1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam

80 637 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 827,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, khái niệm kinh tế của các giá trị hoặc lợi ích của hàng hóa và dịch vụ môi trường được diễn đạt bằng thuật ngữ sự sẵn sàng của xã hội để thực hiện một sự đánh đổi giữa việc sử dụn

Trang 1

-   -

Mai Thị Quyên

Phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môI trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam

Trang 2

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, khi nhắc đến môi trường chúng ta luôn đi kèm với sự ô nhiễm bởi các chất hoá học, sinh học… gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người, các cơ thể sống khác Ô nhiễm môi trường được chia thành ba dạng cơ bản như sau:

Ô nhiễm môi trường đất

Là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã trong đất Với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất

là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng

Ô nhiễm môi trường nước

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất

Ở các đại dương, nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa xử lý đúng mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 3

Những vấn đề nổi cộm trên cho thấy, nhân loại đã bị đặt vào một bài toán vô cùng khó khăn để khắc phục và làm giảm các tác động của ô nhiễm tới môi trường sống Để giải quyết tương đối bài toán này, một công cụ hữu hiệu nhất là sử dụng Luật Môi trường Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường được ban hành đầu tiên vào ngày 27 tháng 12 năm 1993 Đến ngày 29 tháng

11 năm 2005, Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 đã sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 Đến nay đã trải qua 18 năm thi hành và

có bổ sung, sửa đổi, cùng nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai, nhưng so với các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá mới và chỉ được quan tâm đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây do yêu cầu quản lý môi trường trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Bởi vậy, pháp luật về

bảo vệ môi trường chưa điều chỉnh hết các mối quan hệ trong xã hội, một số văn bản còn chưa được ban hành hoặc đã ban hành nhưng không sát với thực

tế, thiếu tính khả thi, không thể thi hành được

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Sử dụng các mô hình kinh tế để phân tích, đo lường giá trị thiệt hại nhằm nâng cao hiệu lực của Luật và Chính sách môi trường, phục vụ cho công tác quản lý vi mô, vĩ mô

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 4

III PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Dựa trên cơ sở kinh tế Phúc lợi, kinh tế Vi mô, kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường, Luật và Chính sách môi trường

IV CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Các tác động về mặt kinh tế của Luật và Chính sách môi trường

Nghiên cứu lý thuyết, sử dụng các công cụ, chỉ tiêu, biện pháp môi trường để phân tích

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 5

C hương I TỔNG QUAN

Hệ thống pháp luật Việt Nam0T 0Tlà tổng thể các0T 0T34Tquy phạm pháp luật34T, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân định thành các0T 0T34Tngành luật34T, các0T 0T34Tchế định pháp luật34T0T 0Tvà được thể hiện trong các văn bản do cơ quan0T 0T34TNhà nước34T0T 0T34TViệt Nam34T0T 0Tcó thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định

Việc gọi tên hệ thống pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau, trong

đó, có quan điểm cho rằng, hệ thống pháp luật bao gồm hai bộ phận là0T 0T34Tcông pháp34T0T 0Tvà0T 0T34Ttư pháp34T, quan điểm khác cho rằng cần phải phân biệt hai khái niệm:

Hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định và quan điểm chỉ có một khái niệm hệ thống pháp luật, không thể phân biệt rõ nét hai khái niệm hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định Theo quan điểm này, hệ thống pháp luật có nội dung rất rộng, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và những nguồn khác nữa của pháp luật tồn tại trên thực tế mà dựa

trên cơ sở đó tính hiện thực của pháp luật đựơc bảo đảm và pháp luật phát huy hiệu lực Theo quan điểm này hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt cụ thể là: Hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật)

Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam bao gồm: Hiến pháp do Quốc hội ban hình và luật (bộ luật) do0TQuốc hội 0Tthông qua và0T 0T34TChủ tịch nước34T0T 0Tký quyết định ban hành Có thể kể một số bộ luật như:0T 0T34TLuật sở hữu trí tuệ, luật34T hình

sự,0T 0T34Tluật trách nhiệm dân sự, luật hợp đồng34Tvà luật bảo vệ môi trường

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 6

1.1 LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được0T 0T34TQuốc hội Việt Nam34T0T 0Tkhoá XI trong

kỳ họp thứ 8 thông qua ngày0T 0T34T29 tháng 1134T0T 0Tnăm0T 0T34T200534T0T 0Tvà có hiệu lực vào ngày0T 00T34T1 tháng 734T0T 0Tnăm0T 0T34T200634T, là0T 0T34Tluật34T0T 0Tquy định về 34Tquyền tác giả34T,0T 0T34Tquyền liên quan đến quyền tác giả34T,0T 0T34Tquyền sở hữu công nghiệp34T, quyền đối với0T 0T34Tgiống cây trồng34T0T 0Tvà việc0T 0T34Tbảo hộ34T0T 0Tcác quyền đó

1 34TQuyền sở hữu trí tuệ34T: quyền của tổ chức, cá nhân đối với0T 0T34Ttài sản trí tuệ34T, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

2 34TQuyền tác giả34T: quyền của tổ chức, cá nhân đối với0T 0T34Ttác phẩm34T0T 0Tdo mình0T 0T34Tsáng tạo34T0T 0Tra hoặc0T 0T34Tsở hữu34T

3 34TQuyền liên quan đến quyền tác giả34T: quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc0T 0T34Tbiểu diễn34T,0T 0T34Tbản ghi âm34T,0T 0T34Tghi hình34T,0T 0T34Tchương trình phát sóng34T,0T 0T34Ttín hiệu vệ tinh34T0T 0Tmang0T 0T34Tchương trình34T0T 0Tđược0T 0T34Tmã hóa34T

4 34TQuyền sở hữu công nghiệp34T: quyền của tổ chức, cá nhân đối với0T 0T34Tsáng chế34T,0T 0T34Tkiểu dáng công nghiệp34T, thiết kế bố trí0T 0T34Tmạch tích hợp bán dẫn34T,0T 0T34Tnhãn hiệu34T,0T 0T34Ttên thương mại34T,0T 0T34Tchỉ dẫn địa lý34T,0T 0T34Tbí mật kinh doanh34T0T 0Tdo mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và0T 0T34Tquyền chống cạnh tranh không lành mạnh34T

5 34TQuyền đối với giống cây trồng34T: quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình0T 0T34Tchọn tạo34T0T 0Thoặc0T 0T34Tphát hiện34T0T 0Tvà0T 0T34Tphát triển34T0T 0Thoặc được hưởng0T 0T34Tquyền sở hữu34T

6 34TTên thương mại34T: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt0T 0T34Tchủ thể kinh doanh34T0T 0Tmang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng0T 0T34Tlĩnh vực34T0T 0Tvà0T 0T34Tkhu vực34T

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 7

1.2 LUẬT HÌNH SỰ

Khái niệm0T 0Tluật hình sự0T 0Tnói về những luật có chung tính chất là xác định những0T 0Thành vi0T 0T(tội) mà xã hội đó không muốn xảy ra, và đề ra những0T 0Thình phạt0T 0Triêng biệt và nặng nề hơn bình thường nếu thành viên xã hội đó phạm vào

Tùy theo loại tội và thẩm quyền, sự trừng phạt (về mặt) hình sự bao gồm tử hình, giam giữ, bị quản thúc hoặc bị phạt vạ Những tội cổ xưa như sát nhân (giết người), phản quốc v.v luật hình sự nơi nào cũng có Nhưng cũng

có nhiều tội ở nước này đưa vào luật hình sự mà nước khác thì không Ngay

cả trong các bộ luật đôi khi cũng không rõ ràng về ranh giới giữa dân sự và hình sự

Luật hình sự thường được tiến hành khởi tố bởi chính quyền, không giống như luật dân sự thường được tiến hành khởi tố bởi người dân hay các pháp nhân khác

1.3 LUẬT TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ

Luật trách nhiệm dân sự0T 0Tlà một nhánh0T 0T34Tpháp luật34T0T 0Tgiải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân và/hoặc các cơ quan tổ chức, theo đó bên bị thiệt hại có thể được đền bù cho những thiệt hại đó Ví dụ, nếu một nạn nhân bị ôtô đâm đòi người lái xe bồi thường thiệt hại hoặc chấn thương do tai nạn gây ra, đây

sẽ là một vụ kiện dân sự

1.4 LUẬT HỢP ĐỒNG

Để cho hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể thực hiện có hiệu quả và đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước thì Nhà nước ban hành nhiều qui phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của hợp đồng Như vậy, pháp luật về hợp đồng gồm một hệ thống các văn bản pháp luật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều luật qui Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 8

định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng, định hình các qui tắc xử sự của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Từ đó ta có thể kết luận pháp luật về hợp đồng như sau: Pháp luật về hợp đồng là một hệ thống các quy tắc sử xự của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng

1.5 LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc và nhân loại; Để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu;

Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 và 29/11/2005

Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường, chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 9

Chương II THIẾT LẬP MỤC TIÊU VÀ CHỈ TIÊU SAU KHI KẾT THÚC MỘT

CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG

2.1 CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG

Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những chính sách môi trường riêng Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương Sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp trung ương

2.2 CÁC VẤN ĐỀ CHUẨN TẮC VÀ PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CHUẨN TẮC

Hầu hết các nhà kinh tế đều lập luận rằng hiệu quả kinh tế đạt được khi

sự chênh lệch giữa lợi ích và chi phí là tối đa Điều này chính là một tiêu chí

cơ bản để đánh giá các nỗ lực bảo vệ môi trường Bởi vì xã hội có những nguồn lực có hạn để chi tiêu, phân tích lợi ích - chi phí có thể giúp làm sáng

tỏ sự đánh đổi phức tạp để tạo ra các loại đầu tư xã hội khác nhau Trong thực

tế, có những khó khăn đáng kể mà phần lớn là vì những khó khăn vốn có trong việc đo lường lợi ích và chi phí Ngoài ra, còn có mối quan tâm về sự công bằng và quá trình xem xét công đức, bởi vì các chính sách công chắc chắn liên quan đến người thắng và kẻ thua, ngay cả khi các lợi ích tổng hợp vượt quá chi phí tổng hợp

2.2.1 Tiêu chu ẩn đánh giá chính sách môi trường

Hơn 100 năm trước, Vilfredo Pareto đề ra tiêu chuẩn nổi tiếng để đánh giá xem liệu một sự thay đổi của xã hội ví dự như chính sách công cộng, có làm cho thế giới tốt đẹp hơn không: Một sự thay đổi là Pareto hiệu quả nếu có Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 10

ít nhất một người được làm cho tốt hơn và không ai bị làm nghèo đi (1896) Tiêu chí này có sức hấp dẫn đáng kể Nhưng hầu như không có chính sách công cộng nào đáp ứng các thử nghiệm là cải thiện Pareto thực sự, bởi vì khi một chính sách công cộng được đưa ra thì chắc chắn có một số người trong xã hội sẽ bị làm cho nghèo đi Gần 50 năm sau đó, Nicholas Kaldor (1939) và John Hicks (1939) mặc nhiên công nhận một tiêu chí thực dụng hơn đó là xác định "sự cải thiện Pareto tiềm năng:"

Tiêu chuẩn này được định nghĩa như sau: Một chính sách công cộng được xác đinh như là cải thiện phúc lợi nếu những người đạt được lợi ích từ

sự thay đổi chính sách có thể bù đắp hoàn toàn những kẻ thua cuộc, thậm chí chỉ với (ít nhất) một người thắng cuộc sẽ vẫn tốt hơn là không ai thắng cuộc

Tiêu chuẩn Kaldor-Hicks, một kiểm định xem liệu lợi ích toàn xã hội

có vượt quá chi phí toàn xã hội hay không, là nền tảng lý thuyết cho việc sử dụng phương thức phân tích được gọi là lợi ích - chi phí (hoặc giá trị hiện tại ròng) để phân tích Cả tiêu chuẩn hiệu quả Pareto và tiêu chuẩn Kaldor-Hicks đều không kêu gọi hỗ trợ cho bất kỳ chính sách nào mà lợi ích lớn hơn chi phí Thay vào đó, chìa khóa để xác định một chính sách có hiệu quả chính là khoảng cách giữa lợi ích và chi phí là lớn nhất

Nếu mục tiêu là để tối đa hóa khoảng cách giữa lợi ích - chi phí (lợi ích ròng), khi đó

𝑚𝑚𝑚𝑚𝑚𝑚𝑞𝑞𝑖𝑖 �[𝐵𝐵𝑖𝑖(𝑞𝑞𝑖𝑖) − 𝐶𝐶𝑖𝑖(𝑞𝑞𝑖𝑖)]

𝑁𝑁 𝑖𝑖=1

→ 𝑞𝑞𝑖𝑖∗ (1)

Trong đó qR i Rlà khối lượng chất thải được xử lý của nguồn i (i=1-N); BR i R

là hàm lợi ích từ nguồn i; CR i Rlà hàm chi phí từ nguồn i; 𝑞𝑞𝑖𝑖∗ là mức độ hiệu quả của việc bảo vệ môi trường (xử lý chất thải ô nhiễm môi trường) Điều kiện

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 11

then chốt nổi bật lên từ việc tối đa hóa bài toán trong phương trình (1) là lợi ích cận biên bằng với chi phí cận biên.

Tiêu chuẩn Kaldor-Hicks rõ ràng là thực tế hơn so với tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Pareto, nhưng thời gian tồn tại tiêu chuẩn của nó ít bền vững hơn và đã bị bác bỏ từ nhiều phía khác nhau Các câu hỏi đã được đặt ra về việc liệu lợi ích và thiệt hại xã hội có thể được thể hiện thông qua sự kết hợp đơn giản của việc thay đổi phúc lợi của các cá nhân Do đó, lưu ý rằng tiêu chuẩn Kaldor-Hicks không được coi là điều kiện cần cũng như điều kiện đủ

để đưa ra một chính sách công

Trong những năm gần đây đã có nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà kinh tế với nhau và giữa các nhà kinh tế với những người có liên quan mật thiết khác về ý nghĩa của việc thường xuyên sử dụng khái niệm “tính bền vững” Phát triển bền vững, là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: Kinh tế tăng triển bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hóa đa dạng và môi trường trong lành, tài nguyên được duy trì bên vững

Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 12

Hình 2.1 Kinh tế - Xã hội - Môi trường trong phát triển bên vững

Sinh thái học và nhiều ngành bên ngoài nền kinh tế khác đã đưa tính bền vững là tiêu chí duy nhất và toàn diện nhất mà có thể nên hướng đến phát triển toàn cầu Ngược lại, các nhà kinh tế có xu hướng xác định tính bền vững chỉ là sự công bằng giữa các thế hệ Như vậy, hầu hết các nhà kinh tế chỉ xem

tính bền vững như là một yếu tố để phát triển hướng đi như mong muốn

2.2.2 Phân tích l ợi ích - chi phí của việc điều chỉnh môi trường

Trong khi khái niệm đơn giản, tính đúng đắn của thực nghiệm phân tích lợi ích - chi phí dựa trên những ước lượng đáng tin cậy sẵn có của các lợi ích

và chi phí xã hội, bao gồm ước lượng tỷ lệ chiết khấu xã hội

2.2.2.1 Chiết khấu:

Các quyết định được đưa ra hôm nay đều có tác động cả trong hiện tại

và tương lai Trong lĩnh vực môi trường, nhiều ảnh hưởng của tương lai là từ việc cải tiến chính sách, và như vậy trong bối cảnh này, lợi ích cũng như chi phí trong tương lai của các chính sách đã bị chiết khấu Giá trị hiện tại của lợi ích ròng (PVNB) được định nghĩa như sau:

Kinh tế

- Kinh tế tăng trưởng cao

- Hiệu quả kinh tế lơn

- Tiết kiệm tài nguyên

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 13

Nếu mục tiêu là để tối đa hóa khoảng cách giữa lợi ích và chi phí (lợi ích ròng), thì mức độ liên quan đến bảo vệ môi trường (xử lý chất thải ô nhiễm) được định nghĩa là hiệu quả mức độ bảo vệ:

𝑃𝑃𝑃𝑃𝑁𝑁𝐵𝐵 = � {(B𝑇𝑇𝑡𝑡=0 t − Ct) (1 + r)−t} (2) Trong đó BR t Rlà lợi ích tại thời điểm t, CR t Rlà chi phí tại thời điểm t, r là tỷ

lệ chiết khấu và T là năm phân tích cuối cùng PVNB có giá trị dương nghĩa

là chính sách hoặc dự án đó có tiềm năng để mang lại hiệu quả Pareto (thỏa mãn tiêu chuẩn Kaldor–Hicks) Do đó, thực hiện phân tích lợi ích – chi phí hoặc giá trị hiện tại dòng (NPV) đòi hỏi giá trị chiết khấu làm dịch chuyển các tác động trong tương lai sang những giá trị tương đương mà có thể được so sánh Về bản chất, tiêu chuẩn Kaldor–Hicks cung cấp cơ sở hợp lý cho việc phân tích lợi ích - chi phí và chiết khấu

2.2.2.2 Khái niệm lợi ích và phân loại

Nếu một sự thay đổi của môi trường có ý nghĩa với bất kỳ ai đó trong hiện tại hoặc tương lai thì nó sẽ xuất hiện trong một đánh giá kinh tế Môi trường có thể được coi như là một dạng tài sản tự nhiên cung cấp các luồng dịch vụ được sử dụng bởi con người trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ, chẳng hạn như: Sản lượng nông nghiệp, sức khỏe con người, giải trí và nhiều hàng hóa vô định khác như chất lượng cuộc sống

Bảo vệ môi trường thường đòi hỏi nhữngviệc làm thiết thực của vốn, lao động và các nguồn lực khan hiếm khác Sử dụng các nguồn lực này để bảo

vệ môi trường có nghĩa là chúng không sẵn có để được sử dụng vào những mục đích khác Do đó, khái niệm kinh tế của các giá trị hoặc lợi ích của hàng hóa và dịch vụ môi trường được diễn đạt bằng thuật ngữ sự sẵn sàng của xã hội để thực hiện một sự đánh đổi giữa việc sử dụng cạnh tranh những nguồn lực hạn chế, và thuật ngữ sự sẵn sàng của các cá nhân để thực hiện những Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 14

đánh đổi này Vì vậy, những lợi ích của một chính sách môi trường được định nghĩa là một tập hợp sự sẵn lòng chi trả của các cá nhân (WTP) cho việc giảm hoặc ngăn ngừa những thiệt hại của môi trường hoặc sẵn lòng chấp nhận bồi thường của các cá nhân (WTA) để chịu đựng các thiệt hại môi trường như thế

Những lợi ích mang lại cho con người từ việc bảo vệ môi trường là rất nhiều và đa dạng Dưới góc độ sinh lý, lợi ích như vậy có thể được phân loại như là liên quan đến sức khỏe con người (tỷ lệ tử vong và bệnh tật), các tác động sinh thái (cả thị trường và phi thị trường) hoặc thiệt hại về vật chất Từ góc độ kinh tế, một sự phân biệt quan trọng là giữa giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng Ngoài những lợi ích trực tiếp (giá trị sử dụng) mà con người nhận được thông qua bảo vệ sức khỏe của họ hoặc thông qua việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, người ta cũng nhận được giá trị thụ động hoặc không sử dụng từ chất lượng môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực sinh thái Ví dụ, một

cá nhân có thể coi trọng một sự thay đổi tốt cho môi trường vì bởi vì người đó muốn giữ gìn các tùy chọn để sử dụng trong tương lai hoặc bởi vì người đó mong muốn những người thừa kế của mình được hưởng môi trường trong sạch Vẫn còn những người khác mà họ không sử dụng một trong những lợi ích từ môi trường trong hiện tại hoặc tương lai cho bản thân hoặc người thừa

kế, nhưng họ vẫn muốn bảo vệ môi trường vì họ tin rằng môi trường cần được bảo vệ hoặc đơn giản họ cảm thấy hài lòng khi biết những gì của ngày hôm nay vẫn còn tồn tại cho đến ngày mai

2.2.2.3 Khái niệm chi phí và phân loại

Khái niệm về chi phí trong bối cảnh môi trường, hay chính xác hơn, chi phí cơ hội, là một thước đo giá trị của bất cứ điều gì phải hy sinh để ngăn ngừa hoặc làm giảm nguy cơ của một tác động môi trường Do đó, chi phí của các chính sách môi trường là những lợi ích xã hội bị bỏ qua do sử dụng các Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 15

nguồn lực khan hiếm cho các mục đích chính sách môi trường, thay vì đưa những nguồn lực đó để sử dụng tốt nhất tiếp theo

2.2.3 Các p hương pháp tiếp cận khác để phân tích mục tiêu của chính sách môi trường

Những nhà quản lý và các nhà nghiên cứu đã đề xuất ra các tiêu chí ước lượng khác mà có thể đánh giá được các chính sách môi trường Một cách tiếp cận, phản ánh cách diễn giải phổ biến của Đạo luật không khí sạch và một vài

bộ luật môi trường khác, đã được khẳng định chỉ dựa vào thông tin của khoa học tự nhiên để xác định các chính sách mà loại trừ hoàn toàn những rủi ro môi trường hoặc giảm rủi ro đến mức được coi là chấp nhận được

Ví dụ, đạo luật Không khí sạch là một trong số những văn bản pháp lý liên quan đến việc giảm ô nhiễm khói và không khí nói chung Chính phủ sử dụng đạo luật này để thực thi các tiêu chuẩn không khí sạch, điều này đã góp phần cải thiện sức khỏe con người và kéo dài tuổi thọ Nhưng kể từ khi ô nhiễm môi trường không có khả năng biểu lộ ngưỡng sạch dưới đây:

Phân tích y tế - sức khỏe là một phương pháp để đánh giá tính kinh tế

của chính sách y tế và các quy định an toàn Đó là một bước đi xa hơn bằng cách cố gắng xác định số lượng tài nguyên và chi phí cơ hội, dựa trên quan điểm cho rằng chi tiêu cho các chương trình điều tiết mà nguồn lực là từ các

cá nhân, khiến họ chi tiêu ít hơn cho an toàn và chăm sóc sức khỏe, do đó làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và/hoặc rủi ro tỷ vong Như vậy, lợi ích y tế công cộng bị tương phản với những ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe Phân tích y tế - sức khỏe cung cấp một thước đo “lợi ích ròng” (người được cứu sống), nhưng phương pháp phân tích này bị một số hạn chế nghiêm trọng đó là: Nó không bao gồm các lợi ích khác ngoài việc giảm bớt các rủi ro; mỗi cá nhân chỉ phải trích ra một tỷ lệ phần trăm ngân sách tương đối nhỏ để điều chỉnh môi Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 16

trường nghĩa là có thể không có ảnh hưởng nào đáng kể đến chi tiêu y tế cá nhân, và phân tích chính xác phụ thuộc vào nhiệm vụ khó khăn là đánh giá mối quan hệ phức tạp giữ sự đánh đổi thu nhập cận biên và rủi ro về sức khỏe

Phân tích phân phối cung cấp một cách tiếp cận khác để phân tích các

mục tiêu kinh tế của chính sách môi trường Phân tích lợi ích - chi phí chỉ tập trung vào tổng lợi ích ròng, và không đưa vào bản báo cáo hiệu quả phân phối của các chính sách Tuy nhiên, vấn đề về phân phối phát sinh trong cả hai mặt lợi ích và chi phí tính toán, và xuất hiện cùng một số chiều, bao gồm: Phân tích chéo (như đặc điểm địa lý, thu nhập, chủng tộc, khu vực, và công ty) và tính liên thời gian (chẳng hạn như theo mùa, hàng năm, dài hạn, và giữa các thế hệ) Phân bổ vốn chủ sở hữu có thể là một sự xem xét mang tính xã hội quan trọng, đặc biệt là trong vấn đề tác động đến những người có thu nhập khác nhau, và hai phương pháp tiếp cận đến vấn đề này xứng đáng được đề cập đến: Phân tích lợi ích - chi phí theo trọng số phân phối và phân tích phân phối riêng biệt

Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế không ủng hộ việc cố gắng để kết hợp các cân nhắc phân phối vào phân tích lợi ích - chi phí, nhưng họ khuyên nên sử dụng riêng biệt phân tích phân phối như là một phần phụ để phân tích

lợi ích - chi phí tiêu chuẩn như: phân tích phân phối có thể kiểm tra tác động đến nhóm dân số, cũng như phân phối thu nhập hoặc của cải của các quốc gia Các nhóm dân số thường xuyên được xem xét trong bối cảnh chính sách bao gồm các thành phần kinh tế, chính phủ, người tiêu dùng, người già và trẻ em Phân tích phân phối cũng có thể báo cáo về tiềm năng thay đổi lợi nhuận của các công ty, thay đổi việc làm, đóng cửa nhà máy, thay đổi doanh thu, chính phủ và tính cạnh tranh của ngành công nghiệp

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 17

2.3 CÁC VẤN ĐỀ THỰC CHỨNG VÀ PHÂN TÍCH

Với những cải tiến phúc lợi mà việc làm của các tiêu chí hiệu quả và phương pháp đánh giá có liên quan trong phương pháp phân tích lợi ích - chi phí có thể mang lại chính sách môi trường, đó là hợp lý để yêu cầu việc tiếp nhận nào trong ba ngành của chính phủ là hành pháp, lập pháp, và tư pháp sử dụng các công cụ phân tích này

2.3.1 Ban hành luật pháp

Trong những năm qua, Quốc hội đã gửi những tín hiệu lẫn lộn về việc

sử dụng các phân tích lợi ích - chi phí trong việc đánh giá chính sách Một số quy chế thực sự đòi hỏi việc sử dụng các phân tích lợi ích - chi phí, trong khi những số khác đã được giải thích để loại trừ có hiệu quả việc xem xét các lợi ích và chi phí trong việc phát triển của một số quy định nhất đinh Nhưng điều này đã không ngăn cản cơ quan quản lý xem xét lợi ích và chi phí trong đề xuất của họ

Mặc dù lập luận như vậy, phân tích lợi ích - chi phí chính thức đã không thường xuyên được sử dụng để giúp thiết lập tính chặt chẽ của tiêu chuẩn môi trường Nhà nước đã ủng hộ một tập hợp các phương pháp tiếp cận

để thiết lập các tiêu chuẩn khác nhau, chẳng hạn như Đạo luật không khí sạch Các nhà kinh tế và một số học giả đã dành rất nhiều thời gian tranh luận rằng tiêu chí như vậy là không hợp lý cũng không được định rõ

2.3.2 Nhận biết pháp lý

Ngành tư pháp cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hơn nữa việc sử dụng các phương pháp phân tích để hỗ trợ các cơ quan đưa ra quyết định Những quy tắc mặc định này yêu cầu cơ quan hành chính xem xét các chi phí quy định khi ban hành các quy định và phản ánh một sự chấp nhận pháp lý rộng rãi của việc phân tích lợi ích - chi phí trong quản lý luật lệ Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 18

2.3.3 Sắp đặt tiêu chuẩn

Tại sao việc sử dụng các kỹ thuật phân tích không trở nên phổ biến hơn trong chính sách môi trường? Thay vì tại sao Quốc hội tiếp tục làm luật thường xuyên mà không liên quan đến lợi ích và chi phí?

Đầu tiên, một số quy định cho phép các doanh nghiệp được thành lập

để trục lợi và thiết lập các rào cản nhập ngành để truyền cho họ một lợi thế cạnh tranh Ví dụ, tiêu chuẩn chỉ huy và kiểm soát giới hạn tổng lượng xả thải của một doanh nghiệp có thể là nguyên nhân để các doanh nghiệp làm giảm sản lượng của họ để đáp ứng yêu cầu môi trường Việc hạn chế đầu ra có thể đẩy giá sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn chi phí trung bình của nó, và kết quả là, doanh nghiệp có thể kiếm được chênh lệch Sự cạnh tranh mạnh mẽ sẽ tiêu tan tiền chênh lệch này, nhưng các quy định về môi trường thường tạo ra các rào cản gia nhập thị trường bằng cách áp đặt các tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt đối với các doanh nghiệp mới, do đó đưa ra một lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp

Thứ hai, thậm chí nếu các quy định môi trường không làm tăng lợi nhuận của toàn bộ một ngành công nghiệp, nó có thể mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nhất định trong một ngành công nghiệp Các doanh nghiệp trong một ngành công nghiệp có khả năng sẽ phải chịu những chi phí khác nhau trong các yêu cầu pháp lý, bởi vì một số doanh nghiệp sẽ có thể điều chỉnh quá trình sản xuất của họ dễ dàng hơn những số khác

Thứ ba, động lực để đưa ra các quy định đôi khi đến từ các nhà sản xuất thiết bị kiểm soát ô nhiễm, công nghệ thân thiện với môi trường, hoặc các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất được ưu tiên bởi chế độ quản lý Ví

dụ, các công ty chuyên về dọn dẹp các khu vực có rác thải nguy hại đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của làm sạch môi trường

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 19

Thứ tư, quy định về môi trường thường áp đặt chi phí không cân xứng trên một số khu vực của đất nước Những khu vực mà chịu chi phí trung bình thấp hơn sẽ trở nên tương đối hấp dẫn cho vốn lưu động, có thể mang lại lợi ích kinh tế chẳng hạn như việc làm và thu nhập từ thuế

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 20

Chương III LỰA CHỌN CÔNG CỤ - CÁC PHƯƠNG TIỆN ĐỂ THỰC HIỆN

3.1 CÁC VẤN ĐỀ CHUẨN TẮC VÀ PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CHUẨN TẮC

Thậm chí nếu các mục tiêu và mục đích của chính sách môi trường được thực hiện như đã định, phân tích kinh tế có thể mang lại những hiểu biết quý giá cho việc đánh giá và phác thảo các chính sách môi trường Chúng ta bắt đầu bằng cách xem xét các chỉ tiêu mà nó có thể được đưa ra để tìm kiếm những công cụ chính sách tốt hơn, và sau đó quay lại liệt kê các hạng mục chính của các công cụ chính sách môi trường, bao gồm công cụ chỉ huy - kiểm soát và các công cụ dựa vào thị trường Các vấn đề chéo đã được xem xét, kể cả sự bất định, thay đổi công nghệ, và các vấn đề phân phối Chúng ta nghiên cứu các bài học mà nó xuất hiện từ nghiên cứu và kinh nghiệm

3.1.1 Các tiêu chuẩn để lựa chọn công cụ chính sách

Một loạt các tiêu chuẩn đã được thừa nhận là có liên quan đến việc lựa chọn các công cụ chính sách môi trường, bao gồm:

1) Công cụ chính sách sẽ đạt được mục tiêu hoặc tiêu chuẩn của Nhà nước;

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 21

2) Với chi phí thấp nhất có thể, bao gồm cả sự bằng lòng của bộ phận

tư nhân, bộ phận giám sát và thi hành công cộng;

3) Sẽ cung cấp cho Chính phủ những thông tin cần thiết để thực hiện

các chính sách;

4) Các công cụ linh hoạt khi đối mặt với những thay đổi trong thị

hiếu và công nghệ;

5) Công cụ cung cấp những động lực nhằm khích lệ việc nghiên cứu,

phát triển, và áp dụng tốt hơn các công nghệ xử lý chất thải gây ô

nhiễm;

6) Thi hành công cụ chính sách sẽ dẫn đến một sự phân phối công

bằng các lợi ích và chi phí bảo vệ môi trường;

7) Chính sách là khả thi về mặt chính trị dưới dạng ban hành và thực

hiện?

Mục (1) đến (5) cùng tham khảo một khái niệm toàn diện của các tiêu

chí về hiệu quả chi phí, trong khi mục (6) đề cập đến công bằng phân phối, và

mục (7) đề cập đến tính khả thi về mặt chính trị

Để rõ ràng hơn, đầu tiên chúng ta dự định rằng phân bổ kiểm soát giữa

các nguồn lực mà kết quả là mục tiêu tổng hợp đạt được với chi phí thấp nhất

có thể, có nghĩa là, việc phân bổ thỏa mãn vấn đề giảm thiểu chi phí sau đây:

𝑚𝑚𝑚𝑚𝑎𝑎 0 ≤ 𝑟𝑟𝑖𝑖 ≤ 𝑢𝑢𝑖𝑖 (5)

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 22

Trong đó:

rR i R = Giảm phát thải (giảm bớt hoặc kiểm soát) bởi nguồn i (i = 1 đến N);

cR i R (rR i R) = Hàm chi phí của nguồn i

C = Tổng chi phí kiểm soát

UR i R = Phát thải không kiểm soát được bởi nguồn i

E = Tổng lượng khí thải mục tiêu bị áp đặt bởi cơ quan quản lý Nếu hàm chi phí là lồi, thì điều kiện cần và đủ cho sự thỏa mãn tối ưu hóa bắt buộc đã đưa ra trong các phương trình (3) đến (5) là những điều sau đây:

𝜕𝜕𝑐𝑐𝑖𝑖(𝑟𝑟𝑖𝑖)

𝜕𝜕𝑟𝑟𝑖𝑖 − 𝛾𝛾 ≥ 0 (6)

𝑟𝑟𝑖𝑖 [𝜕𝜕𝑐𝑐𝜕𝜕𝑟𝑟𝑖𝑖(𝑟𝑟𝑖𝑖)

𝑖𝑖 − 𝛾𝛾] = 0 (7) Phương trình (6) và (7) đưa ra ngụ ý về điều kiện quan trọng để có hiệu quả chi phí mà tất cả các nguồn lực cùng trải qua để giảm bớt chi phí cận biên Vì vậy, khi nghiên cứu các loại công cụ chính sách môi trường khác, một câu hỏi quan trọng là liệu các công cụ đặc biệt có khả năng dẫn đến sự giảm chi phí cận biên được đánh đồng qua các nguồn lực

Trang 23

thiết lập các tiêu chuẩn thống nhất cho các doanh nghiệp, phổ biến nhất trong

số đó là công nghệ và tiêu chuẩn dựa trên hiệu suất

Công cụ dựa vào thị trường khuyến khích hành vi thông qua các tín hiệu thị trường, hơn là thông qua các chỉ thị rõ ràng về mức độ hoặc các phương pháp kiểm soát ô nhiễm Những công cụ chính sách này có thể được

mô tả hợp lý như “lực lượng khai thác thị trường” Bởi vì nếu những công cụ chính sách được định hình tốt và thực hiện đúng cách, chúng sẽ khuyến khích các doanh nghiệp hoặc cá nhân thực hiện các nỗ lực kiểm soát ô nhiễm để mang lại lợi ích riêng cho họ đồng thời mang lại lợi ích chung đáp ứng các mục tiêu của chính sách Công cụ dựa vào thị trường nằm trong sáu loại: thuế

ô nhiễm, giấy phép có thể mua bán được, giảm ma sát thị trường, và giảm trợ cấp chính phủ, ký quỹ môi trường, nhãn sinh thái

Quy định trách nhiệm pháp lý cũng có thể được coi như một công cụ dựa trên thị trường, bởi vì nó mang lại sự khích lệ cho các công ty để đưa vào tài khoản thiệt hại môi trường tiềm tàng trong quyết định của họ, cho phép hoàn toàn linh hoạt trong các hoạt động công nghệ và kiểm soát

3.1.2.1 So sánh công cụ chỉ huy - kiểm soát với công cụ dựa vào thị trường

Công cụ dựa vào thị trường cung cấp tiềm lực cho hiệu quả chi phí động, nhưng các vấn đề có thể phát sinh khi đưa lý thuyết vào thực hành, và thật là khó khăn để đo lường mức độ lợi ích của việc di chuyển từ chỉ huy và kiểm soát sang cơ chế khuyến khích

Nơi nào chi phí có tính không đồng nhất đáng kể thì phương pháp kiểm soát – chỉ huy sẽ không hiệu quả về chi phí Nắm giữ tất cả các doanh nghiệp với cùng một mục tiêu sẽ là quá xa xỉ, bởi vì không có khả năng nhận ra tính không đồng nhất của chi phí giảm phát thải Trong thực tế, chi phí có thể thay Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 24

đổi rất nhiều do thiết kế sản xuất, cấu hình vật lý, tuổi thọ của tài sản, và các yếu tố khác Ví dụ, chi phí cận biên của việc kiểm soát phát thải chì đã được ước tính nằm trong khoảng từ 13 USD đến 56.000USD/tấn Nhưng nơi mà chi phí giữa các nguồn là tương tự nhau thì công cụ kiểm soát-chỉ huy có thể thực hiện tương đương (hoặc tốt hơn) so với công cụ dựa vào thị trường, tùy thuộc chi phí giao dịch, chi phí quản lý, khả năng đưa ra chiến lược, chi phí chính trị

và bản chất của các chất ô nhiễm

Về mặt lý thuyết, nếu được thiết kế và thực hiện đúng cách thì công cụ dựa vào thị trường cho phép bất kỳ mức độ mong muốn làm sạch ô nhiễm được thực hiện mà tổng chi phí xã hội thấp nhất, bằng cách cung cấp các ưu đãi đối với sự giảm ô nhiễm lớn nhất bởi những doanh nghiệp đó để có thể đạt được sự giảm ô nhiễm với giá rẻ nhất Thay vì cân bằng mức độ ô nhiễm giữa các doanh nghiệp, các công cụ dựa vào thị trường cân bằng chi phí giảm phát cận biên của chúng Cách tiếp cận chỉ huy - kiểm soát có thể - trong lý thuyết- đạt được giải pháp hiệu quả chi phí này, nhưng điều này sẽ yêu cầu các tiêu chuẩn khác nhau được thiết lập cho mỗi nguồn gây ô nhiễm, và, do đó, các nhà hoạch định chính sách có được thông tin chi tiết về việc tuân thủ các chi phí mỗi bộ mặt doanh nghiệp Như vậy, thông tin đơn giản là không có sẵn cho Chính phủ Ngược lại, công cụ dựa vào thị trường cung cấp cho một phân

bổ hiệu quả chi phí của gánh nặng kiểm soát ô nhiễm giữa các nguồn mà không đòi hỏi Chính phủ phải có thông tin này

Trang 25

- Thuế và phí rác thải;

- Thuế và phí nước thải;

- Thuế và phí ô nhiễm không khí;

Có hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó hai dạng phí dịch vụ môi trường là dịch vụ cung cấp nước sạch, xử lý nước thải và dịch vụ thu gom chất thải rắn Đối với một số nước công nghiệp, dịch vụ cung cấp nước sạch

và vệ sinh môi trường nông thôn cũng là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu

để chính sách áp dụng phù hợp

Do đó, khoản lệ phí hoặc thuế là đáng giá cho các doanh nghiệp để giảm lượng khí thải đến điểm chi phí xử lý cận biên của họ bằng tỷ lệ đánh thuế phổ biến Theo định nghĩa, phát thải thực tế bằng phát thải không kiểm soát được trừ đi mức giảm khí thải, có nghĩa là, ei = ui-ri Vấn đề giảm thiểu

chi phí của một nguồn trong sự có mặt của thuế phát thải, t, được đưa ra bởi:

𝑚𝑚𝑖𝑖𝑚𝑚𝑟𝑟𝑖𝑖[𝑐𝑐𝑖𝑖(𝑟𝑟𝑖𝑖) + 𝑡𝑡 (𝑢𝑢𝑖𝑖 − 𝑟𝑟𝑖𝑖)] (8)

𝑠𝑠 𝑡𝑡 𝑟𝑟𝑖𝑖 ≥ 0 (9)

Kết quả mỗi nguồn là:

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 26

𝜕𝜕𝑟𝑟𝑖𝑖 − 𝑡𝑡 ≥ 0 (10)

𝑟𝑟𝑖𝑖 �𝜕𝜕𝑐𝑐𝑖𝑖 (𝑟𝑟 𝑖𝑖 )

𝜕𝜕𝑟𝑟𝑖𝑖 − 𝑡𝑡� = 0 (11) Phương trình (10) và (11) ngụ ý rằng mỗi nguồn sẽ thực hiện việc xử lý chất thải đến điểm có chi phí kiểm soát cận biên bằng với thuế xuất Do đó, chi phí xử lý chất thải cận biên sẽ được đánh đồng qua các nguồn, đáp ứng điều kiện hiệu quả chi phí được quy định bởi các phương trình (6) và (7)

Một thách thức với các hệ thống thu phí là xác định thuế suất thích hợp Đối với hiệu quả xã hội, nó nên được thiết lập bằng với lợi ích cận biên của việc dọn dẹp tại mức độ hiệu quả của việc dọn dẹp, nhưng những nhà hoạt động chính sách có nhiều khả năng hơn để suy nghĩ về mức độ dọn dẹp mong muốn, và họ không biết trước cái cách mà các doanh nghiệp sẽ đối phó lại để đưa ra một mức thuế phải đóng Một vấn đề nữa được đặt ra bởi các loại thuế

ô nhiễm có liên quan đến hiệu quả phân phối của chúng đối với các nguồn được quy định Mặc dù thực tế là các hệ thống như vậy giảm đến mức tối thiểu tổng chi phí xã hội, các hệ thống này có thể tốn kém hơn các công cụ kiểm soát - chỉ huy có thể so sánh được của các doanh nghiệp đã định Điều này là bởi vì với cách tiếp cận thuế, các doanh nghiệp thanh toán chi phí xử lý cộng với thuế phát thải còn dư Để tính chi phí tổng hợp trong một phân tích lợi ích - chi phí hoặc hiệu quả chi phí xã hội, các khoản thanh toán thuế chỉ đơn giản là chuyển nhượng, và vì vậy được loại trừ khỏi các tính toán

3.1.2.3 Hệ thống giấy phép xả thải có thể giao dịch

"Côta gây ô nhiễm là một loại giấy phép xả thải chất thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, Nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp, v.v được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường" bằng cách Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 27

môi trường, sau đó phân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy phép thải gọi là côta gây ô nhiễm và chính thức công nhận quyền được thải một lượng chất gây ô nhiễm nhất định vào môi trường trong một giai đoạn xác định cho các nguồn thải

Khi có mức phân bổ côta gây ô nhiễm ban đầu, người gây ô nhiễm có quyền mua và bán côta gây ô nhiễm Họ có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức phát thải chất gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất: Mua côta gây ô nhiễm để được phép thải chất gây ô nhiễm vào môi trường hoặc đầu tư

xử lý ô nhiễm để đạt tiêu chuẩn cho phép Nghĩa là những người gây ô nhiễm

mà chi phí xử lý ô nhiễm thấp hơn so với việc mua côta gây ô nhiễm thì họ sẽ bán lại côta gây ô nhiễm cho những người gây ô nhiễm có mức chi phí cho xử

lý ô nhiễm cao hơn

Như vậy, sự khác nhau về chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm sẽ thúc đẩy quá trình chuyển nhượng côta gây ô nhiễm Thông qua chuyển nhượng, cả người bán và người mua côta gây ô nhiễm đều có thể giảm được chi phí đầu tư cho mục đích bảo vệ môi trường, đảm bảo được chất lượng môi trường.Chúng ta

có thể lý giải thêm điều này bằng thuật toán dưới đây:

Dưới một hệ thống giấy phép có thể trao đổi, cho phép tổng thể mức độ

ô nhiễm, E, được thiết lập, và được phân bổ giữa các doanh nghiệp bằng hình thức giấy phép xả thải Các doanh nghiệp giữ mức khí thải dưới mức phân bổ của họ và có thể bán giấy phép thặng dư của mình cho các doanh nghiệp khác hoặc sử dụng chúng để bù đắp lượng khí thải dư thừa trong các phần khác của các hoạt động của họ Hãy để qR 0i R là phân bổ ban đầu của giấy phép phát thải nguồn i, như vậy:

� 𝑞𝑞𝑜𝑜𝑖𝑖𝑁𝑁 𝑖𝑖=1

= 𝐸𝐸� (12) Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 28

Thì, nếu p là giá thị trường đã được xác định của giấy phép có thể trao đổi, vấn đề giảm thiểu chi phí của một công ty đơn lẻ được cho bởi:

𝑚𝑚𝑖𝑖𝑚𝑚𝑟𝑟𝑖𝑖[𝑐𝑐𝑖𝑖(𝑟𝑟𝑖𝑖) + 𝑝𝑝 (𝑢𝑢𝑖𝑖 − 𝑟𝑟𝑖𝑖−𝑞𝑞𝑜𝑜𝑖𝑖)] (13)

𝑠𝑠 𝑡𝑡 𝑟𝑟𝑖𝑖 ≥ 0 (14) Kết quả mỗi nguồn là:

𝜕𝜕𝑐𝑐𝑖𝑖(𝑟𝑟𝑖𝑖)

𝜕𝜕𝑟𝑟𝑖𝑖 − 𝑝𝑝 ≥ 0 (15)

𝑟𝑟𝑖𝑖 �𝜕𝜕𝑐𝑐𝜕𝜕𝑟𝑟𝑖𝑖(𝑟𝑟𝑖𝑖)

𝑖𝑖 − 𝑝𝑝� = 0 (16) Phương trình (15) và (16) cùng ngụ ý rằng mỗi nguồn sẽ thực hiện xử

lý chất thải đến điểm mà chi phí kiểm soát cận biên bằng giá thị trường đã được xác định của giấy phép Do đó, mức độ ô nhiễm môi trường, E, là thỏa mãn và chi phí xử lý cận biên được đánh đồng cho các nguồn, đáp ứng các điều kiện hiệu quả chi phí Lưu ý rằng, cân bằng hiệu quả - chi phí duy nhất đạt được độc lập với những phân bổ giấy phép ban đầu Về mặt chính trị, điều

này là quan trọng nhất Chúng ta sẽ thảo luận ở mục 3.2 dưới đây

Phương pháp ma sát thi trường nhằm mục đích cải thiện cách làm việc của thị trường hiện có, cải thiện như sau:

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 29

- Tăng cường thông tin có sẵn trong thị trường để người tiêu dùng, các nhà đầu tư hoặc nhà sản xuất có thể đưa ra các quyết định tốt hơn về những hậu quả môi trường của việc mua hàng, đầu tư hoặc sản xuất, hoặc

- Giảm chi phí giao dịch liên quan đến việc tham gia vào thị trường mà thị trường đó đem lại kết quả quản lý tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến hiệu quả môi trường hơn

Có một loạt các phương pháp để tăng cường dòng chảy thông tin hoặc giảm chi phí giao dịch Những tiếp cận này có thể không mang lại lợi ích ngay lập tức hoặc trực tiếp, vì vậy thường là khó khăn để dự đoán hoặc đánh giá tác động của chúng

3.1.2.5 Giảm trợ cấp của Chính phủ

Trợ cấp là một công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước châu Âu thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Trợ cấp thường gồm những dạng sau:

- Trợ cấp không hoàn lại

- Các khoản cho vay ưu đãi

- Cho phép khấu hao nhanh

- Ưu đãi thuế

Trợ cấp là giúp đỡ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường (nâng cao chất lượng môi trường) Nhưng nói chung, nó có những nhược điểm quan trọng liên quan đến thuế Bởi vì trợ cấp làm tăng lợi nhuận trong các ngành sản xuất, khuyến Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 30

khích nhập cảnh, và do đó có thể làm tăng kích thước các ngành và gây ô nhiễm

Trong thực tế, nhiều trợ cấp Chính phủ đã dẫn tới việc hành động không hiệu quả về mặt kinh tế và không thân thiện với môi trường Trong những trường hợp như vậy, giảm trợ cấp có thể làm tăng hiệu quả và cải thiện chất lượng môi trường Ví dụ, vì các mối quan tâm về biến đổi khí hậu toàn cầu, tăng cường sự tập trung để trợ cấp liên bang và các chương trình khác nhằm thúc đẩy việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch Một nghiên cứu của EPA chỉ ra rằng loại bỏ các khoản trợ cấp sẽ có một tác động đáng kể vào việc giảm lượng khí thải carbon dioxide (CO2) Chính phủ liên bang đã để hết tâm trí vào lĩnh vực năng lượng thông qua hệ thống thuế và thông qua một loạt các chương trình của các cơ quan riêng lẻ Một nghiên cứu chỉ ra rằng các hoạt động này tốn của Chính phủ 17 tỷ USD mỗi năm Một phần đáng kể các khoản trợ cấp của Mỹ và các chương trình đã được ban hành trong thời kỳ

"khủng hoảng dầu lửa" để khuyến khích sự phát triển nguồn năng lượng trong nước và giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu Họ ủng hộ việc cung cấp năng lượng hơn là hiệu quả năng lượng

Những quy định trách nhiệm pháp lý thường xuyên được sử dụng nhất cho các mối nguy hiểm cấp tính, đặc biệt là cho các địa điểm có chất thải độc hại và việc xả thải các chất độc hại

Chính phủ có thể tập hợp các chi phí dọn dẹp và các thiệt hại từ các nhà sản xuất xả thải, các phương tiện vận chuyển và người điều khiển xả thải Tương tự, đạo luật ô nhiễm dầu làm cho các công ty chịu trách nhiệm về chi phí dọn dẹp, thiệt hại tài nguyên thiên nhiên, và các thiệt hại của bên thứ ba bởi sự cố tràn dầu lên bề mặt nước biển; và các Đạo luật nước sạch làm cho Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 31

các bên chịu trách nhiệm về chi phí dọn dẹp của việc làm tràn các chất độc hại

Các cá nhân gây ô nhiễm có thể bị bắt phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại để khắc phục các thiệt hại mà họ gây ra cho một cá nhân hoặc một tổ chức bị ảnh hưởng Về lý thuyết, chi phí đầy đủ của các hành động gây ô nhiễm môi trường do đó sẽ được đưa vào bên trong, và người gây ô nhiễm sẽ giảm tác hại dự kiến trong hành động của mình đến điểm mà tại đó việc cắt giảm thêm nữa trở nên tốn kém hơn so với trách nhiệm dự kiến mà họ phải đối mặt

Hiệu quả của quy định trách nhiệm phụ thuộc một phần vào khả năng của các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm để đưa ra các hành động nhằm phục hồi thiệt hại Có 5 vấn đề tiềm tàng

Đầu tiên, tác hại môi trường có thể được phân tán rộng rãi, và do đó, tiền chi trả dự kiến không thể biện minh bằng chi phí cho một nạn nhân riêng

lẻ nào

Thứ hai, thường xuyên có rất nhiều nguồn của một chất gây ô nhiễm nhất định, và do đó có thể bên bị thiệt hại (hoặc các bên) không có khả năng xác định nguồn gốc thực tế của thiệt hại

Thứ ba, nhiều tác hại của ô nhiễm có khoảng thời gian ngấm dài, có nghĩa rằng thời gian tác hại tự biểu lộ, hành động bị chặn vì những quy định giới hạn Tuy nhiên, trong một số khu vực pháp lý, các quy định như vậy bắt đầu thực hiện chỉ khi phát hiện ra tác hại, không áp đặt với rủi ro

Thứ tư, nhiều ảnh hưởng của môi trường là sự ngẫu nhiên của thiên nhiên, chẳng hạn như gây ra bệnh tật, đó là, việc tiếp xúc với môi trường làm

tăng xác suất của bệnh tật hoặc tử vong Trong những trường hợp như vậy, rất khó hoặc không thể xác định một cách chắc chắn nguồn gốc tác hại môi Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 32

trường Quy tắc về chứng cứ đòi hỏi "sự vượt trội của bằng chứng" chỉ ra rằng nguyên đơn gây ra tác hại cho bên bị không chấp nhận phục hồi dưới những trường hợp này

Thứ năm, gây ô nhiễm không thể có khả năng thanh toán đủ để chi trả một thiệt hại lớn do tòa án ban bố, và khoảng cách giữa khả năng thanh toán toàn bộ của người gây ô nhiễm và thiệt hại đầy đủ sẽ được biểu lộ công khai

Tuy nhiên, quy định trách nhiệm pháp lý có vai trò nòng cốt để đưa vào các quy định môi trường, bởi vì các công cụ điều tiết khác làm tăng tập hợp các vấn đề của riêng chúng Có những lựa chọn quan trọng cần phải được thực hiện trong việc thiết lập các quy tắc trách nhiệm Tuy nhiên, những người gây ô nhiễm có nên bị bắt buộc phải liên đới chịu trách nhiệm cho những thiệt hại họ gây ra không? hay là không liên đới chịu trách nhiện? luật lỏng lẻo được ưa thích hơn luật nghiêm khắc hay ngược lại? hơn nữa, bên nào phải có trách nhiệm? người gây ô nhiễm hay chủ đất?

3.1.2.7 Nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái là một danh hiệu của Nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó

Được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất Vì thế các sản phẩm được dán nhãn sinh thái thường có tính cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng cao hơn so với các sản phẩm cùng loại Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh té tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng và tâm lý của khách hàng Do đó, có rất nhiều nhà sản xuất đang đầu tư để sản phẩm của mình được công nhận là “sản phẩm xanh”, được “dán nhãn sinh thái” và điều kiện được dán nhãn sinh thái ngày càng khắt khe hơn Nhã sinh thái thường được xem xét và dán cho các sản Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 33

phẩm tái chế từ phế thải (nhựa, cao su…), các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm tác động xấu đến môi trường, các sản phẩm có tác động tích cực đến môi trường hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó có ảnh hưởng tốt đến môi trường

Hình 3.1 Các loại nhãn sinh thái trên thế giới

Hình 3.2 Mẫu biểu trưng cho nhãn sinh thái Việt Nam

3.1.2.8 Ký quỹ môi trường

Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh

tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường Nguyên lý hoạt động của

hệ thống kỹ quỹ môi trường cũng tương tự như của hệ thống đặt cọc - hoàn trả Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 34

cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý hoặc các giấy tờ có giá trị) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết để thực hiện các biện pháp hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường

Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ Từ đó

tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường

Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp có các biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường, hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì họ sẽ được nhận lại số tiền đã ký quỹ đó Ngược lại nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản thì số tiền đã ký quỹ đó sẽ được rút ra khỏi tài khoản ngân hàng/tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục sự

cố, suy thoái môi trường

Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí khắc phục môi trường từ ngân sách Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh nghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp sẽ có lợi do lấy lại được vốn khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường

Với mục đích và nguyên lý hoạt động như vậy, rõ ràng số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần thiết để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp gây ra ô nhiễm và suy thoái môi trường Nếu số tiền ký quỹ quá nhỏ so với chi phí bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng từ bỏ việc nhận lại số tiền ký quỹ đó và không thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường của mình

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 35

Công cụ ký quỹ môi trường đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt với các hoạt động công nghiệp như khai thác mỏ, khai thác rừng hoặc đại dương

3.1.3 Những vấn đề hỗn hợp

Ba vấn đề xuyên suốt nổi bật lên trong các phân tích quy chuẩn của việc lựa chọn công cụ chính sách môi trường là: những ảnh hưởng của sự bất định, ảnh hưởng của sự thay đổi công nghệ và các cân nhắc phân phối

3.1.3.1 Những ảnh hưởng của sự bất định đến việc lựa chọn công cụ chính sách

Các nhà hoạch định chính sách đối diện với nhiệm vụ kép là lựa chọn các mục tiêu môi trường và lựa chọn các công cụ chính sách để thực hiện các mục tiêu đó Hai lựa chọn đó phải được thực hiện trong sự tồn tại của sự bất định làm ảnh hưởng đến những lợi ích và chi phí bảo vệ môi trường Kể từ bài báo cổ điển của Weitzman (1974) "Giá với Số lượng", đã được thừa nhận bởi hầu hết mọi người rằng lợi ích bất định không ảnh hưởng đến việc nhận dạng công cụ kiểm soát hiệu quả, nhưng chi phí bất định có thể có những tác động đáng kể, tùy thuộc vào độ dốc tương đối của hàm lợi ích cận biên và hàm chi phí cận biên Đặc biệt, nếu bất định về chi phí xử lý chất thải cận biên là đáng

kể, và nếu chi phí xử lý chất thải cận biên phẳng tương đối với lợi ích cận biên, thì công cụ số lượng hiệu quả hơn so với công cụ giá

Chúng ta hiếm khi gặp phải tình huống trong đó không có cả lợi ích bất định và chi phí bất định Ngược lại, trong lĩnh vực môi trường chúng ta thường thấy rằng cả hai cùng có mặt, và thường xuyên hơn không, lợi ích bất định có tầm quan trọng lớn hơn đáng kể Khi các lợi ích cận biên có mối tương quan rõ ràng với các chi phí cận biên, thì có một luận cứ bổ sung để ủng hộ hiệu quả tương đối của công cụ số lượng Mặt khác, quy định các chất Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 36

gây ô nhiễm thường sẽ có lợi cho các công cụ giá, vì hàm lợi ích cận biên được liên kết với các chất gây ô nhiễm sẽ có xu hướng tương đối bằng phẳng,

so với hàm chi phí cận biên liên kết với dòng ô nhiễm

3.1.3.2.Tác động của sự lựa chọn công cụ đến thay đổi công nghệ

Sự can thiệp của chính sách môi trường tăng cường sự thúc ép và khích

lệ đến quá trình thay đổi công nghệ Để có được hiệu quả chi phí động, các công cụ cần thúc đẩy chứ không phải là hạn chế phát minh, đổi mới và khuếch tán công nghệ Cả công cụ kiểm soát – chỉ huy và công cụ dựa vào thị trường đều có khả năng thúc đẩy hoặc lôi kéo sự thay đổi công nghệ, bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp thay đổi hành vi của mình Công nghệ và các tiêu chuẩn thực hiện có thể được sử dụng để kích thích đổi mới bằng cách đặt

ra các mục tiêu đầy tham vọng, vượt ra ngoài tầm với của công nghệ hiện tại Nhưng không thể biết liệu một mục tiêu đã cho có tính khả thi hay không, do

đó sẽ có những thất bại đáng kể khi các chính sách được đưa vào sử dụng Các tiêu chuẩn công nghệ đặc biệt có vấn đề, bởi vì chúng có xu hướng đóng băng sự phát triển của công nghệ mà có thể nếu không thì dẫn đến mức độ kiểm soát lớn hơn

Phần lớn các nghiên cứu kinh tế để phát minh và đổi mới công nghệ (thương mại hóa) đã tập trung khuyến khích các doanh nghiệp quyết định chịu chi phí nghiên cứu và phát triển khi đối mặt với các kết quả bất định Công việc có liên quan sớm nhất là Magat (1978, 1979), người đã so sánh các loại thuế, trợ cấp, giấy phép, tiêu chuẩn nước thải, tiêu chuẩn công nghệ, và chỉ ra rằng tất cả những tiêu chuẩn công nghệ sẽ đem lại sự đổi mới thiên về cắt giảm khí thải Lý thuyết gần đây hơn cố gắng để xếp hạng các công cụ chính sách theo tác dụng kích thích sự đổi mới của chúng, kết luận rằng phân loại rõ ràng các công cụ là không thực hiện được Việc xếp hạng các công cụ phụ thuộc vào khả năng sáng tạo để lợi ích lan toả của công nghệ mới đến các Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 37

doanh nghiệp khác, chi phí cải tiến, hàm lợi ích môi trường và số lượng các công ty phát thải

Quay sang phổ biến công nghệ, một số nghiên cứu trên lý thuyết đã chỉ

ra rằng việc khuyến khích để chấp nhận công nghệ mới theo các công cụ dựa vào thị trường hơn là theo quy định trực tiếp, nhưng những so sánh về mặt lý thuyết giữa các công cụ dựa vào thị trường chỉ đem lại thỏa thuận hạn chế Kết quả cuối cùng dường như là việc bán giấy phép xả thải lại ít được khuyến khích hơn hệ thống thuế ô nhiễm (nhưng cả 2 đều vượt trội so với các công cụ kiểm soát-chỉ huy)

Mối liên quan chặt chẽ giữa các tác động của sự lựa chọn công cụ đến thay đổi công nghệ là tác động của quy định thay đổi theo thời gian về tỷ lệ quay vòng vốn, và có liên quan tới chi phí xử lý chất thải ô nhiễm và môi trường Quy định thay đổi theo thời gian như là một đặc trưng phổ biến của các chính sách môi trường và nhiều chính sách quản lý khác tại Hoa Kỳ, trong

đó các tiêu chuẩn cho các đơn vị đã được quy định là cố định trong ngày nhập, những đơn vị về sau phải đối mặt mới những quy định nghiêm ngặt hơn Ứng dụng phổ biến nhất, các đơn vị được sản xuất trước một ngày cụ thể thì được miễn một quy định mới hoặc đối mặt các yêu cầu ít nghiêm ngặt hơn

Trong khi phương pháp này từ lâu đã kêu gọi nhiều người tham gia vào nhóm chính sách, các nhà kinh tế thường xuyên lưu ý rằng quy định thay đổi theo thời gian có thể được dự kiến - trên cơ sở của của lý thuyết đầu tư - để làm chậm doanh thu vốn cổ phần, và do đó giảm chi phí-hiệu quả của các quy định, so với các quy định không phân biệt tương ứng Hơn nữa, theo một số điều kiện thì kết quả là lượng khí thải gây ô nhiễm có thể cao hơn so với

những gì sẽ xảy ra trong trường hợp không có quy định Hậu quả kinh tế và môi trường như vậy không phải là dự đoán từ lý thuyết, mà đã được xác nhận thực nghiệm trong bối cảnh các quy định cụ thể

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 38

3.1.3.3 Cân nhắc phân phối

Các công cụ chính sách khác có thể có những ảnh hưởng khác nhau đáng kể đến việc phân phối lợi ích và chi phí Đầu tiên chúng ta quan tâm đến lợi ích, thuế hoặc giấy phép giao dịch, có thể dẫn đến việc khoanh vùng

"những điểm nóng" với mức độ ô nhiễm môi trường xung quanh tương đối cao Đây là vấn đề phân phối quan trọng, và nó cũng có thể trở thành một vấn

đề hiệu quả nếu thiệt hại là phi tuyến với nồng độ chất ô nhiễm Theo lý thuyết, vấn đề có thể được giải quyết thông qua việc sử dụng các “giấy phép môi trường xung quanh” hoặc thông qua hệ thống phí đó là chìa khóa để thay đổi các điều kiện môi trường xung quanh tại các địa điểm quy định, hoặc thông qua các chương trình trao đổi mà chỉ đơn giản là bị hạn chế bởi yêu cầu rằng các tiêu chuẩn môi trường xung quanh không bị vi phạm

Quay sang phía chi phí, các loại thuế và giấy phép giao dịch, có thể làm tăng thu nhập cho Chính phủ Doanh thu tái sinh (có nghĩa là, bằng cách sử dụng thuế hoặc doanh thu từ giấy phép) có thể làm giảm đáng kể các chi phí kiểm soát ô nhiễm Nó đã được đề xuất bởi một số người rằng tất cả các chi phí giảm thải kết hợp với thuế ô nhiễm có thể được loại trừ thông qua doanh thu tái sinh, nhưng các loại thuế môi trường có thể làm trầm trọng thêm các biến dạng khi kết hợp với các loại thuế còn lại trong đầu tư và lao động, nghiên cứu chỉ ra rằng những biến dạng này ít nhất cũng lớn như là những các khoản thuế lao động

Mặc dù phân phối ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội, một chủ đề quan trọng của tài liệu có tính chất lý thuyết cho thấy rằng phân phối không nên có

ý nghĩa trong việc lựa chọn các công cụ chính sách Hylland và Zeckhauser (1979) cho rằng tối ưu hệ thống thuế đạt được bằng cách điều chỉnh thuế lợi ích bù đắp, tối đa hóa lợi ích ròng phải là tiêu chí duy nhất cho sự lựa chọn chính sách Mặc dù có những hạn chế nhưng theo lý thuyết, hệ thống thuế thu Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 39

nhập là phù hợp nhất để phân phối lại thu nhập Hơn nữa, Kaplow và Shavell (2001) chứng minh rằng rằng các vấn đề môi trường nên được giải quyết một cách lý tưởng thông qua một cặp chính sách: Một công cụ chính sách môi trường hiệu quả được chọn chỉ dựa trên cơ sở tối đa lợi ích ròng, và một sự điều chỉnh thuế thu nhập để có thể bù đắp những tác động phân phối không mong muốn

Xem xét nền kinh tế chính trị có thể đi ngược lại với những lập luận như vậy về mặt lý thuyết, vì thật là khó khăn để kết hợp tất cả các quy tắc chính sách môi trường với một sự thay đổi hệ thống thuế thu nhập Cũng có thể là không khả thi để áp dụng các chính sách môi trường mà các chính sách

đó không tự giải quyết mối quan tâm phân phối Thật vậy, tiêu chí Hicks không nên được xem là điều kiện cần cũng không phải điều kiện đủ cho chính sách công

Kaldor-Tính khả thi chính trị của một chính sách chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những tác động phân phối của nó.Theo viễn cảnh của các công ty đã định, hệ thống giấy phép bán đấu giá hoặc phí nước thải có thể tốn kém hơn so với công cụ kiểm soát-chỉ huy Mặt khác, hệ thống giấy phép có thể giao dịch có các thuộc tính quan trọng là không giảm chi phí giao dịch cận biên (thực chất

là giảm số lượng), vị trí cân bằng và chi phí xử lý tổng hợp của một hệ thống giấy phép có thể giao dịch độc lập phân bổ ban đầu Do đó, các quyết định phân bổ có thể để cho các nhà lãnh đạo, với mối quan tâm bản quy phạm hạn chế về những tác động tiềm năng của người được chọn phân bổ trên tổng chi phí-hiệu quả Nói cách khác, hiệu quả chi phí hay hiệu quả có thể đạt được, trong khi cân bằng phân phối đồng thời được giải quyết với cùng một công cụ chính sách

Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Trang 40

3.1.4 Các bài học chuẩn tắc

Chúng ta xem lại một chút những bài học chuẩn tắc mà có thể được rút

ra từ nghiên cứu và kinh nghiệm

Liên quan đến tính linh hoạt, cho phép linh hoạt về thời gian và việc trao đổi giấy phép xả thải có tính liên thời gian, có nghĩa là, chiết khấu ngân hàng cho sử dụng trong tương lai đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực thi chương trình trao đổi giấy phép xả thải SO2 Một trong những lợi ích quan trọng nhất của việc sử dụng các công cụ dựa vào thị trường có thể đơn giản là tránh được các tiêu chuẩn công nghệ Hệ thống ít linh hoạt sẽ không dẫn đến sự thay đổi công nghệ mà có thể đã được gây ra bởi công cụ dựa vào thị trường, cũng không đem lại quá trình đổi mới

Liên quan đến sự đơn giản, kế hoạch rõ ràng thì khó để tranh cãi hoặc bóp méo Việc yêu cầu sự phê chuẩn ưu tiên của chính phủ cho các giao dịch riêng lẻ có thể làm tăng sự bất định và chi phí giao dịch, do đó hạn chế trao đổi; những tác động tiêu cực này cần có sự cân bằng tương phản với bất kỳ lợi ích dự kiến nào do việc yêu cầu sự chấp thuận ưu tiên của Chính phủ Yêu cầu như vậy cản trở chương trình trao đổi xả thải (EPA) trong những năm

1970, trong khi thiếu các yêu cầu như vậy là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của việc trao đổi chì Trong trường hợp trao đổi SO2, thiếu các Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT

Ngày đăng: 03/10/2014, 11:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường 3. Kinh tế Phúc lợiTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Nhà XB: Kinh tế Phúc lợi
1. Weitzman, M.L. (1994). “On the Environmental Discount Rate”. Journal of Environmental Economics and Management 26 (2), 200–209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the Environmental Discount Rate
Tác giả: Weitzman, M.L
Năm: 1994
2. Weitzman, M.L. (1998). “Why the Far-Distant Future Should Be Discounted at Its Lowest Possible Rate”. Journal of Environmental Economics and Management 36 (3), 201–208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why the Far-Distant Future Should Be Discounted at Its Lowest Possible Rate
Tác giả: Weitzman, M.L
Năm: 1998
3. Weitzman, M.L. (1994). “On the Environmental Discount Rate”. Journal of Environmental Economics and Management 26 (2), 200–209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the Environmental Discount Rate
Tác giả: Weitzman, M.L
Năm: 1994
4. World Commission on Environment and Development (1987). “Our Common Future”. Oxford University Press, Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Our Common Future
Tác giả: World Commission on Environment and Development
Năm: 1987
5. Environmental Law (Richard L. Revesz - School of Law, New York University and Robert N. Stavins - John F. Kennedy School of Government, Harvard University, and Resources for the Future) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Law
Tác giả: Richard L. Revesz, Robert N. Stavins
Nhà XB: School of Law, New York University

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Kinh tế - Xã hội - Môi trường trong phát triển bên vững - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 2.1. Kinh tế - Xã hội - Môi trường trong phát triển bên vững (Trang 12)
Hình 3.1. Các loại nhãn sinh thái trên thế giới - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 3.1. Các loại nhãn sinh thái trên thế giới (Trang 33)
Hình 3.2. Mẫu biểu trưng cho nhãn sinh thái Việt Nam - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 3.2. Mẫu biểu trưng cho nhãn sinh thái Việt Nam (Trang 33)
Hình  4.1: H ình thức quản lý nguồn tài nguyên rừng ở nông hộ - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
nh 4.1: H ình thức quản lý nguồn tài nguyên rừng ở nông hộ (Trang 53)
Hình th ức Điểm mạnh Điểm yếu - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình th ức Điểm mạnh Điểm yếu (Trang 60)
Hình 4.2. Cấu trúc quản lý Nhà nước về môi trường - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 4.2. Cấu trúc quản lý Nhà nước về môi trường (Trang 61)
Hình 4.3 . Sơ đồ tổ chức công tác môi trường Việt Nam năm 1998 - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 4.3 Sơ đồ tổ chức công tác môi trường Việt Nam năm 1998 (Trang 70)
Hình 4.4 . Sơ đồ tổ chức công tác công tác môi trường ở các Sở khoa - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 4.4 Sơ đồ tổ chức công tác công tác môi trường ở các Sở khoa (Trang 70)
Hình 4.5 . Tổ chức công tác môi trường của Cục môi trường thuộc - phân tích kinh tế trên cơ sở luật và chính sách môi trường và ứng dụng vào điều kiện việt nam
Hình 4.5 Tổ chức công tác môi trường của Cục môi trường thuộc (Trang 71)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w