VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI--- MAI PHƯƠNG NGỌC CƠ CẤU KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA XÃ HOẰNG LỘC HOẰNG HÓA, THANH HÓA THỜI KÌ TRUNG ĐẠI Chuyên ngành: Lịch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -
MAI PHƯƠNG NGỌC
CƠ CẤU KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA XÃ HOẰNG LỘC (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)
THỜI KÌ TRUNG ĐẠI
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
Mã số: 62.22.54.01
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Tường
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Minh Đức
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS Vũ Duy Mền
Khoa Sử học, Học viện Khoa học Xã hội
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Trang 3Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
- Thư viện Viện Sử học
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dưới thời quân chủ, có hai sự kiện thường làm xôn xao cả làng xã, thứ nhất: có người thi đậu, được cả làng rước
về vinh qui bái tổ Thứ hai, có quan về làng: khi đi trong đường làng, dường như người ta ai cũng muốn ra để được trôngthấy ông quan Và hầu như, với tất cả những ai đang sống trong làng, những người đỗ đạt thành danh đã đi khỏi làng,cũng đều mong muốn được hưởng cái giây phút trở thành nhân vật chính trong hai sự kiện ấy Bởi lẽ, quyền được làmngười một làng là quyền thiêng liêng, không thể tước đoạt của mỗi người, cho dù đó là ông quan nhất phẩm, hay người
dân cày nghèo quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Người dân Việt Nam trước hết là người của làng, thành
Trang 4viên của làng, sau đó mới là dân của nước Điều đó để thấy rằng, làng xã đóng vai trò quan trọng trong đời sống của mỗingười Việt Nam như thế nào
Không chỉ vậy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước, làng xã là nơi cố kết sức mạnh cộng đồng, nơihình thành, nuôi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào và tự tôn dân tộc Bản sắc và bản lĩnh Việt Nam có cội nguồn từtrong văn hoá làng, hay nói cách khác làng xã là cơ sở nền tảng của văn hoá, văn minh Việt Nam Nghiên cứu về làng xãkhông chỉ nhằm làm sáng tỏ lịch sử hình thành, phát triển của làng Việt mà thông qua đó góp phần nhận diện rõ hơn vềlịch sử đất nước, về tâm lí, cốt cách con người Việt Nam Chính vì vậy, đề tài về làng xã luôn nhận được quan tâm củađông đảo các nhà nghiên cứu, là vấn đề mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Sở dĩ, chúng tôi lựa chọn xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) để nghiên cứu vì những lí do sau đây:
Thứ nhất, từ lâu các làng xã thuộc châu thổ sông Hồng đã được nghiên cứu khá kỹ, còn các làng xã thuộc châuthổ sông Mã, dường như chưa nhận được sự quan tâm thích đáng của giới sử học nước nhà
Thứ hai, xã Hoằng Lộc là một trong những xã hình thành từ lâu đời, mang những sắc thái tiêu biểu của xứThanh
Thứ ba, tác giả là một người con được sinh ra và lớn lên ở quê hương Thanh Hóa, nên mong muốn tìm hiểu mộtlàng xã quê hương, vừa như một sự tri ân, vừa để hiểu chính mình…
Nghiên cứu về xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) là một nghiên cứu trường hợp Với nghiên cứu này,chúng tôi mong muốn hiểu rõ hơn về cơ cấu kinh tế, xã hội và văn hóa của Hoằng Lộc dưới thời trung đại Trên cơ sở
đó, chúng tôi hi vọng xây dựng nguồn tư liệu góp phần vào việc tìm hiểu sự ra đời và phát triển cũng như nhận diện vềđặc trưng, tính cách của làng xã vùng châu thổ sông Mã
Trang 5Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề: Cơ cấu kinh tế, xã hội và văn hóa xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa,
Thanh Hóa) thời kì trung đại để làm đề tài Luận án Tiến sĩ của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và làm rõ cơ cấu kinh tế xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) thời kì trung đại: từ kinh tế nôngnghiệp, thủ công nghiệp đến kinh tế thương nghiệp và nghề dạy học
- Tìm hiểu tổ chức xã hội xã Hoằng Lộc dưới thời trung đại, với các “cấu kiện đúc sẵn” và các kết cấu đặc trưng
riêng của Hoằng Lộc
- Tìm hiểu đời sống văn hóa xã Hoằng Lộc thời kì trung đại, qua đó cho thấy nét đặc trưng của một làng quê xứThanh hiếu học và khoa bảng
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là cơ cấu kinh tế, xã hội, văn hóa xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa)thời kì trung đại
Về không gian, không gian nghiên cứu của Luận án được giới hạn là xã Hoằng Lộc, thuộc huyện Hoằng Hoá,
tỉnh Thanh Hoá - một đơn vị hành chính cấp cơ sở ngày nay Trong quá trình thực hiện, chúng tôi có sự quy chiếu đểthấy sự thay đổi địa giới hành chính của vùng đất này qua quá trình phát triển Đến giữa thế kỉ XIX, vùng đất Hoằng Lộcngày nay gồm hai xã: Hoằng Đạo, Bột Thái và cuối thế kỉ XIX, đổi thành Hoằng Nghĩa và Bột Hưng, thuộc tổng Hành
Vĩ, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Đồng thời, có đôi chỗ, khi vấn đề trình bày cần có sự so sánh, đốichiếu, Luận án cũng đề cập một số nét về các làng xung quanh hoặc các làng có vấn đề nghiên cứu tương đồng
Trang 6Về thời gian, Luận án nghiên cứu về xã Hoằng Lộc trong thời trung đại, giới hạn từ đầu thế kỉ X đến khoảng
giữa thế kỉ XIX Tất nhiên, lịch sử là một dòng chảy liên tục, do vậy, trong khi nghiên cứu, nếu thấy cần thiết, chúng tôi
sẽ đề cập phần nào đến khoảng thời gian trước hoặc sau đó
Về nội dung, Luận án tìm hiểu về cơ cấu kinh tế, xã hội và văn hoá của Hoằng Lộc trong thời kì trung đại Tuy
nhiên, chúng tôi không có tham vọng sẽ bao quát và đi sâu được mọi khía cạnh của các vấn đề, mà ở đây, chúng tôi giớihạn tìm hiểu về những nét cơ bản nhất, đặc trưng nhất trong các lĩnh vực nêu trên
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
- Tài liệu tham khảo: các thư tịch chữ Hán (đã được dịch ra tiếng Việt) như: các bộ địa lí học - lịch sử và sử học,một số tác phẩm tùy bút, tạp ký bằng chữ Hán dưới thời trung đại và các công trình nghiên cứu có liên quan của các tácgiả đi trước
- Tài liệu lưu trữ: tại phòng Địa chí Thanh Hóa và trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bao gồm các sách như: Đăng
khoa lục Thanh Hóa, Thanh Hóa tỉnh địa dư chí, Địa bạ hai xã Hoằng Đạo, Bột Thái năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), tài
liệu Châu bản của triều Nguyễn cũng lưu lại 142 bản tấu, dụ, lệnh chỉ có liên quan đến Hà Duy Phiên v.v
- Tài liệu điền dã: các văn bia, thần tích, sắc phong, câu đối, các hương ước, thúc ước, các gia phả dòng họ, bằngsắc, chúc thư, các tư liệu vật chất như văn chỉ, đình, chùa, lăng miếu, từ đường các dòng họ, các ngôi nhà cổ, giếnglàng , các tài liệu truyền miệng, bao gồm truyền thuyết dân gian về lịch sử làng, ca dao, tục ngữ v.v
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để đánh giá,phân tích và rút ra các kết luận
Trang 7Về phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (phương pháp hệ thống - cấu trúc,phương pháp hồi cố, thống kê, phương pháp phỏng vấn xã hội học v.v ) kết hợp phương pháp chuyên ngành(phương pháp lịch sử và phương pháp logic) trong mối quan hệ tổng thể, bình đẳng.
5 Đóng góp của luận án
Luận án được hoàn thành sẽ góp thêm một công trình nghiên cứu về làng xã Thanh Hoá nói riêng và làng xãViệt Nam nói chung Từ nghiên cứu này để nhìn nhận rõ hơn về những nét chung cũng như tính đa dạng, đặc thù củalàng xã Việt Nam truyền thống
Các kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được sử dụng trong việc tìm hiểu về làng xã, nông thôn xứ Thanh tronglịch sử Qua đó, công trình có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương
Từ các kết quả nghiên cứu của Luận án, những người con Hoằng Lộc có thể thấy được những giá trị văn hóacao đẹp của quê hương để tự hào, gìn giữ, phát huy; đồng thời khắc phục các hạn chế tiêu cực trong đời sống làng xãhiện tại
6 Kết cấu luận án:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương 2: Cơ cấu kinh tế
Chương 3: Tổ chức xã hội
Chương 4: Đời sống văn hoá
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Những nghiên cứu về làng xã trên toàn quốc
1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài
Ngay từ thế kỉ XVII, làng Việt là đối tượng điều tra của các thương nhân và giáo sĩ phương Tây Từ cuối thế kỉXIX đến đầu thế kỉ XX, để phục vụ cho công cuộc thực dân hoá, thực dân Pháp đã đẩy mạnh nghiên cứu về làng Việt.Trong các giai đoạn về sau, ngày càng xuất hiện nhiều các công trình của các tác giả nước ngoài thuộc nhiều nước khác
nhau nghiên cứu về làng Việt, trong đó nhiều công trình đã được dịch và xuất bản như: Luật và xã hội Việt Nam thế kỉ
XVII, XVIII của tác giả Insun Yu, Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ của John Kleinen v.v Điều đó cho thấy,
muốn tìm hiểu thấu đáo về đời sống và cốt cách con người Việt Nam thì cần nhận diện rõ vai trò của làng Việt
1.1.2 Các công trình của các tác giả trong nước
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, các tác giả như Nguyễn Văn Huyên, Phan Kế Bính đã có nhiều công trìnhtìm hiểu về đời sống, phong tục, tập quán làng Việt Sau Cách mạng tháng Tám, các nghiên cứu về làng xã ngày càng
phong phú và sâu sắc hơn, tiêu biểu như Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (1959), Chế độ ruộng đất và kinh
tế nông nghiệp thời Lê sơ của Phan Huy Lê (1959) v.v Đặc biệt, từ sau năm 1975, làng xã trở thành đề tài được quan
tâm nghiên cứu trên tất cả các phương diện với các công trình của nhiều tác giả tiêu biểu như: Trần Từ, Phan Đại Doãn,Bùi Xuân Đính, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Duy Mền v.v
1.2 Nghiên cứu về Thanh Hóa và Hoằng Hóa
1.2.1 Các công trình của tác giả nước ngoài
Hiện nay, tại thư viện tỉnh Thanh Hóa còn lưu lại một số tài liệu nghiên cứu của các học giả nước ngoài liên
quan đến địa phương Đặc biệt, cuốn sách Le Thanh Hoa (Tỉnh Thanh Hóa, 1929) của Ch.Robequain, dù có những vấn
Trang 9đề về quan điểm cần phải xem xét, song những nhận định về làng Việt, về cây lúa, hoa màu, gia súc, nghề đánh cá, nghềthủ công và việc buôn bán cho thấy quá trình tìm hiểu và điền dã thực tế một cách nghiêm túc, công phu của tác giả.
1.2.2 Các công trình của tác giả trong nước
Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu về làng xã Thanh Hóa và Hoằng Hóa, có thể kể đến các công trình như: sách
Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh của tác giả Hoàng Anh Nhân và Lê Huy Trâm, Làng nghề thủ công và làng khoa bảng thời phong kiến ở đồng bằng sông Mã của Hà Mạnh Khoa, Địa chí văn hoá Hoằng Hoá (Ninh Viết Giao chủ biên) v.v Trường
hợp xã Hoằng Lộc, trước khi chúng tôi thực hiện đề tài này, đã có một vài công trình tìm hiểu về lịch sử, văn hoá, phong tục,tập quán và kiến trúc, bao gồm sách, luận văn cao học, một số bài viết trên các tạp chí và đăng trong kỉ yếu các cuộc hội thảo
khoa học Tiêu biểu nhất cần phải kể đến cuốn sách Hoằng Lộc đất hiếu học của các tác giả Bùi Khắc Việt, Nguyễn Đức
Nhuệ (1996)
1.3 Một vài nhận xét về tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án
Trong các công trình về Hoằng Lộc, các tác giả đã tập trung tìm hiểu nhiều nhất trên phương diện văn hóa, baogồm các vấn đề: truyền thống khoa bảng, Bảng Môn Đình, chùa Thiên Nhiên, lễ hội Các kết quả của những tác giả đitrước là nguồn tài liệu có giá trị cao đối với chúng tôi trong nghiên cứu Tuy vậy, điều đó không có nghĩa chúng tôi kếthừa hoàn toàn các kết quả trước đó Trên cơ sở các nguồn tư liệu mới, chúng tôi đi sâu phân tích, bổ sung các số liệu, từ
đó giải quyết các vấn đề đặt ra chính xác và khoa học hơn Bên cạnh đó, các vấn đề về kinh tế, xã hội của Hoằng Lộcthời trung đại vẫn là khoảng trống chưa được nghiên cứu Chúng tôi hi vọng, dựa trên sự khảo cứu từ nhiều nguồn tưliệu, Luận án sẽ mang lại những kết quả mới trong việc tìm hiểu về làng xã Hoằng Lộc thời kì trung đại
Tiểu kết chương 1
Các tác giả trong nước và nước ngoài đã có sự khảo cứu toàn diện về nông thôn, làng xã Việt Nam trong lịch sử Tuyvậy, vẫn rất cần thêm những nghiên cứu chuyên sâu về các làng xã cụ thể trên toàn quốc Đối với trường hợp xã Hoằng Lộc,
Trang 10từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề, chúng tôi khẳng định rằng: vấn đề Cơ cấu kinh tế, xã hội và vănhóa xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) thời kì trung đại mà chúng tôi lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho Luận án Tiến
sĩ sử học, tại cơ sở đào tạo Học viện Khoa học xã hội Việt Nam là một đề tài mới, có sự kế thừa song không trùng lặp các côngtrình đã công bố
Trang 11CHƯƠNG 2 CƠ CẤU KINH TẾ 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính Hoằng Lộc
2.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Trong tiểu mục này, chúng tôi khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên của Hoằng Lộc thời trung đại Trong
đó, có một điểm quan trọng là, nhờ nằm trên con đường thiên lí xưa kia của đất nước mà Hoằng Bột có điều kiện thamgia vào việc lưu thông thương mại, cũng như tiếp thu tinh hoa văn hóa từ Kinh Bắc, Thăng Long, Sơn Định vào và vănhóa từ phương Nam ra
2.1.2 Sự ra đời làng cổ và những thay đổi địa giới hành chính
Những tư liệu về tên cổ của làng (Kẻ Vụt) và những dấu tích khảo cổ thuộc thời kì văn hóa Đông Sơn được pháthiện rất gần Hoằng Lộc cho phép chúng ta đoán định ít nhất đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, trên địa bàn Hoằng Hoánói chung và Hoằng Lộc nói riêng, đã có sự tụ cư của người Việt cổ Tác giả khảo cứu quá trình lịch sử để thấy rằngvùng đất này đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính với các tên gọi khác nhau: Đường Bột, Đà Bột, Bột Thượng - BộtThái, Hoằng Đạo - Bột Thái, Hoằng Nghĩa - Bột Hưng Dưới thời trung đại, có một thời gian dài, Hoằng Lộc bao gồmhai xã với hai bộ máy quản lý riêng biệt Mặc dù vậy, đây vẫn là khối cộng đồng cư dân thống nhất tồn tại ổn định vàbền vững từ lâu đời Người dân hai xã vẫn thờ chung một vị thần thành hoàng tại Bảng Môn Đình Trong tâm thứcngười dân, nơi đây vẫn chỉ là Làng Bột hay Lưỡng Bột hoặc Nhị Bột
2.2 Nông nghiệp
2.2.1 Tình hình ruộng đất
Kết quả khảo sát tại Hoằng Lộc cho thấy: Ruộng được chia làm hai vùng: ruộng đồng (ruộng đồng sâu) và
ruộng bãi Trong các tài liệu, phản ánh đầy đủ nhất về tình hình ruộng đất nơi đây chính là Địa bạ năm Minh Mệnh 15
Trang 12(1834) của hai xã Hoằng Đạo, Bột Thái Theo đó, công tư điền thổ các hạng của hai xã là 447.6.8.8 Công điền: 10.1.0.0
chiếm 2,26% trong tổng diện tích công tư điền thổ các hạng, chiếm 3,63% diện tích ruộng đất công và tư tại hai xã Đây
là tỉ lệ thấp so với cả nước Diện tích tư điền: 267.8.4.0, trong đó 92,9% là ruộng hạng 3 Với 52 người được chép têntrong địa bạ Hoằng Đạo, Bột Thái thì mức bình quân ruộng đất/chủ sở hữu là: 2.3.9.2 Trong Luận án, tác giả đồng thời
đã so sánh tình hình ruộng đất của 2 xã Hoằng Đạo, Bột Thái với tất cả các làng xã lân cận và một số làng khoa bảngkhác của Hoằng Hóa
Về xâm canh, trong số 267.8.4.0 diện tích ruộng tư của hai xã Hoằng Đạo, Bột Thái thì xâm canh chiếm108.2.4.8 (40,42%), gồm 51 mảnh ruộng với 35 chủ sở hữu đến từ 8 xã trong huyện Hoằng Hóa Xét chiều ngược lại,phân tích địa bạ các xã có địa giới giáp với Hoằng Lộc, chỉ có 2 địa bạ có ghi người Hoằng Đạo, Bột Thái sang xâmcanh là thôn Ông Hòa, xã Đại Trung và Hành Đoan nhị xã
Thông qua các kết quả phân tích, có thể thấy đặc điểm ruộng đất ở Hoằng Đạo, Bột Thái là những thửa ruộngmanh mún Kết cấu sở hữu tư nhân về ruộng đất ở đây chủ yếu là nhỏ bé và phân tán Một vài chức sắc có sở hữu ruộngđất lớn hơn, ngoài ra, chủ yếu vẫn là sở hữu nhỏ, thậm chí không có sở hữu ruộng đất
2.2.2 Sản xuất nông nghiệp
Ở Hoằng Lộc, xét về mùa vụ, cũng như nhiều địa phương khác ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trồng trọt
ở Hoằng Lộc có hai vụ: vụ hạ (vụ chiêm) vào tháng 5 và vụ thu (vụ mùa) vào tháng 10 Địa bạ Hoằng Đạo, Bột Thái
năm Minh Mệnh 15 cho biết cụ thể: diện tích công điền có 8.0.0 vụ hạ; 9.3.0.0 vụ thu; trong diện tích tư điền thì hạ vụchiếm: 95 3.0.0 (35,58%); thu vụ: 172.5 4.0 (64,42%) Như vậy, vụ thu vẫn chiếm diện tích gieo cấy nhiều hơn hạ vụ
Về giống cây trồng, gần như suốt khoảng mấy trăm năm các giống cây trồng các loại vẫn không thay đổi Vụ
mùa gần như hoàn toàn trồng lúa Vụ chiêm, trên đất bãi có trồng thêm các loại hoa màu, đặc biệt là cây khoai lang và
Trang 13xen ngô, đỗ, lạc Ở Hoằng Lộc nói riêng và Hoằng Hóa nói chung, có một loại cây trồng nổi bật, đó là cây dừa Về kĩ
thuật canh tác, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: mặc dù chú ý thâm canh, chú ý tổng kết kinh nghiệm sản xuất, nhưng
người nông dân lại hầu như không chú ý đến việc cải tiến kĩ thuật Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày chìa vôi khẳngkhiu đi sau vẫn còn là hình ảnh phổ biến ở khắp mọi cánh đồng quê Việt Nam, thậm chí cho đến những năm cuối cùngcủa thế kỉ XX Do đó, năng suất lúa ở mức thấp
Ngoài trồng trọt, ở đây còn có chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm Có thể nói, dù nông nghiệp vẫn là loại hìnhkinh tế cơ bản của cư dân các làng xã Việt Nam thời trung đại, tuy nhiên, thực tế ở Hoằng Lộc thời trung đại do ruộngđất ít nên đời sống kinh tế của người dân nơi đây phải phụ thuộc vào nhiều nghề khác ngoài nông nghiệp Đó chính là
nghề dệt, nghề “chạy chợ” và cả nghề dạy học.
2.3 Thủ công nghiệp
Ở Hoằng Lộc, các nghề thủ công đã từng tồn tại dưới thời trung đại có thể kể đến như nghề thợ xây, nghề bốc
thuốc, nghề dệt Song, đúng tính chất là “nghề” đem lại giá trị trong đời sống kinh tế thì chỉ có nghề dệt Vì vậy, ở đây,
chúng tôi tập trung nghiên cứu về nghề thủ công này
Trong mục này, chúng tôi nghiên cứu về thời điểm du nhập nghề dệt, nguyên liệu, khung dệt và sự phát triểncủa nghề dệt ở Hoằng Lộc thời trung đại Qua đó, có thể khẳng định, nghề dệt đã có ở Hoằng Lộc từ rất sớm và đến thời
Lê Trung hưng, đã trở thành nghề phổ biến và đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các gia đình ở Hoằng Bột Từ khung
cửi thô sơ mộc mạc đã nuôi các “ông nghè, ông cống” ăn học thành danh Những phân tích cũng cho thấy, đặc điểm của
nghề thủ công dệt vải tại Hoằng Lộc là vẫn không tách rời khỏi nông nghiệp, các thợ dệt ở đây không thành lập cácphường hội riêng biệt Điều này làm cho các nghề thủ công ở Hoằng Bột, dù từng có những thời kì phát triển cũng
Trang 14không thể vượt qua cái vòng luẩn quẩn của kinh tế nhỏ bé là đặc điểm chung của thủ công nghiệp làng xã Việt Nam thờitrung đại.
2.4 Thương nghiệp
2.4.1 Chợ Quăng
Chợ Quăng tên chữ Hán là Thiên Quan thị 天 關 市 Trong Luận án, tác giả đã khảo cứu về tên chợ, quá trình
phát triển và hoạt động của chợ Thần phả Hoằng Bột cho biết chợ có từ thời nhà Lý Sách Đại Nam nhất thống chí ghi
rõ: Chợ Hoằng Nghĩa (tức chợ Quăng) là 1 trong số 44 chợ của tỉnh Thanh Bên cạnh đó, các tư liệu lịch sử khác, từnguồn gia phả đến các bộ địa lí - lịch sử, các công trình nghiên cứu thông qua điền dã của người Pháp đều chứng tỏ, đây
là một trong những chợ có qui mô lớn, lượng hàng hóa phong phú, có sự tham gia buôn bán nhộn nhịp của những ngườikhông chỉ trong huyện, mà cả trong tỉnh
2.4.2 Chợ Điếm
Đây là chợ chưa từng được nhắc đến trong bất kì công trình nghiên cứu nào về Hoằng Lộc, chúng tôi đã pháthiện trong đợt khảo sát tại làng xã này Chợ Điếm tồn tại thời trung đại, đến nay không còn hoạt động Sở dĩ có tên gọi làchợ Điếm vì chợ họp tại điếm canh của làng, chỉ chuyên buôn bán vải, mua sợi, có thêm vài hàng quà bánh dành cho trẻnhỏ Có thể nói, đây là chợ phục vụ riêng cho nhu cầu trao đổi hàng hóa và nguyên liệu của nghề dệt vải ở Hoằng Bột.Bởi vậy, sự ra đời và hoạt động của chợ Điếm cũng gắn liền với sự thịnh suy của nghề dệt
Sự tồn tại của chợ Quăng và chợ Điếm cũng cho thấy ở Hoằng Bột từ xưa đã hình thành một lớp người buônbán, nhưng chưa xuất hiện tầng lớp thương nhân lớn
Trang 152.5 Nghề dạy học
Trong xã hội Việt Nam trước đây, kết cấu kinh tế làng xã có ba thành phần: nông nghiệp, thủ công nghiệp và
thương nghiệp là tương đối phổ biến Ngoài ra, “còn có loại làng nông công thương sĩ (TG nhấn mạnh) Chẳng hạn
như làng Quỳnh Đôi (Nghệ An), Tiên Điền (Hà Tĩnh)… Ở những làng này, tầng lớp trí thức đóng vai trò quan trọng”
(Phan Đại Doãn) Hoằng Lộc cũng là một làng quê như vậy Trong tiểu mục này, tác giả đã chứng minh rằng: HoằngLộc là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, do đó, dạy học là một nghề danh giá, là con đường sống của một
bộ phận không nhỏ cư dân Người Hoằng Lộc đến nay vẫn còn lưu truyền câu ca “Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi
miệng” như một minh chứng cho giá trị kinh tế của nghề dạy học Những tư liệu được chép trong gia phả cho thấy, chính
nghề dạy học là con đường nuôi sống nhiều con người, nhiều tài năng, nhiều gia đình ở làng quê này Ở đây có nhiều
thầy giáo nổi tiếng, là một trong những trung tâm góp phần tạo nên hình ảnh “Ông đồ xứ Thanh” trong lịch sử.
Tiểu kết chương 2
Với diện tích ruộng ít hơn các làng xã xung quanh, các mảnh ruộng lại manh mún, nên mặc dù nghề nông dù lànghề chính, quan trọng nhất đối với người nông dân làng xã, song, tại Hoằng Bột, đa số cư dân chỉ có trong tay nhữngthửa ruộng nhỏ, hoặc cũng có khi không có ruộng Hiện tượng người Hoằng Lộc đi xâm canh tại các làng xã lân cậncũng không nhiều Hơn nữa, những người này cũng chỉ sở hữu ít ruộng đất, thậm chí không sở hữu ruộng tại bản xã,điều đó chứng tỏ, ruộng đất không phải là phương thức tích trữ, cũng không phải là phương thức kiếm sống chủ đạo của
cư dân Hoằng Lộc thời trung đại Vì vậy, những ngành nghề như nghề dệt, các hoạt động trao đổi buôn bán đóng vai tròquan trọng trong cơ cấu kinh tế nơi đây
Trang 16Nghề dệt vải là nghề thủ công tiêu biểu của Hoằng Lộc thời trung đại Có những thời kì, “vải Phú” của vùng KẻQuăng đã trở thành mặt hàng buôn bán gần xa, đây cũng là điều kiện quan trọng khiến cho vùng đất Hoằng Lộc nhộnnhịp hoạt động của chợ Quăng và chợ Điếm, trong đó chợ Quăng là chợ lớn của huyện Hoằng Hóa và của xứ Thanh
Một đặc điểm nữa về kinh tế ở vùng đất này, đó là ngoài cơ cấu kinh tế: nông - thủ công - thương nghiệp thôngthường như đa phần các làng quê Việt Nam khác, còn có một nghề góp phần tạo dựng “cơm ăn áo mặc” cho một bộphận cư dân, đó là nghề dạy học Điều quan trọng là, ở đây, người làm thợ, người đi buôn, người đi học, sự giao lưu, traođổi đã diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt thời trung đại Chính các hoạt động kinh tế này đã cho chúng ta minhchứng về “tính chất mở” của vùng đất Hoằng Lộc