Những tồn tại trong việc thực hiện công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng thuỷ lợi trong các giai đoạn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên .... Dự án đầu tư Chỉ bao gồm hoạt độ
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Đại Lâm
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng các dự án đầu
tư xây dựng công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên", tác giả đã
nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình, chu đáo của các nhà khoa học, các chuyên gia và đồng nghiệp
Tác giả đặc biệt xin bầy tỏ lòng cảm ơn thầy giáo Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phú đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giả nhiều vấn đề
q uý báu trong nghiên cứu khoa học nói chung cũng như trong luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh
tế và Quản lý , phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học Trường Đại học Thủy lợi đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả về các tài liệu, thông tin khoa học kỹ thuật
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn
Do trình độ có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những tồn tại và hạn chế, tác giả rất mong nhận được mọi ý kiến đóng góp, trao đổi chân thành Tác giả rất mong những vấn đề còn tồn tại sẽ được tác giả phát triển ở mức độ nghiên cứu sâu hơn góp phần đưa những kiến thức khoa học vào phục vụ sản xuất
Hà Nội, tháng 02 năm 2013 Tác giả luận văn
Vũ Đại Lâm
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 3
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Kết quả dự kiến đạt được 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 5
1.1 Khái niệm dự án 5
1.2 Dự án đầu tư 6
1.3 Dự án đầu tư xây dựng 7
1.4 Các giai đoạn đầu tư của một dự án đầu tư 10
1.5 Khái niệm về quản lý chất lượng dự án 12
1.6 Nội dung công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng trong các giai đoạn đầu tư xây dựng (dựa vào NĐ 209/2004-CP 17
1.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng thuỷ lợi 20
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THUỶ LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 26
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thái Nguyên 26
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33
2.2 Tình hình đầu tư xây dựng từ năm 2005 đến 2011 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 34
Trang 42.3 Hiệu quả đầu tư xây dựng từ năm 2005 đến 2011 trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên 37
2.3.1 Hi ệu quả cấp nước tưới 37
2.3.2 Hiệu quả chống lũ, úng ngập 38
2.3.3 Hi ệu quả xã hội 38
2.4 Thực trạng thực hiện dự án đầu tư xây dựng thuỷ lợi từ năm 2005 đến 2011 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 39
2.4.1 Th ực trạng đầu tư xây dựng 40
2.4.2 Thực trạng phân cấp quản lý 43
2.5 Đánh giá công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua các giai đoạn đầu tư xây dựng 45
2.5.1 Đánh giá công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 45
2.5 2 Đánh giá công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư 45
2.5.3 Đánh giá công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn kết thúc xây dựng 46
2.6 Những tồn tại trong việc thực hiện công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng thuỷ lợi trong các giai đoạn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 47
2.6.1 Những tồn tại trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 47
2.6 2 Những tồn tại trong giai đoạn thực hiện đầu tư 48
2.6.3 Những tồn tại trong giai đoạn kết thúc xây dựng 60
2.7 Nguyên nhân của những tồn tại 63
2.7 1 Nguyên nhân về trình độ quản lý 64
2.7 2 Nguyên nhân về kỹ thuật và công cụ quản lý 64
2.7.3 Nguyên nhân về thể chế 65
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 67
3.1 Chiến lược đầu tư xây dựng công trình thủy lợi của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 67
3.1.1 Quan điểm phát triển 67
3.1.2 Mục tiêu phát triển 67
Trang 53.1.3 Phát triển các dự án kết cấu hạ tầng 69
3.2 Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 75
3.2.1 Xác định chủ trương đầu tư, công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư 75
3.2.2 Hoàn thiện công tác xây dựng quy hoạch xây dựng 78
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định và phê duyệt dự án 79
3.2.4 Chấn chỉnh và đổi mới công tác đấu thầu 82
3.2.5 Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng xây dựng 83
3.2.6 Đẩy nhanh tiến độ giải ngân, thanh toán vốn đầu tư 84
3.2.7 Hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về đầu tư ở địa phương có chất lượng, khoa học, kịp thời và đồng bộ 85
3.2.8 Tăng cường kiểm tra , thanh tra, giám sát công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng 87
3.2.9 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 88
3.2.10 Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng quyết toán dự án 88
3.2.11 Làm tốt công tác bảo hành, bảo trì và nâng cao hiệu quả quản lý khai thác các công trình 89
3.3 Công tác quyết toán các dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 90
3.3.1 Quy định về công tác quyết toán dự án 90
3.3.2 Đẩy mạnh công tác quyết toán các dự án sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 92
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6Bảng 3.1 Nhiệm vụ cấp nước tưới cho các loại cây trồng đến năm 2020
Bảng 3.2 Thống kê nhiệm vụ tưới thiết kế công trình thủy lợi sau quy hoạch – toàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích được tưới bằng công trình thủy lợi trước và sau quy hoạch – toàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4 Kế hoạch kiên cố hóa kênh mương nội đồng
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước muốn lớn mạnh thì phải có một nền kinh tế phát triển Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì một cơ hội mới đồng thời cũng là một thách thức mới đặt ra cho nền kinh
tế Việt Nam
Cơ hội đó chính là chúng ta được hợp tác, giao lưu, học hỏi với những nền kinh tế lớn mạnh Tuy nhiên không tránh khỏi những thách thức khó khăn, chúng ta phải có những chiến lược gì để cạnh tranh và không bị thụt lùi với nền kinh tế năng động đó
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước chúng ta đang từng bước xây dựng một nền kinh tế ngày càng phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
để tiến kịp với nền kinh tế năng động của bạn bè các nước trong khu vực và trên thế giới đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trên cơ sở phát huy những mặt mạnh vốn có, đó là sản xuất nông nghiệp Muốn vậy thì cơ sở hạ tầng thủy lợi là vô cùng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp, đồng thời thúc đẩy các ngành khác phát triển
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, một trong các hoạt động quan trọng là việc tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Sự thành công của các dự án này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ
và kỹ năng của người quản lý dự án Để thực hiện được các mục tiêu phát
triển kinh tế và xã hội trong vùng dự án đặt ra thì việc đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi là thực sự cần thiết và hoàn toàn phù hợp với quy hoạch phát triển của các địa phương
Những năm gần đây, công tác đầu tư xây dựng cơ bản được triển khai ngày một nhiều, số lượng các công trình ở mọi quy mô ngày một tăng Hàng
Trang 9năm có nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai Trình độ
quản lý các chủ đầu tư cũng như trình độ chuyên môn của các nhà thầu trong thiết kế và thi công được nâng lên một bước đáng kể
Hầu hết các công trình, hạng mục công trình được đưa vào sử dụng trong
thời gian qua đều đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, quy mô, công suất, công năng sử dụng theo thiết kế, đảm bảo an toàn chịu lực, an toàn trong vận hành và đã phát huy được hiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh những bước phát triển trên, trong hoạt động xây dựng vẫn còn vấn đề về chất lượng đáng để chúng ta quan tâm, nhiều công trình đạt tiêu chuẩn chất lượng thì vẫn còn có
những công trình chất lượng chưa đạt yêu cầu Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là buông lỏng khâu quản lý Vấn đề chất lượng
bị ảnh hưởng từ khâu làm thủ tục trong lập dự án, lựa chọn nhà thầu đến các công việc như: Cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp xây dựng, tổ chức kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của các nhà thầu và các tổ chức liên quan trong suốt thời gian xây dựng công trình Trước đây, khi nói đến dự án đầu tư xây dựng, người ta thường quan tâm và đặt vấn đề quản lý, sử dụng nguồn
vốn và tiến độ thi công lên hàng đầu sau đó mới đến quản lý chất lượng công trình
Để nâng cao chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình cần giải quyết các vấn đề ở tất cả các khâu quản lý trong vòng đời thực hiện dự án
Cần triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ ở tất cả các cấp ngành và địa
phương Để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình, phải tạo được “cơ chế trách nhiệm” Như vậy sẽ không còn tình
trạng khi xảy ra bất cứ sự cố nào đều được đổ lỗi do nguyên nhân khách quan
với hàng loạt lý do được viện dẫn Vì vậy tác giả luận văn chọn đề tài
"Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên"
Trang 103 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp
- Phương pháp thống kê: Khảo sát, thu thập thông tin và xử lý các thông tin
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Công tác quản lý chất lượng các dự
án các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi
b Phạm vi nghiên cứu: Các dự án xây dựng công trình nói chung và thủy lợi nói riêng ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian vừa qua
5 Kết quả dự kiến đạt được:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng các dự án xây dựng công trình
- Phân tích thực trạng của việc quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Đề ra một số giải pháp hiệu quả, nhằm tăng cường quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi ở tỉnh Thái Nguyên
Trang 116 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
1 Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý chất
lượng các dự án đầu tư xây dựng và những nhân tố ảnh hưởng
2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức quản
lý dự án các công trình xây dựng
Trang 12PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Theo định nghĩa này, dự án có 2 đặc tính:
1 Đặc tính tạm thời (hay có thời hạn) - Nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định Dự án kết thúc khi mục tiêu dự án đạt được hoặc khi đã xác định được rõ ràng là mục tiêu khống chế đạt được và dự án được chấm dứt Trong mọi trường hợp , độ dài của một dự án là xác định , dự án không phải là một cố gắng liên tục, liên tiếp;
2 Đặc tính duy nhất - Nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất đó khác biệt so với những sản phẩm đã có hoặc dự án khác Dự án liên quan đến việc gì đó chưa từng làm trước đây và do vậy là duy nhất
Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO , trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000:2000) thì dự án được xác định như sau : Dự án là một quá trình đơn nhất , gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và kiểm soát , có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực
Như vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về dự án , nhưng các dự án có nhiều đặc điểm chung như:
- Các dự án đều được thực hiện bởi con người;
- Bị ràng buộc bởi các nguồn lực hạn chế: Con người, tài nguyên;
Trang 13- Được hoạch định, được thực hiện và được kiểm soát
Như vậy có thể biểu diễn dự án bằng công thức sau:
= KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜI GIAN
( vật chất, tinh thần, dịch vụ)
1.2 Dự án đầu tư
(Chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và cho xã hội
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: Dự án đầu tư có thể được hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình
cụ thể thực hiện các hoạt động đầu tư
- Xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch định việc
sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là kế hoạch chi tiết để thực hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư
- Xét trên góc độ phân công lao động xã hội: Dự án đầu tư thể hiện sự phân công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa
Trang 14các chủ thể kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên
- Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một hoạt động cụ thể, có mối liên
hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đath được mục đích nhất định trong tương lai
Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó bên trong nó chứa các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư
Trước hết, dự án đầu tư phải thể hiện rõ mục tiêu đầu tư là gì, có thể là mục tiêu dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn hoặc là mục tiêu chiến lược hay mục tiêu trước mắt Mục tiêu trước mắt được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể như năng lực sản xuất, quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế Còn mục tiêu dài hạn có thể là các lợi ích kinh tế cho xã hội mà dự án đầu tư phải mang lại
Hai là, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu Nó bao gồm các điều kiện và biện pháp vật chất để thực hiện như vốn, nhân lực, công nghệ
Ba là, với khoảng thời gian bao lâu thì các mục tiêu có thể đạt được và cuối cùng là ai có thể thực hiện hoạt động đầu tư này và kết quả của dự án Vậy các đặc trưng chủ yếu của dự án đầu tư đó là:
- Xác định được mục tiêu, mục đích cụ thể
- Xác định được hình thức tổ chức để thực hiện
- Xác định được nguồn tài chính để tiến hành hoạt động đầu tư
- Xác định được khoảng thời gian để thực hiện mục tiêu dự án
1.3 Dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng được giải thích trong Luật Xây dựng Việt Nam ngày 26-11-2003 như sau:
“Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển , duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc
Trang 15sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”
Như vậy có thể hiểu dự án xây dựng bao gồm hai nội dung là đầu tư và hoạt động xây dựng Nhưng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao giờ cũng yêu cầu có một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) do đó có thể biểu diễn dự án xây dựng như sau:
= KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜI GIAN + ĐẤT
Dựa vào công thức trên có thể thấy đặc điểm, một dự án xây dựng bao gồm các vấn đề sau:
1 Kế hoạch
Tính kế hoạch được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, các mục đích này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đã đạt được
2 Tiền
Đó chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình Nếu coi phần “Kế hoạch của dự án” là phần tinh thần, thì “Tiền” được coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án
3 Thời gian
Thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, nhưng thời gian còn đồng nghĩa với cơ hội của dự án Vì vậy đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm
Trang 16vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện dự án xây dựng
5 Sản phẩm của dự án xây dựng có thể là:
- Xây dựng công trình mới;
- Cải tạo, sửa chữa công trình cũ;
- Mở rộng, nâng cấp công trình cũ
Nhằm mục đích phát triển, duy trì hoặc nâng cao chất lượng công trình trong một thời gian nhất định Một đặc điểm của sản phẩm dự án xây dựng đứng cố định và chiếm một diện tích nhất định Sản phẩm không đơn thuần là
sự sở hữu của chủ đầu tư mà nó có một ý nghĩa xã hội sâu sắc Các công trình xây dựng có tác động rất lớn vào môi trường sinh thái và vào cuộc sống cộng đồng của dân cư, các tác động về vật chất và tinh thần trong một thời gian rất dài Vì vậy, cần đặc biệt lưu ý khi thiết kế và thi công các công trình xây dựng
6 Công trình xây dựng
Công trình xây dựng là sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng, được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác
Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục công trình, nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh được nêu trong
dự án Như vậy công trình xây dựng là mục tiêu và là mục đích của dự án, nó
có một đặc điểm riêng đó là:
Trang 17- Các công trình xây dựng là mục đích của cuộc sống con người, khi nó
là các công trình xây dựng dân dụng như: Nhà ở, khách sạn, ;
- Các công trình xây dựng là phương tiện của cuộc sống khi nó là các công trình xây dựng cơ sở để tạo ra các sản phẩm khác như: Xây dựng công nghiệp, giao thông, thủy lợi
Một cách chung nhất có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một tiến độ xác định
1.4 Các giai đoạn đầu tư của một dự án đầu tư
1.4.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn này bao gồm một loạt các bước kể từ khâu nghiên cứu xác định sự cần thiết phải đầu tư, đến các khâu thăm dò khảo sát thị trường, lập dự
án đầu tư, thẩm định dự án để quyết định đầu tư
Nội dung thực hiện trong giai đoạn này là:
- Nghiên cứu thị trường, khả năng, sự cần thiết phải đầu tư và lựa chọn địa điểm xây dựng công trình
- Đối với các dự án quan trọng quốc gia chủ đầu tư phải lập báo cáo đầu
tư xây dựng công trình trình Chính phủ xem xét và trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư
- Lập dự án đầu tư nếu báo cáo đầu tư đã được phê duyệt
- Đối với các dự án không phải lập báo cáo đầu tư thì chủ đầu tư lập luôn
dự án đầu tư để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Đối với những công trình không phải lập dự án đầu tư thì chủ đầu tư lập báo cáo kinh tế kỹ thuật trình người có thẩm quyền phê duyệt
1.4.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư
Giai đoạn này bao gồm một loạt các bước kể từ khi xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến các khâu thiết kế, thi công xây dựng công trình…
Trang 18cho dự án đầu tư Thực chất của khâu này là phải hình thành được hai loại từ tái sản xuất của dự án, đó là tài sản cố định (nhà xưởng, máy móc) và tài sản lưu động (dự trữ vật tư, tiền mặt…) để chuẩn bị đưa công trình vào hoạt động Gồm các nội dung công việc sau:
- Xin xây lắp và mua sắm thiết bị
- Giao đất hoặc thuê đất để xây dựng công trình
- Đền bù giải phóng mặt bằng
- Lập thiết kế, dự toán xây dựng
- Xin giấy phép xây dựng
- Đấu thầu, tổ chức thi công xây dựng công trình
1.4.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng
Như vậy quá trình đầu tư không chỉ đơn giản bao gồm có chuẩn bị giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện xây dựng xong công trình, mà còn phải kéo dài hàng chục năm để vận hành khai thác dự án Nếu theo nghĩa rộng giai đoạn vận hành khai thác công trình của dự án để hoàn vốn và sinh lời cũng có thể còn thuộc về giai đoạn thực hiện đầu tư Cho nên theo sự phân chia giai đoạn theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Giai đoạn thực hiện đầu tư được hiểu theo nghĩa hẹp và chỉ bao gồm giai đoạn xây dựng công trình của
dự án
Gồm các nội dung công việc sau:
- Nghiệm thu bàn giao công trình
- Đưa công trình vào vận hành, khai thác sử dụng
- Bảo hành công trình
- Quyết toán dự án
Tuy nhiên việc chia làm 3 giai đoạn như trên chỉ là tương đối về mặt thời gian và công việc, không nhất thiết phải theo tuần tự như vậy Có những việc bắt buộc phải thực hiện theo trình tự, nhưng cũng có một số công việc có thể làm gối đầu hoặc làm song song để rút ngắn thời gian thực hiện
Trang 191.5 Khái niệm về quản lý chất lượng dự án
Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện
dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt
ra Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng
1.5.1 Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với loài người chúng ta từ xưa tới nay tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi
Tùy theo đối tượng sử dụng từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau
Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và các yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau
Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc
dù sẽ còn luôn luôn thay đổi Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn ISO, trong dự thảo ISO 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa chất lượng như sau:
“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất lượng:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại
- Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng
Trang 20- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng nào đó, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của công đồng xã hội
- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng
- Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hằng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
1.5.2 Khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng
a Khái niệm sản phẩm xây dựng
Sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn chỉnh (bao gồm
cả phần lắp ráp thiết bị bên trong công trình) Sản phẩm xây dựng là kết tinh thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức của toàn xã hội ở thời kỳ nhất định
b Các khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm XÂY DỰNG:
- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các thuộc tính của công trình thỏa mãn các yêu cầu sử dụng
- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính của một thực thể
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn
- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các đặc trưng của công trình xây dựng bao gồm các khía cạnh: tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tính sẵn sàng, độ tin cây, tính thuận tiện và dễ dàng trong sửa chữa, tính an toàn, thẩm
mỹ, các tác động đến môi trường
- Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính, đặc trưng cho giá trị sử dụng công trình do các giai đoạn hình thành công trình xây dựng quy đinh
Trang 21- Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định Hay nói cách khác chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu Sự phù hợp này phải được thể hiện trên cả 3 phương diện:
Khả năng hoàn thiện;
Giá thỏa mãn nhu cầu;
Đúng thời điểm
- Theo quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã xác định trước
- Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng
Còn nhiều định nghĩa khác nhau về Chất lượng sản phẩm xét theo các quan điểm tiếp cận khác nhau Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng được thống nhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ
tiêu chuẩn ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ
thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu"
c Khái niệm về chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững,
kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế (Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD ngày 27/06/2003 của Bộ Xây Dựng)
1.5.3 Khái niệm và vai trò quản lý chất lượng xây dựng công trình
a Các khái niệm về quản lý chất lượng chung:
Kiểm soát chất lượng là những hoạt động kiểm tra xem những
thông số, tiêu chí chất lượng và đặc tính kỹ thuật có đảm bảo trong suốt quá trình sản xuất không
Trang 22 Đảm bảo chất lượng là những cách thức và hành động để đảm bảo
rằng cơ chế kiểm soát chất lượng là thích hợp và đang được áp dụng chính xác, và do vậy đem lại niềm tin cho khách hàng
Quản lý chất lượng là những cách thức và hành động cho thấy tất
cả các hoạt động kiểm sóat chất lượng, đảm bảo chất lượng đang diễn ra, và do vậy chất lượng đang được quản lý
Quản lý chất lượng toàn diện là những hành động để đáp ứng toàn
bộ những nhu cầu về chất lượng có bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
b Khái niệm về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động chuyên nghiệp của
cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân có tác động gián tiếp hay trực tiếp vào công trình thông qua hệ thống các quy định pháp luật nhằm đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong quá trình xây dựng và khai thác sử dụng
c Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là một nhiệm vụ rất quan trọng trong việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng sẽ góp phần phòng tránh những lãng phí, thất thoát trong quá trình xây dựng và làm tăng tuổi thọ công trình, tăng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng công trình
1.5.4 Các phạm trù quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng là quản lý những chức năng; giám sát các hoạt động cần thiết do yêu cầu chất lượng đặt ra và cần đạt đến Nội dung quản lý chất lượng (theo Viện nghiên cứu Quản lý dự án quốc tế PMI)
Lập kế hoạch chất lượng;
Đảm bảo chất lượng;
Quản lý chất lượng
Trang 23Lập kế hoạch: Là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc
được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và quá trình phát triển kế hoạch hành động theo một trật tự lôgic
Đảm bào chất lượng: là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và có hệ
thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng là sẽ đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng
Có 2 mục đích chính:
Đảm bảo chất lượng nội bộ;
Đảm bảo chất lượng bên ngoài, tạo niềm tin cho các bên liên quan
Quản lý chất lượng: là những cách thức và hành động cho thấy tất cả
các hoạt động kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng đang diễn ra và do vậy chất lượng đang được quản lý
1.5 5 Khái niệm về quản lý chất lượng dự án
Theo ISO 9000 “Quản lý chất lượng là tất cả những hoạt động của chức năng chung của quản lý , bao gồm các việc xác định chính sách chất lượng , mục tiêu , trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lư ợng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng”
Quản lý chất lượng dự án là tập hợp các hoạt động của chức năng quản
lý, là một quá trình nhằm đảm bảo cho dự án thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu và mục tiêu đề ra Quản lý chất lượng dự án bao gồm việc xác định các chính sách chất lượng, mục tiêu trách nhiệm và việc thực hiện chúng không thông qua các hoạt động: Lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát và đảm bảo chất lượng trong hệ thống Ba nội dung lập kế hoạch, đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác nhau Mỗi nội dung xuất hiện ít nhất một lần trong mỗi pha của chu kỳ dự án, mỗi nội dung đều là kết
Trang 24quả do hai nội dung kia đem lại, đồng thời cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện hai nội dung kia
Một số điểm cần chú ý trong quá trình quản lý chất lượng dự án là:
- Quản lý chất lượng dự án được thực hiện thông qua một hệ thống các biện pháp kinh tế, công nghệ, tổ chức hành chính và giáo dục, thông qua một
cơ chế nhất định và hệ thống các tiêu chuẩn định mức, hệ thống kiểm soát, các chính sách khuyến khích
- Quản lý chất lượng dự án phải được thực hiện trong suốt chu kỳ dự án
từ giai đoạn hình thành cho đến khi kết thúc chuyển sang giai đoạn vận hành, thực hiện trong mọi quá trình, mọi khâu công việc
- Quản lý chất lượng dự án là quá trình liên tục, gắn bó giữa yếu tố bên trong và bên ngoài Để thực hiện dự án cần có máy móc thiết bị, con người, yếu tố tổ chức Sự hoạt động, vận hành của các yếu tố này không thể thoát ly môi trường luật pháp, cạnh tranh, khách hàng Sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó hình thành môi trường, nội dung, yêu cầu và các biện pháp quản lý chất lượng dự án
- Quản lý chất lượng dự án là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên, mọi cấp trong đơn vị, đồng thời cũng là trách nhiệm chung của các cơ quan có liên quan đến dự án bao gồm chủ đầu tư, nhà thầu, các nhà tư vấn, những người hưởng lợi
1.6 Nội dung công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng trong các giai đoạn đầu tư xây dựng (dựa vào NĐ 209/2004-CP)
1.6 1 Lập kế hoạch chất lượng dự án
Lập kế hoạch chất lượng dự án là việc xác định các tiêu chuẩn chất lượng cho dự án và xác định phương thức để đạt các tiêu chuẩn đó Lập kế hoạch chất lượng dự án là một phần quan trọng của quá trình lập kế hoạch, sẽ được thực hiện thường xuyên và song hành với nhiều loại kế hoạch khác Lập
Trang 25kế hoạch chất lượng cho phép định hướng phát triển chất lượng chung trong doanh nghiệp, khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn lực, giảm chi phí liên quan
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quản lý chất lượng chặt chẽ có thể phát sinh tăng chi phí hoặc điều chỉnh lại kế hoạch tiến độ thời gian
Để lập kế hoạch chất lượng dự án cần những yếu tố đầu vào sau đây:
- Chính sách chất lượng của doanh nghiệp (Ban quản lý dự án có trách nhiệm thực hiện chính sách chất lượng của chủ đầu tư)
- Phạm vi dự án
- Các tiêu chuẩn và quy định trong lĩnh vực chuyên môn có ảnh hưởng đến chất lượng dự án (các yêu cầu về chất lượng, các phương pháp đảm bảo chất lượng trong quá trình thiết kế, thi công)
- Kế hoạch chất lượng cho biết nhóm quản lý dự án sẽ thực hiện chính sách chất lượng như thế nào Nó cũng là cơ sở để lập các loại kế hoạch khác
và chỉ rõ phương thức kiểm soát, đảm bảo và cải tiến chất lượng dự án
Nội dung cơ bản của công tác lập kế hoạch chất lượng dự án gồm:
- Xây dựng chương trình, chiến lược, chính sách và kế hoạch hóa chất lượng
- Xác định những yêu cầu chất lượng phải đạt tới trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của quá trình thực hiện dự án
- Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dự án, chỉ ra phương hướng kế hoạch cụ thể, xây dựng các biện pháp để thực hiện thành công kế hoạch chất lượng
1.6.2 Tổ chức thực hiện
Đây là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp của dự án thông qua các kỹ thuật, phương tiện, phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng
Trang 26sản phẩm theo đúng những yêu cầu, kế hoạch đã lập Tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định đến việc biến kế hoạch chất lượng thành hiện thực
Tổ chức thực hiện có thể được thực hiện theo các bước sau:
- Đảm bảo mọi nhân viên, mọi bộ phận trong dự án phải nhận thức một cách đầy đủ các mục tiêu, các kế hoạch phải thực hiện của mình;
- Giải thích cho mọi người trong dự án biết chính xác những nhiệm vụ kế hoạch chất lượng cụ thể cần thiết phải thực hiện;
- Tổ chức những chương trình đào tạo, cung cấp những kiến thức kinh nghiệm cần thiết đối với việc thực hiện kế hoạch;
- Cung cấp đầy đủ các nguồn lực ở những lúc và những nơi cần thiết, thiết kế những phương tiện kỹ thuật dùng để kiểm soát chất lượng
1.6 3 Kiểm soát chất lượng dự án
Kiểm soát chất lượng là việc giám sát các kết quả cụ thể của dự án để xác định xem chúng đã tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng hay chưa và tìm các biện pháp để loại bỏ những nguyên nhân không hoàn thiện Xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng rất cần thiết vì nó tạo ra một hệ thống chính thức trong cơ cấu dự án để đảm bảo đáp ứng liên tục nhu cầu của khách hàng Đối với nhà thầu, xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng sẽ giúp tránh được những rủi ro kiện tụng, khiếu nại về sơ suất chuyên môn, trên cơ sở đó có thể khẳng định mình đã đảm bảo đúng tiến độ, thực hiện các biện pháp quản lý chất lượng theo yêu cầu Đối với một số dự án đòi hỏi kỹ thuật phức tạp như
vũ trụ, quốc phòng, mua sắm công, hệ thống kiểm soát chất lượng là một yêu cầu tiên quyết để có thể hoạt động trong những lĩnh vực này
Kiểm soát chất lượng được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện dự
án Một trong những nét đặc biệt của công tác kiểm soát chất lượng là sử dụng rất nhiều kiến thức thống kê
Trang 27Do vậy, nhóm kiểm soát chất lượng phải có kiến thức về quản lý chất lượng bằng phương pháp thống kê, đặc biệt phương pháp lấy mẫu và lý thuyết xác suất để giúp họ dễ dàng đánh giá kết quả giám sát chất lượng
1.6 4 Điều chỉnh và cải tiến
Hoạt động điều chỉnh nhằm làm cho các hoạt động của dự án có khả năng thực hiện được các tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là hoạt động đưa chất lượng dự án thích ứng với tình hình mới nhằm giảm dần khoảng cách giữa những mong đợi của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ở mức cao hơn
Các công việc điều chỉnh và cải tiến chủ yếu bao gồm:
Xây dựng những đòi hỏi cụ thể về cải tiến chất lượng, từ đó xây dựng các kế hoạch cải tiến chất lượng;
Cung cấp các nguồn lực cần thiết như tài chính, kỹ thuật, lao động;
Động viên, khuyến khích các quá trình thực hiện cải tiến chất lượng Khi tiêu chuẩn về chất lượng không đạt được cần phân tích xác định sai sót ở khâu nào để tiến hành các hoạt động điều chỉnh Điều chỉnh về thực chất
là quá trình cải tiến chất lượng cho phù hợp với điều kiện môi trường hiện đại của dự án
1.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng các dự
án đầu tư xây dựng thuỷ lợi
Các yếu tố ảnh hưởng có thể chia thành hai nhóm : các yếu tố bên ngoài
và các yếu tố bên trong
1.7.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài:
1 Nhu cầu của nền kinh tế:
Chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế Tác động này thể hiện như sau:
a Đòi hỏi của thị trường :
Trang 28Thay đổi theo từng loại thị trường, các đối tượng sử dụng, sự biến đổi của thị trường Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nhạy cảm với thị trường để tạo nguồn sinh lực cho quá trình hình thành và phát triển các loại sản phẩm Điều cần chú ý là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hóa nhu cầu của thị trường để có các chiến lược và sách lược đúng đắn
b Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất :
Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên, tích lũy, đầu tư ) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và các kỹ năng cần thiết) có cho phép hình thành và phát triển một sản phẩm nào đó có mức chất lượng tối ưu hay không Việc nâng cao chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế
c Chính sách kinh tế:
Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thỏa mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm
2 Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật :
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền
và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả Các hướng chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là:
Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế;
Cải tiến hay đổi mới công nghệ;
Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới
3 Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế :
Trang 29Chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh
tế, kỹ thuật, xã hội như :
Kế hoạch hóa phát triển kinh tế;
Giá cả;
Chính sách đầu tư;
Tổ chức quản lý về chất lượng
a Sự phối hợp giữa chủ đầu tư và nhà thầu
Chủ đầu tư và nhà thầu chưa có sự gắn kết chặt chẽ, kịp thời, thường xuyên và liên tục đặc biệt là trong công tác thiết kế, giám sát chất lượng công trình xây dựng Nói về vấn đề này có rất nhiều nguyên nhân trước hết là do cách làm việc quan liêu, hành chính từ phía các đơn vị của chủ đầu tư và cả từ phía nhà thầu:
Những thay đổi thiết kế so với yêu cầu và so với hồ sơ thiết kế không được chủ đầu tư thông báo kịp thời cho phía nhà thầu gây nên những ảnh hưởng đến tiến độ thi công, đến chất lượng công trình và chi phí xây dựng công trình
Một số chủ đầu tư thả lỏng việc quản lý chất lượng công trình hoặc phó thác chất lượng cho bên tư vấn giám sát trong khi đó tư vấn giám sát lại làm việc thiếu trách nhiệm gây ra những khó khăn cho nhà thầu trong việc giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thi công
Bản thân nhà thầu cũng không thực hiện đúng những yêu cầu mà phía chủ đầu tư đưa ra trong quá trình thi công xây dựng công trình như ăn bớt, cắt xén vật liệu, mua vật liệu xây dựng giá rẻ không đảm bảo chất lượng dẫn đến chất lượng công trình bị giảm sút
Năng lực của chủ đầu tư còn bất cập so với yêu cầu thực tế nhiệm
vụ được phân công, số dự án được giao nhiều trong đó có dự án quy
mô lớn nhưng lực lượng biên chế còn mỏng; vẫn còn cán bộ kỹ thuật đã trực tiếp giám sát thi công liên tục 3-4 năm nhưng chưa
Trang 30được cấp chứng chỉ giám sát thi công xây dựng công trình, do vậy không đủ điều kiện để ký biên bản nghiệm thu, gây khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ của Ban
Chất lượng hồ sơ khảo sát - thiết kế - dự toán do nhà thầu tư vấn lập của một số dự án còn chưa đáp ứng được yêu cầu, còn thiếu sót đặc biệt là vấn đề khảo sát địa chất ở các dự án hạ tầng kỹ thuật khu nhà ở, đường giao thông Dẫn đến thực tế thi công phải bổ sung thiết kế - khối lượng làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình
Một số dự án do khó khăn trong công tác GPMB và nguồn vốn thanh toán làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thi công công trình; Mặt khác chế độ chính sách trong Xây dựng cơ bản thay đổi nhiều và giá vật liệu xây dựng biến động tăng gây rủi ro cho các nhà thầu thi công các công trình mà nguồn vốn chậm được thanh toán
Năng lực của một số nhà thầu về: Ban chi huy công trường, cán bộ
kỹ thuật, phương tiện máy móc phục vụ thi công, năng lực tài chính, kinh nghiệm không đúng như hồ sơ dự thầu; Một số nhà thầu thường có sự thay đổi nhân sự tại BCH công trường (có quyết định điều động thay thế), tuy nhiên việc quản lý tại công trường không liên tục làm ảnh hưởng đến việc đôn đốc, quản lý chất lượng tại công trường
Một số chủ đầu tư còn gây khó khăn cho nhà thầu trong việc nghiệm thu, thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng như chậm trễ nghiệm thu, chậm thanh quyết toán vốn đầu tư với những lý do không chính đáng cũng gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công, đến chất lượng công trình gây ứ đọng vốn và có thể làm tăng chi phí trong điều kiện giá
cả leo thang
Mâu thuẫn trực tiếp về lợi ích giữa chủ đầu tư của dự án và nhà thầu xây dựng như nhà thầu không thực hiện đúng hợp đồng, từ bỏ thi
Trang 31công hoặc có dấu hiệu từ bỏ thi công và không hoàn thành dự án đúng tiến độ cam kết không có lý do chính đáng
1.7.2 Nhóm yếu tố bên trong
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, đó là :
- Men: Con người, lực lượng lao động được biểu hiện ở năng lực, trình
độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, ý thức và tinh thần hợp tác
- Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và
tổ chức sản xuất của đơn vị
- Machines: khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của đơn vị thể hiện
ở tính năng, trình độ hiện đại, tương thích với yêu cầu chất lượng ngày càng cao
- Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên vật liệu của đơn vị: chất lượng vật liệu, phương pháp cung cấp đúng yêu cầu, đồng bộ và kịp thời gian
Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất
Kết luận chương 1
Công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư và xây dựng là một lĩnh vực quan trọng, là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định
và bền vững cho một đất nước cũng như của từng địa phương
Thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế, của các cấp, các ngành
và của các nhà đầu tư, là một đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là một biện pháp tích cực nhất để giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao
Chất lượng các dự án đầu tư và xây dựng được đánh giá theo quan điểm của các nhà đầu tư, theo quan điểm của nhà nước và theo quan điểm
Trang 32quản lý dự án Theo quan điểm quản lý dự án, dự án đầu tư xây dựng hiệu quả phải đáp ứng được các yêu cầu: hoàn thành đúng thời gian quy định; đạt được chất lượng và thành quả mong muốn; tiết kiệm các nguồn lực, chi phí đầu tư trong phạm vi cho phép
Trang 33CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THUỶ LỢI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thái Nguyên
2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
1 Vị trí địa lý
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du miền núi Bắc
Bộ, có diện tích tự nhiên 3.541,5 km2, chiếm 1,08% diện tích và 1,33% dân
số cả nước năm 2005 Về mặt hành chính, sau khi chia tỉnh (theo QĐ của kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX) Thái Nguyên có 7 huyện, một thành phố và một thị xã, với tổng số 180 xã, phường và thị trấn, trong đó có 14 xã vùng cao, 106 xã vùng núi, còn lại là các xã trung du và đồng bằng
- Phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Cạn
- Phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang
- Phía Đông với Lạng Sơn, Bắc Giang
- Phía Nam với thủ đô Hà Nội
Có toạ độ địa lý: 20020’- 22025’ Vĩ độ Bắc, từ 105025’-106016’ Kinh độ Đông
Đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên chạy qua thành phố Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối Thái Nguyên với Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước, đồng thời còn là cửa ngõ phía Bắc qua tỉnh Bắc Kạn lên Cao Bằng thông sang biên giới Trung Quốc Các quốc lộ 37, 1B cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch giao thông quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh Tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều, Lưu Xá - Kép - Đông Triều nối với khu công nghiệp Sông Công, khu Gang Thép và thành phố Thái Nguyên Tổng diện tích tự nhiên 3.531 km2
Trang 34Trong đó:
- Diện tích đất Nông nghiệp: 294.633 ha
- Diện tích đất canh tác: 64.975 ha
- Diện tích đất trồng lúa: 48.128 ha
- Đất lâm nghiệp: 180.639 ha
Trang 35- Dãy núi đá vôi Bắc Sơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, từ Võ Nhai chạy về thung lũng sông Thương ở Hữu Lũng, Chi Lăng thuộc Lạng Sơn có độ cao 500 – 600 m, cấu tạo sa diệp thạch, đá vôi
- Dãy núi Tam Đảo ở phía Tây Nam của tỉnh, bắt đầu từ Đèo Khế chạy theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam về tới Sóc Sơn, Hà Nội Đây là dãy núi có cấu tạo bởi nhiều loại nham thạch khác nhau, có độ cao trên 1000m, với đỉnh núi cao nhất là 1.591 m
Tỉnh Thái Nguyên xếp vào địa hình tiếp giáp đồng bằng và miền núi nên địa hình phổ biến có dạng đồi bát úp, xen kẽ là ruộng thấp trũng dễ ngập úng khi có lượng mưa lớn
3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
- Vùng miền núi: Hệ triat không phân chia gồm sa thạch, diệp thạch sét, sạn kết đá vôi, phún xuất Bazơ và axit; Hệ Đề Vôn với các bậc Eifeli, Giveti
đá vôi, diệp thạch sét pha thạch; và Hệ Ocdovi alorolit và sa thạch, đôi khi dạng dải đá vôi Đặc điểm địa chất vùng miền núi thuận lợi cho việc xây dựng công trình
Đặc điểm địa chất thủy văn: Mực nước ngầm xuất hiện nằm sâu ở các khu đồi từ 23m đến 25m, nước chỉ ăn mòn HCO3 và PH đối với xi măng thường Các chỉ tiêu khác không ăn mòn Đây là một đặc điểm cần được chú ý khi xây dựng các công trình thủy lợi
Trang 36b Đặc điểm thổ nhưỡng:
Cơ cấu đất đai chính của Thái Nguyên gồm các loại sau:
- Đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200m, hình thành do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích
- Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo Đây là vùng đất xen giữa nông và lâm nghiệp Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương
- Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân
bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán ) khó khăn cho việc canh tác
4 Khí hậu, thủy văn:
a Khí hậu:
Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng do địa hình nên khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
• Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai
• Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai
• Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công
Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 25 °C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9 °C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2 °C) là 13,7 °C Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng được ghi nhận lần lượt là 41,5°C và 3°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm
Trang 37b Thủy văn:
Sông Cầu là con sông chính của tỉnh và gần như chia Thái Nguyên ra thành hai nửa bằng nhau theo chiều bắc nam Sông bắt đầu chảy vào Thái Nguyên từ xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ và đến địa bàn xã Nga My, huyện Phú Bình, sông trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang và sau đó hoàn toàn ra khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên Ngoài ra Thái Nguyên còn có một số sông suối khác nhưng hầu hết đều
là phụ lưu của sông Cầu Trong đó đáng kể nhất là sông Đu, sông Nghinh Tường và sông Công Các sông tại Thái Nguyên không thuộc lưu vực sông Cầu là sông Rang và các chi lưu của nó tại huyện Võ Nhai, sông này chảy sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn và thuộc lưu vực sông Thương Ngoài ra, một phần diện tích nhỏ của huyện Định Hóa thuộc thượng lưu sông Đáy Ô nhiễm nguồn nước là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là tình trạng ô nhiễm
trên sông Cầu
Ngoài đập sông Cầu, Thái Nguyên còn xây dựng một hệ thống kênh đào nhân tạo dài 52 km ở phía đông nam của tỉnh với tên gọi là Sông Máng, nối liền sông Cầu với sông Thương để giúp việc giao thông đường thủy và dẫn nước vào đồng ruộng được dễ dàng
Thái Nguyên không có nhiều hồ, và nổi bật trong đó là Hồ Núi Cốc, đây
là hồ nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công Hồ có độ sâu
35 m và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu -
200 triệu m³ Hồ được tạo ra nhằm các mục đích cung cấp nước, thoát lũ cho sông Cầu và du lịch Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch
để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia
Hệ thống thủy lợi của Thái Nguyên sau nhiều năm được đầu tư, hiện tại toàn tỉnh đã có một số công trình thuỷ lợi lớn như hệ thống hồ Núi Cốc, đập
Thác Huống, hồ Bảo Linh, hồ Gò Miếu, hệ thống đê sông Cầu Tổng số có
2027 công trình lớn nhỏ
Trang 38Hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích yêu cầu tưới vụ chiêm: 25.000 ha, các công trình hiện có tưới được khoảng 22.000 ha đạt 70% so với diện tích cần tưới, vụ mùa diện tích yêu cầu tưới: 42.142 ha, hiện tại tưới được 34.000 ha đạt 75%
Về tiêu úng, đã xây dựng được trạm bơm Cống Táo (Thuận Thành - Phổ Yên), có nhiệm vụ tiêu úng cho 1550 ha của vùng Nam Phổ Yên
Hệ thống công trình ngăn lũ có 45,6 km đê, 20 cống và 5 tuyến kè bảo
+ Vấn đề ngập lũ của thành phố Thái Nguyên và khu vực hạ du sông Cầu hàng năm vẫn thường xuyên xảy ra
+ Môi trường nước sông Cầu chảy qua TP Thái Nguyên bị ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp, nhất là khu vực nhà máy gang thép Thái Nguyên, nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ , cũng là vấn đề cần phải nghiên cứu giải quyết
* Quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Thái Nguyên với mục tiêu chính là nghiên cứu các giải pháp công trình phục vụ cấp nước, công trình phòng chống lũ lụt cho khu vực thành phố Thái Nguyên và vùng hạ du sông Cầu
Dự án đã đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những tồn tại về công tác thủy lợi với nội dung cụ thể như sau:
Trang 39+ Về cấp nước tưới, Dự án đã đề xuất các giải pháp nâng cấp, cải tạo 93 công trình; xây dựng mới 285 công trình hồ đập và trạm bơm tưới; đề xuất
170 điểm công trình tưới cây vườn đồi; hoàn thành kiên cố 1968,9 km kênh nội đồng và 135,2 km kênh cấp 2 của hệ thống Núi Cốc
+ Về tiêu úng đã đề xuất giải pháp cải tạo trạm bơm Cống Táo và các cống tiêu vùng nam Phổ Yên bảo đảm tiêu thoát úng cho 1550ha theo thiết kế ban đầu
+ Về phương án chống lũ cho thành phố Thái Nguyên, đã nghiên cứu các phương án xây dựng thêm hồ chứa điều tiết lũ thượng lưu sông Cầu kết hợp các phương án hoàn thiện tuyến đê bảo vệ thành phổ Thái nguyên và tràn Thác Huống
Qua phân tích tình hình thực tiễn đã đề xuất phương án đắp đê sông Cầu
để bảo vệ cho thành phố Thái Nguyên chống lũ tần suất 5% Về lâu dài đề xuất xây dựng hồ Văn Lăng (W=270 triệu m3) trên dòng chính sông Cầu, chống lũ tần suất 1% cho thành phố Thái Nguyên kết hợp giảm lũ cho hạ du sông Cầu
Dự án quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Thái Nguyên được hoàn thành là cơ sở pháp lý để Sở Nông nghiệp và PTNT và UBND tỉnh Thái Nguyên lập kế hoạch quản lý, đầu tư xây dựng phát triển hệ thống thuỷ lợi Đã có khá nhiều công trình trong phương án đề xuất của Dự án đã được đầu tư và đang trong các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo như:
- Tuyến đê bảo vệ thành phố Thái Nguyên dài 11,5km
- Cụm công trình thuỷ lợi hồ Đồng Tâm (Đại Từ); Cụm công trình thuỷ lợi hồ Quán Chẽ (Võ Nhai); Trạm bơm tưới Việt Cường (Đồng Hỷ); Kiên cố hoá hệ thống kênh hồ Núi Cốc v.v
Phương án quy hoạch của Dự án được đánh giá phù hợp và đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương Sau khi hoàn thành Dự án,
Trang 40Thái Nguyên sẽ có hệ thống CTTL bảo đảm tưới cho khoảng 66 nghìn ha Trong đó diện tích tưới lúa 42 nghìn ha; cây màu 10,4 nghìn ha; cây công nghiệp chủ yếu là cây chè 10,8 nghìn ha và cây ăn quả 2,8 nghìn ha
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Nguyên đạt trung bình 11,11% mỗi năm, trong khi giai đoạn 2001-2006 trước đó là 9,14% mỗi năm Trong thời kỳ 2006-2010, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân đạt 14,91%, khu vực dịch vụ đạt 11,86% và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản là 4,14% mỗi năm Cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp trong GDP Năm 2011, cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên có tỉ lệ công nghiệp và xây dựng chiếm 41,77%; dịch vụ chiếm 36,95%, nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,28 % GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2011 dự ước đạt 22,3 triệu đồng/người, tương đương khoảng 1062 USD/người và tỉ lệ hộ nghèo giảm 2,1% so với năm 2010 Từ năm 2005 đến tháng
12 năm 2010, Thái Nguyên có 428 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký quy đổi đạt 105.000 tỷ đồng, trong đó có 16 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 3.352,8 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ
Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2010, tỉnh Thái Nguyên đạt 56,54 điểm, xếp thứ 42 trên tổng số 63 tỉnh thành, tuy nhiên thứ hạng của Thái Nguyên lại cao hơn hai trung tâm kinh tế lớn nhất của miền Bắc Việt Nam là Hà Nội (thứ 43) và Hải Phòng (thứ 48) Thu nhập hàng tháng của lao động trong khu vực nhà nước do tỉnh Thái Nguyên quản lí theo kết quả sơ bộ năm 2009 là 2.527.900 đồng, thấp hơn mức trung bình cả nước cùng thời điểm là 2.867.100 đồng và của khu vực trung du miền núi phía Bắc là 2.983.200 đồng