M ục đích của đề tài: Kết quả n ghiên cứu nhằm góp phần giúp cho các cơ quan quản lý , các hộ dùng nước trong việc bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt, nước ngầm một cách k
Trang 1Luận văn thạc sĩ với đề tài “NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN” được nghiên cứu và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Minh Hằng - Khoa Môi trường, Trường Đại học Thủy Lợi
Với sự giúp đỡ tận tình, chi tiết và cụ thể của TS Nguyễn Thị Minh Hằng và các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, sự giúp đỡ của bạn bè, sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường luận văn thạc sỹ
của tôi đã được hoàn thành
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, xây dựng luận văn, tôi luôn nhận được sự quan tâm hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Minh Hằng Bên cạnh đó tôi còn nhận được sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè đồng nghiệp để hoàn thành bản
luận văn này Qua đây tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu đó
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong muốn nhận được
những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các chuyên gia, các bạn đọc để tôi hoàn thiện hơn nữa
Một lần nữa tôi xin trân thành cảm ơn
Hà N ội, tháng 09 năm 2013
Tác gi ả
Nguy ễn Ngọc Quốc
Trang 2Tên tôi là: Nguy ễn Ngọc Quốc Mã số học viên: 118608502010
L ớp: Cao học 19 MT
Chuyên ngành: Khoa h ọc môi trường Mã số: 60-85-02
Khóa h ọc: 2011-2013
Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn của TS Nguyễn Thị Minh Hằng với đề tài nghiên cứu trong luận văn
“NGHIÊN C ỨU GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC ĐẢO PHÚ QUÝ, T ỈNH BÌNH THUẬN”
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không giống với các đề tài luận văn nào trước đây, do đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu và sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn
Nếu xảy ra vấn đề gì với nội dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Nguy ễn Ngọc Quốc
Trang 3Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC
VÙNG HẢI ĐẢO – GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẢO PHÚ QUÝ 4
1.1.Tổng quan các nghiên cứu về môi trường nước ở các vùng hải đảo 4
1.1.1.Tổng quan nghiên cứu về môi trường nước ở các vùng hải đảo trên thế giới……… 4
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về môi trường nước ở các vùng hải đảo ở Việt Nam……….11
1.2.Giới thiệu chung về đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 14
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.2.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội: 18
1.2.3 Đặc điểm môi trường sinh thái 27
Chương 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 28
TRÊN ĐẢO PHÚ QUÝ 28
2.1 Đánh giá hiện trạng, xu thế biến động của nguồn nước trên đảo Phú Quý: 28
2.1.1 Ngu ồn nước mưa: 28
2.1.2 Ngu ồn nước mặt: 31
2.1.3 Nguồn nước ngầm: 33
2.2 Hiện trạng việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên đảo Phú Quý 44
2.2.1 T ổng lượng nước khai thác, sử dụng: 44
Trang 42.2.4 S ử dụng nước cho sản xuất 47
2.3 Hiện trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn nước 47
2.3.1 Hi ện trạng môi trường nước mặt 47
2.4 Dự báo nhu cầu sử dụng nước và khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng của nguồn nước 48
2.4.1 Nhu c ầu khai thác sử dụng: 48
2.4.2 Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu của nguồn nước 54
2.5 Kết luận chương 2 59
Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN ĐẢO PHÚ QUÝ 60
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp: 60
3.2 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước trên đảo Phú Quý 61
3.2.1 Các giải pháp bảo vệ nguồn nước mặt, nước ngầm: 61
3.2.2 Các gi ải pháp bảo vệ chất lượng nước: 65
3.2.3 V ề vấn đề thực hiện các giải pháp và lựa chọn giải pháp ưu tiên 68
3.3 Nghiên cứu giải pháp xây dựng tường ngăn nước ngầm 69
3.3.2 Các phương án xây dựng tường 76
3.3.3 Các thông s ố kỹ thuật chủ yếu của tường ngăn nước ngầm 77
3.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của tường ngăn nước ngầm tới kinh tế, xã hội, sinh thái và môi trường nước trên đảo Phú Quý 79
Trang 53.4.1 Đối với cơ sở nuôi trồng và chế biến thủy hải sản 83
3.4.2 Đối với nguồn nước sinh hoạt của khu vực dân cư: 84
3.4.3 Đối với các giếng khoan khai thác nước không còn sử dụng: 86
KẾT LUẬN 90
Trang 6Hình 2-1 Biểu đồ đặc trưng lượng mưa tháng trên đảo (giai đoạn 1995 - 2011) 29
Hình 2-2: Biểu đồ lượng mưa, bốc hơi trung bình tháng (giai đoạn 1995 – 2011) 31
Hình 2-3: Sơ đồ dòng chảy mặt không thường xuyên trên đảo 32
Hình 2-4: Sơ đồ vị trí các giếng lấy mẫu nước ngầm trên đảo Phú Quý 34
Hình 2-5 Nồng độ Tổng chất rắn hòa tan tại một số giếng nước ở đảo (mg/l) 35
Hình 2-6a Nồng độ Sulfat tại một số giếng nước ở đảo Phú Quý (mg/l) 35
Hình 2-6b Nồng độ Nitrat tại một số giếng nước ở đảo Phú Quý (mg/l) 36
Hình 2-7a Nồng độ clorua tại các giếng nước trên đảo Phú Quý (mg/l) 37
Hình 2-7b Nồng độ clorua tại các giếng nước trên đảo Phú Quý (mg/l) 38
Hình 2- 8: Biểu đồ Piper và các quá trình liên quan 41
Hình 2- 8a: Biểu đồ Piper tầng chứa nước Holocen Đảo Phú Quý 42
Hình 2-8b: Biểu đồ Piper tầng chứa nước khe nứt trong Bazan nứt nẻ, tầng Pleistocen trung- thượng (βQ1) 43
Hình 2-9 Cơ cấu sử dụng nước của các nghành 44
Hình 3.1 Một mặt cắt ngang điển hình của xâm nhập từ nước biển vào một tầng nước ngầm ven biển (Bear, 1979, Hydraulics of Groundwater McGraw-Hill, NewYork) 70
Hình 3.2 Ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn 71
Hình 3.3 Sự hình thành phễu khi có giếng khai thác nước ngầm 73
Hình 3.4 Khi chưa có giếng khai thác nước ngầm 73
Hình 3.5 Khi có giếng khai thác nước ngầm 74
Hình 3.6 Khi xây dựng tường và có chắn giếng khai thác nước ngầm 74
Hình 3.7 Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung bơm dẫn nước ngầm cho các khu vực dân cư 85
Hình 3.8 Chất ô nhiễm đi từ bề mặt thấm xuống các tầng chứa nước 87
Hình 3 9 Chất ô nhiễm đi từ các giếng không còn khai thác sử dụng thấm xuống các tầng chứa nước 88
Trang 7B ảng 1-1: Lượng mưa trung bình tháng trong giai đoạn 1995-2011 tại trạm
quan tr ắc Phú Quý (đơn vị: mm) 17
B ảng 2-1: Lượng mưa ngày lớn nhất theo các tháng tại trạm quan trắc Phú Quý:29 B ảng 2-2: Tổng hợp số ngày mưa trung bình tháng 30
B ảng 2.3 Thống kê một số hộ khai thác nước dưới đất cho tưới bằng giếng khoan 45
B ảng 2.4: Thống kê các điểm cấp nước theo hình thức tập trung 46
B ảng 2.5: Tổng lượng nước sản xuất dự báo đến năm 2020 50
B ảng 2 6 Tổng lượng nước sinh hoạt dự báo đến năm 2000 50
B ảng 2.7 Tổng lượng nước tưới dự báo đến năm 2020 51
B ảng 2.8 Tổng lượng nước sản xuất dự báo đến năm 2020 52
B ảng 2.9 Tổng nhu cầu sử dụng nước dự báo đến năm 2020 53
B ảng 2.10 Lượng mưa có thể khai thác theo quy mô hộ gia đình 56
Trang 8BVTV : B ảo vệ thực vật
UNICEF : T ổ chức nhi đồng Liên Hợp Quốc
Trang 9Tại Việt Nam cũng có những khu vực khai thác nước ngầm mạnh mẽ vượt
quá khả năng tái tạo của nước ngầm và d ẫn đến những tác động xấu đến môi trường Ở một số vùng như các hải đảo Việt Nam, nước mưa được coi là một nguồn tài nguyên nước ngọt quý giá Đặc biệt, trên các hải đảo, do đặc điểm địa hình tự nhiên, nhiều nơi không cho phép việc xây dựng các hồ chứa nước ngọt trên mặt đất
vì các hồ này thường chiế m nhiều diện tích đất đai Khi có mưa, nước mưa một
phần sẽ ngấm xuống đất bổ xung cho nước ngầm, một phần sẽ chảy nhanh ra biển
do các sông trên các vùng này thường ngắn, có khi độ dốc lớn Nước ngầm theo
thời gian cuối cùng cũng sẽ chảy ra biển, làm giảm trữ lượng nước trong đất Tại
những vùng ven biển, hiện tượng xâm nhập mặn vào tầng nước ngầm cũng thường hay xảy ra dẫn đến làm gi ảm trữ lượng tài nguyên nước Hơn nữa, khi các hoạt động khai thác nước ngầm ở đây diễn ra vượt quá khả năng tái tạo, thì nguồn nước
ngầm sẽ bị suy giảm, mực nước ngầm bị hạ thấp và dao động lớn Đây là một trong
những nguyên nhân gây ra những vấn đề môi trường dẫn đến sự sụt lún đất trên
diện rộng và xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước ngầm
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước phải "bảo đảm việc khai thác nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt quá trữ lượng có thể khai thác đối với các tầng chứa nước; đồng thời "bảo đảm gắn
kết quy hoạch phát triển bền vững tài nguyên nước với các quy hoạch bảo vệ, khai
Trang 10thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra và các quy
hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh
tế, xã hội và quy hoạch quốc phòng - an ninh" (Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020) [2]
Thực tế đó đang đặt ra những thách thức trong việc nghiên cứu nhằm bảo vệ, khai thác hợp lý và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước mà trong đó nư ớc ngầm là
một dạng tài nguyên nước rất quan trọng Nguồn nước ngầm này thường có tr ữ lượng lớn và là ngu ồn duy nhất bổ sung cho nguồn nước mặt nhằm thoả mãn yêu
cầu dùng nước của con người
Đảo Phú Quý hiện nay đang được xác định là một trong những đảo trọng điểm của nước ta về phát triển các lĩnh vực như kinh tế, an ninh, quốc phòng Ngoài
việc đẩy nhanh phát triển về vật chất và cơ sở hạ tầng, đảo Phú Quý đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và du lịch trong những năm tới
Cùng với những mục tiêu phát triển kinh tế như phấn đấu tăng trưởng GDP giai đoạn 2010 - 2020 trên 14%, thu nhập theo đầu người vào năm 2010 là 1.142 USD trở lên, ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội [7]
Như vậy, với định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho đảo Phú Quý trong giai đoạn sắp tới, thì nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng cao, đặc biệt đối với
một số ngành kinh tế như sản xuất chế biến hải sản Nhu cầu sử dụng nước gia tăng,
nếu như không có giải pháp khai thác sử dụng một cách hợp lý sẽ gây ra những tác
động xấu ảnh hưởng đến nguồn nước như suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt,
nước ngầm cũng như nguy cơ xâm nhập mặn nguồn nước ngầm là rất lớn
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
b ảo vệ môi trường nước trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận” là rất cần thiết
trong giai đoạn hiện nay, nhằm định hướng cho việc quản lý, khai thác, sử dụng
hiệu quả nguồn nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đảo, đồng
Trang 11thời giúp cho việc bảo vệ phát triển bền vững tài nguyên nước ở trên đảo Phú Quý,
tỉnh Bình Thuận
2 M ục đích của đề tài:
Kết quả n ghiên cứu nhằm góp phần giúp cho các cơ quan quản lý , các hộ dùng nước trong việc bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt, nước ngầm
một cách khoa học, hợp lý và bền vững để phát triển bền vững môi trường , kinh tế,
xã hội đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận trong tương lai
3 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Thu nhập và xử lý các số liệu về điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội, môi trường tại khu vực nghiên cứu
- Phương pháp phân tích , đánh giá số liệu: Dựa trên các số liệu đã thu thập
được tiến hành phân tích, đánh giá các chuỗi số liệu đó
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các dự án quy
hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đảo đã có
- Phương pháp so sánh và tư vấn chuyên gia : Lấy ý kiến chuyên gia , so sánh
các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn môi trường Việt Nam
Trang 12Chương 1:
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÙNG HẢI ĐẢO – GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẢO PHÚ QUÝ
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về môi trường nước ở các vùng hải đảo
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về môi trường nước ở các vùng hải đảo trên thế giới
Cùng với sự phát triển của kinh tế cùng với sự gia tăng của dân số thì nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng Trái lại, về điều kiện tự nhiên các đảo vừa và nhỏ thì nguồn nước ngọt tại các khu vực này lại vô cùng khan hiếm Nguồn nước trong các đảo bao gồm nước mưa, nước ngọt, nước ngầm
Nước mưa rơi trên bề mặt đảo phần lớn thoát ra biển, một phần thấm xuống đất Phần thấm xuống đất một phần được trữ trong các lớp không bão hòa nằm trên mực nước ngầm, một phần thấm xuống cung cấp cho nước ngầm, một phần nhỏ được trữ trong các hồ ao hoặc các vùng trũng Nước trữ trong các lớp đất không bão hòa thường xuyên nằm trên mực nước ngầm Nước ngầm cũng như nước mưa trữ trong các vùng trũng được thoát dần ra biển đồng thời bị bốc hơi rất nhanh
Nước ngầm thực chất là một loại khoáng sản lỏng, cung cấp cho các ngành công nghiệp, cho sinh hoạt dân dụng, phục vụ cho nông nghiệp Nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của con người Trong nhiều trường hợp nước ngầm sạch hơn nước mặt Hơn nữa nước ngầm thường được bảo vệ chống lại ô nhiễm từ bề mặt bởi đất và các tầng đá
Vì nước ngầm là một tài nguyên rất quý giá nên việc đánh giá sự biến đổi của nguồn nước và nghiên cứu các giải pháp bảo vệ nguồn nước cho các vùng biển đảo, đặc biệt là các đảo vừa và nhỏ là nhiệm vụ hết sức quan trọng
Trang 13Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, ô nhiễm nước ở các lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến trình phát triển của công nghiệp hóa Có thể kể đến những ví dụ điển hình như:
Ở nước Anh vào đầu thế kỷ XIX, sông Tamise rất sạch Nó như là một cống lộ thiên vào giữa thế kỷ XX Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta buộc phải đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt
Nước Pháp với diện tích rộng hơn, các cơ sở sản xuất công nghiệp phân tán và nhiều sông lớn Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ XVIII Nhưng khi tốc độ phát triển kinh tế càng nhanh đặc biệt là ngày càng nhiều các cơ sở sản xuất công nghiệp từ đó tình hình đã thay đổi: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp thường xuyên bị ô nhiễm Sông Rhine chảy qua vùng công nghiệp hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bale năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên
Ở Hoa Kỳ tình trạng ô nhiễm nước cũng tồi tệ ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác Vùng hồ lớn bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng
Những chỉ tiêu hiểm hoạ nhiễm mặn quan trọng hơn cả đã được xác định trong nhiều công trình nghiên cứu, bao gồm: Độ mặn của đới thông khí, độ mặn của nước ngầm, lớp phủ thực vật, lượng mưa, các thông số của tầng chứa nước, sự có mặt của một lớp vỏ phong hoá mãnh liệt, lượng bốc hơi, độ sâu mực nước ngầm, địa hình và loại đất
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất chủ yếu ở nhiều quốc gia và vùng dân cư trên thế giới Do vậy, ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường sống của con người
Theo thống kê của các nhà chuên môn nguồn nước ngầm chiếm 95% là nước ngọt cung ứng trên thế giới Việc khai thác nguồn nước ngầm được tiến hành từ lâu
ở các quốc gia phát triển Ở Hoa Kỳ, khoảng 50% nước uống cho dân cư (96% ở
Trang 14vùng ven và 20% ở đô thị), 40% lượng nước dùng để tưới tiêu đều được lấy từ nước ngầm
Do tốc độ tăng dân số quá nhanh và sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp… đòi hỏi nhu cầu về nước rất lớn Việc gia tăng nhu cầu sử dụng nước ngầm hiện nay đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm:
- Sự cạn kiệt nguồn nước ngầm: do sự khai thác lấy đi nhanh hơn sự bổ cập của nước làm cho nguồn nước ngầm trở nên cạn kiệt Thí dụ sự cạn kiệt nguồn nước ngầm đã xảy ra ở Thái Lan, California, miền Bắc Trung Quốc, Mexico và Ấn Ðộ
là do khai thác để tưới tiêu
- Sự lún sụt: Khi lớp nước ngầm ở cạn bị lấy đi nhanh tạo nên khoảng trống trong các lớp ngậm nước là nguyên nhân gây nên sự sụt lún Hiện tượng này đã xảy
ra vào năm 1981 ở California (Hoa kỳ) đã tàn phá nhà cửa, nhà máy, đường dẫn nước, đường xe điện , ở thủ đô Bangkok (Thái lan) cũng có hiện tượng sụt lún do khai thác nước ngầm quá mức… và nhiều nơi khác trên thế giới
- Sự nhiễm mặn: Sự khai thác nước ngầm ở các vùng ven bờ biển tạo nên khoảng trống trong các lớp đá ngậm nước, làm cho nước biển tràn vào chiếm lấy khoảng trống đó gây nên sự nhiễm mặn nguồn nước Sự nhiễm mặn nguồn nước đã xảy ra ở những vùng ven bờ biển của Israel, Syria
- Sự ô nhiễm nguồn nước: Khi khai thác nước ngầm sử dụng cho tưới tiêu, cho sản xuất công nghiệp và cho sinh hoạt, lượng nước thải có thể rò rỉ theo các đường ống dẫn làm ô nhiểm nguồn nước ngầm Sự ô nhiễm nước ngầm đã và đang xảy ra
ở nhiều nước phát triển và kể cả Hoa Kỳ Nguồn tài nguyên nước ngầm bị ô nhiễm bởi hoạt động nông nghiệp và công nghiệp, nước ngầm bị ô nhiễm muốn phục hồi lại phải mất hàng trăm thậm chí đến hàng ngàn năm
Hiện tượng nhiễm mặn trong nước ngầm ở vùng ven biển thường có nguyên nhân do sự xâm nhập mặn từ biển, khi cột thuỷ áp của nước ngầm hạ thấp xuống dưới mực nước biển Hiện tượng này xảy ra khi có sự thay đổi về điều kiện cân bằng nước ngầm tự nhiên hay do quá trình khai thác sử dụng nước ngầm quá mức
Trang 15khiến cho mực nước ngầm hạ thấp, dẫn đến sự dịch chuyển của biên mặn về phía đất liền Những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nhận định rằng: Nhiễm mặn chỉ trở thành vấn đề môi trường khi tồn tại những tác nhân sau: nguồn mặn, nguồn nước mà trong đó muối có thể hoà tan, một cơ chế mà nhờ đó muối có thể phân bố lại trong những địa điểm khác nhau của vùng cảnh quan – nơi có thể chịu tổn hại Sự tương tác của những nhân tố môi trường làm cho hiểm hoạ nhiễm mặn thay đổi theo không gian và thời gian
Nguồn gốc gây ra ô nhiễm và suy thoái nguồn nước ngầm có thể từ các nguyên nhân khác nhau:
- Nhiễm mặn: Việc canh tác nông nghiệp, chăn nuôi quá tải không đúng cách là nguyên nhân chính cho việc ô nhiễm nguồn nước ngầm, tạo điều kiện cho việc nhiễm mặn ở nhiều nơi Các mạch nước ngầm đã bị ô nhiễm mặn khó có khả năng
sử dụng lại được nữa
- Các chất phóng xạ có trong đất và có thể thâm nhập vào nước ngầm sau rất nhiều năm Nguy cơ ô nhiễm asen trong nguồn nước ở phía Bắc Việt Nam với nồng
độ cao gấp 50 lần so với tiêu chuẩn của Việt nam (10 phần tỷ) theo Micheal Berg thuộc viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Liên bang Thụy Sĩ công bố trênTạp chí Environmental Science and Technology Nguyên nhân của hiện tượng này là do nguồn nước này lấy từ các giếng đóng ở độ sâu từ 10 đến 35m Tình trạng ô nhiễm này đã được chứng Minh qua việc khảo sát một số bệnh nhân bị nhiễm bệnh arsenicosis (lòng bàn tay và chân bị nám đen) ở một số vùng có tỷ lệ dân bị mắc bệnh cao
- Ô nhiễm nhu cầu ôxi hóa học (COD) và nhu cầu ôxi sinh học (BOD5): Nhu cầu ôxi hóa học là một chỉ tiêu cho thấy sự có mặt của các chất hữu cơ nhẹ trong nước Ở những vùng phát triển nông nghiệp và công nghiệp, lượng COD và BOD5 thường tăng cao cho thấy sự có mặt của chất hữu cơ và nghèo oxy hòa tan trong nước Ngoài ra, cũng có thể có các nguyên nhân khác như nồng độ kim loại nặng cao, photphat, nitrrat, nitrit và amoniac mà nguyên nhân chính là dư lượng của các
Trang 16loại hóa chất đã được sử dụng trong canh tác nông nghiệp như thuốc BVTV và phân bón
- Ô nhiễm hóa chất BVTV: Việc phát triển nông nghiệp để giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm do gia tăng dân số là nguyên nhân chính của nguy cơ ô nhiễm các hóa chất diệt cỏ, trừ sâu có trong nước ngầm Mà các loại hóa chất này
có thể tồn tại lâu dài trong đất và sẽ theo nước mưa đi vào nước ngầm Chính vì thế có thể nguồn nước ngầm không còn là nguồn nước sạch nữa Những hóa chất này sẽ tích tụ dần dần trong cơ thể của các loài sinh vật, đặc biệt là con người và sau một thời gian dài mới được phát hiện và có nguy cơ gây tử vong cao đối với người bệnh
Tại Ấn Độ nồng độ nitrate cao nhất đã được tìm thấy tại Bikaner, Rajasthan, tuy nhiên các khu vực đô thị cũng như nông thôn của một số tiểu bang có nồng độ
Nitrate cao Ô nhiễm Nitrat trên diện rộng không chỉ ở khu vực nông thôn, ngay cả trong các khu vự đô thị Một trong những lý do chính của ô nhiễm kim loại nặng trong nước ngầm do chất thải công nghiệp Khi tầng nước ngầm bị ảnh hưởng thì việc làm sạch là rất khó khăn Ô nhiễm kim loại nặng như crôm, chì, niken… trong nước ngầm đã được tìm thấy ở một số nơi trên lãnh thổ Ấn Độ, nguyên nhân chủ yếu là do không xử lý chất thải công nghiệp đúng quy định
Sự xuất hiện của Asen trong nước ngầm lần đầu tiên được báo cáo trong năm
1980 ở Tây Bengal Ấn Độ 79 khối nhà ở West Bengal thuộc 8 huyện đã được phát hiện có chứa lượng Asen vượt quá giới hạn cho phép là 0,01 mg /L (so với tiêu chuẩn Ấn Độ) Khoảng 16 triệu người sống trong vùng rủi ro Hàm lượng sắt trong nước ngầm cũng đã được quan sát trong hơn 1,1 vạn vị trí Nồng độ sắt cao được tìm thấy ở Assam, West Bengal, Orissa, Chhattisgarh, và Karnataka
Sự mặn hóa các giếng nước ngầm Ấn Độ xảy ra chủ yếu ở các bang Maharashtra, Punjab, Rajasthan, Haryana, Gujarat, Karnataka, Uttar Pradesh, Delhi, Orissa và Bihar Sự xuất hiện mặn trong đất có thể là do sự khai thác quá mức nước ngầm, phụ thuộc vào việc sử dụng nước mặt và nước ngầm, đặc điểm của lớp nước
Trang 17hoặc một số lý do khác Ước tính khoảng 1,93 vạn km2 bị ảnh hưởng bởi nước mặn
có độ dẫn điện EC > 4000mS/cm Có một số nơi của Rajasthan và phía nam Haryana, nơi giá trị EC của nước ngầm lớn hơn 10000mS/cm làm cho nước không uống được Ở một số vùng Rajasthan và Gujarat nước giếng được sử dụng trực tiếp cho sản xuất muối bằng cách bay hơi do độ mặn nước ngầm quá cao
Các vùng ven biển ở Ấn Độ bao gồm các bộ phận của Gujarat, Maharashtra, Karnataka, Kerala, Tamil Nadu, Andhra Pradesh, Orissa và West Bengal Bên cạnh việc nước ngầm bị mặn hóa còn bị xâm nhập của nước biển Trong một số khu vực nhất định, việc khai thác quá mức nước ngầm khiến nước ngầm trở thành nước mặn Ở một số địa điểm tại các khu vực ven biển đã quan trắc được độ mặn ven biển Vùng vành đai Minjur thuộc Tamil Nadu và Mangrol dọc theo bờ biển Saurashtra Chorwad-Porbande đã bị xâm nhập mặn
Hàng trăm giếng khoan ở nông thôn Bangladesh đã được xác định với nồng độ asen cao và diện tích các vùng bị ô nhiễm đang ngày càng tăng Cho đến nay 50.000 giếng khoan đã được thử nghiệm và 63% trong số đó đã bị ô nhiễm bởi asen với nồng độ không thể chấp nhận được
Chất lượng nước ngầm ở Madagascar khác nhau đáng kể giữa các hòn đảo và ở các độ sâu, đặc biệt là trong các thành tạo trầm tích khác biệt của các lưu vực ven biển Nước ngầm thường là mềm (nồng độ Ca, Mg thấp) trong các loại đá silicat (nền cát, bùn và kết tinh) và giá trị PH tương đối thấp (<7, thông thường là 6) Trường hợp nền là các loại đá cacbonat, thì nước ngầm thường có giá trị PH gần trung tính (7 hoặc cao hơn) Nước ngầm thường là ngọt (độ mặn thấp) trong đá kết tinh và tại các khu vực cách xa bờ biển
Tuy nhiên, nước ngầm tầng sâu trong các vùng nền phức tạp bị ảnh hưởng bởi
độ mặn cao ở một số vùng Một số hình thành cổ trong các bể trầm tích (ví dụ như nơi có Trias trầm tích) cũng có thể độ mặn đã tăng, mặc dù vài dữ liệu tồn tại để từ
đó đánh giá chúng Độ mặn là một vấn đề cần quan tâm trong một số các tầng nước ngầm ven biển, nơi bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và xâm nhập của nước biển
Trang 18vào vùng cửa sông Nước ngầm tầng nông có nhiệt độ tương đối thấp (<30 º C), phản ánh không khí xung quanh và điều kiện mặt đất
Mặt khác, nhiệt độ cao hơn (thường vượt quá 40º C) đã đo được trong nước ngầm từ một số trầm tích sâu hơn ở các lưu vực ven biển, phản ánh tuần hoàn và thời gian lưu trú lâu dài của nước ngầm trong các tầng chứa nước Nước ngầm len lỏi dọc theo các đứt gãy sâu trong tầng đá kết tinh hoặc tại các khu vực tiếp xúc giữa nền và trầm tích cũng đã làm tăng nhiệt độ ở những nơi này Đây là những khoáng cũng thường có trong nước ngầm tầng nông (Besairie 1959) Suối nước nóng đã được thấy ở một số nơi trên khắp hòn đảo Có rất ít thông tin để đánh giá tình trạng ô nhiễm nước ngầm ở Madagascar, nhưng lưu ý nước mặt bị ô nhiễm ở những nơi nước thải thô và chất thải hữu cơ khác Một số mẫu nước ngầm nông có nồng độ nitrate cao, mặc dù nồng độ có thể sẽ thấp hơn trong tầng nước ngầm sâu hơn, đặc biệt là nơi chúng xảy ra trong điều kiện tự chảy Nước ngầm có nồng độ kiềm cao Một số khu vực thuộc đảo này, nước ngầm có nồng độ sắt cao
Các kết quả thu được từ việc phân tích các mẫu nước ngầm ở các tầng nước ngầm ven biển của Metropolis Lagos, Nigeria thu thập được cho thấy rằng một số thông số thí nghiệm nằm trong giới hạn cho phép theo quy định bởi FEPA (Cơ quan bảo vệ môi trường liên bang) và WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) Độ pH, SO42-, PO43-, độ cứng do canxi và kiềm nằm trong khoảng giá trị được chấp nhận đối với nước uống Tuy nhiên, tổng độ cứng của tất cả các mẫu nước vượt quá giới hạn cho phép quy định của các cơ quan kiểm soát
Tổng độ cứng là chỉ số biểu thị sự đóng góp từ magiê, canxi, và các cation hóa trị cao khác như sắt, kẽm, mangan, nhôm Sự gia nhập canxi ít ỏi đến tổng độ cứng biểu thị trong trường hợp không có khoáng sản mang canxi từ tầng nước ngầm nằm
ở dưới Tổng độ cứng có giá trị cao có thể là do sự gia nhập của các cation hóa trị cao vào hệ thống nước ngầm Tất cả các mẫu nước có thể được coi là rất cứng (độ cứng > 300mg/L) theo phân loại độ cứng
Milanovic (2004) tổng quan một số hậu quả do đập trữ nước vùng cát gây ra tại khu vực đá vôi Ở Trung Quốc, việc giữ nguyên dòng chảy ngầm để trữ nước phục
Trang 19vụ tưới trong hệ thống hang động đã gây ra lũ lụt làm ngập khu vực đất rộng 2km phía thượng nguồn Ở Herzegovina, thao tác không phù hợp trong việc bít kín một kênh đá vôi đã gây ra sự gia tăng đột ngột áp lực nước lên hồ chứa, và vì vậy bề mặt khu vực chứa nước đã bị phá sập Một trường hợp khác, một số trường hợp xây
dựng các kênh đá vôi tạo ra một số lượng lớn các dòng chảy mới xuất hiện trên bờ
đề cấp bách cần phải được quan tâm
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các
mức độ nghiêm trọng khác nhau (Cao Liên và Trần Đức Viên 1990)
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất dùng tưới lúa và hoa màu, chủ
yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng Việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, trong đó mỗi ngành có
một loại nước thải đặc trưng khác nhau Khu công nghiệpThái Nguyên thải nước
biến Sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hang chục cây số Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng
kể Khu công nghiệp Biên Hòa và TP HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận
Trang 20Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các
đô thị Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải cuả các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta
Ðiều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường, chưa qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có hệ thống xử lý nước thải nào đúng nghĩa như tên
gọi
Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông nghiệp Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung
“Cần phải xây những bức tường ngăn sâu dưới lớp cát để chống nước mặn
thẩm thấu Ngoài ra, phải tính lại chu kỳ khai hoang Vùng đất nào chưa đạt tiêu chuẩn khai hoang thì để khai thác tự nhiên ”, đưa ra giải pháp cho cơ chế xâm mặn
thẩm thấu và tiềm sinh
Sự xâm nhập mặn của nước biển được giải thích là do mùa khô, nước sông cạn
kiệt khiến nước biển theo các sông, kênh dẫn tràn vào gây mặn Hiện tượng tự nhiên này xảy ra hằng năm và do đó có thể dự báo trước Nhưng bên cạnh đó, những vùng đất ven biển cũng có nguy cơ nhiễm mặn do thẩm thấu hoặc do tiềm sinh
Với vùng ven biển cấu tạo địa chất là những cồn cát lớn, bùn phù sa lấp đầy ở
dạng mềm như đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, chứa đựng nhiều
thấu kính cát có khả năng mao dẫn, tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập vào đất
vẫn tồn tại đã chuyển sang bốc hơi lên bề mặt Bài học lịch sử cho trường hợp này
có thể thấy là vùng chiêm trũng Hà Nam
Trang 21Trong từng vùng cụ thể, xâm nhập mặn có thể do một nhóm hoặc cả ba nhóm nguyên nhân nêu trên Ở châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, quá trình ngọt hóa ven biển diễn ra rất nhanh, lượng nước ngọt từ sông Hồng và sông Cửu Long đổ ra
biển lớn nên tương tác xảy ra theo xu hướng nghiêng về phía sông Nước biển xâm
nhập vào sông Hồng sâu 15-16 km, có nơi chỉ sâu 6 km Ngược lại, những vùng bờ
biển có cấu trúc cửa sông rộng, hình phễu thì sự tương tác nghiêng về phía biển và
khả năng xâm nhập mặn cao Tại cửa sông Bạch Đằng, nước biển xâm nhập vào sâu
tới gần Phả Lại, cách bờ biển 56 km Trong khi đó, mặc dù là vùng rất sâu nhưng
tứ giác Long Xuyên bị nhiễm mặn theo hai cơ chế thẩm thấu và tiềm sinh
Trên đảo Lý Sơn tỉnh Quảng ngãi, một số khu vực giếng nước sinh hoạt của người dân đã bị nhiễm mặn không thể sử dụng được Đặc biệt tại khu dân cư số 7, thôn Tây xã An Vĩnh, hiện có 12/14 giếng nước, sinh hoạt của người dân nguồn nước đã bị nhiễm mặn không thể sử dụng được Hơn 100 hộ dân tại khu dân cư này
đã phải đi xa vài cây số để lấy nước về sinh hoạt cho gia đình Không chỉ nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm mặn hoặc cạn kiệt, mà hiện nay toàn bộ giếng nước phục
vụ việc tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp của người dân trên đảo Lý Sơn Tại các cánh đồng trên huyện đảo cũng rơi vào cảnh “trơ đáy” vì cạn kiệt, có gần 70 hécta hành
và cây trồng vụ hè thu sắp cho thu hoạch có nguy cơ mất trắng vì thiếu người nước tưới tiêu
Đáng quan tâm là toàn bộ lượng nước ngọt được khai thác từ lòng đất tại huyện đảo này đã bị ô nhiễm nặng Qua phân tích mẫu nước của ngành chức năng huyện đảo cho hay, nước ngầm cung cấp cho sinh hoạt đã bị nhiễm nitrat nghiêm trọng
Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt trên đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi là do quá trình sản xuất, canh tác của bà con nông dân trên huyện đảo sử dụng các loại, phân hóa học, thuốc trừ sâu bơm tưới cho hoa màu bừa bãi
với số lượng ngày càng gia tăng Bên cạnh đó, chất thải từ các khu dân cư đổ ra ven
biển và một lượng lớn chất thải của tàu thuyền vào ra trong khu vực, đã gây nên tình trạng ô nhiễm này
Trang 22Biện pháp trước mắt cũng như lâu dài được chính quyền và ngành chức năng huyện đảo Lý Sơn đưa ra là đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động bà con nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp Tập trung thu gom xử lý rác thải trên toàn địa bàn huyện đảo Đồng
thời tăng cường trồng rừng để bảo vệ môi trường và nguồn nước
Trước tình trạng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất của người dân trên đảo bị nhiễm mặn và có nguy cơ cạn kiệt, huyện đã trích kinh phí chống hạn để
tổ chức nạo vét hơn 50 giếng nước tại các khu dân cư trong huyện Ngoài ra huyện còn trích hàng trăm triệu đồng để đào mới một số giếng nước tại các cánh đồng
phục vụ việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp Nếu thời tiết nắng nóng kéo dài, lượng mưa thấp nên chỉ cải thiện được phần nào tình trạng trên
Riêng ở Hà nội một số nơi đã xảy ra lún đất, biến dạng bề mặt đất, giếng đã bị tụt nước ngầm trên 10m và lưu lượng giảm đi một nửa so với ban đầu Để hạn chế tác động ô nhiễm và suy thoái nước ngầm cần phải tiến hành đồng bộ công tác điều tra, thăm dò trữ lượng và chất lượng nguồn nước ngầm, xử lý nước thải và chống ô nhiễm các nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên trữ lượng và chất lượng nước ngầm
1.2 Giới thiệu chung về đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận
Đã từ lâu đảo Phú Quý trở nên rất quen thuộc với nhiều người qua sử sách xưa dưới nhiều tên gọi: Cổ Long, Thuận Tịnh, Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu Từ niên hiệu trị thứ 4 (1844) Vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể
biệt nạp cho Triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận
Tuy là một hòn đảo nằm biệt lập giữa trùng dương nhưng dấu tích phát hiện được cho thấy đảo đã được khai phá tạo nên cuộc sống ở đảo từ rất sớm Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân đã tìm thấy những mộ vò lớn Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như rìu, bôn và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá
với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo Điều này phù hợp với những giai thoại được lưu
Trang 23truyền rằng trước khi có sự khai phá thiên nhiên của những con người từ lục địa, ở đây đã có một giống người "Thượng" sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven
biển Trải qua những biến thiên của lịch sử, Phú Quý là nơi hội tụ của nhiều luồng dân di cư từ đất liền ra với nhiều thành phần dân tộc khác nhau Trong đóngười Kinh đóng vai trò chính Khi bắt đầu phát triển mạnh kỹ thuật đóng thuyền buồm
với những chiếc thuyền ra được khơi xa thì cũng là lúc có nhiều người từ đất liền đặt chân lên đảo Cùng với những phần mộ còn sót lại trên đảo, sự tích công chúa Bàng Tranh chứng tỏ người Chăm đã có mặt ở đảo này Sự tích kể rằng: Bàng Tranh là một công chúa xinh đẹp vì chống lệnh vua cha nên bị kết tội phản nghịch nên bị kết đày ra đảo
Về vị trí đảo Phú Quý nằm trên tuyến đường biển nối đất liền và quần đảo Trường Sa nên có vị trí đặc biệt quan trọng trong nhiệm vụ phòng thủ quốc gia
Như vậy, với định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho đảo Phú Quý trong giai đoạn sắp tới, thì nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng cao, đặc biệt đối với
một số ngành kinh tế như sản xuất chế biến hải sản Nhu cầu sử dụng nước gia tăng,
nếu như không có giải pháp khai thác hợp lý sẽ gây ra những tác động xấu ảnh hưởng đến nguồn nước như suy thoái, cạn kiệt và đặc biệt là khả năng xâm nhập
mặn nguồn nước ngầm là rất lớn Mặt khác cần xét đến tính ổn định giữa nhu cầu và
khả năng đáp ứng của nguồn nước, nhằm tránh sự phá vỡ cân bằng gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái của đảo
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1- Vị trí địa lý, điạ hình
Huyện đảo Phú Quý gồm có 6 đảo nổi: Phú Quý, Hòn Tranh, Hòn Trùng ở phía Nam, Hòn Đỏ, Hòn Đen, Hòn Giữa ở phía Bắc Trong số đó, đảo Phú Quý là lớn nhất, có diện tích 16km2, chiếm đến 97% diện tích nổi của toàn huyện đảo và bằng khoảng 0,2% diện tích toàn tỉnh Đảo Phú Quý nằm trên biển Đông cách thành phố Phan Thiết khoảng 120km về phía Đông Nam, có toạ độ địa lý giới hạn:Từ 10º28’58”đến10º33’35”Vĩ độ Bắc; Từ 108º55’13” đến 108º58’12” Kinh độ Đông
Trang 24Hình 1-1: Vị trí đảo Phú Quý
Địa hình của đảo Phú Quý bao gồm núi đồi ở khu vực phía Bắc và đất bằng ở khu vực phía Nam, độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam Ở phía Bắc có núi Cấm cao 106m, núi Cao Cát cao 86m; ở phía Nam có đồi Ông Đụn cao 46-48m Trung tâm đảo có những dãy đồi cao 20 - 30m bị ngăn cách bởi những dãy đất bằng cao 10 - 20m Vùng rìa đảo là những dãy thềm cao 5m, ở đây có nổi lên những đụn cát cao 7-8m và nơi thấp nhất là bãi Triều Dương với độ cao 2m Địa hình đảo không bị phân cắt mạnh, không có sông suối, biển không cắt vào phần đất nổi của đảo Đặc điểm này đã hạn chế được sự xâm nhập mặn đến nguồn nước ngọt trên đảo
2- Đặc điểm khí hậu
Theo số liệu quan trắc khí tượng – hải văn tại trạm Phú Quý từ năm 2000đến
2011 cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình nhiều năm là 27,4oC, chênh lệch nhiệt ngày đêm là 4,1oC
- Tổng số giờ nắng cao, trung bình nhiều năm là 2.703 giờ
- Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm là 84,4%
- Lượng bốc hơi trung bình tháng thay đổi khá lớn từ 84,1mm (tháng X) đến 131,4mm (tháng I) Tổng lượng bốc hơi năm trung bình nhiều năm là 1.291mm
- Lượng mưa trung bình tháng thay đổi theo mùa, từ 3.3mm (tháng II) đến
Trang 25267,5mm (tháng X) Tổng lượng mưa năm trung bình nhiều năm là 1.314mm
- Nhiệt độ nước biển ven bờ khoảng 25-29oC; trung bình nhiều năm là 27,5oC
B ảng 1-1: Lượng mưa trung bình tháng trong giai đoạn 1995-2011 tại trạm quan trắc Phú Quý (đơn vị: mm)
(Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn tỉnh Bình Thuận)
Nằm ở khu vực Nam Biển Đông, Phú Quý chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều chuyển tiếp từ chế độ nhật triều không đều ở phía Bắc sang chế độ bán nhật triều không đều ở phía Nam Qua số liệu quan trắc từ năm 2000- 2005
Trang 26cho thấy mực nước trung bình nhiều năm là 216cm, cao nhất là 326cm, thấp nhất
số nữ là 12.760 người (chiếm 48,5%) Mật độ dân số trung bình toàn huyện rất cao, khoảng 1.426 người/km2 gấp hơn 9,4 lần mật độ dân số trung bình toàn tỉnh (151 người/km2).[3]
Hình 1-2: Cơ cấu dân số huyện đảo Phú Quý (%)
Trang 27Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực còn hạn chế
Số lao động qua đào tạo còn ít Chỉ những người là giáo viên các trường phổ thông, cán bộ y tế, cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan hành chính huyện, cán bộ công nhân làm việc trong các cơ quan sự nghiệp và một số đơn vị kinh tế như bưu điện, ngân hàng, cảng vụ, trạm kiểm ngư, trạm phát điện… là lao động có chuyên môn kỹ thuật qua đào tạo; còn lại hầu hết là lao động phổ thông không qua đào tạo
b Giáo dục
Nền giáo dục vẫn được quan tâm và đầu tư đúng mức tại huyện đảo Phú Quý Theo tài liệu thống kê cho thấy:
- Mẫu giáo: số lượng trẻ em đến các trường mẫu giáo giảm nhẹ qua các
năm gần đây (kết quả của việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình) trong khi số lớp học và số giáo viên vẫn tăng lên Năm học 2010-2011, toàn huyện đảo có 3 trường mẫu giáo với 39 lớp học Tổng số có 38 giáo viên (tăng 3 giáo viên so với năm học trước) chăm sóc cho 1168 em
- Giáo dục phổ thông: Năm 2010, tổng cộng toàn huyện Phú Quý có 10
trường học (trong đó có 6 trường tiểu học, 3 trường trung học cơ sở và 1 trường
phổ thông trung học) với 108 phòng học (tiểu học: 69 phòng học, THCS: 25 phòng học, PTTH: 14 phòng học) Tổng số có 289 giáo viên giảng dạy cho 5.502
học sinh các cấp
c Y tế:
Mạng lưới cơ sở vật chất ngành y tế dần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh và phòng chống các loại dịch bệnh cho nhân dân; đã có nhiều đổi mới trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả khả quan, tỷ lệ sinh con thứ ba giảm trong thời gian trở lại đây
Toàn huyện đảo Phú Quý có 4 cơ sở khám chữa bệnh cho nhân dân với 65 giường bệnh (tăng 44,4% so năm 2001), trong đó có 1trung tâm y tế huyện với 50 giường bệnh (tăng 66,7% so năm 2001) và 3 trạm y tế xã với 15 giường bệnh
Trang 28Năm 2010, số cán bộ y tế toàn huyện là 51 người, trong đó có 42 y, bác sỹ và
11 y tá, hộ lý Tổng số cán bộ ngành dược là 6, gồm 3 dược sỹ trung cấp và 3 dược tá
d Văn hóa- Xã hội:
Toàn đảo đã được phủ sóng phát thanh - truyền hình TW Tuy nhiên, do đặc điểm là một huyện đảo nên sự tác động của môi trường biển làm cho chất lượng công trình giảm sút nhanh chóng, sự cố kỹ thuật thường hay xẩy ra
Phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng cũng đã phát triển, tuy nhiên cơ sở vật chất còn yếu kém, chưa có rạp chiếu bóng, trung tâm sinh hoạt văn hoá Nhìn chung nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân còn chưa được đáp ứng
Quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc ngày càng được các tầng lớp nhân dân tham gia Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền, hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước có bước chuyển biến tiến bộ; phương thức, lề lối làm việc từng bước được đổi mới; tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức ngày càng được nâng lên
2 - Kinh tế:
Những năm qua cùng với sự phát triển chung của tỉnh Bình Thuận, Đảng bộ, các ngành, các cấp và nhân dân huyện đảo Phú Quý đã cố gắng khắc phục nhiều khó khăn, nỗ lực thực hiện và đã đạt được một số kết quả nhất định trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội
Về thực trạng phát triển các ngành:
Những năm qua cùng với sự phát triển chung của tỉnh Bình Thuận, Đảng
bộ, các ngành, các cấp và nhân dân huyện đảo Phú Quý đã cố gắng khắc phục nhiều khó khăn, nỗ lực thực hiện và đã đạt được một số kết quả nhất định trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội
a Thuỷ sản
Trang 29Thuỷ sản (bao gồm cả đánh bắt) là ngành kinh tế chính của huyện đảo, tạo
ra phần lớn giá trị sản xuất và giải quyết việc làm cho người dân trên huyện đảo Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng trong thời kỳ 2001-2005, đạt 210 tỷ đồng năm 2005 (giá hiện hành), chiếm 67% tổng giá trị sản xuất của toàn huyện đảo
b Nông, lâm nghiệp:
Nông nghiệp: Nông, lâm nghiệp giữ một vai trò nhất định trong đời sống
kinh tế, chiếm 8,7% GDP của huyện, là nguồn thu nhập chính của 4.100 nhân
khẩu và 1.937 lao động, chiếm 18% dân số và 17% lao động của huyện Tỷ
trọng chăn nuôi trong nông nghiệp có sự chuyển dịch từ 54% năm 2000 lên 58,5% năm 2005
Trồng trọt: Trong những năm qua, tổng diện tích gieo trồng hàng năm được duy trì vào khoảng 1.000 - 1.100ha Trong đó, tổng diện tích gieo trồng cây lương thực và các loại hoa màu giảm liên tục và khá nhanh trong thời gian qua (từ 650ha năm 2000 giảm còn 483ha năm 2006 và đến năm 2008 còn 208ha)
Chăn nuôi: Có thể nói, trong sản xuất nông nghiệp của huyện đảo, chăn nuôi là một ngành chính (do diện tích đất rất ít lại giảm dần nên ngành trồng
trọt vốn đã nhỏ, lại liên tục giảm trong những năm qua) Đến năm 2005 tỷ
trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp là 58,5%; đây là một tỷ lệ
tương đối khá so với mức bình quân chung của Bình Thuận (20%)
c Công nghiệp:
Trên địa bàn huyện đảo đã hình thành một số cơ sở sản xuất công nghiệp làm tiền đề cho việc phát triển ngành công nghiệp của huyện Tính đến năm 2005, toàn huyện có 29 doanh nghiệp, 11 hợp tác xã và 75 cơ sở sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp với khoảng trên 3.000 lao động; đến năm 2008 có 58 doanh nghiệp với khoảng 904 lao động (Nguồn niên giám thống kê Bình Thuận 2011)
Những ngành, nghề công nghiệp chủ yếu được phát triển trên địa bàn huyện là:
Trang 30- Chế biến hải sản, nông sản: hiện có 75 cơ sở chế biến hải sản như mực đông, cá đông, mực khô, mực ghim (mực con hấp muối), trong đó có 30 cơ sở chế
biến hải sản xuất khẩu, hơn 30 cơ sở chế biến nông sản (xay xát, sản xuất bánh, bún ) chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ tiêu dùng hàng ngày của dân cư trong huyện đảo
- Sản xuất nước đá: có 15 cơ sở sản xuất nước đá, chủ yếu phục vụ đánh
bắt, bảo quản, sơ chế hải sản và nhu cầu sinh hoạt của dân cư Điều đáng quan tâm
là tổ chức sản xuất phân tán, quy mô nhỏ nên tiêu hao năng lượng và nước (là
những nguồn tài nguyên quý, hiếm trên đảo) trên một đơn vị sản phẩm lớn dẫn đến lãng phí và kém hiệu quả
- Cơ khí sửa chữa tầu thuyền: có 15 cơ sở sửa chữa động cơ thuỷ Trang thiết bị và năng lực sửa chữa còn hạn chế, chưa có khả năng phục vụ cho các
loại tầu thuyền vãng lai và hoạt động trực tiếp trên biển
d Thương mại, dịch vụ, du lịch
Hoạt động thương mại, dịch vụ trên huyện đảo bao gồm các ngành bán buôn, bán lẻ nguyên vật liệu phục vụ ngành hải sản, vật liệu xây dựng, xăng dầu, hàng tiêu dùng, dịch vụ ăn uống và dịch vụ vận tải hàng hoá hành khách giữ vai trò trọng yếu Hoạt động thương mại chủ yếu phục vụ cho hoạt động kinh tế biển như cung cấp xăng dầu, vật tư ngư lưới cụ, phụ tùng phục vụ đánh bắt hải sản, cung cấp lương thực thực phẩm
Trên đảo có chợ trung tâm huyện (đã hoàn thành xây dựng giai đoạn1), có chức năng làm chợ đầu mối trung tâm Đồng thời, trên địa bàn các xã trong huyện có 4 chợ (chợ thôn) với gần 500 hộ đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại, dịch vụ với các ngành nghề khác nhau như ăn uống, giải khát, nhà trọ Có 13 doanh nghiệp tư nhân hoạt động thu mua hàng xuất khẩu Giá trị xuất khẩu năm
2004 đạt 5 triệu USD (bình quân đầu người khoảng 220USD/người, cao gấp 2,7 lần mức bình quân của tỉnh Bình Thuận, giá trị xuất khẩu bình quân đầu người của tỉnh
là 82USD/người)
Trang 31Hoạt động du lịch mặc dù có tiềm năng lớn song hiện tại hầu như chưa có gì
do cơ sở hạ tầng yếu kém, tầu vận tải hành khách thiếu, việc đi lại khó khăn, mất nhiều thời gian (trung bình mất 4-5 giờ cho một chuyến hành trình từ Phan Thiết đến Phú Quý) và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết
Dịch vụ bưu chính viễn thông trong những năm gần đây phát triển tương đối nhanh Trên huyện đảo có trên 2.000 thuê bao điện hoại, bình quân 8,5 máy/100 dân Dịch vụ điện thoại di động bắt đầu hoạt động kể từ tháng 5/2005
Các dịch vụ fax, internet, chuyển bưu phẩm phát triển, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên đảo
Hiện nay, việc liên lạc giữa huyện đảo và đất liền có 5 luồng E1, về cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của các đơn vị, tổ chức và nhân dân huyện đảo ở mức như hiện nay Chưa có trung tâm thông tin biển, làm hạn chế đến kết quả hoạt động nghề cá Dịch vụ phát thanh truyền hình được cải thiện Nhân dân trên đảo đều xem được và nghe được các kênh, chương trình truyền hình và phát sóng của Đài truyền hình Trung ương, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam và của tỉnh
Năm 2002 đã hoàn thành xây dựng giai đoạn I với tổng vốn đầu tư thự hiện
là 84 tỷ đồng, công suất thiết kế cho tầu thuyền đánh các và tầu vận tải hàng hoá có tải trọng 1.000 tấn, gồm những hạng mục công trình chính sau:
- Đê chắn sóng phía Tây dài 554,6m
- Bến cập tầu:
Trang 32- Kho chứa nhiên liệu: 500 tấn Cảng Triều Dương và những công trình phụ trợ được hoàn thành xây dựng giai đoạn I đã tạo điều kiện thuận lợi và là
cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế xã hội huyện đảo nói chung và nghề
cá nói riêng
Việc triển khai xây dựng mở rộng, nâng cấp cảng giai đoạn II bắt đầu từ năm 2003, đến khi hoàn thành sẽ đạt công suất và năng lực như sau:
- Khả năng tiếp nhận tầu trọng tải 5.000 tấn
- Năng lực vận chuyển hàng hoá thông qua 300.000-500.000 tấn/năm
- Kho dự trữ năng lượng 1.000 tấn Cuối năm 2006, đã tổ chức công bố và chính thức đưa cảng Triều Dương vào hoạt động
* Giao thông đường biển: Giao thông đường biển của huyện đảo hiện nay mới chỉ có tuyến Phú Quý – Phan Thiết đang hoạt động, do Công ty vận tải biển và
tư nhân khai thác Tổng số phương tiện có 5 tầu sắt (2 tầu do Chính phủ cấp thông qua chương trình Biển Đông, 3 tầu do tư nhân đầu tư) Tổng sức chứa của 5 tầu là
666 hành khách và 230 tấn hàng Thời gian đi lại giảm xuống còn 4-5 giờ/lượt Đồng thời, còn có một số tầu chuyên chở hàng hoá của tư nhân trọng tải 300-500 tấn Ngoài ra, người dân còn sử dụng các tầu gỗ để khai thác tuyến đường biển này
Nhìn chung, công suất vận tải còn chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của người dân, đồng thời phương tiện còn chưa đảm bảo an toàn (thiếu
Trang 33phao cứu sinh, thiếu thuyền viên theo quy định) Việc quản lý, tổ chức hoạt động của các tầu vận tải còn kém (không có lịch trình) nên gây khó khăn, bất tiện cho người dân (có ngày 2 tầu xuất bến, song nhiều khi 4-5 ngày không có tàu ra đảo)
* Giao thông đường bộ:
Mạng lưới giao thông đường bộ trên đảo chủ yếu là các tuyến nối trung tâm huyện với các xã, đường liên xã đã được cải tạo và nâng cấp khác tốt, bao gồm những tuyến chính sau:
- Tuyến đường vành đai xung quanh đảo Phú Quý: toàn tuyến dài 16,5km chạy vòng quanh đảo nối liền 3 xã đã được nâng cấp và láng nhựa Tuyến đường được nâng cấp đã đảm bảo giao thông thuận tiện đến tất cả các điểm dân cư trên đảo, có ý nghĩa quan trọng cho việc lưu thông nội bộ trên đảo và kết nối với bên ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng trong mọi tình huống
- Các tuyến đường liên xã đang được nâng cấp mở rộng là:
+ Tuyến cảng Triều Dương - trung tâm huyện dài 6,6km
+ Tuyến Ngũ Phụng - Long Hải dài 4,9km nối liền cảng Phú Quý với trung tâm hành chính huyện lỵ và xã Long Hải, đang được nâng cấp và sẽ trải nhựa toàn bộ
+ Tuyến Tam Thanh - Long Hải dài 3,5km đã được nâng cấp, láng nhựa hầu hết chiều dài toàn tuyến
Toàn huyện có 32 xe ô tô vận tải các loại đáp ứng đủ nhu cầu vận chuyển hàng hoá của đảo Việc đi lại của người dân trên đảo chủ yếu bằng xe máy, có đến trên 90% hộ gia đình có xe máy
Ngoài ra còn một số tuyến đường liên xã do thiếu vốn nên chưa được nâng cấp như:
+ Tuyến Thôn 1 (Ngũ Phụng) nối với Thôn 9 (Long Hải)
Trang 34+ Tuyến trung tâm huyện nối Thôn 8 (Long Hải) + Tuyến đường quốc phòng
+ Tuyến cảng Triều Dương vào Khu công nghiệp
* Giao thông hàng không:
Hiện tại khu vực núi Cấm có 1 sân bay dã chiến (đường băng dài 200m, rộng 80m) nhưng chủ yếu phục vụ mục đích quân sự
Nằm ở khu vực trung tâm đảo nên sân bay có điều kiện thuận lợi để nâng cấp phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế cũng như quốc phòng, anh ninh Đã có dự án cải tạo, mở rộng nâng cấp sân bay để phục vụ cho các nhu cầu về du lịch, dịch vụ dầu khí, cứu hộ trên biển và quốc phòng, an ninh
* Hệ thống điện lưới:
Trên huyện đảo hiện có trạm phát điện với 6 máy phát diezel, công suất 500KVA/máy, tổng công suất 3MW, thực hiện phát điện liên tục cung cấp đủ cho nhu cầu sinh hoạt 16 giờ/ngày, điện cho sản xuất còn lại rất khó khăn Ngoài ra còn
có 2 tổ máy phát điện diezel của bưu điện (2x20KVA và 2x5KVA) và 2 tổ máy phát điện diezel của quân đội (2x20KVA)
Hệ thống phân phối gồm:
- 31 trạm biến áp với tổng công suất 1.822,5KVA
- Đường dây trung thế 22KV dài 21,4km
- Đường dây hạ thế cấp điện áp 0,2KV và 0,4KV dài trên 13km Về cơ bản, sản xuất điện đảm bảo cung cấp theo nhu cầu tối thiểu về điện sinh hoạt đảm bảo gần 100% hộ được sử dụng điện
Hiện đang tích cực thực hiện nhiều giải pháp để tăng thêm nguồn điện cấp cho huyện đảo như đang kêu gọi đầu tư phát triển nguồn điện (điện than, điện gió), đảm bảo nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội
* Hệ thống cấp nước:
Trang 35Hiện tại, ở đảo có 8 trạm cấp nước tập trung (khai thác nước dưới đất) do nhân dân tự đầu tư và nhà máy nước Ngũ Phụng - Long Hải do nhà nước quản lý
Theo số liệu kiểm kê sơ bộ hiện trạng khai thác, sử dụng nước trên đảo năm
2008, tổng số công trình khai thác nước dưới đất hiện có ở đảo khoảng 2064 công trình (trong đó, có 95 công trình dùng giếng khoan khai thác nước ngầm).[7]
1.2.3- Đặc điểm môi trường sinh thái
Đảo Phú Quý có môi trường sinh thái rất phong phú kể cả trên bờ lẫn dưới
biển Đặc biệt là thế giới động thực vật sinh sống ở dưới biển là cả một kho báu vô
tận của Phú Quý mà cho đến nay nhân dân địa phương mới khai thác được một
phần nhỏ các loại động vật như đồi mồi, tôm, cua, mực, ốc… Ở đây mực nước không sâu, là nơi trú ngụ của nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao Do thiên nhiên tạo nên vùng nước biển có độ mặn và nhiệt độ rất thích hợp cho các loài sinh vật biển sinh sống mà khó có nơi nào có được, nên tôm, cá, mực…nơi đây rất nhiều và rất ngon hơn hẳn một số vùng biển khác Sản lượng khai thác hàng năm tăng 30%
Mực tươi, vi cá mập, cá mú sống, cá thu là những đặc sản của đảo (riêng vi cá mập,
mỗi mùa, ngư dân ở đây thu được 2,4 tỷ đồng) Phát huy thế mạnh này, ngành hải
sản từ đánh bắt đến chế biến đã làm đời sống nhân dân trên đảo đổi thay nhanh chóng Với 1.431 ha đất nông nghiệp, Phú Quý mở rộng thêm canh tác loại cây lương thực, cây màu và rau xanh các loại; riêng lương thực, hàng năm đảo tự cấp được gần 2.000 tấn…
Trang 36Chương 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
TRÊN ĐẢO PHÚ QUÝ
2.1 Đánh giá hiện trạng, xu thế biến động của nguồn nước trên đảo Phú Quý:
2.1.1 Ngu ồn nước mưa:
Vị trí địa lý Đảo Phú Quý nằm ở phía Nam Biển Đông vì thế khí hậu của đảo là khí hậu hải dương nhiệt đới gió mùa á xích đạo, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam theo 2 mùa:
Theo số liệu quan trắc của Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn 1995-2010 tại trạm Phú Quý có 2 mùa mưa như sau:
- Mùa mưa kéo dài 8 tháng (bắt đầu từ tháng V đến tháng XII) Nhưng cũng có năm mưa sớm hoặc kết thúc muộn (bắt đầu vào tháng IV) hoặc kết thúc muộn (kết thúc vào tháng XII)
- Mùa khô kéo dài 4 tháng, bắt đầu từ tháng I đến tháng IV năm sau
Lượng mưa trung bình nhiều năm: 1.426mm;
- Mùa mưa: Lượng mưa trung bình 1.305mm, chiếm 91.5% lượng mưa cả năm;
- Mùa khô: Lượng mưa trung bình 121 mm, chiếm 8.5% lượng mưa cả năm;
- Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất trong năm biến đổi: từ 12,5mm (thángII) đến 767mm (tháng X)
- Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất trong năm biến đổi từ 0 mm (tháng I, II, III, IV) đến 73,9mm (tháng IX)
Lượng mưa ngày:
Trang 37Theo các số liệu quan trắc thu thập được của trung tâm dự báo khí tượng
thủy văn tỉnh Bình Thuận cho thấy lượng mưa ngày lớn nhất biến đổi từ 12,4mm (ngày 20/2/1985) đến 253,3mm (ngày 24/3/2011)
Hình 2-1 Biểu đồ đặc trưng lượng mưa tháng trên đảo (giai đoạn 1995 - 2011)
Bảng 2-1: Lượng mưa ngày lớn nhất theo các tháng tại trạm quan trắc Phú Quý:
Trang 38Từ số liệu quan trắc mưa của trạm Phú Quý cho thấy, tổng số ngày mưa hàng năm là khoảng 126 ngày; trong 7 tháng mùa mưa (từ tháng V đến tháng XI) có 109 ngày mưa
Số ngày mưa trung bình tháng mùa mưa biến đổi từ 12,8 ngày (tháng V) đến 18,5 ngày (tháng X) Vào mùa mưa, trung bình một tháng có 15,4 ngày mưa
Bảng 2-2: Tổng hợp số ngày mưa trung bình tháng
stt Ch ỉ tiêu I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII năm
(Ngu ồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bình Thuận)
Tổng lượng bốc hơi năm biến đổi trong khoảng 1,090.7 - 1,526.4 mm/năm, trung bình 1327.9 mm/năm Sự biến đổi lượng bốc hơi trong năm như sau:
- Lượng bốc hơi trung bình tháng nhiều năm biến đổi trong khoảng 85,4-137,3 mm/tháng, trung bình khoảng 110,7 mm/tháng Tháng có lượng bốc hơi cao nhất thường xuất hiện vào cuối mùa mưa và đầu mùa khô (tháng XII và tháng I).Tháng
có lượng bốc hơi thấp nhất trùng với tháng có lượng mưa cao nhất là tháng X
Trang 39Hình 2-2: Biểu đồ lượng mưa, bốc hơi trung bình tháng (giai đoạn 1995 – 2011)
Từ biểu đồ trên ta thấy trong các tháng mùa khô lượng nước mưa là rất nhỏ
mà lượng bốc hơi lại lớn nên tình trạng khan hiếm nước mặt càng phổ biến
2.1.2 Ngu ồn nước mặt:
Do đặc điểm cấu tạo bề mặt địa hình tự nhiên nên trên đảo Phú Quý không
có dòng chảy mặt thường xuyên Dòng chảy mặt chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn sau những trận mưa lớn (khoảng từ 1 đến 2 giờ) sau đó bị chảy ra biển và bốc hơi
hết Tại khu vực phía Bắc đảo khi có mưa lớn có thể có dòng chảy mặt không thường xuyên tập trung ở vì ở đây có các đặc điểm địa hình, địa chất như sau:
- Bề mặt địa hình dốc;
- Có vùng hơi trũng với tổng diện tích lưu vực thu nước nhỏ (khoảng 3km2);
- Tính thấm của lớp đất đá bề mặt tại đây nhỏ hơn nhiều so với khu vực phía Nam đảo;
tháng
Trang 40- Cấu tạo địa chất trong khu vực này chủ yếu là tầng chứa nước bazan có khả năng
chứa nước kém
- Khu vực này hầu như không có dân cư sinh sống
Từ các đặc điểm phân tích ở trên cho thấy sự phân bổ nguồn nước mặt ở khu
vực phía Bắc của đảo Phú Quý không thể đủ cung cấp nước cho các nhu cầu sản
xuất và sinh hoạt của người dân địa phương
Hình 2-3: Sơ đồ dòng chảy mặt không thường xuyên trên đảo
(Ngu ồn: Điều tra tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế khu vực đảo Phú Quý)