năng lực hoạt động thực tiễn… Chuẩn kĩ năng được thực hiện thông qua việc chuẩn kiến thức và căn cứ vào mục tiêu, nội dung môn học

Như vậy “Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học, hoạt động giáo dục mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập Mỗi cấp học có chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ mà HS cần phải đạt được

Chuẩn kiến thức, kĩ năng là căn cứ để biên soạn SGK, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học Hoạt động giáo dục nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm chất lượng và hiệu quả của chương trình giáo dục"

2.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Trước hết việc thực hiện chuẩn kiến thức là cơ sở giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của bộ môn, theo quy định của chương trình Đó là hệ thống kiến thức tối thiểu mà HS trên cả nước phải đạt được Việc thực hiện chuẩn kiến thức cũng là cơ sở để thực hiện chuẩn kĩ năng trong dạy học lịch sử; phát huy vai trò của bộ môn trong việc phát triển năng lực tư duy, thực hành, phương pháp nhận thức lịch sử

Trang 32

Lí luận và tình hình thực tiễn cho thấy trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông từ lâu thường tồn tại hai thái cực, hoặc là coi nhẹ việc giáo dục, hoặc là thực hiện việc giáo dục một cách giáo điều hình thức theo lối hô khẩu hiệu Đây

là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng HS cảm thấy tiết học lịch sử nặng nề, sáo rỗng và quay lưng lại với bộ môn Việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng phải gắn bó mật thiết với hướng thái độ Đó cũng là nguyên lí giáo dục “thông qua dạy chữ để dạy người”

Như vậy, việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc giảm tải, nâng cao chất lượng dạy học lịch sử và thực hiện mục tiêu dạy học bộ môn theo quy định của chương trình

2.1.5 Những yêu cầu của việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng trong dạy học phần lịch sử ở tiểu học

Để tiến hành có hiệu quả việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng trong dạy học lịch sử ở trường Tiểu học, GV phải đáp ứng những yêu cầu sau:

- Phải nắm vững nội dung chuẩn kiến thức, kĩ năng qua dạy học từng nội dung, chương bài cụ thể được quy định trong chương trình

- Phải căn cứ vào nội dung chương trình SGK và đối tượng HS để lựa chọn nội dung, phương pháp cho phù hợp Đảm bảo thực hiện mặt bằng chung nhưng cũng cần chú ý đúng mức đến những học sinh giỏi, HS yếu kém

- Đối với những vùng miền có điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, mặt bằng trình độ HS thấp, GV cần nắm vững chương trình (chuẩn kiến thức, kĩ năng theo quy định của chương trình), không chạy theo hình thức, thành tích nhưng cũng không được hạ thấp chương trình Vai trò sáng tạo, kiên trì của GV

Trang 33

2.2 Xây dựng và sử dụng câu hỏi phát vấn khi dạy bài 17:“Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ"

2.2.1 Khái niệm câu hỏi:

a Câu hỏi là gì?

Câu hỏi là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong khi nói hoặc viết, đòi hỏi có cách giải quyết Câu hỏi được sử dụng trong cuộc sống thường ngày cũng như trong dạy học nhưng câu hỏi trong cuộc sống thường là người hỏi chưa biết câu trả lời còn trong dạy học thì câu hỏi là những vấn đề GV đã biết,

HS đã học hoặc dựa trên những kiến thức đang học, sẽ học mà trả lời một cách thông minh, sáng tạo Chính vì vậy, câu hỏi trong dạy học bao giờ cũng mang yếu tố mở, yếu tố nhận biết, khám phá

b Các dạng câu hỏi trong dạy - học lịch sử:

Thông thường trong dạy - học lịch sử có các dạng câu hỏi sau:

*Câu hỏi tái hiện: câu hỏi này thường được dùng nhằm gợi lại những kiến

thức đã học để tiếp thu kiến thức mới để khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức Nó giúp HS củng cố, hiểu sâu hơn kiến thức cũ, làm cơ sở cho việc tiếp nhận kiến thức mới, không bị gián đoạn trong nhận thức

Câu hỏi tái hiện thường được tiến hành ở đầu giờ hoặc trong tiến trình của bài giảng, khi đó GV cần nhắc lại kiến thức cũ để HS nhận thức liên tục, có hệ thống

*Câu hỏi đàm thoại phân tích và khái quát hoá: Loại câu hỏi này nhằm làm

cho HS tiếp thu tốt kiến thức trình bày, hiểu được tính lôgíc, bản chất của sự kiện lịch sử Trong việc sử dụng loại câu hỏi này, GV hướng dẫn HS phân tích

và đánh giá các sự kiện lịch sử

Câu hỏi nêu ra để HS trao đổi kiểu này thường liên quan đến các sự kiện cơ bản đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp của nhiều hiện tượng, để tìm ra tính lôgíc, bản chất của sự kiện đó

*Câu hỏi tìm tòi, phát hiện: Loại câu hỏi này nhằm tổ chức hoạt động nhận

thức của HS khi giải quyết các nhiệm vụ học tập phức tạp Trong trường hợp này, GV đặt câu hỏi để HS huy động những kiến thức cần thiết đã thu nhận được

trong quá trình học tập, trong hoạt động thực tiễn (quan sát, nhận xét ) để so

Trang 34

sánh, đối chiếu các sự kiện lịch sử bằng suy đoán lôgíc và tự tìm ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra Câu hỏi tìm tòi phát hiện bao gồm một chuỗi các câu hỏi lần lượt tìm hiểu các vấn đề nhỏ, bộ phận có liên quan đến nhau, hợp thành vấn đề lớn cơ bản Việc giải quyết các câu hỏi nhỏ có tính gợi ý, bổ trợ sẽ dẫn đến việc giải quyết vấn đề chính

Loại câu hỏi này thường được sử dụng ở các lớp lớn, vì HS đã có khối lượng kiến thức cần thiết, tư duy logíc khá phát triển, có khả năng phân tích các

sự kiện lịch sử để rút ra từ đó nguyên nhân, ý nghĩa, đặc trưng các sự kiện, có thể đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử

*Câu hỏi ôn tập, tổng kết: loại câu hỏi này được sử dụng trong trường hợp

cần thiết để khái quát, củng cố kiến thức đã học Ví dụ, qua một chương trình hay một khoá trình lịch sử cần tổ chức trao đổi ôn tập, để HS nhận thức sâu sắc quy luật về sự phát triển của xã hội loài người Đây là một phần của bài giảng,

có khi là cả bài vào cuối học kì hay cuối năm học

*Câu hỏi kiểm tra: loại câu hỏi này nhằm xem xét việc tiếp thu kiến thức

của HS trong việc học tập để đánh giá, bổ sung, đính chính kiến thức Việc sử dụng câu hỏi này được tiến hành thường xuyên, xen vào bài giảng hay trong khi kiểm tra bài cũ Câu hỏi kiểm tra không chỉ nhằm xem xét HS nắm sự kiện lịch

sử mà cả khả năng phân tích khái quát, hệ thống hoá và thực hành của HS

c Yêu cầu khi sử dụng câu hỏi trong dạy - học lịch sử:

+ Câu hỏi phải rõ ràng trong sáng, nêu được vấn đề cần đặt ra để có thể

hiểu đúng, sâu hơn sự kiện Câu hỏi như vậy đòi hỏi HS phải có những thao tác

tư duy mới tìm được câu trả lời thích đáng

+ Câu hỏi mang tính chất bài tập nhận thức, liên quan đến hứng thú, những

cảm xúc mạnh mẽ của HS, phải gây ra cảm giác ngạc nhiên khi đối chiếu cái chưa biết và cái đã biết sau khi trả lời đúng câu hỏi

+ Câu hỏi vừa sức đối với HS Không nên để HS thoả mãn đi đến chủ quan

về vốn hiểu biết của mình; dù trả lời đúng, đầy đủ câu hỏi nêu ra, song vẫn phải tiếp tục suy nghĩ để trả lời hay hơn, sâu sắc hơn

Trang 35

2.2.2 Các mức độ (cấp độ) nhận thức của câu hỏi:

a Các cấp độ tư duy trong dạy học lịch sử:

Đặc điểm của quá trình nhận thức lịch sử là đi từ sự kiện đến biểu tượng đến hình thành khái niệm và nêu quy luật phát triển của lịch sử Chính vì vậy có thể xác định mức độ của câu hỏi từ nhận biết đến thông hiểu và đến vận dụng

(điều này cũng đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới kiểm tra đánh giá trong dạy học lịch sử nói riêng và dạy - học nói chung)

Nhận biết

- HS nhớ được (bản chất) những khái niệm cơ

bản của chủ đề và có thể nêu hoặc nhận ra các khái niệm khi được yêu cầu

- Đây là bậc thấp nhất của nhận thức, khi HS kể tên, nêu lại, nhớ lại một sự kiện, hiện tượng

Thí dụ: HS nhớ được ngày, tháng của một sự kiện lịch sử, tên một nhân vật lịch sử cụ thể

Thông hiểu

- HS hiểu các khái niệm cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra gần với các ví dụ HS đã được học trên lớp

- Ở bậc nhận thức này, HS có thể giải thích được một sự kiện, hiện tượng lịch sử, tóm tắt được diễn biến một sự kiện, nghe và trả lời được câu hỏi có liên quan

Thí dụ: HS có thể giải thích được sự kiện lịch sử diễn ra như thế nào

Vận dụng ở cấp độ

thấp

- HS vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống

đã gặp trên lớp

- Ở bậc nhận thức này, HS có thể sử dụng được kiến thức để giải quyết 1 tình huống cụ thể

Thí dụ: Áp dụng một sự kiện lịch sử này để lý giải một sự kiện khác

Trang 36

Vận dụng ở cấp độ

cao

- HS có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản

để giải quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng

có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế HS sẽ gặp ngoài môi trường lớp học

- Ở bậc này HS phải xác định được những thành

tố trong một tổng thể và mối quan hệ qua lại giữa chúng; phát biểu ý kiến cá nhân và bảo vệ được ý kiến

đó về một sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử nào

đó

Thí dụ: Tìm hiểu một sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, HS phải phân biệt, phân tích được các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử khác nhau, v.v Hoặc HS đánh giá được một sự kiện, nhân vật lịch sử

Trong dạy học, để thuận lợi cho việc xác định mục tiêu nhận thức của bài học, các nhà giáo dục đã đưa về các bậc:

Biết (bậc 1): Với các động từ: nêu, liệt kê, trình bày, khái quát, kể tên v.v Hiểu (bậc 2): Với các động từ: giải thích, phân biệt, tại sao, vì sao, hãy lí

giải, vì sao nói v.v

Vận dụng (bậc 3) : Với các động từ : so sánh, phân tích, bình luận, nhận

xét, vận dụng, đánh giá vv…

b Xác định các cấp độ nhận thức của câu hỏi thông qua các cấp độ tư duy:

Các mức độ câu hỏi (hay chính là độ khó của câu hỏi) khi GV đặt ra nhằm

phục vụ cho quá trình nhận thức của HS ở các cấp độ khác nhau như: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng Nó tương ứng với độ khó của các mức độ sau:

- Câu hỏi tái hiện: nhằm khơi gợi, tái hiện lại những kiến thức cơ bản mà

HS cần nắm

Trang 37

hiểu cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử

- Câu hỏi tìm tòi: đòi hỏi HS từ những kiến thức cơ bản đã học phát hiện

ra những vấn đề mới, mối quan hệ, đối chiếu giữa các sự kiện, hiện tượng lịch

sử từ đó rút ra kết luận chung

2.2.3 Khái niệm phát vấn

Phát vấn được hiểu là phương pháp mà trong đó người dạy học đưa ra những câu hỏi để người học suy nghĩ và trả lời Các câu hỏi này thường được chuẩn bị và cân nhắc kỹ trong giáo án của người dạy Người dạy có thể tổ chức, dẫn dắt người học từ chỗ “nghe – trả lời”, tiến đến “thảo luận” hoặc ở mức cao hơn nữa là “tranh luận”

2.2.4 Vai trò của câu hỏi phát vấn trong dạy học phần lịch sử ở tiểu học

Việc đổi mới chương trình SGK ở trường Tiểu học đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với GV giảng dạy môn Lịch sử- đổi mới phương pháp dạy học Yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới Phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Tiểu học cần đạt là phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập

Và một trong những biện pháp quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập là sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học Lịch

sử Song việc đặt câu hỏi của GV là một vấn đề không hề đơn giản, vì việc đặt câu hỏi của GV không phải chỉ đòi hỏi phải có căn cứ khoa học mà cũng thể hiện kiến thức và năng lực sư phạm của GV (nghệ thuật)

2.2.5 Cơ sở lý luận của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS ở trường tiểu học

* Cơ sở pháp lý

- Tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành

giáo dục (1963), Bác Hồ đó căn dặn: “Về giảng dạy tránh lối dạy nhồi sọ ….”

“Về học tập tránh lối học vẹt ” “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và

tự do về tư tưởng…”

- Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy

học mới, lấy người học làm trung tâm… , nói cho cùng, phương pháp này là tích

Ngày đăng: 03/10/2014, 12:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo - Chủ biên, (2004); “Giáo dục Việt Nam hương tới tương lai vấn đề và giải pháp”, NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục Việt Nam hương tới tương lai vấn đề và giải pháp”
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
2. Nguyễn Anh Dũng - Chủ biên, (2010); “SGK Lịch sử và Địa lí lớp 5”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Lịch sử và Địa lí lớp 5”
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Đỗ Đình Hoan, (1996); “Hỏi đáp về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học”
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Phó Đức Hoà - Chủ biên, (2011);“ Dạy học tích cực và cách tiếp cận trong dạy học tiểu học”, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: );“ Dạy học tích cực và cách tiếp cận trong dạy học tiểu học”
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
5. Đặng Vũ Hoạt - Chủ biên, (2004); Giáo dục học tiểu học 1, 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tiểu học 1, 2
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
6. Lê Văn Trưởng - Chủ biên, (2006), Tự nhiên – xã hội và Phương pháp dạy học tự nhiên – xã hội tập 1, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự nhiên – xã hội và Phương pháp dạy học tự nhiên – xã hội tập 1, tập 2
Tác giả: Lê Văn Trưởng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
8. Giáo sư Phan Ngọc Liên - Chủ biên, Phó giáo sư. Tiến sĩ Trịnh Đình Tùng, Giáo sư. Tiến sĩ Nguyễn Thị Côi (2010), “Phương pháp dạy học lịch sử”tập 1,2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Giáo sư Phan Ngọc Liên, Phó giáo sư. Tiến sĩ Trịnh Đình Tùng, Giáo sư. Tiến sĩ Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
9. Bộ Giáo dục và l cào tạo (2002), Chương trình Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và l cào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
10. Bộ Giáo dục và đào tạo, (2006); “Đổi mới chương trình giáo dục Tiểu học”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chương trình giáo dục Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2006); “Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học”
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2007), “Dự án phát triển giáo viên tiểu học”, NXB giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự án phát triển giáo viên tiểu học”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2  trong  SGK  đã  phóng  to  trên - khóa luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài chiến thắng lịch sử điện biên phủ
nh 2 trong SGK đã phóng to trên (Trang 68)
Hình 1: Mùa đông năm 1953, Bộ chính  trị  họp  thông  qua  phương  án  mở  chiến  dịch Điện Biên Phủ - khóa luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài chiến thắng lịch sử điện biên phủ
Hình 1 Mùa đông năm 1953, Bộ chính trị họp thông qua phương án mở chiến dịch Điện Biên Phủ (Trang 69)
Hình 1: Phan Đình Giót - khóa luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài chiến thắng lịch sử điện biên phủ
Hình 1 Phan Đình Giót (Trang 72)
Hình 2: Tô Vĩnh Diện  +  HS  nêu:  Anh  hùng  Bế  Văn  Đàn  lấy  thân mình làm giá súng - khóa luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài chiến thắng lịch sử điện biên phủ
Hình 2 Tô Vĩnh Diện + HS nêu: Anh hùng Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm