Hiện nay, thành phố Hà Nội, là thủ đô của cả nước, là đô thị đặc biệt, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở chính của các cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nư
Trang 1CH Ử QUANG MINH
HÀ N ỘI - 2012
Trang 2xã hội hóa quản lý đê điều và phòng, chống lụt bão thành phố Hà Nội” là đề tài do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Viết Ổn
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình./
Học viên
Chử Quang Minh
Trang 3- Họ và tên: CHỬ QUANG MINH Giới tính: Nam
- Ngày, tháng, năm sinh: 15/11/1979 Nơi sinh: Đông Anh - Hà Nội
- Quê quán: Đông Anh - Hà Nội Dân tộc: Kinh
- Chức vụ, đơn vị công tác trước khi đi học tập, nghiên cứu:
Công chức, Chi cục đê điều và PCLB thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội
- Chỗ ở hiện nay hoặc địa chỉ liên lạc: Hội Phụ - xã Đông Hội – huyện Đông Anh - Hà Nội
- Điện thoại cơ quan: 043 8276905 Fax: 043 8276905
- Email: Chuquangminh_water@yahoo.com Di động: 0902151179
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
1 Trung học chuyên nghiệp:
- Hệ đào tạo: Thời gian từ: / đến /
- Nơi học (trường, thành phố):
- Ngành học:
2 Đại học:
- Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian từ: 8/1998 đến 6/2003
- Nơi học: Đại học Thủy lợi Hà Nội
- Ngành học: Thủy nông - Cải tạo đất
- Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp:
Quy hoạch hệ thống thủy lợi lấy phù sa cải tạo đồng ruộng hệ thống Ấp Bắc – Nam Hồng - huyện Đông Anh – Hà Nội
- Ngày và nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp:
Ngày …./…./1998, tại Trường đại học Thủy Lợi
- Người hướng dẫn: TS Trần Viết Ổn
3 Thạc sĩ:
- Hệ đào tạo: Sau đại học Thời gian từ: 9/2009 đến 6/2010
- Nơi học: Đại học Thủy lợi Hà Nội
- Ngành học: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Ảnh 4x6
1
Trang 4- Ngày và nơi bảo vệ:………
- Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Viết Ổn
4 Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh, TOEFL ITP
5 Học vị, học hàm, chức vụ kỹ thuật được chính thức cấp; số bằng, ngày cấp và nơi cấp:
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:
đảm nhiệm
Từ 10/2003
đến 01/2007 VINACONEX Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam - Kỹ thuật thi công
Từ 02/2007
đến nay Chi cục đê điều và PCLB Hà Nội Quản lý đê điều
I V KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC CAO HỌC:
Không
V CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ:
Không
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN CỬ ĐI HỌC Ng ười khai ký tên
Chử Quang Minh
2
Trang 5xã hội hóa quản lý đê điều và phòng, chống lụt bão thành phố Hà Nội” là đề tài do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Viết Ổn
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình./
Học viên
Chử Quang Minh
Trang 6quản lý đê điều và phòng chống lụt bão Thành phố Hà Nội” hoàn thành
ngoài sự nỗ lực của bản thân học viên còn có sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Trần Viết Ổn, các thầy cô giáo khoa Kỹ thuật tài nguyên nước - trường Đại học Thủy lợi
Học viên xin chân thành cảm ơn đến đến Trường đại học Thủy lợi, các thầy cô giáo trong và ngoài trường, các bạn bè và đồng nghiệp, Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, Chi cục đê điều và PCLB Hà Nội
Học viên xin bày tỏ lòng cảm chân thành đến các cơ quan, đơn vị và cá nhân nêu trên Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trần Viết Ổn đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn và cung cấp những thông tin cần thiết cho bản luận văn này
Hà Nội, tháng 9 năm 2012
HỌC VIÊN
Chử Quang Minh
Trang 7LĐĐ : Luật đê điều
PLPCLB : Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão XHH : Xã hội hóa
UBND : Ủy ban nhân dân
BNN & PTNT : Bộ Nông nghiệp và PTNT PCLB TW : Phòng chống lụt, bão trung ương QLĐĐ : Quản lý đê điều
Trang 8MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục đích của Đề tài: 3
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 3
4 Phạm vi nghiên cứu: 4
5 Kết quả dự kiến đạt được: 4
CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HÓA ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO THÀNH PHỐ HÀ NỘI 5
1.1 Hiện trạng đê điều thành phố Hà Nội 5
1.1.1 Đặc điểm địa hình và dân sinh 5
1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 7
1.2 Hiện trạng về chính sách quản lý đê điều thành phố Hà Nội 11
1.2.1 Cơ chế chính sách trung ương 11
1.2.2 Cơ chế chính sách địa phương 12
1.3 Hiện trạng về tổ chức quản lý đê điều và phòng chống lụt bão 14
1.3.1 Hệ thống tổ chức nhà nước về QLĐĐ và PCLB 14
1.3.2 Mô hình hoạt động của đội quản lý đê chuyên trách: 19
CHƯƠNG II: CÁC MÔ HÌNH QLĐĐ và PCLB ĐÃ TRIỂN KHAI Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 21
2.1 Mô hình xã hội hóa QLĐĐ và PCLB tại tỉnh Ninh Bình 21
2.1.1 Mô hình xã hội hóa tại huyện Gia Viễn và Yên Khánh 21
2.1.2 Mô hình xã hội hóa tại huyện Kim Sơn: 22
2.2 Mô hình xã hội hóa QLĐĐ và PCLB của thành phố Hải Phòng 23
Trang 9theo hướng xã hội hóa 26
3.1.1 Hệ thống đê điều mang tính cộng đồng 26
3.1.2 Quản lý đê điều có tính truyền thống, xã hội hóa 26
3.1.3 Khái niệm xã hội hóa quản lý đê điều 27
3.2 Giải pháp về chính sách 35
3.2.1 Nội dung chính sách 35
3.2.2 Phương pháp xây dựng chính sách 37
3.3 Giải pháp về tổ chức quản lý 38
3.3.1 Giới thiệu về mô hình QLĐĐ và PCLB 38
3.3.2 Mô hình thí điểm 40
3.4 Hỗ trợ hoạt động cho mô hình 53
3.4.1 Trang thiết bị kiểm tra đê: 53
3.4.2 Duy tu, bảo dưỡng đê 53
3.4.3 Hộ đê, phòng lũ 53
3.4.4 Thông tin, liên lạc: 53
3.5 Giải pháp tuyên truyền nâng cao năng lực 53
3.5.1 Phổ biến những kiến thức cơ bản về đê điều và QLNN về đê điều 55
3.5.2 Phổ biến về công tác PCLB 56
3.5.3 Chế độ tuần tra, canh gác 57
3.5.4 Kỹ thuật xử lý sự cố đê điều trong mùa mưa bão 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, lũ lớn thường xuyên xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới và khu vực, trận lụt thế kỷ xảy ra trong năm 1998 ở Trung Quốc
là sự cảnh báo về tính chất khác thường của thời tiết gây lũ lớn trên nhiều lưu vực sông với nhiều đợt liên tiếp khác nhau Việt Nam cũng là một trong những nước chịu sự tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu Các yếu tố bất lợi về thời tiết cũng gia tăng và có những đột biến như trận lũ tháng 8 năm
1996 do cơn bão số 2 và số 4 kết hợp với triều cường, hồ Hoà Bình trên sông
Đà xả 7 cửa là trận lũ lớn nhất trên sông Đà trong khoảng thời gian 100 năm gần đây
Do tác động biến đổi khí hậu toàn cầu, mức độ và ảnh hưởng của lũ ngày càng gia tăng Các trận lũ lớn trên lưu vực sông Hồng phần lớn xảy ra vào nửa sau của thế kỷ XX, trong vòng 50 năm đã xảy ra 2 trận lũ vượt mực nước thiết kế và 2 trận lũ xấp xỉ mực nước thiết kế đê tại Hà Nội Đó là các trận lũ tháng 8 năm 1945 có mực nước tại Hà Nội đạt 14,43m và lũ tháng 8 năm
1969 có mực nước tại Hà Nội đạt 13,66m, lũ tháng 8 năm 1971 là 14,82m, lũ tháng 8 năm 1996 đạt 13,46m (kết quả hoàn nguyên lũ theo địa hình lòng dẫn năm 1993 -1996) Đặc biệt năm 2008 đợt mưa lớn lịch sử xảy ra từ 30/10 đến 3/11/2008 đã gây úng ngập sâu trên diện rộng, lượng mưa trung bình đo được
là 604mm làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân và gây thiệt hại lớn cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội toàn thành phố Hà Nội
Trận lũ tháng 8 năm 1971 có lưu lượng lớn nhất tại Sơn Tây 37.800 m3/s, trước đây coi là lũ có tần suất 0,4% ( chu kỳ tái diễn 250 năm ), sau khi xảy ra các trận lũ lớn của thập kỷ 80-90, thì nay chỉ có thể đánh giá lũ tháng 8 năm 1971 có tần suất 0,8% ( chu kỳ tái diễn 125 năm ) Xu thế gia tăng của lũ
Trang 12trên thế giới và trong khu vực cho thấy khả năng xảy ra trận lũ tháng 8 năm
1971 là rất có thể
Sự suy giảm khả năng thoát lũ của hệ thống lòng sông và nhất là bãi sông do bồi lắng, xây dựng các cầu qua sông, các tuyến đê bối ngày càng nâng cao, dân cư lấn chiếm làm nhà ngoài bãi đã làm cho mực nước lũ trên sông Hồng ngày càng dâng cao, vì thế chỉ để duy trì mức chống lũ hiện hành thì cao trình đê cũng phải nâng theo Mực nước lũ thiết kế đê Hà Nội từ 11,5m vào đầu thế kỷ tăng lên 13,0m vào thập kỷ 50 và 13,6m (tương ứng 13,4m theo cao độ chuẩn Quốc gia) vào thập kỷ 70 cho đến nay Đê càng cao thì sự cố càng nhiều và rủi ro càng lớn và vì vậy, mực nước lũ thiết kế đê Tại
Hà Nội 13,4m có thể coi là giới hạn cuối cùng đối với toàn vùng đồng bằng sông Hồng
Mặt khác, sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây cũ vào Hà Nội, công trình đê điều thành phố Hà Nội hiện tăng lên với: 20 tuyến đê chính, tổng chiều dài 469,913 Km Trên các tuyến đê có 87 kè lát mái hộ bờ với tổng chiều dài là 106,612 Km Tổng số có 194 cống qua đê (trong đó có 11 cống đã hoành triệt tạm)
Hai công trình đầu mối phân lũ là Vân Cốc và Đập Đáy; 25 vị trí đường tràn điều tiết trong vùng chậm lũ Chương Mỹ và Mỹ Đức; Công trình chậm lũ Lương Phú có 2 đường tràn; Hệ thống nổ mìn gồm 360 ống nhồi bằng bê tông
đã được chôn trong đê tương ứng từ K0+130-K0+350 đê hữu Đà
Hệ thống Giếng giảm áp (GGA) trên tuyến đê hữu Hồng gồm 279 giếng, trong đó: huyện Phúc Thọ có 56 GGA; huyện Đan Phượng có 16 GGA; huyện Từ Liêm có 55 GGA; quận Hoàng Mai có 90 GGA; huyện Thanh Trì
có 62 GGA
Tổng số trụ sở và kho bãi vật tư dự trữ chống lụt bão: 36 vị trí trải dài trên các tuyến đê
Trang 13Những năm gần đây đê điều trên địa bàn thành phố đã được Nhà nước quan tâm đầu tư củng cố, nhưng giai đoạn vừa qua chưa được thử thách với lũ cao, hơn nữa trên hệ thống đê vẫn còn 8 khu vực trọng điểm và trong thực tế mấy năm vừa qua tuy lũ nhỏ nhưng vẫn thường xuyên có nhiều sự cố phải xử
lý trong lũ Do vậy sự cố đê điều luôn có yếu tố bất ngờ mà chúng ta chưa lường hết, nên chỉ có tăng cường tuần tra phát hiện ngay từ đầu và chuẩn bị tốt mọi điều kiện vật tư, kỹ thuật xử lý kịp thời mọi diễn biến hư hỏng mới có thể đảm bảo an toàn hệ thống đê điều
Hiện nay, thành phố Hà Nội, là thủ đô của cả nước, là đô thị đặc biệt, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở chính của các
cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; trung tâm lớn về văn hóa, khoa học
và công nghệ, giáo dục, y tế, kinh tế và giao dịch quốc tế; nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước, đã và đang có tốc độ đô thị hóa nhanh, với nhiều thành phần kinh tế phát triển thì việc đặt vấn đề nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội hóa quản lý đê điều và phòng chống lụt bão thành phố Hà Nội nhằm đảm bảo an toàn đê điều, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu – nước biển dâng là hết sức cần thiết
2 Mục đích của Đề tài:
Đề xuất các giải pháp xã hội hóa quản lý đê điều và phòng chống lụt bão thành phố Hà Nội
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện các nội dung đề tài có các cách tiếp cận sau:
- Phân tích đánh giá các mô hình quản lý đê điều và phòng chống lụt bão trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề xuất giải pháp xã hội hóa quản lý đê điều
và phòng chống lụt bão trên địa bàn thành phố
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp kế thừa và phân tích, sử dụng
Trang 14các tài liệu hiện có, các cơ chế chính sách của ngành và địa phương, đánh giá hiện trạng về điều kiện khí hậu thủy văn, đặc điểm của lũ bão đưa ra các giải pháp về chính sách, tổ chức quản lý, phương thức hỗ trợ và công tác tuyên truyền nâng cao năng lực nhằm đẩy mạnh xã hội hóa quản lý đê điều và phòng chống lụt bão địa bàn thành phố Hà Nội
4 Phạm vi nghiên cứu:
Hệ thống đê điều trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Kết quả dự kiến đạt được:
Các giải pháp nhằm xã hội hóa công tác quản lý đê điều và phòng chống lụt bão trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG I ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HÓA ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG,
CHỐNG LỤT, BÃO THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Hiện trạng đê điều thành phố Hà Nội
1.1.1 Đặc điểm địa hình và dân sinh
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông
Phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc
Phía Nam tiếp giáp các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình
Phía Đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên
Phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ
Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn
Trang 16Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù
sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn
Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì
Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức
Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm
Hiện nay, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô
có diện tích lớn nhất thế giới Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng
4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010
là 6.561.900 người
Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km²
Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73 % dân số, người Mường 0,76 % và người Tày chiếm 0,23 %
Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%
Trang 171.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
1 Mưa, bão
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng cận nhiệt đới ấm, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt
độ trung bình 18,6 °C Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng
10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông
Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C Đầu tháng 11 năm 2008, một trận mưa kỷ lục đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng
đê là 83cm Trận lũ năm 1996, với mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội là 12.43m, vượt quá mức báo động III 0,93m, thời gian lũ trên mức báo động III kéo dài
6 ngày Trận lũ từ ngày 10 đến ngày 16/8/2002, mực nước tại Hà Nội cao nhất
Trang 18ở mức 12,01m trên BĐIII là 0,51m, mực nước trên BĐIII kéo dài 36 giờ
Tuy nhiên, ở Bắc Bộ nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, trong vòng 10 năm trở lại đây chưa xảy ra lũ lớn, mặt khác sau khi hồ Sơn La đi vào hoạt động, về lý thuyết có thể khống chể được mực nước tại Hà Nội không vượt quá 13,40m, các vùng khác không vượt quá 13,10m Do vậy , dễ sinh tư tưởng chủ quan trong phòng chống
3 Đặc điểm về chất lượng công trình
Sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây cũ vào Hà Nội, công trình đê điều thành phố Hà Nội hiện tăng lên với: 20 tuyến đê chính, tổng chiều dài 469,913 Km, trong đó: 37,709 Km đê hữu Hồng là đê cấp đặc biệt; 211,569 Km đê cấp I (hữu Hồng, tả Hồng, hữu Đuống, tả Đáy); 67,464 Km đê cấp II (hữu Đà, tả Đáy, La Thạch, Ngọc Tảo, tả Đuống); 87,325 Km đê cấp III (Vân Cốc, Tiên Tân, Quang Lãng, Liên Trung, hữu Cầu, tả-hữu Cà Lồ); 65,846 Km đê cấp IV (tả Tích, tả Bùi, Đường 6 Chương Mỹ, Mỹ Hà) Ngoài ra còn có 22 tuyến đê bối với tổng chiều dài 59,050 Km
Trên các tuyến đê có 87 kè lát mái hộ bờ với tổng chiều dài là 106,612
Km (hữu Đà 5 kè, hữu Hồng 30 kè, tả Hồng 6 kè, hữu Đuống 5 kè, tả Đuống
6 kè, tả Đáy 9 kè, hữu Đáy 6 kè, tả Bùi 4 kè, hữu Cầu 4 kè, hữu Cà Lồ 2 kè, tả
Cà Lồ 10 kè)
Tổng số có 194 cống qua đê (trong đó có 11 cống đã hoành triệt tạm) Hai công trình đầu mối phân lũ là Vân Cốc và Đập Đáy; 25 vị trí đường tràn điều tiết trong vùng chậm lũ Chương Mỹ và Mỹ Đức; Công trình chậm lũ Lương Phú có 2 đường tràn; Hệ thống nổ mìn gồm 360 ống nhồi bằng bê tông
đã được chôn trong đê tương ứng từ K0+130-K0+350 đê hữu Đà
Hệ thống Giếng giảm áp (GGA) trên tuyến đê hữu Hồng gồm 279 giếng, trong đó: huyện Phúc Thọ có 56 GGA; huyện Đan Phượng có 16 GGA; huyện Từ Liêm có 55 GGA; quận Hoàng Mai có 90 GGA; huyện Thanh Trì
Trang 19cơ sở đó để xác định các vị trí xung yếu nhằm xử lý và bố phòng trong mùa mưa lũ Chất lượng công trình của các tuyến đê được đánh giá như sau:
* Vể chất lượng các tuyến đê:
Các tuyến đê: hữu sông Đà, sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi, sông Mỹ Hà
- Về cao trình: qua so sánh với mực nước lũ thiết kế tương ứng với các tuyến đê cho thấy đều đủ cao trình
- Về mặt cắt ngang đê: phần lớn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, còn một số đoạn đê có hệ số mái chưa đảm bảo như: tại Cổ Đô, Phong Vân (tuyến đê hữu Hồng), từ K31+000 – K33+500, từ K28+503 – K48+165 (tuyến tả Hồng), tại
đê Yên Thường, Dương Hà, Phù Đổng (tuyến đê tả Đuống), tại đê Dương Liễu, Quế Cát, Yên Sở, An Thượng… (tuyến đê tả Đáy) Mặt đê đều đã được cứng hóa bằng bê tông và bê tông nhựa, tuy nhiên còn một số đoạn thuộc các tuyến đê hữu Hồng, tả Đáy mặt đê một số đoạn đang bị xuống cấp nghiêm trọng
- Về thân đê và nền đê: Trong những năm qua công tác khoan phụt vữa gia cố thân đê, lấp các hồ ao gần chân đê, xây dựng hệ thống giếng giảm áp được thực hiện trên các tuyến đê Song vẫn còn nhiều vị trí thường xuyên xảy
Trang 20ra hiện tượng thẩm lậu ở mái đê như tại huyện Phú Phượng, Ba Vì, Thường Tín, Phú Xuyên (tuyến đê hữu Hồng); số lượng hồ ao gần chân đê chưa được lấp còn nhiều (tập trung chủ yếu trên các tuyến đê hữu Hồng, tả Đuống, tả Cà Lồ…; các vị trí có hiện tượng xuất hiện các mạch sủi ở chân đê như tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm (tuyến đê hữu Đuống), xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm (tuyến đê Tả Hồng), xã Vân Nam, huyện Phúc Thọ (tuyến đê Vân Cốc)…; tổ mối hầu hết phát triển hầu khắp trên các tuyến đê Ngoài ra, dù các tuyến đê
đã được đầu tư gia cố thân đê, nền đê song mực nước trên các sông những năm gần đây thấp nên chưa được thử thách qua lũ, còn nhiều ẩn họa khó lường
Ngoài ra, việc phát triển hệ thống đường hành lang chân đê, tre chắn sóng nhằm phục vụ công tác quản lý, an toàn đê điều trên các tuyến còn chậm Theo số liệu thống kê của Chi cục đê điều và PCLB Hà Nội, đến năm 2012: có 166,209km đường hành lang được xây dựng, có 77,556km tre chắn sóng được trồng
Nhìn chung, chất lượng đê trên địa bàn thành phố đảm bảo chống lũ song cần được tiếp đầu tư gia cố tu bổ, theo dõi thường xuyên trong mùa mưa lũ
* Vể chất lượng các kè:
Với tổng số kè hiện có trên các tuyến đê là 87 kè (với chiều dài 148,889km), phần lớn có hình thức kè lát mái hộ bờ, hiện trạng ổn định Tuy nhiên, một số kè đang có hiện tượng sụt lún mái kè, chân kè mất ổn định Như
kè Tòng Lệnh (tuyến đê hữu Đà); kè Minh Châu, kè Thụy Phương (tuyến đê hữu Hồng), kè Sen Hồ (tuyến đê hữu Đuống), kè Dương Hà (tuyến đê tả Đuống)… cần được đầu tư gia cố để đảm bảo an toàn cho đê
* Vể chất lượng các cống:
Toàn thành phố hiện có 194 cống qua đê, với kết cấu bê tông cốt thép, phần lớn được xây dựng từ lâu do vậy nhiều cống bị xuống cấp như cống tưới
Trang 21trạm bơm Bội Đầu (tuyến đê hữu Hồng), cống tưới trạm bơm Lời (tuyến đê hữu Đuống), cống tưới Cống Thôn trạm bơm Cống Thôn Hàng năm, trước mùa mưa lũ, Chi cục QLĐĐ và PCLB thành phố Hà Nội phối hợp với Ban chỉ huy PCLB và TKCN các quận huyện, các công ty khai thác công trình thủy lợi kiểm tra, đánh giá chất lượng cống qua đê Qua đó, có cơ sở đề xuất sửa chữa và lập phương án vận hành, cũng như tuân thủ quy trình vận hành cống theo quy định
1.2 Hiện trạng về chính sách quản lý đê điều thành phố Hà Nội
1.2.1 Cơ chế chính sách trung ương
- Quyết định số 43/1997-PCLBTƯ ngày 25/4/1997 của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương về trực ban PCLB của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương, văn phòng Ban chỉ huy PCLB các cấp và văn phòng Ban chỉ huy PCLB các ngành
- Quyết định số 2016 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc phụ cấp nặng nhọc, đọc hại, nguy hiểm
- Công văn số 262/TCCP-BCTL ngày 16/2/1998 của Ban tổ chức cán bộ Chính phủ về việc chế độ phụ cấp lưu động đối với kiểm lâm viên và quản lý
đê
- Thông tư liên tịch ban tổ chức cán bộ, bộ tài chính, Bộ nông nghiệp và PTNT số 18/1999/TTLT-BTCCP-BTC-BNN&PTNTngày 28/6/1999 về Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 93/1999/QĐ-TTG ngày 5/4/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với Kiểm soát viên đê điều tham gia trực tiếp xử lý sự cố khi có báo động lụt, bão
- Quyết định số 132/2006/QĐ-TTG ngày 31/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức ngành kiểm lâm, bảo vệ thực vật, thú y và kiểm soát viên đê điều
Trang 221.2.2 Cơ chế chính sách địa phương
Quyết định số 2028/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội về việc thành lập Chi cục đê điều và Phòng chống lụt bão Hà Nội ngày 12/12/2008, trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng ban chức năng với các nhiệm vụ cục thể như sau:
1 Xây dựng, quy hoạch, kế hoạch, chương trình: Chỉnh trị sông, tu bổ đê điều, tổ chức phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai do lũ, bão gây ra trên địa bàn thành phố, khi kế hoạch được duyệt giúp Giám đốc Sở tổ chức thực hiện;
2 Thực hiện công tác quản lý nhà nước về đê điều và PCLB trên địa bàn thành phố Hà Nội trong đó trực tiếp quản lý công trình từ cấp 3 trở lên, phối hợp giúp UBND các quận, huyện thực hiện quản lý công trình đê điều cấp 4;
3 Kiểm tra hướng dẫn việc thực hiện Luật đê điều, Pháp lệnh PCLB và các Nghị định, quyết định pháp quy được ban hành có liên quan đến công tác
đê điều và phòng , chống lụt, bão trên địa bàn thành phố;
4 Tổ chức thực hiện các dự án đầu tư, tu bổ đê điều, chỉnh trị sông, hành lang thoát lũ và những mặt liên quan đến phòng, chống lụt, bão, phân lũ, chậm lũ;
5 Phối hợp với các Ban QLDA công trình thủy lợi, giao thông (của thành phố, Trung ương) trong việc tổ chức, giám sát thi công xây dựng công trình có liên quan đến đê điều và phòng chống lụt, bão và nghiệm thu bàn giao công trình vào quản lý sử dụng;
6 Trực tiếp quản lý mọi hoạt động, công tác của các Hạt quản lý đê trên địa bàn thành phố, theo đúng nội dung ghi trong Luật đê điều và các Nghị định của Chính Phủ;
7 Quản lý tài sản, dụng cụ, vật tư dự trữ phòng chống lụt, bão của thành phố, Trung ương đầu tư, quản lý tài chính, tài sản, quản lý cán bộ công chức,
Trang 23viên chức, lao động hợp đồng của chi cục theo đúng quy định hiện hành của Thành phố và Nhà nước;
8 Thu thập và quản lý thông tin, tư liệu, lưu giữu hồ sơ, lý lịch công trình về hệ thống đê điều và công trình liên quan đến an toàn đê điều và phòng, chống lụt, bão Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định;
9 Thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng thường trực phòng, chống lụt bão
& Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Tham mưu giúp Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão Thành phố chuẩn bị lực lượng, thực hiện chỉ đạo mọi mặt phòng, chống lụt, bão và khắc phục hậu quả
12 Thẩm định và lập thủ tục trình, cấp phép xây dựng các công trình có liên quan đến đê điều, hành lang thoát lũ và khai thác tài nguyên ở lòng sông, thềm sông theo quy định;
13 Nghiên cứu ứng dụng, triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật về tu
bổ đê, gia cố và quản lý đê điều, chỉnh trị sông và tổ chức phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai do lũ, bão gây ra;
14 Phối hợp với các cấp, các ngành tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân thực hiện Luật đê điều, các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên về đê điều và phòng, chống lụt, bão Kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ những hành vi
Trang 24vi phạm pháp luật đê điều và Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão Kiến nghị các cấp có thẩm quyền, xử lý những vi phạm Luật đê điều, Pháp lệnh phòng chống lụt, bão theo quy định hiện hành của Nhà nước
15 Được đăng ký làm những dịch vụ kỹ thuật có liên quan đến chuyên môn về tu bổ, gia cố đê điều, thủy lực công trình
16 Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở nông nghiệp và PTNT thành phố giao
1.3 Hiện trạng về tổ chức quản lý đê điều và phòng chống lụt bão
1.3.1 Hệ thống tổ chức nhà nước về QLĐĐ và PCLB
1 Quản lý nhà nước về đê điều:
Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh nhân dân ta đã lựa chọn phương án đắp đê để phòng chống lụt, bão nhằm hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra, do
đó hệ thống đê sông, đê biển do nhân dân ta xây dựng, củng cố và duy trì từ đời này qua đời khác để bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và của nhân dân Mỗi chế độ xã hội, mỗi triều đại, công trình đê điều được coi trọng
và có những văn bản pháp quy, quy định chặt chẽ Nhất là đối với chế độ ta, công tác quản lý đê điều và phòng chống lụt bão càng được coi trọng hơn Ngay từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Bác Hồ đã ký sắc lệnh 70 là văn bản đầu tiên của nhà nước ta về việc thành lập Ủy ban nhân dân hộ đê Sau hòa bình, Nhà nước ta ra Nghị định 173/CP ngày 20/10/1963, ban hành điều lệ bảo vệ đê điều, nhằm nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội và mỗi công dân trong việc quản lý, bảo vệ, xây dựng tu bổ đê điều và phòng chống lụt bão, khắc phục hậu quả do lụt bão gây ra Để kế thừa và phát triển các quan điểm cơ bản của sắc lệnh số 70 và điều lệ bảo vệ đê điều, đồng thời nhằm sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với tình hình phát triển, đổi mới của đất nước, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh về đê điều ngày 16/11/1989, Pháp lệnh phòng chống lụt bão ngày
Trang 2520/3/1993, Pháp lệnh về đê điều được sửa đổi thông qua ngày 24/8/2000 và Pháp lệnh phòng chống lụt bão được sửa đổi, bổ xung ngày 24/8/2000 và các Nghị định số 171/2003/NĐ-CP ngày 26/12/2003 của Chính phủ, Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về quy định, hướng dẫn chi tiết một số điều của Pháp lệnh đê điều và pháp lệnh phòng chống lụt bão Hiện nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đê điều
và phòng chống lụt bão đã được Nhà nước thể chế hóa bằng Luật, các Nghị định hướng dẫn một cách đồng bộ, đó là: Luật đê điều số 79/2006/QH11 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006; Nghị định 113/2007/NĐ-CP ngày 28/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đê điều; Nghị định 129/2007/NĐ-CP ngày 02/8/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về đê điều Với đặc điểm về địa hình, khí hậu, thủy văn và chất lượng đê điều Thành phố Hà Nội nêu trên, hệ thống đê điều Thành phố Hà Nội có vị trí đặc biệt quan trọng Nếu xảy ra các sự cố đê điều ở bất kỳ tuyến đê nào, địa phương nào trên địa bàn thành phố đều gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, đặc biệt nếu xảy ra sự cố vỡ đê sông ở bất kỳ
vị trí nào đều gây ra những hậu quả khó lường về con người, kinh tế của thành phố, do đọ sâu ngập lụt lớn Chính vì vậy, thành phố Hà Nội rất quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ công trình đê điều, hộ đê phòng lụt Ngoài các văn bản pháp quy do Nhà nước ban hành, để tăng cường hiệu lực công tác quản lý đê, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan nhà nước
và mọi công dân về công tác bảo vệ đê điều và phòng chống lụt bão, Ủy ban nhân dân thành phố đã ra một số văn bản như: Quyết định số 1790/QĐ-UBND ngày 15/4/2009 của UBND thành phố Hà Nôi về việc thành lập Ban chỉ huy Phòng, chống lụt, bão thành phố; Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 15/2/2012 của UBND thành phố Hà Nội về kiện toàn Ban chỉ huy
Trang 26Phòng, chống lụt, bão thành phố; Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 18/3/2012 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, về công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2012; Quyết định số 2449/QĐ-UBND ngày 04/6/2012 của UBND thành phố Hà Nội về Ban hành quy chế về chế độ thông tin, báo cáo, họp chỉ đạo, triển khai ứng phó với lũ, bão trên địa bàn thành phố;
Đồng thời quy định trách nhiệm và chức năng của các cấp, các ngành như sau:
* Sở Nông nghiệp và PTNT:
- Phối hợp với các quận, huyện thành lập lực lượng quản lý đê nhân dân
- Phối hợp với các quận, huyện tập huấn chỉ đạo về nghiệp vụ, chuyên môn, hàng năm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ thuật về quản lý đê điều, hộ
đê phòng lụt, phổ biến các văn bản trong lĩnh vực đê điều đến các đội viên
* Sở lao động thương binh xã hội:
- Phối hợp với các quận, huyện và UBND thành phố hướng dẫn, điều tiết quỹ ngày công, công ích cho các quận, huyện trên địa bàn
- Phối hợp với sở Nông nghiệp và PTNT và các ngành liên quan bảo vệ
và thực hiện chế độ cho người lao động tham gia các hoạt động liên quan đến lĩnh vực đê điều và PCLB
* UBND các quận, huyện:
- UBND các quận, huyện chỉ đạo các phường, xã, thị trấn ven đê củng cố
tổ chức lực lượng quản lý đê nhân dân đủ số lượng, đúng đối tượng, tiêu
Trang 27chuẩn
- UBND các quận, huyện giao cho phòng kinh tế và PTNT quản lý về con người, chuyên môn, kỹ thuật, hàng năm lập kế hoạch thu chi phục vụ công tác PCLB
- UBND các quận huyện chỉ đạo các phòng tham mưu như: Phòng nông nghiệp và PTNT, phòng tổ chức lao động, phòng tài chính – kế hoạch, quản lý theo dõi, giám sát và hướng dẫn cơ sở thực hiện, hoạt động của lực lượng quản lý đê nhân dân về chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện chính sách, bảo vệ quyền lợi
* UBND phường, xã, thị trấn:
- Trực tiếp quản lý con người cả về kinh tế, chính trị
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho lực lượng quản lý đê nhân dân theo chức năng nhiệm vụ nêu trên
- Phản ánh kịp thời những diễn biến của công trình đê điều, giải quyết kịp thời các vụ vi phạm , để đảm bảo an toàn công trình đê điều trên điạ bàn các phường, xã, thị trấn quản lý
* Chi cục đê điều và PCLB:
- Là cơ quan tham mưu cho Sở nông nghiệp và PTNT về công tác quản
lý đê điều và PCLB, giúp Sở theo dõi hoạt động của lực lượng quản lý đê nhân dân Tổng hợp, phản ánh kịp thời những mặt tích cực, những mặt còn hạn chế của lực lượng này để Sở trình UBND thành phố điều chỉnh cho phù hợp
- Hướng dẫn các quận, huyện tổ chức hoạt động của lực lượng quản lý đê nhân dân
* Các hạt quản lý đê chuyên trách:
- Phối hợp chặt chẽ với lực lượng quản lý đê nhân dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ theo nghị định số 78/2005/NĐ-CP và căn cứ vào nhiệm vụ của đội
Trang 28quản lý đê nhân dân tại văn bản này, giúp địa phương thực hiện các quy định của Luật đê điều, Pháp lệnh phòng chống lụt bão và các văn bản pháp quy khác
- Cùng với Phòng nông nghiệp và PTNT huyện quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ, chuyên môn cho lực lượng quản lý đê nhân dân
- Phản ánh kịp thời những mặt tích cực và hạn chế của lực lượng quản lý
đê nhân dân trên địa bàn quản lý với xã, phường thị trấn, Chi cục đê điều và PCLB đê có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp
- Duy trì chế độ sinh hoạt giữa Hạt quản lý đê chuyên trách và lực lượng quản lý đê nhân dân
2 Quản lý nhà nước về phòng, chống lụt, bão:
Hàng năm từ thành phố đến các cấp, các ngành đều tổ chức thành lập hội nghị về phòng chống lụt bão nhằm tổng kết công tác chống lụt bão năm trước
và triển khai công tác mới, các ban này hết mùa chống lụt bão thì tự giải thể
- Ban chỉ huy phòng chống lụt bão Thành phố do Chủ tịch UBND thành phố làm trưởng ban, phó trưởng ban là phó chủ tịch UBND thành phố và giám đốc một số sở chủ chủ chốt, các ủy viên Ban chỉ huy phòng chống lụt bão là giám đốc các sở còn lại Dưới ban chỉ huy là các tiểu ban tiến phương
và hậu phương, các tiểu ban này đều do một phó chủ tịch UBND thành phố làm trưởng ban
- Mô hình tổ chức PCLB ở cấp quận, huyện và xã, phường cũng tương tự như đối với cấp thành phố Ngoài ra, tùy theo địa bàn dân cư các huyện lại tổ chức các tiều ban (hoặc các cụm) chống lụt bão khu vực, mỗi tiểu ban (cụm)
có từ 2 đến 3 xã cùng tham gia và phối hợp trong công tác chống lụt bão
- Đối với các sở ban ngành, sau khi ban chỉ huy PCLB thành phố triển khai công tác chống lụt bão trong năm, các đơn vị đều thành lập hai bộ phận vừa thực hiện công tác chống lụt bão tại cơ quan, đồng thời khi có lệnh huy
Trang 29động của Ban chỉ huy PCLB thành phố thì điều động vật tư, nhân lực, phương tiện theo sự phân công chi viện cho các vùng ngập lụt
1.3.2 Mô hình hoạt động của đội quản lý đê chuyên trách:
Năm 1971, Nhà nước ta ra quyết định số 90/CP ngày 08/5/1971 của Chính Phủ, cho thành lập đội quản lý đê chuyên trách Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này nhằm tăng cường quản lý kỹ thuật, bảo
vệ đê điều và hộ đê phòng lụt
Đến nay, lực lượng quản lý đê chuyên trách được UBND thành phố duyệt với biên chế là 335 người, làm việc tại các phòng, ban chức năng thuộc Chi cục và ở 18 Hạt quản lý đê, trực tiếp quản lý toàn bộ hệ thống đê điều, kho vật tư dự trữ PCLB của thành phố
Nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều theo Điều 38 – Luật đê điều quy định như sau:
* Nhiệm vụ trực tiếp quản lý bảo vệ đê điều
a) Thường xuyên kiểm tra, theo dõi diễn biến tình trạng đê điều;
b) Lập hồ sơ lưu trữ và cập nhật thường xuyên các dữ liệu về đê điều; c) Quản lý vật tư dự trữ chuyên dùng phục vụ công tác phòng, chống lũ, lụt, bão;
d) Phát hiện, có biện pháp ngăn chặn kịp thời và kiến nghị xử lý hành vi
vi phạm pháp luật về đê điều;
đ) Tổ chức hướng dẫn về kỹ thuật, nghiệp vụ đối với lực lượng quản lý
đê nhân dân;
e) Vận động tổ chức, cá nhân tham gia quản lý và bảo vệ đê điều
* Nhiệm vụ tổ chức xử lý giờ đầu sự cố đê điều bao gồm:
a) Tuần tra, phát hiện, báo cáo kịp thời tình trạng đê điều, các diễn biến
hư hỏng, sự cố đê điều;
b) Đề xuất phương án xử lý khẩn cấp giờ đầu sự cố đê điều;
Trang 30c) Trực tiếp tham gia xử lý và hướng dẫn kỹ thuật xử lý sự cố đê điều; d) Hướng dẫn xử lý kỹ thuật cho các lực lượng thực hiện nhiệm vụ hộ
đê, phòng, chống lũ, lụt, bão
Trong quá trình hoạt động quản lý đê điều, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, song lực lượng quản lý đê chuyên trách đã khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, đến nay mọi hoạt động đã đi vào lề nếp và đạt được những kết quả nhất định:
- Điều tra, quản lý và bổ xung lý lịch công trình đê điều thành phố Thường xuyên theo dõi , phát hiện các diễn biến hư hỏng công trình, lập phương án xử lý sự cố đáp ứng yêu cầu Tham mưu cho chính quyền, Ban chỉ huy PCLB các cấp trong công tác hộ đê thuộc phạm vi phụ trách, góp phần giữ vững an toàn cho hệ thống đê điều
- Phối hợp với các địa phương trong công tác đánh giá chất lượng công trình đê điều, chủ động lập kế hoạch tu bổ đê điều hàng năm
- Giám sát thi công các hạng mục tu bổ đê điều
- Quản lý trực tiếp cơ sở vật chất, vật tư dự trữ PCLB
- Kiểm tra, giám sát việc thi hành Luật đê điều và Pháp lệnh phòng chống lụt bão Phát hiện, thiết lập hồ sơ và đề xuất phương án xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật về đê điều
- Tiếp thu, ứng dụng và phổ biến các tiến bộ khoa học tiên tiến trong công tác xây dựng, quản lý đê điều và PCLB, giảm nhẹ thiên tai cho các địa phương, các ngành trong trên địa bàn thành phố
Trang 31CHƯƠNG II CÁC MÔ HÌNH QLĐĐ và PCLB ĐÃ TRIỂN KHAI
Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
Sau khi thống nhất đất nước , Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội Cùng với việc tăng cường thực hiện “ Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, gần đây Chính phủ đã thực hiện đẩy mạnh xã hội hóa ở các lĩnh vực khác nhau như: Y tế, giáo dục, thể thao văn hóa, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường và đã mang lại kết quả tích cực Trong lĩnh vực thủy lợi việc xã hội hóa quản lý đê điều và phòng, chống lụt, bão được chú trọng đặc biệt Cụ thể một số tỉnh, thành phố đã áp dụng và thu được kết quả tốt như: Ninh Bình, Hà Tây (thời
kỳ chưa sát nhập về Hà Nội), Hải Phòng, Bắc Ninh
2.1 Mô hình xã hội hóa QLĐĐ và PCLB tại tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình rất chú trọng đến công tác QLĐĐ và PCLB, là tỉnh tiên phong trong vấn đề xã hội hóa QLĐĐ và PCLB, thể hiện là ngoài lực lượng quản lý
đê chuyên trách (trong biên chế nhà nước), tỉnh đã và đang thành lập lực lượng quản lý đê nhân dân tại một số địa bàn trong các huyện và thu được kết quả đáng kể
2.1.1 Mô hình xã hội hóa tại huyện Gia Viễn và Yên Khánh
Đã thành lập được lực lượng quản lý đê nhân dân với cơ cấu, tổ chức theo sơ đồ sau:
CHI CỤC ĐÊ ĐIỀU
Đội QLCT Đội QLCT Đội QLCT
Cụm 1 (6 xã)
Cụm 2 (5 xã)
Cụm 3 (5 xã)
Cụm 4 (3 xã)
Trang 32Trong lực lượng quản lý đê nhân dân:
2.1.2 Mô hình xã hội hóa tại huyện Kim Sơn:
Cán bộ chuyên trách của huyện chỉ đạo chung
- Lực lượng QLĐND của xã có tuyến đê đi qua, mỗi xã thường từ 6 – 7 người tùy thuộc vào số km đê, trong đó có một tổ trưởng, theo đúng tiêu chí huyện xét duyệt và ký hợp đồng với từng người
Nhiệm vụ chung của lực lượng QLĐND là:
- Nắm vững hệ thống đê điều trên địa phận xã được giao và tất cả các công trình có liên quan;
- Thường xuyên tuần tra, giám sát và phát hiện những sự cố đê điều có thể xảy ra và báo cáo với UBND xã để kịp thời xử lý;
- Bảo vệ tài sản nhà nước, tài sản tư trên tuyến đê phụ trách;
CHI CỤC ĐÊ ĐIỀU
Đội QLCT Đội QLCT Đội QLCT
Xã …
(1 tổ trưởng 6-7 người)
Xã …
(1 tổ trưởng 6-7 người)
Trang 33- Chấp hành nghiêm túc chế độ tuần tra, ngăn chặn kịp thời những vi phạm pháp luật về đê điều;
Trang thiết bị: Theo quy định của tỉnh, hàng năm mỗi đội viên được cấp
1 đèn pin, 2 năm được cấp 1 bộ quần áo mư, mũ, ủng
Là một tỉnh đi đầu trong việc xã hội hóa QLĐĐ và PCLB nên vẫn còn nhiều bỡ ngỡ và thiếu sót, thiếu kinh nghiệm, song qua đó sở Nông nghiệp và PTNT đã kết hợp với nhiều cơ quan trong tỉnh tổ chức thành công lực lượng QLĐND đi vào hoạt động rất tốt và đạt được những kết quả như:
- Làm tăng ý thức tự giác, nâng cao trách nhiệm của người dân trong QLĐĐ và PCLB;
- Hạn chế được những thiệt hại do thiên tai, bão lũ gây ra;
- Hoàn thiện được hệ thống đê, các công trình được gia cố, tu bổ vững chắc
2.2 Mô hình xã hội hóa QLĐĐ và PCLB của thành phố Hải Phòng
Hải Phòng với phong trào đô thị hóa, phát triển kinh tế nhiều thành phần nên việc vi phạm lấn chiếm đê điều ngày một nhiều và làm ảnh hưởng đến các công trình PCLB Trước tình hình đó, sở Thủy Lợi Hải Phòng đã trình lên UBND thành phố đề án xây dựng lực lượng QLĐND Phương châm tăng
Trang 34cường thực hiện xã hội hóa công tác QLĐĐ, huy động sức dân một cách tự nguyện để cùng nhà nước làm công tác quản lý đê điều
Quá trình hoàn thiện tổ chức và hoạt động: Lực lượng quản lý đê nhân dân lúc đầu chỉ có 110 người (1 người/3,5km đê) Sau một thời gian hoạt động phát sinh thêm một số vấn đề như tuần tra trong mùa bão, lũ, kiểm tra đê
ở các trọng điểm Sở thủy lợi đã trình UBND thành phố bổ xung thêm 23 người nâng tổng số lên 133 và đồng thời nâng phụ cấp 105.0000/người/tháng lên 130.000đ/người/tháng Hiện nay thực hiện căn cứ quy định mới về việc thực hiện Pháp lệnh lao động công ích Sở đang dự thảo trình thành phố nâng mức phụ cấp lên 50% mức lương tối thiểu, chi trả cho cá nhân thuộc ngân sách sự nghiệp thành phố được bố trí trong dự toán kinh phí sự nghiệp hàng năm của chi cục QLĐĐ và PCLB Hải Phòng Bổ xung thêm trang thiết bị bảo
hộ lao động PCLB và mua thẻ bảo hiểm thân thể 24/24 giờ cả năm cho người tham gia Lực lượng QLĐND lập biên bản, báo cáo với chính quyền cơ sở và QLĐCT Trong trường hợp kỹ thuật đơn giản thì QLĐND tự xử lý
Tuyển dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật:
Việc tuyển chọn QLĐ ND phải theo tiêu chuẩn quy định Sau khi tiến hành các bước thì UBND các cấp ra quyết định tuyển dụng Chế độ sinh hoạt, làm việc, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn được quy định cụ thể như sau:
- Hàng năm được tập huấn nghiệp vụ công tác QLĐ Đ, PCLB theo lịch
do Sở NN và PTNT quy định, trong đó yêu cầu nâng cao nghiệp vụ và phổ biến các thông tin, chế độ, chính sách
- Hàng tháng, tuần các Hạt quản lý đê bố trí sinh hoạt một buổi trên cơ
sở quy định chung của sở Nội dung sinh hoạt, kiểm điểm công việc trong tháng, tuần, đôn đốc nhắc nhở tuần tra canh gác, phát hiện vi phạm
- Chế độ khen thưởng Chi cục giao cho Hạt quản lý đê trực tiếp cùng với các phòng chức năng viết báo cáo tổng kết và bình xét các nhân tiêu biểu, đề
Trang 35nghị khen thưởng Hình thức khen thưởng chủ yếu là giấy khen của sở NN và PTNT Mức tiền thưởng theo quy định hiện hành
- Các trường hợp không làm tốt nhiệm vụ thì bị kỷ luật, nếu nặng thì cho thôi việc, nhẹ thì cảnh cáo Việc này do UBND các cấp và phòng NN và PTNT
Sau hơn 10 năm thành lập tổ chức đi va đi vào hoạt động, đến nay lực lượng QLĐ ND đã bộc lộ một số vấn đề về mặt tổ chức bộ máy, cơ chế tuyển dụng, sự phối hợp quản lý điều hành, chế độ, quyền lợi Sở NN và PTNT đã chỉ đạo Chi cục rà soát, đánh giá lại và trình UBND thành phố xét duyệt và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế phát triển kinh tế, xã hội và những quy định mới của Pháp luật
Xã hội hóa là một khái niệm đã có từ lâu, được áp dụng ở nhiều nghành
và đều thu được kết quả tốt Tuy nhiên, nói đến xã hội hóa trong QLĐĐ và PCLB thì rất ít và gần như chưa được đề cập nhiều Hiện nay, một số tỉnh trên
cả nước đang làm những mô hình thí điểm về xã hội hóa QLĐĐ và PCLB để nâng cao công tác quản lý đê điều, duy tu bảo dưỡng công trình
Trang 36CHƯƠNG III NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÃ HỘI HÓA QLĐĐ và PCLB
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 3.1 Cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp QLĐĐ và PCLB theo hướng xã hội hóa
3.1.1 Hệ thống đê điều mang tính cộng đồng
Hệ thống đê điều thành phố Hà Nội nói riêng và hệ thống đê điều của cả nước nói chung được xây dựng từ lâu và lưu truyền qua nhiều thời đại, nhiều thế hệ Từ những con đê khoang vùng thời nhà Lý – Trần để phục vụ cho việc sinh sống của một số địa bàn, nhưng qua các thời đại người dân tiếp tục duy trì truyền thống xây dựng, tôn tạo, quản lý và bảo vệ Đến nay, hệ thống đê điều đã trở thành hệ thống vững chắc trên cả nước Khi đã được củng cố được
hệ thống đê điều thì người dân đã an tâm hơn trong việc đấu tranh phòng chống lụt bão để phát triển kinh tế và xã hội Tuy nhiên, những hiện tượng thời tiết bất thường dẫn tới những trận lụt kinh hoàng thì hệ thống đê điều cũng không thể chống đỡ được Mặt khác việc phòng, chống lụt, bão như hiện nay thì hệ thống đê điều còn có tác dụng bảo vệ người làm ra nó và đồng thời
đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nhân dân thể hiện như: Nhiều tuyến đê, đường hành lang kết hợp giữa công tác chống lụt bão, quản lý với giao thông
Có hệ thống đê điều thì người dân mới phát triển kinh tế như hiện nay, đất nước ổn định phồn vinh và phát triển
3.1.2 Quản lý đê điều có tính truyền thống, xã hội hóa
Trong cuộc sống đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn, cộng đồng người dân Việt Nam từ cổ xua đến nay đã ý thức, cố kết toàn dân tộc thành một khối thống nhất, không phân biệt già trẻ, gái trai, bị trị hay thống trị, đấu tranh
để bảo vệ lợi ích riêng của toàn xã hội Từ khi xã hội Việt Nam bước vào thời
kỳ có tổ chức thì đê điều trước hết thuộc về làng xã nên mọi thành viên tự
Trang 37nguyện tham gia lao động nghĩa vụ không đòi hỏi quyền lợi, không những thế
mà còn tham gia một cách tích cực Hàng năm vào mùa mưa bão nhân dân tự nguyện đóng góp vật tư để phục vụ công tác PCLB, người nào không có của thì góp công, còn những tháng không phải lũ bão thì họ tự nguyện tu sửa, sửa chữa những hư hỏng, sự cố trong mùa mưa bão và cùng nhau quản lý và bảo
vệ đê
3.1.3 Khái niệm xã hội hóa quản lý đê điều
Xã hội hóa QLĐĐ là sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng, sự tham gia của chính quyền các cấp bằng mọi hình thức vào quản lý đê điều, PCLB
Xã hội phát triển, hệ thống đê điều ngày càng phát triển vì thế yêu cầu thực hiện xã hội hóa ngày càng cao Khi người dân đã hiểu và nhận thức được tác dụng của việc QLĐĐ và PCLB, những lợi ích của đê điều mang lại thì đồng thời cũng đã phần nào hiểu được công việc của họ trong công tác QLĐĐ
và PCLB theo hướng XHH là gì? Nhưng theo sự phát triển của xã hội nên nhu cầu của người dân cũng đòi hỏi cao hơn, việc vi phạm Luật đê điều, hành lang bảo vệ đê điều ngày càng nghiêm trọng Bên cạnh đó là tinh thần và trách nhiệm của người dân ngày càng giảm vì thế nên việc phát hiện kịp thời các sự
cố, bảo vệ hành lang bảo vệ đê điều gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn hiện nay Cùng với những biến đổi của khí hậu toàn cầu nên thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn, thường xuyên xảy ra mưa lớn, bão lũ, lụt lội tàn phá những con đê và của cải của nhân dân Mặc dù đã có sự quản lý và phòng chống nhưng không đáng kể bởi lực lượng canh coi, quản lý đê thì rất mỏng
mà hệ thống đê điều thì rộng lớn nên không kiểm soát hết được những sự cố
đê điều và các công trình liên quan, khi xảy ra sự cố về đê điều không những
họ không xử lý kịp thời mà còn trong hoàn cảnh thiếu thốn về vật tư, nhân lực Trong khi đó tại những xã, phường, thị trấn thuộc Thành phố đều có
Trang 38những đội ngũ tin cậy và giúp đỡ cho lực lượng quản lý đê chuyên trách rất nhiều, họ là chân rết của lực lượng quản lý đê chuyên trách như: Hội cựu chiến binh, Chi hội phụ nữ, Đoàn thanh niên Tuy họ không có hiểu biết nhiều
về chuyên môn nhưng họ lại hiểu được lai lịch của hệ thống đê điều trên địa bàn và làm công tác vận động, tuyên truyền tời tận người dân một cách nhanh nhất
Diễn biến thời tiết: Hiện tượng nóng lên của trái đất và những diễn biến cực đoan của thời tiết đã ảnh hưởng không ít đến công tác QLĐĐ và PCLB của Thành phố Những đợt bão lũ lụt liên tiếp ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến Hà Nội đã tàn phá cơ sở hạ tầng, nhà cửa, hoa màu của nhân dân làm cho người dân kinh hoàng, xáo trộn trong sinh hoạt và cuộc sống Hệ thống đê điều Thành phố thì tồn tại từ lâu đời nên có nhiều tiểm ẩn có thể xảy ra như: thấm qua thân đê, đùn sủi, nứt trượt, mối, sạt lở bờ bãi nên đòi hỏi phải có những lực lượng thường xuyên phân tích, theo dõi trong mùa lũ, bão với tinh thần trách nhiệm cao thì mới khắc phục được những hậu quả trên Đó là lực lượng quản lý đê nhân dân
Những vấn đề đặt ra trong Luật đê điều Trích Luật đê điều:
Điều 6 Chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đê điều
1 Đầu tư cho đê điều và ưu tiên đầu tư các tuyến đê xung yếu, các tuyến
đê kết hợp quốc phòng, an ninh
2 Khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến kết hợp với các biện pháp truyền thống vào việc xây dựng, tu
bổ, nâng cấp, kiên cố hóa, bảo vệ đê điều và hướng tới các giải pháp chủ động trong công tác quy hoạch phòng, chống lũ
3 Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên
cố hóa và bảo vệ đê điều kết hợp phát triển kinh tế - xã hội; bảo vệ lợi ích hợp