Dự án đầu tư: Trên thực tế, có nhiều khái niệm khác nhau của nhiều học giả về dự án đầu tư, nhưng những khái niệm thường xuyên được sử dụng khi nghiên cứu về dự án đầu tư là những khái
Trang 1TRẦN HUY TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội – 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
TRẦN HUY TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Chuyên ngành : Kinh tế TNTN và môi trường
Mã số : 60 - 31 - 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NG ƯỜI HDKH: PGS.TS NGUYỄN BÁ UÂN
Hà Nội - 2013
Trang 3C HƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhắm thu về cho những nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn thông qua việc sử dụng các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển chỉ là những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sắn có
1.1.2 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thong qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng
mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định
Đầu tư xây dựng cơ bản mà một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái
Trang 4sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định nhắm phát triển
cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân
1 Dự án:
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa về
dự án như sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực
Có thể hiểu dự án là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan đến nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều
kiện ràng buộc về ngân sách, nguồn lực và thời gian
2 Dự án đầu tư:
Trên thực tế, có nhiều khái niệm khác nhau của nhiều học giả về dự án đầu tư, nhưng những khái niệm thường xuyên được sử dụng khi nghiên cứu
về dự án đầu tư là những khái niệm sau đây:
- Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định;
- Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định;
- Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về
số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó một khoảng thời gian xác định
Trang 5Về mặt hình thức, dự án đầu tư là một hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu xác định trong tương lai
Về mặt quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động và các nguồn lực để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế, xã hội trong một thời gian nhất định;
Về mặt nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch định sẵn với lịch thời gian và địa điểm xác lập để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Một dự án đầu tư bao thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
- Thời gian và địa điểm thực hiện các hoạt động của dự án;
- Các nguồn vốn đầu tư để tạo nên vốn đầu tư của dự án;
- Các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra của dự án
- Các mục tiêu của dự án, đó là những kết quả và lợi ích mà dự án đem lại cho nhà đầu tư và cho xã hội;
- Các hoạt động gồm các biện pháp về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật,… để thực hiện mục tiêu của dự án;
- Các nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động của dự án và chi phí về các nguồn lực đó
Qua những khái niệm nêu trên có thể thấy rằng, một dự án đầu tư không phải dừng lại là một một ý tưởng hay phác thảo, mà nó có tính cụ thể
và mục tiêu xác định Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng lặp lại, mà nó sẽ phải tạo nên một thực tế mới mà trước đó chưa từng tồn tại
Trang 63 Dự án đầu tư xây dựng công trình:
Thực tế hiện nay, chúng ta thường rất hay gặp thuật ngữ dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tư xây dựng công trình được hiểu là các dự
án đầu tư có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản như xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật, Xét theo quan điểm động, có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình là một quá trình thực hiện các nhiệm vụ từ ý tưởng đầu tư xây dựng công trình thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả, thời gian và chi phí đã xác định trong hồ sơ dự án Dự
án đầu tư xây dựng công trình luôn được thực hiện trong những điều kiện không có nhiều rủi ro
Như vậy, xét về mặt hình thức Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế kiến trúc, thiết kế kỹ thuật và tổ chức thi công công trình xây dựng và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự
án, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của dự án,
Theo định nghĩa của Luật Xây dựng Việt Nam (2003) thì: “Dự án đầu
tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch
vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở” Cũng cần hiểu rõ thêm khái niệm
“Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước” là dự án có thành phần vốn nhà nước tham gia chiếm từ 30% tổng mức đầu tư của dự án trở lên và được xác định tại quyết định phê duyệt dự án Trong đó, vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý
Trang 71.2 Vai trò, đặc điểm của các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi
1.2.1 Khái niệm về công trình thủy lợi và hệ thống công trình thủy lợi
Theo Điều 2 của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, thì
“Công trình thuỷ lợi" là cơ sở kinh tế - kỹ thuật thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nước; phòng, chống tác hại của nước và bảo vệ môi trường sinh thái; bao gồm: hồ chứa, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống
dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại Còn "Hệ thống công trình thuỷ lợi" bao gồm các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau
về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định
1.2.2 Vai trò của dự án đầu tư công trình thủy lợi
Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học Để tạo điều kiện cho sự phát triển toàn
diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn
phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ
bản có tính chất quyết định Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước một trong
những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá - xã hội
Các nguồn nước trong thiên nhiên (nước mặt ,nước ngầm) và mưa phân
bố không đều theo thời gian, không gian Mặt khác yêu cầu về nước giữa các vùng cũng rất khác nhau, theo mùa, theo tháng, thậm chí theo giờ trong ngày
Như vậy có thể nói:2T 2TThu ỷ lợi là biện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng
th ời hạn chế những thiệt hại do nước có thể gây ra
Trang 8Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa nước Do đó, nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như
thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão
lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc
biệt đối với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng
xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy, hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như:
- Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất
- Cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác
nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần đặc
biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng
đã sản xuất được 4 vụ Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong một năm Do hệ thống thuỷ lợi phát triển hơn trước nên thu hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên dưới 10 triệu đồng Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư
một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có
sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng
thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá
- Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp,
giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực
Trang 9- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất
là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản,
du lịch
- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh
tế và chính trị trong cả nước
- Góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều
từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho
họ tăng gia sản xuất
Vì vậy, thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị, tuy nó không mang lại
lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó đã mang lại những nguồn lợi gián tiếp, như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy
Sản phẩm xây dựng là những công trình như hồ, cống, đập, nhà máy thủy điện, kênh mương,… được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn các nơi trong lãnh thổ khác nhau Sản phẩm xây dựng thủy lợi phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, có tính
đa dạng và cá biệt cao về công dụng, về cách cấu tạo và về phương pháp chế tạo Phần lớn các công trình thủy lợi đều nằm trên sông, suối có điều kiện địa hình, địa chất rất phức tạp, điều kiện giao thông khó khăn, hiểm trở Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên tại nơi xây dựng công trình Do vậy, nếu các công tác điều tra khảo sát, thăm dò các điều
Trang 10kiện tự nhiên không chính xác sẽ làm cho việc thiết kế công trình không đảm bảo đúng yêu cầu các quy phạm kỹ thuật, kết cấu không phù hợp với điều kiện và đặc điểm tự nhiên của khu vực dẫn đến chất lượng công trình bị ảnh hưởng
Sản phẩm xây dựng thủy lợi thường có kích thước rất lớn, có tính đơn chiếc riêng lẻ, nhiều chi tiết phức tạp, do đó cần phải có kế hoạch, tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình
Sản phẩm xây dựng thủy lợi có thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn thành mang tính chất tài sản cố định nên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Vì thời gian sử dụng lâu dài nên chất lượng phải được đảm bảo, vì vậy cần phải chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng công trình ở tất cả các khâu: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế, giao nhận thầu theo luật đấu thầu, giám sát chất lượng công trình, nghiệm thu và các chế độ bảo hành, bảo trì công trình…bất kỳ khâu nào trong các việc trên sai sót có thể gây ra những hậu quả trong quá trình khai thác sử dụng
Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, nhiều đơn vị cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị cho các công tác như khảo sát, thiết kế, thi công…và đều có ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng công trình
Sản phẩm xây dựng thủy lợi mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh
tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật và quốc phòng Đặc điểm này đòi hỏi phải có
sự đồng bộ giữa các khâu từ khi chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi công, từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây lắp, mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng, kết cấu công trình… đến khi nghiệm thu từng phần, tổng nghiệm thu và quyết toán dự án hoàn chỉnh đưa vào khai thác sử dụng
Trang 11Việc sản xuất xây dựng luôn luôn biến động, thiếu ổn định theo thời gian và địa điểm Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng
là cố định Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức thi công xây dựng công trình, quá trình thi công thường hay bị gián đoạn Đòi hỏi trong công tác quản
lý phải lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, sử dụng tối đa lực lượng xây dựng tại nơi công trình xây dựng đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông, tuy nhiên lực lượng lao động tại đây thường không đáp ứng được trình
độ tay nghề mà những thợ tay nghề cao lại không muốn đến Chính điều này ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng Mặt khác có những địa điểm lại rất khó khăn cho việc cung ứng vật liệu hoặc vật liệu khai thác không đảm bảo chất lượng vì vậy chất lượng cũng bị ảnh hưởng
Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng) thường dài Công trình thủy lợi
có khối lượng lớn, thi công trong điều kiện rất khó khăn nên thời gian thi công phải kéo dài Điều này dẫn đến vốn hay bị ứ đọng hay gặp rủi ro trong thời gian thi công Đòi hỏi việc quản lý chất lượng phải thường xuyên, liên tục và có hệ thống từ khi khởi công công trình đến khi đưa vào khai thác sử dụng Nếu một trong các khâu làm không tốt chất lượng công trình xây dựng cũng bị ảnh hưởng do đó chất lượng toàn công trình sẽ bị ảnh hưởng
Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể, thông qua giao thầu hay đấu thầu do đặc điểm công trình xây dựng có tính đơn chiếc Ta biết rằng sản phẩm của ngành xây dựng thủy lợi rất khác so với các ngành xây dựng cơ bản khác, ta không thể tiến hành sản xuất hàng loạt mà có nhu cầu mới sản xuất và phải đặt hàng trước thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu Do vậy việc mua, bán sản phẩm được xác định trước khi thi công Người mua và người bán được biết trước về đối tượng sản phẩm, giá cả, chất lượng sản phẩm, hình thức và kết cấu sản phẩm…do đó, trong công tác quản lý tìm mọi giải pháp đề đánh giá về chất lượng và giá thành sản phẩm Muốn thế phải tăng cường công tác quản lý, giám sát đúng các quy chuẩn,
Trang 12tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng công trình cho đến khi hoàn thành đưa vào
sử dụng
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp Vì công trình có nhiều chi tiết phức tạp nên việc thiết kế phải có nhiều bộ phận tham gia Nhiều đơn vị thi công cùng tham gia xây dựng một công trình trong điều kiện thời gian và không gian cố định Vì vậy nó gây khó khăn trong việc tổ chức thi công và ảnh hưởng đến tiến độ thi công
Sản xuất xây dựng phải thực hiện ngoài trời, bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện địa hình, địa chất phức tạp Các ảnh hưởng này làm gián đoạn quá trình sản xuất ra sản phẩm, quá trình thi công…từ đó ảnh hưởng đến vật tư, thiết bị, sản phẩm dở dang, chi phí, sức khỏe con người và sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình
Nhìn chung đặc điểm của các dự án đầu tư xây dựng thủy lợi có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý dự án, nhất là thời gian, chất lượng và chi phí trong xây dựng công trình thủy lợi
1.2.4 Những mặt còn tồn tại trong đầu tư xây dựng thủy lợi
Tuy những thành tựu đạt được trong lĩnh vực thủy lợi của chúng ta là rất lớn và quan trọng, nhưng vẫn còn những những mặt tồn tại cần phải được nghiên cứu, xem xét để khắc phục Những mặt tồn tại chính đó là:
- Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và nuôi trồng thủy sản làm thay đổi diện tích và cơ cấu sự dụng đất tạo ra những yêu cầu mới đối với công tác thuỷ lợi Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở nông thôn, thành thị, nhu cầu tiêu thoát tại nhiều khu vực tăng lên nhanh chóng Thuỷ lợi chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của các đô thị lớn: 5 tỉnh, thành phố lớn đang bị ngập lụt nặng
do ngập triều (TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Hải Phòng và Vĩnh Long) Thành phố Huế và các đô thị khu vực Trung Bộ, ngập úng do lũ
Trang 13Thành phố Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng ngập úng nặng
do mưa
- Các công trình thủy lợi phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, mặc dù cũng đã đầu tư xây dựng nhiều hồ chứa thượng nguồn kết hợp hệ thống đê dưới hạ du nhưng hiện nay hệ thống đê biển, đê sông và các cống dưới đê vẫn còn nhiều bất cập, phần lớn đê chưa đủ mặt cắt thiết kế, chỉ chống lũ đầu vụ
và cuối vụ, chính vụ (miền Trung), các cống dưới đê hư hỏng và hoành triệt nhiều Hiện tượng bồi lấp, xói lở các cửa sông miền Trung còn diễn ra nhiều
và chưa được khắc phục được
- Nước thải không được xử lý hoặc xử lý không triệt để đổ vào kênh gây ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống thủy lợi như ở hệ thống thủy nông Bắc Đuống, Sông Nhuệ, Bắc Hưng Hải,
- Mâu thuẫn quyền lợi, thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành, địa phương nên công trình chưa phát huy hiệu quả phục vụ đa mục tiêu Nhiều công trình hồ chứa lớn trên dòng chính có hiệu quả cao về chống lũ, phát điện, cấp nước đã được nghiên cứu, đề xuất trong các quy hoạch thủy lợi nhưng trên thực tế, do yêu cầu cấp bách về năng lượng nên nhiệm vụ của công trình tập trung chủ yếu vào phát điện mà bỏ qua dung tích phòng lũ cho
hạ du (chi phí đầu tư xây dựng công trình, giải phóng mặt bằng, tái định cư, rất lớn)
- Một số hệ thống thuỷ lợi có hiệu quả thấp do vốn đầu tư hạn chế nên xây dựng thiếu hoàn chỉnh, đồng bộ Nhiều công trình chưa được tu bổ, sửa chữa kịp thời nên bị xuống cấp, thiếu an toàn
- Việc thực thi Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Luật
Đê điều và Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão còn xem nhẹ Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi chưa tương xứng với cơ sở hạ tầng hiện có, nhất
là các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Trang 141.3 Tình hình đầu tư xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta trong thời gian vừa qua
1.3.1 Tình hình xây dựng
Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn là một đất nước có nên kinh tế là nông nghiệp, tài nguyên nước có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển bền vững cuả đất nước Tuy vậy do đặc điểm lịch sử mà sự phát triển của các hệ thống đầu mối thủy lợi ở nước ta chậm hơn so với các nước phát triển trên thế giới
Từ khi đất nước thống nhất đến nay, thủy lợi nước ta mới thực sự trở thành một ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được ưu tiên đầu tư Đến nay nước ta có khoảng 750 hồ chứa, đập cỡ vừa và lớn, trên 1000 hồ chứa đập cỡ nhỏ Các hệ thống thủy lợi ở nước ta có thể kể đến như hệ thống thủy lợi Đại Lải, Cấm Sơn, Kẻ Gỗ, Yên Lập, Sông Mực, Dầu Tiếng hay các công trình sử dụng tổng hợp nguồn nước như đập thủy điện Hòa Bình, Thác Bà Đa Nhim, Trị An…
1.3.2 Một số kết quả đạt được trong những năm vừa qua
Từ khi “Luật tài nguyên nước” của nước ta ra đời năm 1998 đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của các công trình thủy lợi đối với việc phát triển và bảo vệ đất nước Từ đó đến nay, tốc độ xây dựng các hệ thống đầu mối thủy lợi, thủy điện nước ta phát triển khá mạnh
1 Cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp
Tính đến nay, các hồ đập cùng các biện pháp công trình thủy lợi khác như trạm bơm, cống, kênh đã đảm bảo cho trên 7 triệu ha đất lúa được tưới, trong đó: vụ đông xuân 2,94 triệu ha, hè thu 2,3 triệu ha, vụ mùa 2,51 triệu ha Các công trình thủy lợi cũng đã tạo nguồn nước tưới cho 1,15 triệu ha, tiêu úng cho 1,8 triệu ha (trong đó 1,45 triệu ha đất ruộng trũng); ngăn mặn cho trên 800 nghìn ha ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha Thành quả trên đã góp phần tăng sản lượng lúa từ 16 triệu tấn năm
1986 lên 19,3 triệu tấn năm 1990; 24,9 triệu tấn năm 1995; 32,5 triệu tấn năm
Trang 152000 và 38,7 triệu tấn năm 2008, để đến năm 2009 khối lượng xuất khẩu gạo nước ta đã đạt 5,8 triệu tấn Cùng với lúa, sản xuất ngô, các loại hoa màu cây công nghiệp cũng phát triển nhanh chóng góp phần phát triển chăn nuôi gia súc và tạo vành đai thực phẩm ổn định cho các đô thị
2 Về công tác đê điều – phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
Đã nâng cấp và xây dựng mới 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23.000 km bờ bao, hàng nghìn cống dưới đê, hàng trăm cây số kè
- Về đê sông:
Ở miền Bắc, nhờ sự hỗ trợ điều tiết của hồ Hoà Bình, Thác Bà, hệ thống đê sông Hồng và Thái Bình đã đảm bảo chống được lũ Hà Nội ở cao trình 13,40m ứng với tần suất 125 năm/lần Khi hồ Tuyên Quang đi vào vận hành, tần suất được nâng lên 250 năm và khi hồ Sơn La đi vào vận hành, tần suất được nâng lên 500 năm
Ở Bắc Trung bộ: Đê sông Mã, sông Cả chống được lũ lịch sử chính vụ không bị tràn
Ở Đồng bằng sông Cửu Long: Hệ thống bờ bao đã chống được lũ sớm,
lũ tiểu mãn để bảo vệ vụ lúa Hè – Thu và các điểm dân cư trong vùng kiểm soát lũ
- Đê biển: Hệ thống đê biển ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ có thể ngăn mặn
và triều tần suất 10% khi gặp bão cấp 9
3 Cấp nước sinh hoạt, nước công nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Các hệ thống thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm liên tục được phân bổ rộng khắp trên mọi vùng của đất nước đã góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư xung quanh công trình, nhiều hồ còn cấp nước sinh hoạt cho các điểm công nghiệp và đô thị như hồ Song Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu),
hồ Mỹ Tân (Ninh Thuận), Hòa Sơn (Khánh Hòa), cụm hồ Thủy Yên - Thủy Cam (Thừa Thiên Huế), Ngàn Trươi - Cẩm Trang (Hà Tĩnh), Bản Mòng (Sơn
Trang 16La), Ia Keo - Nà Cáy (Lạng Sơn) Nổi bật nhất là đã xây dựng được các công trình cấp nước cho 30 vạn đồng bào vùng cao đặc biệt là những vùng núi đá vôi như Trà Lĩnh, Hà Quảng, Lục Khu (Cao Bằng) Yên Ninh, Quảng Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)… nhiều huyện vùng cao ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn La
Thuỷ lợi cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, hàng vạn ha mặt nước của các ao hồ nuôi thủy sản đều dựa chủ yếu vào nguồn nước ngọt từ các hệ thống thủy lợi; đối với các vùng ven biển, phần lớn các công trình thủy lợi đều ít nhiều đóng góp vào việc tạo ra môi trường nước lợ, nước mặn để nuôi tôm và một số loài thủy sản quý hiếm, tạo điều kiện cho việc nuôi trồng thủy sản có bước phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong nước và xuất khẩu
4 Đóng góp vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới
Nhiều vùng nông thôn Việt Nam, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa do ruộng đất ít, tập quán canh tác còn lạc hậu, dân số tăng nhanh, vì vậy cuộc sống gặp nhiều khó khăn, có nơi còn quá nghèo; các công trình thủy lợi nhỏ được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau đã giúp cho nông dân có nước để canh tác, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhiều vùng rất khó khăn
Nhiều công trình đã tạo ra nguồn nước để trồng trọt và định canh, định
cư để xóa đói giảm nghèo và bảo vệ rừng, hạn chế được việc đốt nương rẫy
Những công trình kênh mương ở đồng bằng sông Cửu Long thực sự là điểm tựa để làm nhà tránh lũ, phân bổ lại dân cư và tiến sâu vào khai phá những vùng đất còn hoang hóa
Những công trình như 6 trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định thực sự
đã xóa đi cảnh “6 tháng đi chân, 6 tháng đi tay” của người dân địa phương, đẩy lùi được căn bệnh đau mắt hột, bệnh chân voi của người dân nơi đây
5 Tác động của thủy lợi đối với môi trường
Trang 17Với đặc điểm địa hình trũng thấp, chế độ lũ, triều phức tạp ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm cho 1,6 triệu ha bị chua phèn, trên 80 vạn ha bị nhiễm mặn nhưng với các giải pháp làm kênh dẫn nước ngọt từ sông Tiền, sông Hậu vào để ém phèn rồi lại xổ phèn qua hệ thống kênh cống, đập đã cải tạo dần được vùng đất phèn rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên… và với nhiều con đập và cống lớn nhỏ được xây dựng ở các cửa sông để giữ ngọt, ngăn mặn xâm nhập và rửa mặn trên đồng ruộng đã cải tạo dần được hàng trăm ngàn ha đất bị nhiễm mặn, chua phèn
Các công trình thủy lợi đã và đang cải tạo những vùng đất “chiêm khê mùa thối” chấm dứt được cảnh “sống ngâm da, chết ngâm xương” và các bệnh đau mắt hột ở các vùng chiêm trũng, tiêu thoát nước thải bẩn, nước gây ngập úng khi mưa và triều dâng cho nhiều đô thị
6 Các hồ chứa nước thuỷ lợi đã tạo điều kiện cho phát triển du lịch
Trong những năm qua, nhiều hồ chứa nước không chỉ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của dân cư trong vùng mà còn tạo nên những vùng sinh thái có cảnh quan đẹp, không khí trong lành, biến những vùng đất hoang sơ thành những khu du lịch, nghỉ ngơi, góp phần phân bố lại dân cư, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều người lao động Các công trình như vậy hầu như có ở rất nhiều địa phương, trong đó phải kể đến các vùng nổi tiếng như các hồ Thác Bà, Hoà Bình, Dầu Tiếng, Đồng Mô, Suối Hai, Núi Cốc, Cấm Sơn, Đại Lải và nhiều nơi khác
7 Đóng góp vào việc quản lý tài nguyên nước và phát triển thủy điện
Bộ Thủy lợi trước đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ngày nay cũng đã làm nhiều công việc để quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên nước như quản lý lưu vực sông, quản lý rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ để bảo vệ và phát triển nguồn nước, chống làm nhiễm bẩn và cạn kiệt nguồn nước, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên nước thông qua việc xây
Trang 18dựng Luật Tài nguyên nước và nhiều văn bản dưới luật Các nhà khoa học Thuỷ lợi cũng đã nghiên cứu và phối hợp với nhiều ngành, nhiều tỉnh để lập quy hoạch lưu vực sông, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, phát triển thuỷ điện kết hợp với thủy lợi và sử dụng nguồn nước để cải tạo đất, chống xâm nhập mặn và cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra nguồn năng lượng sạch và có thể tái tạo đảm bảo an ninh năng lượng, phục vụ phát triển bền vững nền kinh
tế của đất nước trong những năm qua
1.4.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế dự án
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực như nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn để đạt được mục tiêu nhất định của một quá trình
Như vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế của một dự án đầu tư được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định tính thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được và bằng các chỉ tiêu định lượng thể hiện quan hệ giữa chi phí bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án
Một dự án đầu tư xây dựng công trình được xem là hiệu quả khi hiệu quả đó được đánh giá trên nhiều mặt (kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị, ) Trong đó, hiệu quả kinh tế là một phần của hiệu quả công trình và được đánh giá bằng giá trị đạt được trên chi phí bỏ ra
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của một dự án xây dựng công trình thủy lợi là một việc làm hết sức phức tạp và khó khăn Chúng ta không thể dùng một chỉ tiêu đơn độc hay một phương pháp để xác định, mà cần phải dùng nhiều chỉ tiêu, nhiều nhóm chỉ tiêu, nhiều phương, vì mỗi chỉ tiêu, mỗi nhóm chỉ tiêu, mỗi phương pháp chỉ tiêu, chỉ phản ánh, thể hiện được một mặt hiệu
Trang 19quả kinh tế của công trình Hiệu quả kinh tế của một dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi được thể hiện và chịu ảnh hưởng bởi:
- Thành quả và chất lượng của công tác thủy lợi được đánh giá thông qua sản phẩm nông nghiệp, năng suất, sản lượng, giá trị sản lượng của sản xuất nông nghiệp là cơ sở căn cứ quan trọng để xác định hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi
- Hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, như mưa bão, lũ lụt, sâu bệnh, giá cả thị trường, và bị các yếu
tố này chi phối, làm ảnh hưởng Nói một cách khác, chỉ khi loại trừ được các yếu tố tác động kể trên mới có thể thấy hết được hiệu quả kinh tế thực mà công trình thủy lợi mang lại;
- Chế độ thâm canh, loại cây trồng và giá trị kinh tế hàng hóa của cây trồng, cơ cấu cây trồng, trình độ sản xuất nông nghiệp có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi
- Ngoài việc đem lại hiệu quả về mặt kinh tế, các công trình thủy lợi còn đem lại các hiệu quả to lớn mà khó có thể tính toán bằng tiền, như: hiệu
quả về mặt chính trị, quốc phòng, hiệu quả đối với xã hội, môi trường và các ngành không sản xuất vật chất khác
1.4.3 Nguyên tắc xác định hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi
Khi phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế mà công trình thủy lợi mang lại cần phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Phải xem xét, phân tích HQKT của công trình trong trường hợp có và không có dự án Hiệu quả mà dự án mang lại là phần hiệu quả tăng thêm giữa trường hợp có so với khi không có dự án;
- Khi đánh giá HQKT của một dự án có liên quan đến việc giải quyết những nhiệm vụ phát triển lâu dài của hệ thông thủy lợi, của việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, dự án khai thác những khu
Trang 20vực mới thì việc đánh giá được xác định với điều kiện công trình đã được xây dựng hoàn chỉnh, tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được áp dụng, sản xuất và sản phẩm của khu vực mới đã được thực hiện Trong những trường hợp cần thiết có thể thay đổi giá trị và tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế;
- Khi xác định HQKT của việc dùng nước tiêu thải để tưới cho diện tích đất nông nghiệp thì hiệu quả kinh tế của công trình được xác định trên kết quả của việc thực hiện: là nâng cao năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường;
- Khi nghiên cứu xác định HQKT của công trình thủy lợi, ngoài việc đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế còn phải đánh giá hiệu quả về mặt bảo vệ môi trường và việc cải thiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác;
- Khi phân tích tính toán hiệu quả vốn đầu tư, cần xem tới sự gián đoạn
về mặt thời gian thực hiện dự án trong giai đoạn bỏ vốn và giai đoạn thu nhận kết quả đó là thời gian xây dựng vốn bị ứ đọng và thời gian công trình đạt được công suất thiết kế;
- Khi lập dự án, thiết kế công trình, nhất thiết phải đưa ra các phương
án để xác định hiệu quả kinh tế so sánh của các phương án Mặt khác cần phải đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án lựa chọn với tiêu chuẩn hiệu quả đã được quy định Không nên tiến hành xây dựng công trình bằng mọi giá, nếu công trình không hiệu quả;
- Ngoài việc phân tích những nguồn lợi mà dự án xây dựng công trình đem lại, cũng cần phải phân tích, đánh giá những thiệt hại do việc xây dựng công trình gây ra một cách khách quan và trung thực;
- Không được xem xét HQKT theo giác độ lợi ích cục bộ và doanh lợi đơn thuần của một dự án công trình, mà phải xuất phát từ lợi ích toàn cục, toàn diện của cộng đồng, của Quốc gia;
Trang 21- Không đơn thuần xem xét HQKT là mức tăng sản lượng của một công trình nào đó, điều quan trọng là mức tăng sản lượng của tổng hợp tất cả các công trình (kể cả công nghiệp, sản xuất hàng hóa, xuất khẩu,…);
- Trong trường hợp “đặc biệt”, không nên chỉ xem xét HQKT của công trình là nguồn lợi kinh tế Có những khi vì mục đích chính trị, quốc phòng, nhu cầu cấp thiết của dân sinh, vẫn phải tiến hành xây dựng công trình Trong trường hợp này hiệu quả của công trình là hiệu quả về mặt chính trị quốc phòng;
- Khi xây dựng công trình, vừa phải quan tâm đến lợi ích trước mắt lại vừa phải quan tâm đến lợi ích lâu dài Không nên vì lợi ích trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài, hoặc hạn chế việc phát huy hiệu quả của công trình trong tương lai;
- Phải xem xét HQKT của công trình cả về mặt kinh tế và về mặt tài chính Hay nói cách khác phải đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân và chủ đầu tư để xem xét tính hiệu quả của dự án Dự án chỉ khả thi khi đạt hiệu quả
cả về mặt kinh tế lẫn mặt tài chính;
- Do tiền tệ có giá trị theo thời gian nên trong nghiên cứu hiệu quả kinh tế phải xét tới yếu tố thời gian của cả dòng tiền chi phí và thu nhập của
dự án
1.4.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế dự án
Hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi là hiệu quả mang tính tổng hợp, vì công trình thủy lợi thường là công trình công ích phục vụ đa mục tiêu
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế mà công trình thủy lợi mang lại, người ta thường sử dựng nhiều nhóm chỉ tiêu, trong mỗi nhóm chỉ tiêu lại có nhiều chỉ tiêu Các nhóm chỉ tiêu thường được sử dụng trong đánh giá gồm có:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá từng mặt hiệu quả kinh tế của công trình, nhóm này gồm các chỉ tiêu: Chỉ tiêu về sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp;
Trang 22Chỉ tiêu tăng năng suất cây trồng; Chỉ tiêu về sự thay đổi giá trị tổng sản lượng; Chỉ tiêu về sự thay đổi tình hình lao động; Chỉ tiêu về sự thay đổi tỷ suất hàng hoá nông sản; Tăng thêm việc làm cho người dân trong vùng dự án; Tăng thu nhập cho người hưởng lợi; Góp phần xóa đói giảm nghèo;…các chỉ tiêu này được sử dụng khi cần phân biệt tính vượt trội của một hoặc một số mặt hiệu quả mà nhà đầu tư cần quan tâm;
- Nhóm chỉ tiêu phân tích trình độ sử dụng đồng vốn, gồm các chỉ tiêu: Chỉ tiêu lượng vốn đầu tư cho một đơn vị diện tích đất canh tác; Chỉ tiêu lượng vốn đầu tư cho một đơn vị diện tích đất gieo trồng; Chỉ tiêu về lượng vốn đầu tư cho một đơn vị giá trị sản lượng nông nghiệp tăng thêm; Chỉ tiêu
hệ số hiệu quả vốn đầu tư; Chỉ tiêu về trang bị vốn cho lao động;…
- Nhóm chỉ tiêu thời gian hoàn vốn và bù vốn đầu tư chênh lệch Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư của dự án cho chủ đầu tư Chỉ tiêu thời gian bù vốn đầu tư chênh lệch dùng trong so sánh lựa chon phương án (Chỉ tiêu sử dụng tương đương với chỉ tiêu này là chỉ tiêu tổng chi phí hoặc chi phí đơn vị tối thiểu Zmin) Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn dùng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của một phương án so với tiêu chuẩn kỳ vọng của chủ đầu tư về thời gian hoàn vốn;
- Nhóm chỉ tiêu phân tích chi phí lợi ích Đây là phương pháp mới, hiện đại hiện đang được sử dụng rất phổ biến Một trong những ưu điểm vượt trội của phương pháp này so với các phương pháp sử dụng các chỉ tiêu nêu trên là xét tới yếu tố thời gian của dòng tiền dự án Một cách tiếp cận rất phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Trên thực tế, khi phân tích lựa chọn phương án, thẩm định tính kinh tế
dự án hay phân tích hiệu quả kinh tế thực tế đạt được của dự án đầu tư xây dựng thủy lợi, tùy theo đặc điểm của từng dự án, người ta thường hay sử dụng một số chỉ tiêu sau đây:
Trang 231.4.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá từng mặt hiệu quả của công trình
Dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mang lại lợi ích về kinh tế và hiệu quả xã hội rất lớn Trước khi có công trình đời sống của người dân trong khu vực thường gặp nhiều khó khăn, do thiếu nước tưới nên diện tích đất canh tác và gieo trồng bị hạn chế, năng suất cây trồng thấp,… Nhưng sau khi công trình hoàn thành, diện tích đất canh tác được mở rộng, số vụ gieo trồng trong một năm tăng lên, năng suất cây trồng tăng, góp phần làm tăng tổng thu nhập của nền kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng dự án
Các chỉ tiêu thường được sử dụng đánh giá gồm:
1 Chỉ tiêu về sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp
Thông thường một dự án thuỷ lợi nếu được xây dựng với mục đích phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp là chủ yếu thì điều đầu tiên người ta quan tâm là
sự thay đổi về diện tích đất có khả năng trồng trọt
Việc thay đổi diện tích còn thể hiện ở chỗ dự án tạo điều kiện để có thể khai thác những vùng đất bị bỏ hoang do thiếu nguồn nước, cải tạo những vùng đất chua, mặn thành đất canh tác, hoặc biến những vùng đất chỉ gieo trồng 1 vụ thành 2, 3 vụ
a Sự thay đổi diện tích đất canh tác
Pdiện tích canh tác khi có và không có dự án (ha)
Nếu ∆ωR ct R> 0 có nghĩa là diện tích canh tác được mở rộng
Nếu ∆ωR ct R< 0 có nghĩa là diện tích canh tác bị thu hẹp
b Sự thay đổi diện tích gieo trồng
Trang 24ωR gt RP
s P , ωR gt RP tr P
- diện tích gieo trồng khi có và không có dự án (ha)
Khi tính toán các chỉ tiêu này cần chú ý: Diện tích thực tế được tính bình quân qua nhiều năm Khi có nhiều loại cây trồng, hoặc nhiều mức chủ động tưới thì diện tích phải được quy đổi về cùng loại
2 Chỉ tiêu tăng năng suất cây trồng
Chỉ tiêu tăng năng suất cây trồng xác định theo công thức:
Y Y
ω
ω
Với: n - số năm tài liệu thống kê
ωR i R, YR i R - Diện tích, năng suất cây trồng năm thứ i
3 Chỉ tiêu về sự thay đổi giá trị tổng sản lượng
Đây là chỉ tiêu tổng hợp cả hai yếu tố thay đổi diện tích và năng suất, thường khi xác định chỉ tiêu này, người ta xác định cho 2 trường hợp thực tế
gRiR{ωRtkiR.YRtkiR.[P+βRiR.(1-P)] - ωi
tr i tr
Y
Trong đó:
Trang 25- ∆MR tk R - giá trị tổng sản lượng tăng thêm bình quân hàng năm sau khi
có công trình theo thiết kế (đ)
- n - số loại cây trồng trong khu vực phụ trách của công trình
- gR i R - giá một đơn vị sản lượng loại cây trồng thứ i (đ/T)
- ωR tki R, YR tki R - diện tích (ha) và năng suất năm loại cây trồng thứ i (T/ha) theo thiết kế sau khi có công trình thuỷ lợi
- ωi
tr
i tr
Y
, - diện tích (ha) và năng suất (T/ha) bình quân năm của loại cây trồng thứ i trước khi có công trình thuỷ lợi
- P - tần suất thiết kế của công trình (%)
- βR i R - hệ số giảm sản loại cây trồng thứ i ở những năm phục vụ ngoài tần suất thiết kế
-
s i
tr
i Y
của loại cây trồng thứ i trước khi có công trình thuỷ lợi
4 Chỉ tiêu tăng thêm việc làm cho người dân trong vùng dự án:
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau:
Trang 26Trong đó: M: số lượng việc làm tăng thêm nhờ có dự án
∆F: diện tích canh tác tăng thêm nhờ có dự án
mR L R: số công lao động cần để sản xuất canh tác trên một đơn vị diện tích (1ha)
5 Chỉ tiêu tăng thu nhập cho người hưởng lợi
Chỉ tiêu tăng thu nhập cho người hưởng lợi được xác định thông qua mức gia tăng thu nhập trên đầu người hàng năm:
Trong đó: ∆I: mức thu nhập gia tăng của người hưởng lợi;
∆M: Giá trị sản lượng tăng thêm trong vùng;
P: số người hưởng lợi từ dự án
6 Góp phần xóa đói giảm nghèo (Giảm tỉ lệ hộ nghèo)
Việc đánh giá hiệu quả của công trình trong việc xóa đói giảm nghèo được xác định thông qua tỷ lện hộ nghèo được giảm đi nhờ có
dự án:
Trong đó: ∆N: tỷ lệ số hộ nghèo giảm đi nhờ có dự án
NR 1 R: tỷ lệ số hộ nghèo trong vùng hưởng lợi khi chưa có dự án
NR 0 R: tỷ lệ số hộ nghèo trong vùng hưởng lợi khi có dự án
1.4.4 2 Nhóm chỉ tiêu phân tích chi phí và lợi ích
1 Chỉ tiêu giá trị hiện tại dòng - NPV
Tổng quát NPV được xác định theo công thức:
t t t
r
C B NPV
Trang 27Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, người ta có thể xác định NPV như sau:
1 1 r C
C B NPV
T t
t t
t t t
r
H r
C B NPV
) 1 ( 1
- BR t R(Benefit) là thu nhập do dự án mang lại ở năm thứ t;
- CR t R(Cost): là tổng chi phí thực của dự án ở năm thứ t;
- T là tuổi thọ kinh tế của dự án;
- r là lãi suất chiết khấu;
- CR o R là giá trị còn lại của dự án trước đó, ở thời điểm đầu năm 0
- H là giá giải thể của công trình tại cuối năm thứ T
NPV là giá trị ròng quy về hiện tại của dự án đầu tư, ngoài ra cũng là mọi chi phí và thu nhập của dự án thuộc dòng tiền tệ đều đã tính trong NPV Mọi dự án khi phân tích kinh tế, nếu NPV > 0 đều được xem là có hiệu quả Điều này cũng có nghĩa là khi NPV = 0 thì dự án được xem là hoàn vốn, khi NPV < 0 thì dự án không hiệu quả và không nên đầu tư dưới góc độ hiệu quả kinh tế Tổng quát là như vậy, nhưng trong thực tế, khi phân tích hiệu quả kinh tế một dự án đầu tư, có khả năng xảy ra một số trường hợp sau:
- Trường hợp các dự án độc lập tức là các dự án không thay thế cho nhau được Trong trường hợp này nếu lượng vốn đầu tư không bị chặn, thì tất
cả các dự án NPV > 0 đều được xem là nên đầu tư;
- Trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau, tức là nếu đầu tư cho dự án này thì không cần đầu tư cho dự án kia và ngược lại, thì dự án nào có NPV lớn nhất, được coi là dự án có hiệu quả kinh tế cao nhất và nên đầu tư nhất;
Trang 28- Trường hợp có nhiều dự án độc lập và đều có chỉ tiêu NPV > 0, trong khi vốn đầu tư có hạn, thì cần chọn các dự án với tổng số vốn nằm trong giới hạn của nguồn vốn, đồng thời NPV phải lớn nhất Và trong trường hợp này nên sử dụng thêm một số chỉ tiêu kinh tế khác để so chọn
Giá trị hiện tại ròng NPV là một chỉ tiêu có những ưu điểm đặc biệt Việc sử dụng chỉ tiêu này rất đơn giản Nó phản ánh một cách đầy đủ các khía cạnh của chi phí và kết quả Hiệu quả của dự án được biểu hiện bằng một đại lượng tuyệt đối cho ta một hình dung rõ nét và cụ thể về lợi ích mà dự án mang lại Tuy nhiên, độ tin cậy của chỉ tiêu này phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu
2 Chỉ tiêu tỷ số lợi ích và chi phí - B/C
Tỷ số lợi ích và chi phí (Benefit-Cost Ratio) còn có tên là Hệ số kết quả chi phí ký hiệu B/C (hoặc BCR) là tỷ lệ giữa tổng giá trị quy về hiện tại của dòng thu với tổng giá trị quy về hiện tại của dòng chi phí (gồm cả chi phí về vốn đầu tư và chi phí vận hành)
Từ định nghĩa, chúng ta có công thức tính B/C như sau:
∑
∑
=
= +
+
= T
t
t t
T t
t t
r C r
B C
B
0
0 ) 1 (
) 1 (
Trong đó:
- B/C tỷ số lợi ích - chi phí;
- t thời điểm tính toán, thường là cuối các năm, t = 0, 1,2,…;
- BR t R - tổng thu nhập của dự án trong năm t;
- CR t R - tổng chi phí của dự án trong năm t;
- T là tuổi thọ kinh tế của dự án;
- r là lãi suất chiết khấu;
Trang 29Một dự án được coi là có hiệu quả kinh tế, thì tỷ số B/C phải lớn hơn 1 Điều này cũng có nghĩa là tổng giá trị quy về hiện tại của thu nhập (tử số) lớn hơn tổng giá trị quy về hiện tại của chi phí (mẫu số) Như vậy, điều kiện này cũng chính là đảm bảo NPV > 0 và IRR > r* Chỉ tiêu B/C không nên sử dụng trực tiếp để lựa chọn giữa các dự án loại trừ nhau hoặc lựa chọn giữa các dự
án độc lập khi vốn đầu tư có hạn
3 Chỉ tiêu Hệ số nội hoàn - IRR
Hệ số nội hoàn (Hay hệ số hoàn vốn nội tại; Tỷ lệ sinh lãi nội tại - The
internal rate of return - IRR) của một dự án được định nghĩa là hệ số chiết
khấu (discount rate) khi mà giá trị hiện tại của luồng tiền vào, ra bằng không
Nói một cách khác, IRR là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV = 0 Nghĩa là:
) 1 ( 0
= +
−
∑
=
T t
t t t
r
C B
Lúc này r = IRR Như vậy có thể viết lại công thức (3.10) như sau:
) 1 (
0
= +
−
∑
=
T t
t t t
IRR
C B
Tuy nhiên, một dự án thường kéo dài qua nhiều thời đoạn (nhiều năm) Trong từng thời đoạn, người ta nhận được một khoản thu ròng qua các hoạt động kinh tế của dự án và tiền trích ra để khấu hao cho đầu tư ban đầu Tùy thuộc vào phương thức sử dụng số tiền có được đó mà người ta có các loại chỉ
số Suất thu lợi khác nhau
Trang 30Để tính IRR, có thể sử dụng phương pháp thử dần, đơn giản hơn là dùng công thức tính đã được lập sẵn trong phần mềm Excel (ở trong mục Insert – Function, - Finalcial - IRR), sau đó đưa các số liệu cần thiết vào sẽ cho giá trị IRR với độ chính xác cao và nhanh chóng
Sử dụng IRR trong đánh giá hiệu quả đầu tư
Hiện nay IRR là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả đầu tư, vì việc tính toán IRR chỉ cần dựa vào một tỷ lệ chiết khấu tính sẵn (định mức chọn trước gọi là Suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (r ) - đó là
tỷ suất dùng làm hệ số chiết tính để tính toán các giá trị tương đương cũng như để làm “ngưỡng” trong việc chấp nhận hay bác bỏ một phương án đầu tư) Về bản chất IRR rất giống với tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư, vì vậy nó cũng rất dễ hiểu đối với mọi người
Tuy nhiên, IRR cũng có một số hạn chế Chẳng hạn IRR không thể sử dụng để lựa chọn giữa các dự án độc lập khi vốn đầu tư có giới hạn Để tính được IRR, trong dòng tiền nhất thiết phải có ít nhất một thời đoạn trong đó thu nhập ròng mang dấu âm (tổng chi phí lớn hơn tổng thu nhập) bởi vì trong trường hợp ngược lại thì NPV luôn lớn hơn không với mọi r (phương trình 1.15 sẽ vô nghiệm)
Khi sử dụng chỉ tiêu IRR trong phân tích ta cần chú ý một số trường hợp sau đây:
- Trường hợp các dự án độc lập và vốn đầu tư không bị giới hạn thì tất
cả các dự án có IRR lớn hơn hoặc bằng tỷ suất chiết khấu quy định, thì dự án được xem là có hiệu quả kinh tế;
- Đối với các dự án loại trừ nhau thì sử dụng chỉ tiêu IRR sẽ không hoàn toàn chính xác, trường hợp này nên sử dụng chỉ tiêu NPV;
Trang 31- Trường hợp có nhiều dự án độc lập với IRR lớn hơn với tỷ lệ chiết khấu quy định trong khi nguồn vốn đầu tư có hạn thì không thể sử dụng chỉ tiêu IRR để lựa chọn mà phải dùng các chỉ tiêu khác
dựng công trình thủy lợi
1.5.1 Những nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn lập dự án đầu tư
Chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng2T 2Tđược thực hiện thông qua chủ trương đầu tư trên cơ sở : Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; Quy hoạch xây dựng;2T 2TNguồn vốn thực hiện;2T 2THiệu quả kinh tế xã hội của dự án
Để thực hiện công việc này người 2T 2Tquyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư phải lập "báo cáo chuẩn bị đầu tư", hay là báo cáo "tiền khả thi"
Thực hiện giai đoạn này nhanh có ý nghĩa rất lớn đến hiệu quả dự án, nhất là tính "thời cơ" của dự án (dự án sản xuất điện khi đang thiếu điện nghiêm trọng, dự án sản xuất phân đạm khi thị trường đang khan hiếm và giá
cả tăng cao, dự án cung cấp nhà văn phòng khi nhu cầu rất lớn của doanh nghiệp )
Trong giai đoạn lập dự án đầu tư cần phải thực hiện qua các giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị lập dự án đầu tư, Giai đoạn thẩm định dự án và quyết định đầu tư Trong mỗi giai đoạn có rất nhiều nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án:
1.5.1.1 Chuẩn bị lập dự án đầu tư
1.2T 2TLựa chọn địa điểm quy mô dự án:2T
Đây là công việc khởi đầu của các chủ đầu tư trên cơ sở chủ trương đầu
tư đã được xác định việc lựa chọn địa điểm, quy mô dự án trừ dự án đã nằm trong khu công nghiệp, khu đô thị đã quy hoạch còn các dự án khác rất lúng túng khi triển khai do:
Trang 32- Nhiều dự án thời gian qua khâu khởi đầu lựa chọn địa điểm, quy mô
dự án thường bị kéo dài do quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết chưa có phải chờ đợi2T 2Tthỏa thuận2T 2Tcủa cơ quan hữu quan, từ đó xuất hiện cơ chế "xin cho" phát sinh tiêu cực, từ lựa chọn địa điểm, quy mô dự án, diện tích sử dụng, chiều cao công trình
- Mặt khác nhiều dự án không có vốn chuẩn bị đầu tư dẫn đến kéo dài giai đoạn chuẩn bị
2.2T 2TGiai đoạn khảo sát thu thập thông tin phục vụ cho lập dự án đầu tư:2T
Đây là giai đoạn rất quan trọng, quyết định địa điểm đầu tư từ kết quả thông tin về địa hình, địa chất, thủy văn, nguồn cấp nước, cấp điện, đến hệ thống giao thông kết nối, cung cấp nguyên liệu vật liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, đánh giá tác động môi trường
Tuy nhiên theo tổng kết của nhiều ngành, địa phương công tác khảo sát chưa được chú trọng đúng mức, thậm chí còn rất sơ sài dẫn đến hiệu quả đầu
tư kém, tiến độ kéo dài
- Nhiều đoạn đường, công trình xây dựng phải thay đổi địa điểm, thay đổi thiết kế, xử lý nền móng tốn kém, kéo dài
- Nhiều công trình không đồng bộ, kết nối hạ tầng, thiếu nguyên liệu dẫn đến tiến độ sử dụng kéo dài (nhà máy không có nguyên liệu, không đấu nối đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật )
3 Việc chấp hành quy định của Pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Để triển khai dự án đầu tư xây dựng chủ đầu tư phải thực hiện nhiều quy định của pháp luật liên quan như Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Đấu thầu Kèm theo đó là hàng loạt Nghị định, Thông tư hướng dẫn, nhiều địa phương còn2T 2T" bổ sung"2T 2Tthêm các quy định thủ tục Vì vậy để thực hiện các bước theo đúng trình tự các quy định pháp luật, chủ đầu tư phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính qua nhiều khâu,
Trang 33nhiều cửa Mặc dù đã có nhiều bổ sung sửa đổi nhưng vẫn còn nhiều quy định của pháp luật hướng dẫn thực hiện của địa phương còn thiếu thống nhất chồng chéo dẫn đến thời gian chuẩn bị kéo dài (riêng "căn cứ pháp lý" để quyết định một dự án đã phải viện dẫn hàng trang giấy với vài chục quy định khác nhau, hàng chục con dấu xác nhận của các cơ quan khác nhau ít nhất là
16 con dấu?)
Về thủ tục cuối cùng để triển khai dự án thuộc nguồn vốn nhà nước theo các quy định của pháp luật, việc quyết định phân bổ kinh phí và danh mục đầu tư từ ngân sách nhà nước phải căn cứ kế hoạch kinh tế xã hội và nguồn vốn ngân sách và phải trình Hội đồng Nhân dân Tuy nhiên nhiều địa phương không thực hiện đầy đủ dẫn đến đầu tư dàn trải, vì lợi ích cục bộ, bệnh thành tích, không có nguồn kinh phí thực hiện dẫn đến nợ đọng, công trình đình hoãn thi công, kéo dài thời gian thực hiện dự án
Mặt khác cũng cần xem lại quy định việc tất cả dự án phải lên danh mục, phương án phân bổ trình Hội đồng Nhân dân có gây chậm chễ và hình thức
- Theo quy định của pháp luật, chủ đầu tư, người quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm quyết định của mình (đặc biệt vốn nhà nước) Tuy nhiên do chế tài còn nhẹ, không nghiêm nên rất nhiều dự án vi phạm các quy định của pháp luật, bố trí công trình dàn trải, không có vốn triển khai, không đủ điều kiện cũng cho khởi công gây lãng phí, thất thoát, thi công chậm chễ, kéo dài không được xử lý nghiêm dẫn đến tình trạng này kéo dài trong nhiều năm và đến nay vẫn chưa được khắc phục
- Việc phân cấp quyết định đầu tư rất mạnh cho các cấp là cần thiết Tuy nhiên còn bất hợp lý do trình độ năng lực, số lượng cán bộ chuyên môn của các địa phương (các tỉnh, quận, huyện) rất khác nhau vì vậy không thể phân cấp cào 2T 2Tbằng, điều đó cũng dẫn đến công tác chuẩn bị đầu tư bị kéo dài
Trang 341.5 1.2 Giai đoạn thẩm định dự án và quyết định đầu tư
- Thẩm định dự án đầu tư trước khi quyết định đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt các dự án lớn có ảnh hưởng đến kinh tế, dân cư, môi trường Thực tế qua báo cáo của các bộ, ngành, địa phương với Đoàn Giám sát của UBTWQH, qua thực tế theo dõi phản ánh, chúng ta nhận thấy công tác thẩm định dự án đầu tư còn chưa được thực hiện theo quy định, nhiều dự
án còn làm chiếu lệ, nhiều đơn vị tư vấn thẩm định trình độ năng lực còn hạn chế, làm theo ý chủ đầu tư, ý chí của người quyết định đầu tư dẫn đến những hậu quả dự án đầu tư xây dựng chậm trễ, kéo dài, hiệu quả thấp
Mặt khác phải thừa nhận rằng còn có tình trạng quyết định đầu tư còn duy ý chí, quyết định theo cảm tính, đầu tư theo phong trào và có trường hợp
vì lợi ích cục bộ, của nhóm lợi ích
Cũng cần nói thêm rằng nhiều dự án khi quyết định đầu tư chưa thực hiện công khai, minh bạch, không thực hiện việc lấy ý kiến dân chủ tư vấn phản biện giám định xã hội của các nhà khoa học, của người dân một cách khách quan khoa học Nhiều trường hợp lấy ý kiến một cách hình thức, chiếu
4 Thông báo và ra quyết định thu hồi đất
5 Kê khai, kiểm đếm, và xác định nguồn gốc đất
Trang 356 Lập thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường
7 Phương án di dời tái định cư (nếu có)
8 Bàn giao đất sạch sau khi thu hồi
Theo trình tự trên bình quân phải mất 20 tháng (đặc biệt là các khâu 5,6,7) Thực tế nhiều công trình kéo dài 5,7 năm thậm chí hàng chục năm (việc chậm trễ2T 2TGPMB2T 2Tdiễn ra ở hầu hết các địa phương trong cả nước, ở tất cả các loại dự án công trình thuộc các nguồn vốn khác nhau)
Nguyên nhân của sự chậm chễ của giai đoạn2T 2TGPMB2T 2Tđã được nhiều hội thảo, nhà quản lý, doanh nghiệp, chuyên gia đánh giá có thể tóm tắt một số nguyên nhân chính sau:
- Cơ chế, chính sách, quy định liên quan về đền bù2T 2TGPMB2T 2Tcòn bất cập liên quan đến quyền lợi trực tiếp của người dân "bị giải phóng mặt bằng" tập trung vào các nội dung:
+ Giá đền bù thiếu nhất quán và không phù hợp
+ 2T 2TNơi và điều kiện tái định cư Không phù hợp "không bằng và tốt hơn nơi ở cũ" đặc biệt là không đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
+ 2T 2TCông ăn việc làm và điều kiện học nghề của dân cư bị thu hồi đất chưa được quan tâm thực hiện dẫn đến nhiều vấn đề xã hội nẩy sinh phức tạp
- 2T 2TLoại hình dự án để thực hiện2T 2TGPMB2T 2Tthu hồi, đền bù đất còn thiếu rõ ràng giữa dự án phục vụ quốc phòng an ninh, lợi ích công cộng khác với dự
án kinh doanh liên quan phương án, chính sách2T 2TGPMB,2T 2Tđặc biệt lợi nhuận của
dự án kinh doanh chênh lệch quá lớn giữa chủ đầu tư và người bị thu hồi đất gây nên sự khiếu kiện phổ biến, kéo dài
- Các tổ chức tư vấn lập phương án2T 2TGPMB, các ban2T 2TGPMB2T 2Tkhông chuyên nghiệp, lúng túng bị động
Trang 36- Kinh phí đền bù2T 2TGPMB2T 2Tchưa phù hợp, nhà "tái định cư" chất lượng kém, không đồng bộ và chưa phù hợp (nhiều dự án người dân đã chuyển cho chủ khác chiếm 50 - 70% căn hộ) Vì vậy cần nghiên cứu thay đổi sang phương thức đền bù theo giá thị trường, người dân được lựa chọn nơi ở mới phù hợp với khả năng tài chính, sinh hoạt, môi trường sống Nhà nước không xây dựng nhà tái định cư giá rẻ trừ các dự án ở miền núi, vùng sâu vùng xa
- 2T 2TCác chế tài còn chưa đồng bộ và chưa đủ mạnh
1.5 2.2 Giai đoạn lập thiết kế kỹ thuật
1 Lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế:2T 2T
Thông qua đấu thầu tư vấn thiết kế để chọn đơn vị tư vấn thiết kế phù hợp, có uy tín, kinh nghiệm là điều kiện đảm bảo triển khai dự án có hiệu quả, đảm bảo tiến độ của dự án, trong đó thể hiện:
- Thời gian hoàn thành thiết kế, dự toán
- Chất lượng của thiết kế: tốt sẽ hạn chế tối đa sự cố, sửa đổi bổ sung kéo dài giai đoạn thi công
- Chất lượng của dự án tốt sẽ phục vụ tốt cho hồ sơ mời thầu, đảm bảo quá trình thực hiện dự án không lãng phí, không bị động thiếu vốn ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện
Thời gian qua lực lượng tư vấn thiết kế đã lớn mạnh nhanh chóng hàng chục ngàn đơn vị ra đời2T 2Tđã góp phần quan trọng vào việc đáp ứng được yêu cầu của các chủ đầu tư thực hiện các nguồn vốn khác nhau Tuy nhiên lực lượng các nhà thầu tư vấn có chất lượng còn chưa nhiều, còn khá nhiều đơn vị
tư vấn được thành lập theo luật doanh nghiệp quá dễ dãi mang tính hình thức, chất lượng thấp, nhiều lĩnh vực chuyên ngành mới tư vấn thiết kế còn thiếu và yếu kém (công nghiệp hóa chất, hệ tự động, cầu vượt khẩu độ lớn, nhà cao - siêu cao tầng ) dẫn đến nhiều thiết kế không phù hợp phải bổ sung, sửa đổi
Trang 37gây tốn kém, kéo dài thời gian (công trình lún sụt, thiết kế mâu thuẫn không đồng bộ giữa công nghệ và xây dựng, giữa hệ thống thông gió, điện năng, điện nhẹ, tự động và xây dựng phải nhiều lần chờ đợi, sửa đổi )
2 Giai đoạn lựa chọn tư vấn thẩm định
Thẩm định thiết kế, dự toán giữ vai trò rất quan trọng, phát hiện kịp thời các sai sót (nếu có), kiến nghị các sửa đổi, bổ sung ngay từ giai đoạn thiết
kế điều đó hạn chế sai phạm và giảm tình trạng sửa đổi, bổ sung trong quá trình triển khai
Với tầm quan trọng như vậy đòi hỏi Công ty Tư vấn thẩm định, các cá nhân trực tiếp thẩm định có trình độ năng lực, kinh nghiệm Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều trường hợp 2T 2Tthẩm định còn hình thức, chế độ trách nhiệm, chế tài còn thiếu cụ thể Mặt khác do chưa coi trọng đúng mức công tác này nên phí thẩm định rất thấp không đảm bảo điều kiện chất lượng thẩm định là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai phạm trong thiết kế phải sửa đổi bổ sung làm ảnh hưởng đến tiến độ công trình
3 Giai đoạn đấu thầu thi công xây lắp
Đây là giai đoạn rất quan trọng để lựa chọn nhà thầu có năng lực, uy tín 2T 2Tthực hiện giai đoạn quan trọng và khó khăn nhất của dự án quyết định đến việc hoàn thành tiến độ, chất lượng và giá thành của dự án
Thông qua các quy định của Luật Đấu thầu, chủ đầu tư các dự án từ các nguồn vốn khác nhau thực hiện việc lựa chọn các nhà thầu phù hợp với dự án Đối với dự án có nguồn vốn của doanh nghiệp nước ngoài, của doanh nghiệp
tư nhân là người2T 2T" chủ thực sự"2T 2Tcủa dự án thường được tổ chức đấu thầu rất2T 2T" bài bản", từ đó lựa chọn được các nhà thầu phù hợp dẫn đến việc thi
công đảm bảo tiến độ theo yêu cầu của chủ đầu tư Điều đặc biệt cần lưu ý là
khi đã lựa chọn được nhà thầu họ chuẩn bị rất kỹ các điều khoản ràng buộc trong Hợp đồng kinh tế liên quan:
Trang 38- Chế độ phạt, dừng hợp đồng nếu không đảm bảo tiến độ
- Thực hiện các biện pháp thi công theo đúng các giải pháp trong hồ sơ
Điều đó dẫn đến nhiều dự án bị chậm tiến độ, hiệu quả thấp
Mà nguyên nhân là do:
- Năng lực chủ đầu tư nhất là nhiều chủ đầu tư từ nguồn vốn nhà nước
là các đơn vị không có chuyên môn về xây dựng (Công trình thủy lợi, Bệnh viện, Trường học, công trình văn hóa thể thao, trụ sở cơ quan ), năng lực các công ty tư vấn lập hồ sơ mời thầu, hội đồng chấm thầu hạn chế, thiếu chuyên nghiệp
- Hiện tượng cục bộ, địa phương, nể nang trong tổ chức lựa chọn nhà thầu (kể cả đấu thầu và chỉ định thầu), còn hiện tượng tiêu cực2T 2T"quân xanh, quân đỏ", cho các công ty2T 2T"sân sau"2T 2Tcủa chủ đầu tư hoặc người quyết định đầu tư
- Một số quyết định của Luật Đấu thầu chưa cụ thể, chưa phù hợp, rất
dễ hiểu là chỉ chọn đơn vị có giá bỏ thầu rẻ nhất mà không tính đến đầy đủ
Trang 39năng lực đảm bảo tiến độ và chất lượng nhà thầu (có đủ 70 điểm kỹ thuật là được đấu thầu giai đoạn2T 2T" đấu giá", đơn vị đạt 70 điểm khác đơn vị đạt 90
điểm là gì? Cá nhân sẽ trực tiếp quản lý dự án là ai, năng lực, kinh nghiệm và
uy tín của họ thế nào, năng lực thiết bị thi công của nhà thầu thế nào? đều2T 2Tquyết định đến tiến độ, chất lượng của dự án).2T 2TĐiều đáng lưu ý là hiệu quả kinh tế xã hội khi dự án hoàn thành vượt tiến độ là rất lớn thậm chí dù giá chào thầu có2T 2Tcao hơn - Nhưng hiệu quả cuối cùng do đưa dự án vào sản xuất,
sử dụng sớm lại có kết quả cuối cùng là tốt hơn
4 Giai đoạn thi công xây lắp
Đây là giai đoạn quyết định thực hiện dự án đầu tư đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả Nó phụ thuộc vào các yếu tố sau:
a Năng lực chủ đầu tư, tư vấn giám sát
Năng lực chủ đầu tư, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công phù hợp với yêu cầu của dự án là một trong những yếu tố quyết định thực hiện dự án đạt hiệu quả tốt nhất Về năng lực chủ đầu tư đã được đề cập đến trong nhiều cuộc hội thảo cũng như được sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật nhằm lựa chọn chủ đầu tư phù hợp nhất, đặc biệt liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của chủ đầu tư, trong thực tế đã chứng minh khi chủ đầu tư có năng lực, trình độ thực hiện tốt vai trò trách nhiệm, quyền hạn của mình, là ông chủ thực sự thì dự án đạt hiệu quả và tiến độ (như các báo cáo tham luận trình bày tại Hội thảo) Tuy nhiên các chủ đầu tư có nguồn vốn nhà nước, vai trò2T 2T" Ông chủ"2T 2Tthực sự chưa được thực hiện tốt Một mặt do các quy định trách nhiệm còn thiếu cụ thể, nhiều chủ đầu tư không phải là người trực tiếp quản lý sử dụng khi dự án hoàn thành hoặc ngược lại nhiều chủ đầu tư là đơn
vị trực tiếp quản lý dự án không có đủ năng lực, cán bộ chuyên môn (ngành Văn hóa, Thể thao, Y tế, Giáo dục ) lại chưa thực hiện tốt việc thuê tư vấn quản lý dự án trong điều kiện ở Việt Nam đơn vị tư vấn quản lý dự án còn
Trang 40chưa chuyên nghiệp, chưa đủ mạnh trong khi phí quản lý dự án còn thấp (nhất
là ở vùng sâu, vùng xa, công trình nhỏ lẻ )
(Điều đáng chú ý nghiên cứu, áp dụng là ở các nước phát triển, các
"ông chủ" thường thuê2T 2T"đơn vị quản lý dự án chuyên nghiệp thực hiện")
Đây là vấn đề không mới nhưng vẫn chưa thực hiện tốt Vì vậy cần phân tích đánh giá đầy đủ để quản lý dự án được tốt hơn
Một số vấn đề khác cần xem xét là các chế tài đối với các chủ đầu tư còn thiếu nghiêm minh, hàng loạt công trình tiến độ chậm, kéo dài đều không được xử lý nghiêm vì 2T 2Tđều đổ tại lý do khách quan
Riêng tư vấn giám sát (do chủ đầu tư thành lập hoặc thuê tư vấn giám sát) là yếu tố hết sức quan trọng để giám sát xử lý hiện trường và tư vấn cho chủ đầu tư Ở các nước lực lượng này được hết sức coi trọng, tư vấn giám sát chuyên nghiệp tập hợp, lựa chọn những cán bộ - chuyên gia giỏi có nhiều kinh nghiệm để tham gia giám sát, quản lý dự án, họ cũng được coi trọng, hưởng các chế độ đãi ngộ thích đáng xứng với trình độ năng lực cũng như thời gian làm việc ngày đêm bám sát hiện trường của họ
b Năng lực nhà thầu thực hiện dự án:
Với tốc độ đầu tư phát triển rất nhanh lực lượng các nhà thầu xây lắp trong nước phát triển rất mạnh với hàng vạn nhà thầu, đồng thời nhiều dự án cho đấu thầu quốc tế nên nhiều nhà thầu nước ngoài đã thắng thầu để thực hiện dự án Vì vậy các nhà thầu đã thực hiện được nhiều công trình có ý nghĩa kinh tế, xã hội của đất nước Từ các công trình công nghiệp đến các công trình phúc lợi xã hội, nhà ở Tuy nhiên năng lực nhà thầu còn bất cập là nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp đến đảm bảo tiến độ các dự án
- Đối với nhà thầu trong nước: Do tốc độ phát triển các doanh nghiệp
quá nhanh do việc đăng ký hành nghề theo Luật Doanh nghiệp quá dễ dãi nên chất lượng nhà thầu còn hạn chế từ cán bộ quản lý, thiết bị thi công, trình độ