L ỜI CẢM ƠN Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường về đề tài “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp ứng phó v ới hạn hán xâm
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích
dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2013
TÁC GIẢ
Đặng Thị Hà Giang
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ kinh tế tài
nguyên thiên nhiên và môi trường về đề tài “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp ứng phó
v ới hạn hán xâm nhập mặn nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới, áp dụng cho
h ệ thống tưới Bắc Thái Bình” tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo
động viên của các thầy cô giáo, gia đình và các đồng nghiệp
Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Vũ Thế Hải và thầy Nguyễn Xuân Phú là người hướng dẫn giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại
học Thủy lợi và tập thể bạn bè học viên lớp cao học 19KT21 đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa học
Cảm ơn Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và Ban chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thủy lợi kết hợp nông nghi ệp để ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn tại các tỉnh ven biển đồng
b ằng sông Hồng” nơi tác giả đang công tác, đã tạo điều kiện thời gian và giúp đỡ
hỗ trợ về mặt chuyên môn, cũng như công việc cung cấp tài liệu có liên quan để
Luận văn được hoàn thành
Tác giả xin trân trọng cám ơn tất cả giúp đỡ quý báu này!
Hà Nội, ngày 1 tháng 3 năm 2013
TÁC GIẢ
Đặng Thị Hà Giang
Trang 3XNKTCTTL Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi
Trang 4DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ quá trình hạn 2
Hình 2.1 Vị trí địa lý hệ thống tưới Bắc Thái Bình 17
Hình 2.2 Bản đồ hiện trạng hệ thống tưới Bắc Thái Bình 41
DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê diện tích theo cao độ của hệ thống 16
Bảng 2.2 Thống kê diện tích và phân bố diện tích 27
Bảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 28
Bảng 2.4 Cơ cấu giống và thời vụ gieo cấy các loại cây trồng chính 28
Bảng 2.5 Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh đến năm 2010, 2020 33
Bảng 2.6 Kế hoạch sản xuất năm 2012 của các huyện trong hệ thống 34
Bảng 2.7 Trạm bơm điện 35
Bảng 2.8 Cống đập 36
Bảng2.9 Sông trục 36
Bảng 2.10 Thống kê các công trình khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên sông Luộc 37
Bảng 2.11 Thống kê các công trình khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên sông Hoá 38
Bảng 2.12 Thống kê các công trình khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên sông Trà Lý 39
Bảng 2.14 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty 48
Bảng 3.1 Diện tích thường khó khăn về nguồn nước của hệ thống Bắc 53
Bảng 3.2 Độ mặn lớn nhất trong mùa kiệt nhiều năm trên sông Trà Lý 57
Bảng 3.3 Phân loại đất mặn 57
Bảng 3.4 Thống kê diện tích bị hạn và thiệt hại tại tỉnh Thái Bình [1] 58
Bảng 3.5 Kê sản lượng thiệt hại do hạn hán sáu năm gần đây[1] 59
Bảng 3.6 Kết quả phục vụ cấp nước cho sản suất vụ xuân các năm 2007 - 2010 59
Bảng 3.7 Danh mục các công trình được đề xuất 63
Trang 5M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN, XÂM NHẬP MẶN1VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG 1
1.1 Tổng quan 1
1.1.1 Trên thế giới 1
1.1.2 Tình hình hạn hán tại Việt Nam 3
1.2 Tác động của hạn hán và xâm nhập mặn đối với sản xuất và đời sống 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Hạn hán đối với đời sống trong nước 8
1.3 Tổng quan các giải pháp ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn 9
1.3.1 Các giải pháp trên thế giới 9
1.3.2 Các giải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn ở Việt Nam 13
Kết luận chương 1 15
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ, XÃ HỘIKHU VỰC NGHIÊN CỨU 16
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16
2.1.1 Vị trí địa lý 16
2.1.2 Đặc điểm địa hình địa mạo 18
2.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 18
2.1.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 20
2.1.5 Đặc điểm thủy văn dòng chảy ở ngoài các sông lớn 23
2.2 Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu 25
2.2.1 Dân sinh 25
2.2.2 Nông nghiệp 26
2.2.3 Hiện trạng sản xuất công nghiệp 29
2.2.4 Các ngành khác 31
2.3 Tình hình văn hóa – xã hội khu vực nghiên cứu 32
2.3.1 Thông tin liên lạc 32
Trang 62.3.2 Hệ thống Y tế 32
2.3.3 Về giáo dục 32
2.4 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 32
2.4.1 Phương hướng phát triển nông nghiệp 32
2.4.2 Phương hướng phát triển ngành công nghiệp 34
2.5 Hiện trạng hệ thống tưới Bắc Thái Bình 35
2.5.1 Công trình khai thác 35
2.5.2 Hiện trạng tổ chức quản lý vận hành 42
Kết luận chương 2: 50
Chương 3: TÌNH HÌNH HẠN XÂM NHẬP MẶN, CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG TƯỚI 52
3.1 Tình hình hạn hán xâm nhập mặn 52
3.1.1 Hạn hán hàng năm đối với sản xuất nông nghiệp 52
3.1.2 Tác động dòng chảy các tháng mùa kiệt 54
3.1.3 Tác động của hạn hán xâm nhập mặn 58
3.2 Giải pháp ứng phó hạn hán xâm nhập mặn 60
3.2.1 Giải pháp tổ chức quản lý khai thác công trình 60
3.2.2 Giải pháp điều tiết của các hồ chứa thuỷ điện cho lưu vực sông Hồng 61
3.2.3 Giải pháp xây dựng công trình thuỷ lợi trên hệ thống các sông lớn 61
3.2.4 Xây dựng, nâng cấp các công trình lấy nước và công trình nội đồng dâng nước, giữ nước của hệ thống tưới 62
3.2.5 Giải pháp nông nghiệp 65
3.2.6 Giải pháp về quản lý, cơ chế chính sách 65
Kết luận chương 3 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7M Ở ĐẦU
I Tính c ấp thiết của đề tài
Vùng đồng bằng ven biển Tả sông Hồng thuộc tỉnh Thái Bình tưới bằng 2 hệ
thống thủy nông Bắc và Nam Thái Bình Hai hệ thống tưới này được quy hoạch bố trí và xây dựng các công trình hợp lý bao gồm: 219 cống dưới đê, trong đó có 37
cống khai thác nước trên 4 sông lớn, còn lại là các cống chủ yếu tưới tiêu kết hợp ở
hạ du hoặc tiêu trực tiếp ra biển Tổng số 1194 trạm bơm điện cùng với hơn 7.712
km kênh mương tưới của trạm bơm, trong đó có 190 trạm bơm tưới tiêu kết hợp,
1004 Trạm bơm tưới, với tổng cộng suất trên 280m3
/s Mạng lưới sông trục dẫn nước tưới tiêu dày đặc với chiều dài trên 2820 km ; 1953 cống đập nội đồng và hệ
thống bờ vùng bờ thửa
- Hệ thống Bắc Thái Bình nằm ở phía Bắc giới hạn bởi sông Hóa, sông Luộc, sông Hồng, sông Trà lý và Biển Gồm các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Thái Thuỵ và phần phía Bắc của thành phố Thái Bình
- Hệ thống Nam Thái Bình nằm ở phía Nam giới hạn bởi sông Hồng, sông Trà
Lý và Biển, gồm các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và phía Nam thành phố Thái Bình
Hai hệ thống có chung hình thức lấy nước tưới bằng các cống dưới đê trữ vào sông trục nội đồng và các sông trục cấp I, II để tưới tự chảy một phần, còn chủ
yếu tưới tạo nguồn cho các trạm bơm tưới Các khu thủy lợi nằm ở hạ du vùng ven
biển đồng bằng sông Hồng, vì vậy nguồn nước tưới phụ thuộc vào lưu lượng nước thượng nguồn và còn chịu ảnh hưởng thủy triều và xâm nhập mặn, hàng năm hạn hán thường xảy ra, những năm điển hình có tới 60% diện tích đất nông nghiệp bị
hạn, đã làm thiệt hại đến 30% giá trị sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản do năng suất
giảm và chi phí điện năng và quản lý khai thác tăng lên gấp 2 lần
Tuy nhiên do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và ứng dụng khoa học công nghệ với nền nông nghiệp hiện đại làm cho nhu cầu dùng nước ngày càng gia tăng
Sự suy giảm nguồn nước, vận hành không hợp lý của các hồ chứa thượng lưu và các
Trang 8hệ thống tưới ở hạ lưu dẫn đến thiếu hụt nguồn nước cấp là nguyên nhân chính xảy
ra h ạn hán, xâm nhập mặn diễn biến thường xuyên hàng năm và ngày càng
nghiêm trọng
Để giải quyết một phần vấn đề trên tác giả luận văn chọn đề tài: “ Nghiên
c ứu đề xuất giải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn nhằm nâng cao hiệu
qu ả của hệ thống tưới, áp dụng cho hệ thống tưới Bắc Thái Bình” làm luận văn
thạc sĩ của mình
II M ục tiêu của đề tài:
Đánh giá được tình hình hán hán xâm nhập mặn và những tác động đến sản
xuất nông nghiệp của hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình
Đề xuất giải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn có hiệu quả để ổn định
sản xuất và nâng cao đời sống cho người dân trong vùng
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
III.I Đối tượng
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống tưới Bắc Thái Bình, tỉnh Thái Bình nằm ở phía Bắc sông Trà Lý Giới hạn bởi sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa
và sông Trà Lý Hệ thống công trình đầu mối là cống lấy nước tự chảy từ sông Trà
Lý, sông Hóa, sông Luộc dẫn vào các sông trục nội đồng, sau đó cấp nước cho đồng
ruộng bằng hệ thống trạm bơm và tưới tự chảy Tiêu về phía hạ lưu qua các cống dưới đê hoặc tiêu trực tiếp ra biển bằng cống Trà Linh
III.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Chỉ đề cập tới phân tích đánh giá tác động thiệt hại do hạn hán xâm nhập mặn
của hệ thống tưới Bắc Thái Bình và đề xuất giải pháp ứng phó với hạn hán xâm
nhập mặn nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới
Các số liệu phục vụ đề tài được kế thừa và cập nhật mới đến năm 2011
IV Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
IV.1 Cách ti ếp cận
Để đạt được mục tiêu đã đề ra trong quá trình thực hiện những nội dung
Trang 9nghiên cứu, các hướng tiếp cận chính của đề tài sử dụng là:
IV.1.1 Ti ếp cận tổng hợp
Hướng tiếp cận này xem xét đối tượng nghiên cứu trong một hệ thống là quan hệ phức tạp, vì vậy cần tiếp cận đến nhiều vấn đề khác nhau nhằm xem xét đánh giá kết quả nghiên cứu trên nhiều mặt khác nhau và mối liên hệ giữa chúng
IV.1.2 Ti ếp cận thực tiễn vùng nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu dựa trên những điều kiện cụ thể đặc trưng của vùng như: Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, từ đó đưa ra những kết quả nghiên cứu chính xác và hợp nhất đối với vùng nghiên cứu
IV.1.3 Ti ếp cận kế thừa các kết quả nghiên cứu và tiếp thu khoa học công nghệ
Trong điều kiện trình độ khoa học và công nghệ quản lý trên lĩnh vực tài nguyên nước cho các hệ thống thủy lợi ở nước ta còn khá thấp so với các nước tiên
tiến trên thế giới, do đó cần phải kế thừa tối đa các kết quả nghiên cứu có liên quan
ở trong và ngoài nước
IV 2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu đề tài này là:
IV.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, tổng hợp tài liệu
- Điều tra về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, lấy ý kiến dân địa phương, ý
kiến của các cơ quan liên quan khi xây dựng phương án;
- Khảo sát, thu thập các số liệu về địa hình, thủy văn, dòng chảy Tác động của dòng chảy về mùa kiệt trong những năm gần đây đến tình hình hạn hán và xâm
nhập mặn tại hệ thống tưới Bắc Thái Bình
IV.2.2 Phương pháp phân tích thống kê
Kế thừa các tài liệu thống kê diện tích bị hạn hán, tình hình hạn hán xâm
nhập mặn và các đánh giá thiệt hại của các ngành kinh tế trong khu vực nghiên cứu
của các cơ quan chuyên môn đã thực hiện trong những năm gần đây
V B ố cục của luận văn
Trang 10Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về hạn hán, xâm nhập mặn và các tác động đối với sản xuất
và đời sống
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 3: Tình hình hạn hán xâm nhập mặn, các giải pháp ứng phó nâng cao hiệu
quả của hệ thống tưới
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN, XÂM NHẬP MẶN
VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG
1.1 T ổng quan [1]
1.1.1 Trên th ế giới
Hạn hán là một hiện tượng phổ biến tại hầu hết các khu vực địa lý trên trái đất, là dạng thiên tai phức tạp và có ảnh hưởng đến nhiều người nhất Theo Trung tâm quản lý hạn Châu Âu (European Drought Centre), hạn là hiện tượng khí hậu
xảy ra khi lượng nước sẵn có trong tự nhiên thấp dưới mức trung bình trong một
thời gian dài Khác với các loại thiên tai khác điểm đặc trưng của hạn hán là thường tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời gian dài và có thể kéo dài trong nhiều năm khi đợt hạn kết thúc, bởi vậy việc xác định thời gian bắt đầu và kết thúc đợt hạn rất khó khăn Cũng do sự diễn biến tích lũy chậm, tác động của hạn hán thường khó nhận biết hơn và khi nhận biết thì sự thiệt hại đã đáng kể Hạn hán xảy
ra ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới có thể giống hoặc khác nhau Tuy nhiên sơ đồ phát sinh và diễn biến hạn hán có thể khái quát theo sơ đồ hình 1.1
Theo đó hạn khí tượng xảy ra trước tiên do thiếu hụt lượng mưa hoặc mưa không đáng kể trong thời gian dài, đồng thời những yếu tố khí tượng đi kèm cùng
với sự thiếu hụt mưa gây bốc thoát hơi nước gia tăng dẫn đến sự suy giảm/suy kiệt
độ ẩm – hạn đất và hạn nông nghiệp ở vùng không được tưới xảy ra Sự suy giảm đồng thời cả dòng mặt và dòng ngầm dẫn đến hạn thủy văn Khi hạn khí tượng và
hạn thủy văn xảy ra, tùy theo khả năng điều tiết nhân tạo và yêu cầu dùng nước trong lưu vực, hạn nông nghiệp ở cả những diện tích được tưới và hạn dân sinh kinh
tế (thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước cho các ngành sản xuất và dịch vụ dẫn đến
giảm thu nhập và phát sinh các vấn đề xã hội khác nhau) có thể xảy ra với mức độ
nặng nhẹ khác nhau
Trang 12Không có mưa
hoặc mưa ít Nhisáng dài và bệt độ cao, độ ẩm thấp, số giờ chiếu ức xạ mặt trời mạnh
Thiếu hụt mưa
Bốc hơi và thoát hơi nước gia
Trang 13Tác động của hạn hán tới tất cả các thành phần trong chu trình thủy văn, từ
hiện tượng làm giảm lượng mưa dẫn đến làm giảm độ ẩm trong đất, giảm lượng nước bổ cập và trữ lượng nước của các tầng nước dưới đất, và cuối cùng làm giảm lưu lượng hoặc làm khô cạn sông suối Hậu quả hạn hán ảnh hưởng về các mặt kinh
tế- xã hội mà còn tác động rất lớn đến môi trường Trong đó khi hạn hán xảy ra thì nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là ngành chịu ảnh hưởng trước tiên, do đặc trưng của ngành sản xuất này là phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước
Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Giảm nhẹ hạn hán Quốc gia thuộc trường đại học Lebrasca-Licoln – Mỹ đã phân hạn hán thành 4 loại: hạn khí tượng, hạn
thủy văn, hạn nông nghiệp và hạn kinh tế xã hội (Wilhite và Glantz, 1985) Trong các loại hạn này, hạn khí tượng là hiện tượng tự nhiên có nguyên nhân trực tiếp từ khí hậu và biến đổi theo vùng Trong khi đó, hạn nông nghiệp, thủy văn và kinh tế
xã hội tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh xã hội, chúng thể hiện mối tương tác
giữa các tính chất tự nhiên của hạn thủy văn và các hoạt động của con người
1.1.2 Tình hình h ạn hán tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê trong vòng 60 năm qua, hiện tượng biến đổi khí hậu ngày càng phổ biến, những hiện tượng khí hậu – thời tiết trái với quy luật ngày càng tăng với mức độ tàn phá ngày một nặng nề, mưa lũ, bão lụt, khô hạn hoành hành ngày càng ác liệt Trong đó hạn hán là loại hình thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam, gây tổn thất nghiêm trọng đứng thứ 3 sau bão và lũ lụt Hạn hán xảy ra do biến đổi khí hậu, có thể xảy ra ở cả vùng mưa ít lẫn vùng mưa nhiều, trong cả những năm mưa ít lẫn năm mưa nhiều, trong mùa khô và cả trong mùa mưa Trong thập kỷ 90
của thế kỷ trước, hạn hán đã liên tiếp xảy ra ở khắp các vùng trong cả nước, trong
đó hạn hán nặng trên diện rộng thường xảy ra theo chu kỳ 5 năm 1 lần Vùng cực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Trung Bộ, miền núi Trung Du Bắc Bộ, Tây Nguyên là những khu vực thường xuyên bị hạn hán với mức độ nghiêm trọng
nhất
Hạn hán còn gây ra xâm nhập mặn ở các vùng cửa sông ven biển, làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống dân địa
Trang 14phương, làm thoái hóa đất, cũng là một trong những nguyên nhân khởi đầu của nạn
sa mạc hóa Hàng năm về mùa khô xâm nhập mặn ảnh hưởng đáng kể nhất là ở vùng ven biển đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và sông Đồng Nai Trong đó
ở Bắc Bộ những năm xảy ra hạn hán nặng vào vụ đông xuân là 1959, 1961, 1970,
1984, 1986, 1989, 1993, 1998, 2003, 2005, 2006, 2009 Các nguyên nhân, tác động
và hậu quả của những năm hạn hán điển hình xảy ra tại tại Việt Nam như sau:
- Thiên tai hạn hán do thiếu nước năm 1992-1993 là do lượng mưa vào cuối năm 1992, trong đó ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thiếu hụt mưa so với trung bình nhiều năm (TBNN) lên tới 30-70%, có nơi 100% từ tháng 8-11/1992 và tới 40-60% trong những tháng đầu năm 1993 (7 tháng đầu năm 1993, mưa bằng 25-40% TBNN), đã gây hạn hán ngay vụ mùa năm 1992 Đầu năm 1993, dự trữ nguồn nước trong đất, sông suối và ở các hồ chứa rất ít Hạn hán nghiêm trọng trong vụ đông xuân 1992-1993, hè thu 1993, ở hầu hết các vùng Tổng diện tích lúa đông xuân bị
hạn trên 176.000 ha (bị chết trên 22.000 ha) Mực nước trên các sông đều thấp hơn TBNN từ 0,1-0,5m Mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông từ 10-20km, có lúc tới 30km
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay trên hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình, nguồn nước về mùa kiệt ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng Mực nước trên sông Hồng tại Hà Nội từ tháng 12 đến tháng 5 thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,5 đến 1,1 (m) Chưa có số liệu đầy đủ để đánh giá tác động và thiệt hại của các đợt hán hán xảy ra ở khu vực Bắc Bộ
Những tác động hạn hán làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới 4 tỉnh ven biển
Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, và Ninh Bình có diện tích mặt nước và diện tích lúa cả năm chiếm tới 42% tổng diện tích diện tích mặt nước và diện tích lúa cả năm
của cả vùng đồng bằng Bắc bộ Từ năm 1998 trở lại đây đã có tới 9 năm xảy hạn hán với quy mô và cường độ ngày càng gia tăng Sự suy gi ảm nguồn nước và xây
dựng, vận hành không hợp lý của các hồ chứa thư ợng nguồn, sự tăng lên của nhu
cầu nước dẫn đến vùng h ạ du luôn trong tình trạng thiếu nước Trong khi đó nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt , công nghiệp, tưới tiêu của khu vực ĐBSH vẫn
Trang 15không ngừng tăng lên khiến nguồn nước ngày càng c ạn kiệt Mặt khác, với vùng chuyên canh cây nông nghiệp , cây lúa chiếm một tỷ trọng lớn trong các loại cây trồng, vụ chiêm xuân đòi hỏi phải có nước tưới chủ động thì lại trùng với mùa cạn tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, khi lượng dòng chảy trong sông nhỏ c ũng là lúc nhu cầu sử dụng nước tưới cho sản xuất nông nghiệp lại tăng m ạnh, các công trình lấy nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân đồng loạt lấy nước tại các vị trí dọc sông Vấn đề bất cập này gây không ít khó khăn trong việc điều hoà phân phối sử dụng nước giữa các vùng và giữa các ngành trong thời k ỳ mùa kiệt Theo các kết quả tính toán của Viện Quy hoạch thủy lợi và trường Đại Học thủy lợi cho thấy nhu cầu nước tưới cho vụ Chiêm Xuân lớn gấp khoảng 1,5 – 1,6 lần nhu cầu tưới cho vụ Mùa Đối với các tỉnh ven biển việc lấy nước càng khó khăn hơn do ở cuối hệ thống sông và bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn Việc lấy nước thường phải tiến hành vào đợt xả thứ 2 và 3 của hồ Hòa Bình do đợt xả đầu không đủ nước hoặc không dâng
mực nước trên các triền sông để các cống lấy nước hoạt động theo thiết kế Vì vậy nguyên nhân gây ra hạn hán trên đồng bằng hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan:
- Nguyên nhân khách quan: Do biến đổi khí hậu toàn cầu dẫn đến mưa cực đoan, nhiệt độ trung bình tăng dẫn đến bốc hơi lớn hơn, đặc biệt trong mùa khô Năm 2007 nhiệt độ trung bình ở Hà Nội cao hơn nhiệt độ trung bình năm của thập
kỷ 1931-1960 là 1,30C Lượng mưa giảm đi trong tháng 7, tháng 8 và tăng lên trong tháng 9, tháng 10 Mưa phùn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ giảm đi rõ rệt
- Nguyên nhân ch ủ quan: Do quản lý và bảo vệ rừng chưa tốt, trước năm
1945 diện tích rừng che phủ ở Việt Nam là 43%, đến năm 1995 giảm xuống chỉ còn 29%, đến năm 2007 sau khi thực hiện được một phần của dự án 5 triệu ha rừng mới che phủ được 39%
Phát triển các hệ thống thủy lợi, thủy điện và các công trình khai thác nguồn nước trong lưu vực, công tác quản lý vận hành và đặc biệt là sự phối hợp giữa các ngành sử dụng nước phục vụ đa mục tiêu chưa chặt chẽ dẫn đến tranh chấp nguồn
Trang 16nước trên hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình Đặc biệt là nhu cầu nước cho phát điện với sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy và môi trường trong lưu vực
1.2 Tác động của hạn hán và xâm nhập mặn đối với sản xuất và đời sống
1.2.1 Trên th ế giới [1]
Hạn hán có tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức
khỏe con người Nó là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật và tình trạng lạc
hậu, chậm phát triển ở nhiều nơi trên thế giới Hạn hán tác động đến môi trường như hủy hoại các loài thực vật, các loài động vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháy rừng, xói lở đất Các tác động này có thể kéo dài
và không khôi phục được Như vậy, những ảnh hưởng của hạn hán có thể xếp vào
ba nhóm (i) kinh tế, (ii) môi trường và (iii) xã hội
(i) Hạn hán tác động xấu đến kinh tế thông qua nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó rõ nét nhất là lĩnh vực nông nghiệp, đối tượng dùng nước nhiều trong số các ngành sản xuất, như giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm
sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Làm tăng chi phí sản
xuất và làm giảm thu nhập của lao động nông nghiệp từ đó làm tăng giá thành sản
xuất vì thế cũng làm tăng giá cả lương thực trên thị trường Bên cạnh đó, tổng giá trị
sản phẩm chăn nuôi sẽ bị suy giảm và các lĩnh vực khác cũng gặp khó khăn do
những ảnh hưởng dây chuyền, ví dụ các nhà máy thủy điện sẽ thiếu nước để chạy
hết công suất thiết kế khiến nguồn thu ngân sách của nhà nước giảm
(ii) Những thiệt hại về môi trường là kết quả của sự tàn phá đối với các loài động vật, thực vật cũng như chất lượng nước và không khí; nạn cháy rừng và đồng
cỏ chăn nuôi; suy giảm cảnh quan thiên nhiên, tổn hại tính đa dạng sinh học và làm xói mòn đất Có một số ảnh hưởng mang tính chất nhất thời và điều kiện tự nhiên nhanh chóng trở lại bình thường sau khi hạn hán kết thúc, nhưng cũng có một số ảnh hưởng kéo dài hoặc thậm chí mang tính vĩnh cửu không còn khắc phục được
Ví dụ một số sinh vật hoang dã có thể bị thoái hóa do không còn các vùng đầm lấy,
hồ ao và các loài thực vật đặc trưng khác Mặc dù những tổn hại về môi trường rất khó xác định chính xác, nhưng nhận thức và sự quan tâm của cộng đồng đối với
Trang 17chất lượng môi trường đã đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải tập trung sự chú ý cao hơn đối với những ảnh hưởng này
(iii) Ảnh hưởng mang tính xã hội chủ yếu liên quan đến sức khỏe cộng đồng,
sự phát sinh mâu thuẫn giữa các hộ dùng nước, giảm chất lượng cuộc sống và có
một vấn đề cũng rất đáng quan tâm là nạn di dân, trong đó hạn hán là một trong
những nguyên nhân ở nhiều quốc gia Thông thường khi nguồn nước mặt bị cạn
kiệt, người dân miền núi thường có xu hướng tìm kiếm những khu vực khác có nguồn nước tốt hơn phục vụ sản xuất của họ bởi vì trình độ và điều kiện kinh tế không cho phép họ tìm kiếm nguồn nước khác thay thế cho nước mặt Điều đó tạo nên một hiện tượng tương đối phổ biến ở các vùng này mà người ta vẫn thường hay
gọi là nạn du canh, du cư Hiện tượng này đôi khi nó không chỉ dừng lại trong phạm
vi một quốc gia mà thậm chí làn sóng đó còn lan sang cả những nước láng giềng tạo nên những vấn đề về người tị nạn Thậm chí là ngay cả khi hạn hán đã dịu đi, những người di cư lại ít khi trở về mà người ta đã ra đi, điều đó tạo nên nhiều vùng đất canh tác bị hoang hóa Trong khi đó, ở một nơi khác, có những khu rừng lại tiếp tục
bị tàn phá dành chỗ đất canh tác nông nghiệp của bộ phận dân di cư
Theo liệu của Trung tâm giảm nhẹ hạn hán quốc gia Mỹ, hàng năm hạn hán gây thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ khoảng 6-8 tỷ USD (so với 2,41 tỷ USD do lũ và 1,2-4,8 tỷ USD do bão) Đợt hạn hán lịch sử ở Mỹ xảy ra vào năm 1988 gây thiệt
hại lên đến 61 tỷ USD và khoảng 100.000 người chết do những biến chứng từ nắng nóng Tại nhiều khu vực, hạn hán là nguyên nhân trực tiếp gây ra hiện tượng sa mạc hóa Theo tính toán của Liên hợp quốc, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác ở châu Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu Á và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được do sa mạc hóa Hàng chục triệu người ở Châu Phi, đặc biệt là các nước Kenya, Tanzania, Angola đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi
hạn hán Ở Tây Ban Nha, 31% diện tích có nguy cơ biến thành sa mạc, trong khi ở Trung Quốc có khoảng 27% diện tích đất đã bị sa mạc hóa Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hiệp quốc (FAO), tháng 1/2011 giá lương thực trên
thế giới đã lên đến đỉnh điểm trong lịch sử, hạn hán là một trong những nguyên
Trang 18nhân dẫn đến tình trạng tăng giá này
1.2.2 H ạn hán đối với đời sống trong nước
Hạn hán gây ảnh hưởng tới diện tích cây trồng hàng năm ở nước ta vào khoảng 300.000 ha – 500.000 ha, giảm từ 20 – 30% năng suất cây trồng, giảm từ 1,5 – 2% sản lượng lương thực Chi phí chống hạn thường rất tốn kém do phải đầu
tư xây dựng hồ chứa, trạm bơm với mức trung bình từ 40-50 triệu đồng/ha đất canh tác Không những thế, hạn hán còn làm nảy sinh tình trạng sa mạc hóa, mà điển hình là ở các tỉnh ven biển miền Trung, vùng cực Nam Trung Bộ, vùng đất dốc khô
hạn triền miên thuộc Trung Du và miền núi phía Bắc [1]
Đợt hạn từ cuối năm 1998 đến tháng 4 năm 1999 xảy ra vào vụ đông xuân ở
Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại đáng kể về nông nghiệp trong cả nước Tại khu vực Bắc Bộ diện tích bị hạn là 86.140 ha, trong đó diện tích bị chết 17.077 ha Rau màu và các loại cây trồng khác là 10.930 ha [1]
Tại tỉnh Thái Bình hạn hán thường xảy ra vào vụ lúa xuân, thời vụ tập trung gieo cấy ngắn trong 2 tháng là thời kỳ mùa kiệt, nước mặn xâm nhập sâu vào sông
Mực nước sông xuống thấp làm cho hệ thống cống lấy nước tưới không khai thác được theo năng lực thiết kế Các sông trục trong đồng chưa được nạo vét hoàn chỉnh làm cho việc tích nước tưới vụ đông phục vụ sản xuất nông nghiệp không được chủ động và trở lên thiếu hụt Theo kết quả sản xuất nông lâm thủy sản năm 2011 của toàn tỉnh đạt 6.485 tỷ đồng [1], trong 6 năm gần đây trung bình hàng năm hạn hán gây thiệt hại đối với ngành nông nghiệp là 42 tỷ đồng Hệ thống thủy lợi của tỉnh Thái Bình làm cả nhiệm vụ cấp nước sản xuất, dân sinh và tiếp nhận tiêu từ nông nghiệp, công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nên thường sau hai tuần trữ chất lượng nước trong hệ thống tưới bị ô nhiễm ảnh hưởng tới nguồn nước sinh hoạt của dân
cư Đặc biệt đối với các xã vùng ven biển tình trạng thiếu nước sinh hoạt ngày càng
trở nên gay gắt, ảnh hưởng đến môi trường sống và sinh hoạt của người dân
Trang 191.3 T ổng quan các giải pháp ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn
1.3.1 Các gi ải pháp trên thế giới [1]
Hàng chục năm qua thế giới đã có nhiều nỗ lực nhằm đối phó với nạn hạn hán Gần đây nhất, Liên hiệp quốc đã lấy ngày 22/3/2007 là ngày Nước thế giới với
chủ đề là đối phó với sự khan hiếm nước – thách thức trong thế kỷ 21 Hàng loạt các biện pháp phòng chống hạn hán đã được các nhà khoa học và các nước đề xuất
và áp dụng như: dự báo và giám sát hạn hán; xây dựng chiến lược phòng chống hạn hán trên phạm vi quốc gia, vùng và địa phương; quản lý rủi ro hạn hán; các biện pháp công trình và phi công trình; các biện pháp nâng cao năng lực và nhận thức
cộng đồng trong việc đối phó với hạn hán
Chiến lược ngắn hạn và dài hạn đối phó với hạn hán thường đề cập đến các
giải pháp: dự báo hạn và hệ thống giám sát hạn hán; tăng khả năng cung cấp nước (phát triển các công trình cấp nước, công trình thu trữ nước); tăng hiệu quả sử dụng nước (giảm tổn thất, sử dụng nước tiết kiệm, tái sử dụng nước, trồng các loại cây có giá trị thu nhập/m3nước cao ); hỗ trợ cộng đồng giảm thiểu thiệt hại do hạn hán
Đối với hệ thống tưới đã có công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý vận hành hệ thống nhằm sử dụng tối ưu nguồn nước trong điều kiện hạn hán là giải pháp hiệu quả nhất để giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra Viện Quản lý nước quốc tế (IWMI) đưa ra một số nguyên tắc xây dựng chiến lược đối phó với hạn hán cho các đơn vị phụ trách quản lý vận hành hệ thống công trình thủy lợi như sau:
- Cần xây dựng một kế hoạch phân phối nước trong đó có những biện pháp
dự phòng để đối phó với các mức độ hạn hán khác nhau;
- Cần xây dựng phương án vận hành công trình trong điều kiện bình thường
và trong điều kiện hạn hán, các phương án này phải được phổ biến tới người sử
dụng nước;
- Liên tục cập nhật các số liệu mới nhất về khí tượng, nguồn nước cũng như nhu cầu dùng nước;
Trang 20- Cần có hệ thống cảnh báo sớm hạn hán để có kế hoạch và các biện pháp đối phó kịp thời;
- Cần khuyến khích nông dân áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước như tưới
tiết kiệm nước, canh tác không làm đất nhằm sử dụng hiệu quả lượng nước tưới trong điều kiện hạn hán Tương tự, Ủy ban Môi trường bang Texas (2004) xuất bản
sổ tay hướng dẫn phương pháp lập kế hoạch đối phó với hạn hán cho các cơ quan
quản lý hệ thống tưới Phương pháp này bao gồm 5 bước:
+ Huy động sự tham gia của người sử dụng nước trong quá trình lập kế
hoạch;
+ Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến hoạt động của hệ thống và xây dựng các tiêu chuẩn để quyết định thời điểm bắt đầu/kết thúc một đợt phân phối nước;
+ Xây dựng các nguyên tắc phân phối nước;
+ Xác định trình tự phân phối nước;
+ Định kỳ đánh giá và cập nhật kế hoạch để phản ánh các thay đổi
Sử dụng công cụ phần mềm trong đánh giá hạn hán, xác định chế độ vận hành tối ưu tưới đã được chú trọng nghiên cứu CORDIS (2000) đã phát triển một
hệ thống hỗ trợ ra quyết định nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán đối với khu
vực Địa Trung Hải Hệ thống có chức năng:
1 Đánh giá mức độ hạn hán và đặc tính của hạn hán;
2 Mô phỏng việc quản lý vận hành hệ thống tưới trong điều kiện hạn hán để xác định chế độ vận hành tối ưu;
3 Đánh giá hoạt động chung của hệ thống và hoạt động trong các thời kỳ
hạn hán Tarek Merabtene (2002) nghiên cứu phương pháp đánh giá rủi ro nhằm
quản lý vận hành tối ưu hệ thống thủy lợi trong điều kiện hạn hán Các tác giả đã phát triển và áp dụng một phần mềm trợ giúp ra quyết định (DSS) nhằm hỗ trợ đưa
ra kế hoạch cấp nước tối ưu Dựa trên dự báo mưa, dự báo nhu cầu và điều hành hồ
chứa và dựa trên phân tích rủi ro chương trình sẽ đánh giá hoạt động của hệ thống
và xác định chiến lược cấp nước tối ưu nhằm giảm thiểu rủi ro do hạn hán gây ra
Trang 21Canon (2006) áp dụng chỉ số tần suất xuất hiện hạn hán DFI (Drought Frequency Index) trong việc điều hành hệ thống liên hồ chứa chịu ảnh hưởng thường xuyên
của hạn hán Chỉ số DFI được sử dụng làm thông số giới hạn để xác định lượng nước cần trữ lại và quyết định lượng nước cấp xuống hạ lưu tại mỗi thời đoạn Hàm
mục tiêu của bài toán tối ưu là giảm tối đa lượng nước thiếu hụt và tăng tối đa năng
suất cho cây trồng tại mỗi khu tưới trong đó có xem xét các chính sách cấp nước khác nhau
Sử dụng hiệu quả nước tưới đã trở thành một nhân tố quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp tại các vùng khô hạn và bán khô hạn, trong những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu phát triển các chế độ tưới
mới như tưới hụt (Regulated Defecit Irrigation – RDI), tưới luân chuyển một phần
bộ rễ (Controlled Alternate Partial Root-zone Irrigation - CAPRI) nhằm làm tăng
hiệu quả sử dụng nước mặt ruộng cũng như hiệu quả sử dụng nước của cây trồng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng để cây trồng thiếu nước trong giai đoạn quả đang phát triển chậm và sau khi thu hoạch có thể khống chế sự phát triển của cành lá trong khi vẫn duy trì năng suất và trong một số trường hợp còn làm tăng năng suất Các nước Mỹ, Ôxtralia, Trung Quốc và một số nước châu Âu là những nước đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng chế độ tưới mới này Kết quả nghiên cứu của McCarthy (2000) trong việc áp dụng chế độ tưới hụt cho nho tại miền nam Ôxtralia cho thấy có thể giảm một nửa lượng nước so với biện pháp tưới thông thường C Kirda (2000) đã phân tích mối quan hệ giữa năng suất và chế độ tưới hụt của một số
loại cây trồng chính như bông, ngô, khoai tây, mía, đậu nành, lúa mì Năng suất cây trồng dưới các mức độ tưới hụt khác nhau được đưa vào hàm năng suất của Stewartetal (1977) Kết quả cho thấy bông, ngô, lúa mì, củ cải đường, khoai tây rất phù hợp với tưới hụt trong suốt giai đoạn sinh trưởng Một số cây trồng khác như đậu nành, lạc, mía thích hợp với tưới hụt trong một số thời đoạn sinh trưởng Với
mức tưới hụt là 25%, hiệu quả sử dụng nước tăng lên 1,2 lần Kang S và Zhang J (2001) phát triển chế độ tưới mới với tên gọi “tưới luân chuyển một phần bộ rễ” (CAPRI) Áp dụng chế độ tưới này cho cây ngô trong 4 năm (1997-2000) tại vùng
Trang 22Tây Bắc Trung Quốc cho thấy lượng nước tưới giảm đi một nửa trong khi năng suất ngô được duy trì
Trong những năm qua, để đối phó với căng thẳng về nước, các kỹ thuật tưới
tiết kiệm nước như tưới phun mưa, nhỏ giọt đã được nhiều nước nghiên cứu và áp
dụng thành công Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước ngày càng được áp dụng ở nhiều
quốc gia, kỹ thuật tưới này không chỉ tiết kiệm được một lượng nước đáng kể mà còn tiết kiệm được phân bón, năng suất cây trồng cũng được tăng đáng kể do cây được cung cấp lượng nước và phân bón kịp thời Israel là một trong những quốc gia trên thế giới thành công trong việc nghiên cứu, áp dụng và phát triển kỹ thuật tưới
tiết kiệm nước Ngoài ra Các nước Đức, Anh, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Nam Phi, Mỹ, Australia…đều phát triển nhanh và có nhiều kinh nghiệm, thành tựu trong nghiên cứu ứng dụng và phát triển kỹ thuật tưới hiện đại và tiết kiệm nước, nhất là
kỹ thuật tưới nhỏ giọt Cụ thể nhiều trang trại ở Israel đã sử dụng các đồng hồ đo áp
lực hút nước của đất bằng điện để điều hành hệ thống tưới phun mưa và nhỏ giọt rất
có hiệu quả Mặc dù vốn đầu tư cho hệ thống tưới phun mưa hoặc nhỏ giọt khá cao nhưng hiệu quả trong việc tiết kiệm nước và tăng năng suất cây trồng đã làm cho công nghệ này khá phổ biến ở Israel Ngoải ra, Israel trong những thành công là
việc sử dụng nước mặn để tưới cho bông, lúa mì, lúa mạch Ở Mỹ, nhiều nghiên
cứu các hệ thống, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước đã được tiến hành trên nhiều loại cây
trồng (cam quýt, bông, mía, nho) ở các khu vực khác nhau Ở vùng thung lũng Napa
gần Temecula thuộc bang California, các hệ thống tưới nhỏ giọt cho nho được quản
lý tốt và giảm ít nhất là 50% lượng nước tưới so với tưới phun mưa toàn bộ Từ sau năm 1977, trên 8000 ha trong vùng đã được bố trí hệ thống tưới nhỏ giọt và được điều khiển bằng hệ thống máy tính tại trung tâm Thời gian tưới nhỏ giọt cho mỗi khoảnh, thửa ruộng được tự động theo chương trình máy tính có cập nhật, điều
chỉnh hàng ngày Cuối năm 1984, 34.800 ha trên tổng số 45.400 ha mía ở Hawaii đã được chuyển từ tưới rãnh, tưới phun mưa toàn bộ sang tưói nhỏ giọt Năng suất mía
đã tăng lên 22% so với trước đó Eric C Schuck (2005) sử dụng số liệu điều tra từ
các đợt hạn hán nặng nhất trong lịch sử bang Colorado để đánh giá ảnh hưởng của
Trang 23hạn hán tới việc áp dụng kỹ thuật tưới của nông dân Kết quả cho thấy điều kiện hạn hán làm gia tăng đáng kể số lượng trang trại sử dụng các kỹ thuật tưới tiết kiệm nước thay cho tưới trọng lực
Như vậy, để đối phó với hạn hán cần phải sử dụng tổng hợp nhiều giải pháp – từ vĩ mô tới vi mô, từ kỹ thuật – công nghệ tới cơ chế chính sách, từ đầu tư tài chính đến đào tạo và tăng cường năng lực cộng đồng Mỗi giải pháp là một mắt xích quan trọng góp phần làm giảm thiểu tác động và rủi ro do hạn hán gây ra
1.3.2 Các gi ải pháp ứng phó với hạn hán xâm nhập mặn ở Việt Nam [1]
1.3.2.1 Áp d ụng các giải pháp sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm
+ Phân phối nước trên hệ thống
Trên cở sở nhiệm vụ của hệ thống, các đơn vị khai thác công trình thủy lợi
phải xây dựng các quy trình vận hành hệ thống để đảm bảo phục vụ các yêu cầu dùng nước trong hệ thống với thứ tự ưu tiên quy định
Vào những năm hạn hán (công trình tưới có mức đảm bảo thiết kế 75%),
phải có sự thống nhất thời gian lấy nước, mực nước phải giữ ở các công trình điều
tiết, phương thức tưới luân phiên Với những vùng không đủ nước cho toàn vụ nên chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ sử dụng nhiều nước sang sử dụng ít nước
+ Quản lý nước trên mặt ruộng
Quản lý nước trên mặt ruộng là khâu rất quan trọng trong quản lý nước Việc đưa nước và giữ một lượng nước phù hợp với nhu cầu sinh trưởng theo từng giai đoạn của mỗi cây trồng vừa đảm bảo cho năng suất cao lại tiết kiệm nước Vì vậy,
phải tổ chức đào tạo, hướng dẫn công nghệ và kỹ thuật tưới cho bà con nông dân, các tổ chức hợp tác dùng nước và kiên cố hóa kênh mương để hạn chế tối đa thất thoát nước
+ Bảo vệ nguồn nước
Việc bảo vệ, chống cạn kiệt nguồn nước đặc biệt quan trọng với các hệ thống
có công trình đầu mối là hồ chứa đập dâng Bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, đảm bảo các công trình đầu mối an toàn làm việc đủ công suất thiết kế
Trang 241.3.2.2 Nâng cao ch ất lượng công tác dự báo khí tượng thủy văn
Đối với hạn hán, việc dự báo dài hạn có ý nghĩa rất quan trọng, nhờ đó có thể
kịp thời điều chỉnh sản xuất như giảm diện tích gieo trồng, thay đổi cơ cấu mùa vụ
hoặc cây trồng, điều chỉnh kế hoạch cấp nước, trữ nước một cách chủ động và kịp
thời Nếu dự báo trước từ 6 tháng hoặc một năm một cách chính xác thì thiệt hại do
hạn hán sẽ được giảm nhẹ khá nhiều Phương trình hồi quy dự báo Sa.I là phương trình dự báo hạn hán dài hạn rất có triển vọng ở Việt Nam cần được nghiên cứu hoàn thiện và áp dụng Cùng với công tác dự báo là vấn đề chia sẻ thông tin cũng
cần được nghiên cứu và quy chế hóa
1.3.2.3 Nâng cao nh ận thức và sự tham gia của cộng đồng
Ngay từ những năm 1930 nhiều nước đã đặt vấn đề nông dân (người hưởng
lợi từ công trình) tham gia quản lý công trình thủy lợi Từng bước người nông dân tham gia vào mọi khía cạnh với quy mô ngày càng lớn trong lĩnh vực này Tại hội nghị quốc tế về “Chuyển giao quản lý tưới” tại Vũ Hán Trung Quốc tháng 9 năm
1994 đã coi đây là cuộc cách mạng lớn về quản lý công trình thủy lợi trên toàn cầu
Theo các chuyên gia quốc tế việc chuyển giao quản lý tưới sẽ có những ưu điểm sau: Nâng cao trách nhiệm của người hưởng lợi, việc quản lý thủy lợi sẽ tốt hơn, thường xuyên và kịp thời hơn thông qua tổ chức tự quản của người nông dân, công tác bảo vệ và giữ gìn hệ thống công trình tốt hơn dẫn đến tiết kiệm chi phí duy
tu bảo dưỡng và vận hành công trình, công tác điều hành, thu chi tài chính được công khai Người nông dân được tham gia ý kiến của mình trong điều hành và giải quyết tranh chấp Được trao quyền tự chủ về tài chính nên việc thu tiền nước tốt hơn và chi phí tiết kiệm hơn, vì vậy nhà nước giảm nhẹ gánh nặng về quản lý cũng như đầu tư
Trong một vài năm gần đây, một số địa phương đã làm thử việc chuyển giao cho nông dân quản lý công trình thủy lợi trong phạm vi thôn, xã Những địa phương làm có kết quả tốt như Tuyên Quang, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An thực chất là các địa phương tổ chức lại công tác thủy lợi cơ sở thay thế các tổ, đội thủy nông của
Trang 25các hợp tác xã nông nghiệp trước đây Một số nơi có điều kiện thuận lợi (Thanh Hóa, Nghệ An) đã chuyển giao để nông dân tự quản cả công trình liên xã Việc chuyển giao cho nông dân quản lý các công trình thủy lợi vẫn còn đòi hỏi sự quan tâm của nhà nước trong hoạch định các thể chế, sự giám sát giúp đỡ, đặc biệt là sự
hỗ trợ về tài chính trong những trường hợp cần thiết Cùng với việc chuyển giao nông dân tự quản lý phần thủy lợi cơ sở, nhà nước cần có những chính sách cụ thể hơn để thu hút được những thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào công tác thủy lợi
K ết luận chương 1
Kết quả nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình hạn hán, hạn hán còn gây
ra xâm nhập mặn ở các vùng cửa sông ven biển Ảnh hưởng của hạn hán đến sản
xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn và môi trường trong và ngoài nước Tác giả
đã phân tích các nguyên nhân gây ra hạn hán và những đặc điểm khác biệt của loại thiên tai này
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều phương pháp giải quyết ứng phó với hạn hán khác nhau, đối với những bài toán hàm mục tiêu hay hàm ràng
buộc khác nhau, sử dụng các công cụ để quản lý hiệu quả nguồn nước và sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên này
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay công tác điều tiết nước cho hồ chứa cũng như
hệ thống tưới đã có kế hoạch sử dụng nguồn nước kết hợp với kế hoạch phát triển nông nghiệp, nhưng hiện chưa có đánh giá hiệu quả phòng tránh hạn tổng thể Vì
vậy trong lưu vực, hay hệ thống đã xảy ra sự tranh chấp của các ngành dùng nước,
nhất là trong những năm có hạn
Trang 26Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ, XÃ HỘI
KHU V ỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.1.1 V ị trí địa lý
Hệ thống tưới Bắc Thái Bình, tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam đồng
bằng châu thổ sông Hồng, từ 20º17´ vĩ Bắc đến 20º49´ vĩ Bắc, từ 106º06´ kinh Đông đến 106°39´ kinh Đông Hệ thống nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Bình bao gồm 4 huyện: Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy và một phần thị xã Thái Bình bao bọc bởi các sông Hồng, sông Trà Lý, sông Hóa
Toàn vùng diện tích tự nhiên 87.342ha, yêu cầu tưới là 56.057 ha, thống kê cao độ theo diện tích tưới như sau:
B ảng 2.1 Bảng thống kê diện tích theo cao độ của hệ thống
Ngu ồn: Công ty TNHH1TV KTCTTL Bắc Thái Bình
- Vùng trong đồng: diện tích có công trình tưới là 52.529ha, hiện có 24 cống
lớn dưới đê (trong đó triền sông Luộc có 6 cống diện tích cấp nguồn nước tưới thiết
kế 29.204ha, triền sông Hoá có 8 cống diện tích cấp nguồn nước tưới thiết kế 6.120ha, triền sông Trà Lý có 10 cống diện tích cấp nguồn nước tưới thiết kế 17.205ha) Các cống lấy nước trữ vào sông trục nội đồng như Tiên Hưng, Sa Lung
và các sông trục cấp I, II để tưới trực tiếp một phần, còn chủ yếu tưới bằng bơm điện với tổng số 754 trạm bơm (Trong đó Xí nghiệp thuỷ nông quản lý 34 trạm, HTX nông nghiệp quản lý 720 trạm, các loại máy bơm từ 540m3
/h-8000m3/h, có 9
trạm bơm quy mô khá lớn với diện tích tưới thiết kế 19.460ha)
Trang 27- Vùng bãi: diện tích yêu cầu tưới là 2.099 ha, diện tích có công trình tưới theo thiết kế 1.259ha (diện tích thực tưới đạt 65% so với thiết kế) phần diện tích còn
lại 840ha chủ yếu tưới theo hình thức thủ công hoặc bằng các trạm bơm nhỏ lẻ
Hình 2.1 V ị trí địa lý hệ thống tưới Bắc Thái Bình
Trang 282.1.2 Đặc điểm địa hình địa mạo
Nhìn chung địa hình khu vực như một hòn đảo nổi được đan bằng các dòng sông bao bọc, đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ Địa hình tích tụ sông – biển hỗn hợp đất đai được hình thành do sự bồi tụ của phù sa sông Hồng và sự
vận động của Biển, cao độ phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển Địa hình khá
bằng phẳng, đất đai màu mỡ dễ canh tác, thành phần chủ yếu của đất là cát pha – sét
bội kết
Đồng bằng tích tụ thấp trũng, phù hợp với việc canh tác lúa nước và bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi quá trình hạn hán và xâm nhập mặn có diễn biến phức tạp
và đang bị thu hẹp do mặn lấn sâu
Hệ thống tưới nằm ở ven biển, thuộc tỉnh duy nhất không có đồi, núi Đất đai được hình thành do sự bồi tụ của phù sa sông Hồng và sự vận động của biển
Nhìn chung địa hình bằng phẳng độ dốc nhỏ hơn 1% theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao dần ở những vùng ven biển như Thái Thụy, ở đây có dạng sóng lượn hình thành là do quá trình lấn biển Có những địa hình thấp nhấp nhô có cấu
tạo gần giống dạng bát úp như vùng Đại Nẫm, Hệ Đặc điểm địa hình vùng cao và vùng thấp, trũng xen kẹp, nơi cao (có cao độ từ +1,50m đến +2 m so với mặt nước
biển) dễ bị hạn, thường khó khăn về nguồn nước tưới, những vùng thấp trũng nằm
tập trung ven sông Hồng, Trà Lý, Luộc có cao độ dưới + 0,75 m dễ bị úng khi có mưa, thường khó khăn về tiêu
2.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
Hệ thống tưới Bắc Thái Bình được hình thành trong quá trình nâng dần do phù
sa bồi đắp, do vậy đất đai của hệ thống thuộc loại đất trẻ giầu chất dinh dưỡng, nhưng sự phân bố chất dinh dưỡng không đều có vùng nghèo đạm nhưng lại giàu kali và ngược lại Các vùng cao thường bị rửa trôi, bạc màu, vùng thấp trũng tầng đất canh tác được tăng dần chất dinh dưỡng nhiều nhưng độ chua lớn, đất canh tác thường xuyên bị ngập nước quanh năm, vùng ven biển thường là bãi đất cát cao, lượng muối hoà tan trong đất còn khá lớn
Trang 29Theo báo cáo quy hoạch tổng thể nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Bình năm 2001-2010 thì trong tổng số 87.342ha diện tích đất điều tra có: Đất phù sa chiếm 66,5%, đất phèn chiếm 11,9%, đất phù sa nhiễm mặn chiếm 10,3%, đất cát biển chiếm 11,3%
Diện tích đất phèn, mặn chiếm tỷ lệ tương đối cao cần được cải tạo để nâng cao độ đồng đều về năng suất giữa các vùng trong tỉnh
Theo phân loại của Trung tâm khuyến nông tỉnh đất đai của hệ thống tưới được chia theo 6 vùng sinh thái như sau:
- Vùng phù sa sông Hồng được bồi tụ hàng năm thuộc bãi bồi sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý (loại đất Pb) chiếm 3,69% tổng diện tích tự nhiên, pHkcl =
5,6 - 7,0; mùn, N%, P%, K% trung bình khá; N, P, K dễ tiêu khá, địa hình vàn, vàn cao có cả trũng được bồi hàng năm rõ lớp nhưng không ổn định diện tích này nằm ở
hầu hết các huyện
- Vùng đất phù sa sông Hồng trong đê không được bồi hàng năm không Glây
hoặc Glây yếu (gồm các loại đất P h ; P t ; P h t ; P h g ; P t g ) chiếm 31,82% tổng diện tích
tự nhiên, pKcl = 5,5 - 6,0; mùn, N, P, K% trung bình, P dễ tiêu nghèo, dung tích hấp thu 25 -29 LĐL/100g; địa hình vàn, khả năng thâm canh hai vụ lúa cộng một vụ đông, tầng đế cày chắc phân tầng rõ Gồm tiểu vùng phía Tây sông Tiên Hưng và
tiểu vùng phù sa sông Thái Bình
- Vùng đất phù sa trong đê phát triển tầng loang lổ đỏ vàng (gồm các loại đất:
P h t ; P t f ) chiếm 3,51% tổng diện tích tự nhiên, pKcl = 5,0 - 5,6; mùn, N nghèo trung bình, P dễ tiêu khá, dung tích hấp thu 15 - 16 LĐL/100g; địa hình vàn, vàn cao,
mỏng màu, tầng đế cày sét vàng chặt, khả năng thâm canh cao do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Vùng cồn cát biển cũ (gồm các loại C, Cc, P h
c , P hc ) ở Thái Thuỵ chiếm 4,40% tổng diện tích tự nhiên, pKcl = 5,5 - 6,0; mùn, N, P, K% nghèo, P dễ tiêu khá, dung tích hấp thu 15 - 16 LĐL/100g địa hình vàn, vàn cao giữ nước kém
Trang 30- Vùng đất nhiễm phèn, phèn và vùng hơi nhiễm mặn (gồm các loại đất S,
P h gs , P t gs , M) ở Quỳnh Phụ, Thái Thụy; chiếm 12,81% tổng diện tích tự nhiên, pKcl
= 4,0 - 4,5; mùn, N, K khá, P dễ tiêu nghèo; Fe2+di động cao; dung tích hấp thu cao
> 25LĐL/100g; địa hình vàn, vàn trùng; tầng đế cày mềm hoặc không rõ dễ phản ứng với thời tiết hanh khô hay thừa N cuối vụ
- Vùng nhiễm mặn - mặn phèn về mùa khô (gồm các loại M n ,S Mn , S n , S M ) hai
huyện ven biển Thái Thuỵ, chiếm 4,69% tổng diện tích tự nhiên; pKcl = 6,5 - 7,5; mùn, N, P trung bình, P dễ tiêu trung bình, K dễ tiêu trung bình khá, dung tích đất
hấp thu cao
2 1.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
2.1.4.1 Đặc điểm khí hậu chính khu vực nghiên cứu
Tính chất khí hậu của hệ thống tưới là khí hậu vùng đồng bằng duyên hải,
chịu nhiều ảnh hưởng điều kiện khí tượng phát sinh từ biển
- Nhi ệt độ: Nhiệt độ trung bình năm (23 – 24) o
C, nhiệt độ cao nhất (34 – 37)oC, cao nhất đạt tới 40o
C, nhiệt độ thấp nhất (dưới 10o
C)
- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình cả năm đạt 86 % tại Thái Bình; độ ẩm
cao nhất là tháng 3 (đạt 91 %), tháng thấp nhất là tháng 1 có thể đạt trị số thấp nhất tuyệt đối là 16%
- B ốc hơi: Tổng lượng bốc hơi cả năm tại Thái Bình (871 mm) Tháng có
lượng bốc hơi nhiều nhất là tháng 7 đạt 116 mm Tháng có lượng bốc hơi ít nhất là tháng 3 đạt 40 mm
- N ắng: Tổng số giờ nắng cả năm ở Thái Bình là 1.655 giờ Tháng có giờ
nắng nhiều nhất là tháng 7 đạt 233 giờ, và tháng ít nhất là tháng 2 chỉ đạt 35 giờ
- Gió : Có hai mùa chính gió mùa đông nam từ tháng V đến tháng X và gió mùa đông bắc từ tháng XI đến IV
- Bão: Hàng năm có từ 1 đến 3 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết, thuỷ văn của tỉnh, thông thường tốc độ gió từ 40 đến 45 m/s
Trang 31- Lượng mưa và phân bố mưa: Tổng lượng mưa trung bình cả năm ở trạm
Thái Bình đạt 1.805 mm Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 7, 8, 9, trong đó lượng mưa tháng 9 lớn nhất tới 942 mm (1975), trên 1000 mm (2003) Mưa lớn gây úng thường do bão, áp thấp nhiệt đới, lại trùng vào kỳ triều lửng khó tiêu tự chảy ra biển chiếm tới 63% các trận mưa úng Số ngày mưa cả năm trung bình nhiều năm đạt 144 ngày Tháng có số ngày mưa ít nhất là tháng 12 Tháng 3 tuy có ngày mưa phùn nhiều nhất năm nhưng lượng mưa rất nhỏ và ngày càng có xu
thế giảm đi rõ rệt
2.1.4.2 Th ủy văn thủy triều và nguồn nước khu vực nghiên cứu
- M ạng lưới sông ngòi bao gồm các sông lớn và sông nội đồng
+ Sông l ớn: Nguồn nước mặt cấp cho sản xuất và dân sinh đối với tỉnh duy
nhất là từ sông Hồng Sông Hồng được tạo thành bởi các sông Đà, sông Thao, sông
Lô Gâm đến Việt Trì với diện tích lưu vực 51.750 km2
Chiều dài sông Hồng từ nguồn đến biển là 1.138,5 km Lưu vực sông Hồng tính đến Sơn Tây diện tích lưu
vực 143.700km2, tổng lượng nước tương ứng vào khoảng 118 tỷ m3/năm, lượng nước này được phân ra các phân lưu chính: sông Đuống 28% ÷ 30% vào mùa lũ và 25% ÷ 25,2% vào mùa cạn; sông Luộc 9% ÷ 12% (mùa lũ); 7% ÷ 8% (mùa kiệt); sông Trà Lý 8% ÷10% (mùa lũ); 9% ÷ 11% (mùa kiệt); sông Đào Nam Định với tỷ
lệ 29% ÷ 31% về mùa lũ, 27% ÷ 35% về mùa kiệt Sông Ninh Cơ với tỷ lệ 6% ÷ 9%
về mùa lũ, 7% ÷10% về mùa kiệt
Sông Hồng chảy qua tỉnh Thái Bình với chiều dài 77 km, là nguồn nuớc chính cấp cho tỉnh và phân lưu vào các nhánh sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý để
cấp nước tưới cho hệ thống tưới Bắc Thái Bình
- Sông Lu ộc là một phân lưu của sông Hồng nối sông Hồng với sông Thái
Bình, chiều dài chảy qua địa phận của hệ thống tưới dài 53 km Hàng năm chuyển lượng nước trung bình từ 28÷30% vào mùa lũ, 25÷25,2% vào mùa kiệt từ sông
Trang 32Hồng về sông Thái Bình Phần lớn lượng nước sông Luộc chuyển về sông Mới vào sông Văn Úc
- Sông Trà Lý là phân lưu của sông Hồng, bắt đầu từ xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý Sông dài 67 km ranh
giới phân khu tưới của tỉnh Thái Bình thành hệ thống Bắc và hệ thống Nam
- Sông Hóa nối sông Luộc với biển, chiều dài chảy qua địa phận của hệ
thống tưới là 38 km Là nguồn nước chính cung cấp cho hệ thống tưới Bắc Thái Bình
+ Sông n ội đồng: Tổng chiều dài các sông nội đồng của tỉnh Thái Bình trên
2.820 km gồm có sông trục chính, cấp I, cấp II và cấp III Do đặc điểm sông Trà Lý chia tỉnh thành 2 hệ thống độc lập nên mạng lưới sông ngòi cũng có 2 hệ thống tách
biệt:
- Hệ thống tưới Bắc Thái Bình có sông trục chính Tiên Hưng, Sa Lung dài
102 km 27 sông cấp I dài 250 km, 207 sông cấp II dài 688 km, 726 sông cấp III dài 675 km
- Hệ thống Nam có sông trục chính Kiến Giang, Cổ Rồng dài 65 km, 19 sông cấp I dài 166 km, 72 sông cấp II dài 283 km, 428 sông cấp III dài 590 km
- Ch ế độ thuỷ văn của biển đông: theo chế độ nhật triều, 14 ngày 1 kỳ triều
về mùa kiệt nước mặn xâm nhập sâu vào cửa sông Hồng, sông Trà lý, sông Hoá làm
cho một số khu vực không có nguồn nước ngọt để tưới Về mùa lũ sau khi có hồ Hoà Bình mực nước lũ thường duy trì cao, kéo dài nhiều ngày (báo động I kéo dài
nhất 32 ngày, báo động III kéo dài tới 15 ngày), tuy nhiên có năm hầu như không có
lũ như năm 2010, 2011 Việc lấy nước sa tự chảy vào hệ thống kênh nổi vụ mùa thuận lợi, nhưng việc tiêu nước ra các cống tiêu hạ du lại bị hạn chế
- Ch ế độ thuỷ văn nội đồng: Phụ thuộc hoàn toàn vào vận hành của hệ thống
tưới cho vụ đông xuân và vụ mùa Hệ thống tưới Bắc Thái Bình, nước được lấy qua các cống dọc triền sông Luộc, Hoá, Trà Lý và sông Hồng khi thuỷ triều lớn
Trang 33và tiêu ra bằng các cống hạ du triền sông Hóa, Trà Lý, sông Hồng và trực tiếp tiêu ra biển bằng cống Trà Linh;
Đối với vụ Đông Xuân: Hệ thống sông ngòi trong nội đồng lấy nước trữ và
điều tiết cung cấp nguồn nước cho các trạm bơm tưới là chính Khi nguồn nước ở vùng ven biển bị nhiễm chua mặn thì được điều tiết tiêu thải ra biển Tháng 5 trở đi
nếu có lũ tiểu mãn thì mở cống để lấy phù sa đại trà vừa làm chắc hạt lúa xuân vừa
giữ lấm cho làm đất vụ mùa
V ụ mùa: Thực hiện quá trình lấy nước phù sa đại trà toàn hệ thống tưới Bắc
Thái Bình dâng cao mực nước để lấy phù sa tự chảy Giai đoạn lúa mùa đã cấy trở
đi, hệ thống tưới thực hiện phương thức tưới tiêu tách rời là chủ yếu Mực nước ở các sông, kênh chìm được giữ ở mức thấp đề phòng úng ngập Trường hợp khi có mưa thì toàn hệ thống sẽ được tiêu ra các cống hạ du và cống ven biển
2.1.5 Đặc điểm thủy văn dòng chảy ở ngoài các sông lớn
Chế độ dòng chảy của các sông Luộc, sông Trà Lý và sông Hóa cấp nước tưới tiêu giống như các sông ở thượng lưu Dòng chảy hệ thống sông này đều ở hạ
du ven biển sông Hồng – sông Thái Bình được tiếp nhận nguồn nước ngoại lai chảy vào và nguồn nước sinh thủy tại chỗ Chế độ dòng chảy ở các vùng ven biển chịu ảnh hưởng của thủy triều thường rất phức tạp và do chế độ triều chi phối Sự dao động của thủy triều có tác động tích cực đối với các cống lấy nước ở đỉnh triều và tiêu nước ở chân triều, nhờ chế độ dao động của thủy triều mà lượng nước ngọt trong đồng được giữ lại Tác động tiêu cực của thủy triều đã làm cho nước biển có
độ mặn cao lấn sâu vào các cửa sông của hệ thống Mực nước các sông đều chịu ảnh hưởng của thủy triều tuy mức độ khác nhau (ở cửa sông rất mạnh và giảm dần vào nội địa, mức độ ảnh hưởng khoảng từ 20 ÷ 30 km tuỳ theo từng con sông và theo thời gian)
Do ảnh hưởng chế độ thủy triều ở Vịnh Bắc bộ là nhật triều, tức là mỗi ngày
có một lần nước dâng cao lên tới mức cao nhất gọi là đỉnh triều và một lần xuống
thấp nhất gọi là chân triều Trong một tháng có hai kỳ triều (một kỳ triều cao và một
Trang 34kỳ triều kém hơn, mỗi kỳ khoảng 13,5 ngày) độ chênh chân đỉnh khoảng 2,5 ÷ 2m;
Nối tiếp giữa hai kỳ triều là một số ngày nước ròng với độ chênh chân đỉnh chỉ khoảng 0,2 ÷ 0,3m
Mực nước biển trung bình của các tháng IX đến tháng XII thường cao hơn
mực nước trung bình năm và thấp hơn vào các tháng còn lại Theo tài liệu quan trắc
mực nước trung bình của trạm Hòn Dấu có tăng khoảng 10 ÷ 12 cm trong thế kỷ qua nguyên nhân là do biến đổi khí hậu toàn cầu làm mực nước biển gia tăng Mực nước cao nhất tại Hòn Dấu là 2,66m (tháng 10 năm 1955 khi xảy ra bão) và mực
nước thấp nhất là -1,62m (tháng 1 năm 1969); biên độ triều lớn nhất 3,94m Do ảnh hưởng triều trong mùa khô từ tháng XII đến tháng V, nước ở các đoạn sông gần
biển thường chảy hai chiều, nguồn nước ngọt và thủy triều tác động trực tiếp đến
mức độ xâm nhập mặn trong các sông vùng hạ du
Độ mặn ngoài biển hầu như là ổn định, mùa cạn là 33 ‰ và mùa lũ là 32‰ Khu vực ven bờ biển thì độ mặn biến đổi theo mùa (mùa lũ, mùa cạn và lượng nước
ngọt trong sông đổ ra biển) và thường mùa cạn độ mặn trong tháng và trong ngày
biến đổi ít, trung bình khoảng từ 29 ÷ 32 ‰, mùa lũ độ mặn biến đổi nhiều hơn (lớn lúc đỉnh triều, nhỏ lúc chân triều) Diễn biến độ mặn trong sông qua số liệu đo đạc thì cũng biến đổi theo mùa: nhỏ về mùa lũ, lớn về mùa cạn và tuỳ theo lượng nước
ngọt từ thượng lưu đổ về và độ lớn của sóng triều, mạng lưới sông, mưa, gió, bão
Diễn biến độ mặn trong sông bắt đầu từ tháng XI năm trước đến tháng V năm sau (tăng dần từ đầu mùa đến giữa mùa rồi giảm dần đến cuối mùa) Độ mặn lớn nhất trong sông thường xảy ra vào các tháng I, II, III trong đó xảy ra vào tháng III chiếm 64‰ và 32,2‰ ở tháng I và II còn lại ở các tháng khác
Độ mặn trong các sông từ năm 1987 trở về trước còn rất được quan tâm do
nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế cũng như đời
sống nhân dân, sau khi hồ Hoà Bình đi vào hoạt động một cách đầy đủ đã góp phần
cải thiện vấn đề xâm nhập mặn (tuy chưa đủ số liệu để minh họa điều này) Tình hình mặn ở hạ du còn được cải thiện tốt hơn nữa khi mà hồ chứa Sơn La ra đời
Trang 35Nhìn chung tình hình xâm nhập mặn là không nghiêm trọng (mặn không vào sâu, đê sông đê biển và các công trình ngăn mặn đều đã có)
Tuy nhiên từ năm 2006 trở lại đây tình hình diễn biến xâm nhập mặn do hạn hán ngày càng trở nên phức tạp là do dòng chảy mùa khô từ thượng nguồn đổ về ngày càng cạn kiệt
2.2 Tình hình dân sinh, kinh t ế, xã hội vùng nghiên cứu
2.2.1 Dân sinh
2.2.1.1 T ổ chức hành chính
Vùng nghiên cứu gồm huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Thái Thuỵ, Quỳnh
Phụ, phần phía Bắc thành phố Thái Bình
2.2.1.2 Dân cư và lao động
Dân số vùng nghiên cứu : 1.030.000 người, mật độ trung bình 1.186 người/km2
, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,17%, lao động trong độ tuổi 466.000 lao động
Tỷ lệ bình quân: đất canh tác 563 m2/người, theo lao động 1.246 m2/lao động, lương thực 527 kg/người Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính và thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghiệp, với dân số sống bằng nghề nông chiếm 90% Mật độ dân số bình quân 1.203 người/km2 cao hơn 5 lần so với mật độ bình quân của cả nước.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hiện nay là 0,945% ở vùng nông thôn có tỷ lệ tăng dân số 0,96%, khu vực thành thị 0,93% Tổng số người trong độ tuổi lao động chiếm 56% so với tổng dân số, từ năm 1991 đến nay số người trong độ tuổi lao động tăng bhàng năm đây là áp lực giải quyết việc làm
Lao động khu vực nông lâm nghiệp của toàn tỉnh vẫn chiếm tỷ trọng lớn 74,7%, trong công nghiệp-xây dựng 18,3% và khu vực dịch vụ 6% Cơ cấu sử dụng lao động có chiều hướng tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp xây
dựng và giảm tương đối trong khu vực nông nghiệp Trong đó hệ thống tưới Bắc Thái Bình có số lao động khu vực nông lâm nghiệp chiếm 90% cao nhất của tỉnh
Trang 362.2.1.3 Trình độ dân trí
Đa số lực lượng lao động đã tốt nghiệp cấp II và cấp III, nhìn chung số lao động có trình độ văn hoá tương đối cao so với các tỉnh khác, nhưng đa số lại không được đào tạo nghề, lao động đã qua đào tạo chiếm 18,5% ở vào mức trung bình so
với cả nước (trong đó đại học 4%, trung học 5%, công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ 9,5%), lao động chưa qua đào tạo chiếm 81,5% Nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật
kể cả kỹ thuật giỏi ở các ngành nghề kinh tế, để áp dụng các công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất là yêu cầu cần thiết của tỉnh
Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư trong vùng từng bước được cải thiện đáng kể, điều kiện ăn ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, vui chơi giải trí, chất lượng giáo dục và dịch vụ y tế đã được nâng lên một bước, nhất là ở những xã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển đa dạng ngành nghề, lấy công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống làm hạt nhân,
bộ mặt nông thôn trong khu vực có thay đổi lớn
Nhiều trung tâm văn hoá, mạng lưới dịch vụ, hệ thống đường giao thông nông thôn, mạng lưới điện thắp sáng có bước phát triển nhanh đă góp phần nâng cao dân trí và tinh thần cho người dân
2.2.2 Nông nghi ệp
2.2.2.1 Hi ện trạng sản xuất nông nghiệp:
T ỉnh Thái Bình: Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thái Bình 155.789 ha đất tự nhiên
hệ thống tưới Bắc Thái Bình chiếm 87.32 ha Cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh theo bảng 2.4 Trong đó:
+ 103.732 ha đất nông nghiệp trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp 95.830 ha, diện tích cấy lúa 82.000 -84.000ha, diện tích cây màu 12.000 - 15.000
ha, diện tích cây vụ đông trên 40.000 ha Bình quân đất nông nghiệp trên 1 người là
579 m2/người, tổng sản lượng lương thực đạt trên 1 triệu tấn/năm;
+ 45.873 ha đất phi nông nghiệp;
+ 2.583 ha đất chưa sử dụng và sông suối;
Trang 37+ 10.177 ha đất có mặt nước ven biển;
- Kết quả sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản năm 2011:
Tổng giá trị sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản (giá cố định) đạt 6.485 tỷ đồng; tăng trưởng 4,76% so với năm 2010, vượt kế hoạch tăng trưởng tỉnh giao là 4,4%
B ảng 2.2 Thống kê diện tích và phân bố diện tích
TT Tên xã
Diện tích tự nhiên (ha)
Diện tích đất nông nghiệp (ha) Diện
tích đất phi nông nghiệp (ha)
DT đất chưa sử
dụng (ha)
Tổng
diện tích
DT
trồng lúa
DT
trồng cây hàng năm khác
DT
trồng cây lâu năm
DT nuôi
trồng thuỷ
sản (ha)
Ngu ồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Thái Bình
H ệ thống tưới Bắc Thái Bình: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vàthời vụ
cây trồng ghi trong bảng 2.3, 2.4 Sản xuất nông nghiệp của hệ thống tưới Bắc Thái
Bình, sản lượng hai vụ đạt trung bình 1.187 tỷ đồng,
Trang 38B ảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Ngu ồn: Công ty TNHH 1TV KTCTTL Bắc Thái Bình
B ảng 2.4 Cơ cấu giống và thời vụ gieo cấy các loại cây trồng chính
Vụ Trà lúa Giống Tỷ lệ % Thời gian
Diện tích gieo trồng cả năm của tỉnh là 228.517 ha, giảm 1.397 ha so với năm
2010 Trong đó, diện tích gieo trồng vụ đông xuân 133.691 ha giảm 956 ha so với năm trước, gồm: diện tích lúa xuân 82.431 ha (lúa gieo thẳng 16.394 ha) Diện tích cây vụ đông xuân 51.260 ha Năng suất lúa xuân đạt 72,6 tạ/ha, tăng 2 tạ/ha so năm 2010
Về vụ mùa diện tích gieo trồng đạt 94.826 ha, giảm 471 ha, trong đó lúa mùa 83.283 ha, diện tích cây màu hè thu 11.543 ha Năng suất lúa mùa đạt 59,23 tạ/ha.Giá trị
sản xuất ngành trồng trọt đạt 3.371 tỷ đồng, tăng 0,97% so với năm 2010
Trang 39Theo kết quả điều tra 1/10/2011 của Cục Thống kê tỉnh, tổng đàn Trâu, Bò
có 65.211 con, tổng đàn lợn có 1.118.259 con, đàn gia cầm có 9.261.128 con
Giá trị sản xuất chăn nuôi đạt 2.055 tỷ đồng, tăng 8,05% so với năm 2010
2.2.2.4 Th ủy sản
Giá trị sản xuất thủy sản của năm 2011 đạt gần 863 tỷ đồng tăng 11,38% so
với năm 2010 Cả 3 lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ thủy sản đều
có mức tăng trưởng khá cao
Nuôi trồng thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 13.490 ha, tăng
149 ha Trong đó tăng diện tích vùng nuôi ngao, tăng sản lượng ngao 19,48% và tăng sản lượng nuôi tôm sú 13,05% so với năm 2010
2.2.2.5 Lâm nghi ệp
Thực hiện kế hoạch trồng cây vụ xuân và kế hoạch trồng rừng năm 2011, toàn tỉnh đó trồng được 1.415.000 cây phân tán nội đồng, tăng 35.000 cây so năm 2010.vGiá trị sản xuất lâm nghiệp đạt gần 9 tỷ đồng, giảm 0,6% so năm 2010
2.2.3 Hi ện trạng sản xuất công nghiệp tỉnh Thái Bình
Năm 2009 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 8.034 tỷ đồng Ở Thái Bình đã hình thành 6 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 816 ha, 17 cụm công nghiệp
Trang 40(CCN) và 20 điểm công nghiệp (ĐCN) với tổng diện tích 846 ha Trên địa bàn tỉnh
có trên 580 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và khoảng 60.000 cơ sở sản xuất công nghiệp cá thể
Trong ngành đó có nhiều doanh nghiệp có quy mô khá, thiết bị công nghệ tiên
tiến, một số sản phẩm hàng hóa có giá trị, có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài tỉnh:
- Trong lĩnh vực sản xuất cơ khí: Đó là nhà máy nấu-cán thép công suất 600.000 tấn/năm của Công ty TNHH Shengli (Trung Quốc), dây chuyền đúc nhôm
của Công ty YANGSIN, dây chuyền cán kéo thép của Công ty Đông Phương Hồng, Nhà máy sản xuất tôn mạ màu (công suất 50.000 tấn/năm), dây chuyền sản xuất khung nhà thép tiền chế (của Công ty Trường Phong), một số nhà máy đóng tàu (của Công ty Thành Long, Công ty Đại Dương, Cơ sở Nguyễn Văn Tuấn) có khả năng đóng tàu đến 12.500 DWT
- Trong lĩnh vực sản xuất gốm sứ, thủy tinh, vật liệu xây dựng Đó hình thành KCN Tiền Hải với gần 40 cơ sở sản xuất gốm sứ, thủy tinh, trong đó có 3 nhà máy
sản xuất gạch ốp lát (Công ty Gạch ốp lát Thái Bình, Nhà máy gạch men MIKADO, Công ty Sứ Tây Sơn) với tổng công suất thiết kế 17 triệu m2
phần Đầu tư và Phát triển Đức Vượng, Công ty Cổ phần Thương mại xuất nhập
khẩu DATEX, Công ty Bitexco Nam Long, Công ty Cổ phần Sợi DAMSAN, Xí nghiệp Dệt Hồng Quân, Công ty Dệt Nhuộm xuất khẩu Thăng Long, Công ty TNHH Đông Phong, Công ty Cổ phần sợi Trà Lư) gồm 15 dây chuyền kéo sợi với