Xuất phát từ lý do nêu trên, -mạch, tâm - thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi" với các mục tiêu sau: 1.. Xác định một số chỉ số tim - mạch, tâm -
Trang 1tãm t¾t luËn ¸n tiÕn sÜ y häc
Hµ Néi - 2013
Trang 2Ngêi híng dÉn khoa häc:
PGS.Ts TR ẦN ĐĂNG DONG PGS.Ts V ƯƠNG THỊ HÒA
Vào hồi 8 giờ 30 phút ngày 9 tháng 4 năm 2013
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i:
- Th viÖn quèc gia
- Th viÖn - Häc viÖn qu©n y
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên là lực lượng lao động chất lượng cao trong tương lai của xã hội,
là “nguyên khí” của mỗi quốc gia Chăm sóc sức khỏe cho sinh viên là nhiệm
vụ quan trọng không chỉ của nhà trường mà là của toàn xã hội Thời đại ngàynay, thời đại của sự hội nhập, toàn cầu hóa với sự phát triển vượt bậc của khoahọc kỹ thuật, cùng với ô nhiễm môi trường và yếu tố nội tại trong cơ thể conngười cũng trở thành những tác nhân gây căng thẳng (stressor) Stress tác độngtới mọi tầng lớp xã hội, trong đó có sinh viên Cuộc sống của sinh viên ở cáctrường đại học có nhiều yếu tố gây căng thẳng thần kinh - tâm lý , đặc biệt làđối với sinh viên các trường đại học Y Ngoài các stressor chung ở mọi sinhviên (điều kiện sinh hoạt, học tập ), sinh viên các trường đại học Y là nhữngngười có thời gian học tập tại trường dài nhất với khối lượng kiến thức lý thuyết
và thực hành rất lớn cùng với nhiều kỳ thi, do đó chịu nhiều áp lực gây căngthẳng chức năng tâm lý cao và trường diễn Nhiều nghiên cứu trên thế giới chothấy các stressor có thể làm thay đổi chức năng hệ thống miễn dịch, thần kinh,tim mạch và nội tiết của con người
Stress là hiện thực của cuộc sống, vì vậy chúng ta cần phải hiểu sự đáp ứngcủa cơ thể trong từng trạng thái căng thẳng Muốn vậy phải lượng hóa đượcmức độ stress bằng các chỉ số đo lường khách quan Ở Việt nam đã có một sốcông trình nghiên cứu về stress nghề nghiệp của các nhà khoa học thuộc ViệnKhoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Viện Y học lao động và Vệ sinh dịch tễ,của các nhà khoa học một số trường đại học Tuy nhiên còn rất ít nghiên cứu vềđáp ứng của hệ thống nội tiết, tim mạch và thần kinh của cá thể với trạng tháicăng thẳng, trong đó có đối tượng là sinh viên Xuất phát từ lý do nêu trên,
-mạch, tâm - thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi" với các mục tiêu sau:
1 Xác định một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh ở trạng thái tĩnh của sinh viên Đại học Y Thái Bình.
2 Đánh giá một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh và nội tiết tố sau hoạt động trí tuệ (sau buổi thi) của sinh viên Đại học Y Thái Bình.
Trang 4NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Cung cấp các số liệu về một số chỉ số tim - mạch và tâm - thần kinh trên
600 nam, nữ sinh viên đại học Y các khối từ Y1 đến Y5 trong trạng thái tĩnh
- Phát hiện sự biến đổi một số chức năng tim mạch, thần kinh và nội tiết sauhoạt động trí tuệ (sau buổi thi) của sinh viên Y Sau buổi thi ở các đối tượngnghiên cứu có tăng chỉ số căng thẳng tim-mạch, có sự biến động trong thành phầncác sóng điện não, tăng hàm lượng cortisol huyết thanh và catecholamin máu
- Các kết quả của luận án góp phần cho việc xây dựng một số chỉ số sinhhọc, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất những giải pháp nhằm hạnchế bớt căng thẳng, nâng cao sức khỏe và tài sản trí tuệ của sinh viên
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 152 trang: Đặt vấn đề 02, Tổng quan tài liệu 41, Đối tượng vàphương pháp nghiên cứu 20, Kết quả nghiên cứu 46, Bàn luận 40, Kết luận 02,Kiến nghị 01 trang, 60 bảng, 25 hình, 139 tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số chỉ số chức năng tim-mạch
1.1.1 Tần số mạch và huyết áp
Một trong những chỉ số đơn giản để đánh giá năng lực hoạt động của cơthể là tần số mạch và huyết áp động mạch Các chỉ số này dễ đo đạc, có thể đotrong thời gian dài, lặp đi lặp lại và những biến đổi của chúng rất dễ nhận biết
vì khi tăng cường độ lao động, tăng mức độ cảm xúc thì các chỉ số này cũngtăng theo Làm việc căng thẳng gây tăng nhịp tim, tăng huyết áp là do kíchthích hệ thần kinh giao cảm tủy thượng thận Nghiên cứu của Droogleever trêncác nghiên cứu sinh Hà Lan cho thấy mặc dù huyết áp thay đổi không đáng kể docăng thẳng trong lúc thi, nhưng mật độ thụ thể benzodiazepine ngoại vi,allopregnanolon và nồng độ cortisol ở các nghiên cứu sinh tăng lên đáng kể.Makarenco nghiên cứu trên sinh viên trong suốt quá trình kiểm tra căng thẳngcho thấy có sự giảm ảnh hưởng của thần kinh phó giao cảm trên nhịp tim, kíchthích chuyển hóa và tăng hoạt động của thần kinh giao cảm
Trang 5Ở Việt Nam, một số tác giả đã bước đầu sử dụng phương pháp đánh giáchức năng tim mạch thông qua tần số nhịp tim và huyết áp trong các dạng lao động có căng thẳng thần kinh - tâm lý cao như lao động của phi công, bộ đội,cảnh sát, nhân viên y tế, điều độ viên chỉ huy chạy tàu, nhân viên vận hành cácmáy móc tự động, điều phối viên không lưu.
1.1.2 Chỉ số thống kê toán học nhịp tim
Những năm gần đây, một số tác giả đã sử dụng các chỉ số thống kê toán
người đầu tiên đưa ra nguyên lý về các chỉ số TKTHNT của 100 khoảng RRliên tiếp trên điện tâm đồ bao gồm: khoảng RR trung bình (X), tần số nhịp timtrung bình (TSNT), độ lệch chuẩn (SD), hệ số dao động (V), Môt (Mo), biên độMôt (AMo) và khoảng dao động của RR tối đa và tối thiểu (X) Chỉ số căng
X.Mo) Tại hội nghị chuyên đề về vấn đề "Ứng dụng các phương pháp toánhọc để phân tích nhịp tim" các báo cáo của Baevski, Zemaichiche, Zatsiorxki,Parin cho thấy các chỉ số TKTHNT cho nhiều thông tin tốt để đánh giá trạngthái chức năng của cơ thể, đặc biệt là những nghề nghiệp có trạng thái căngthẳng cảm xúc cao
Gần đây, phương pháp TKTHNT đã được ứng dụng tại Việt Nam Một sốnghiên cứu của Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Thu Hà, Trần Thanh Hà, Nguyễn KhắcHải, Nguyễn Ngọc Sơn cho thấy căng thẳng trí tuệ và stress cấp tính gây tăngchỉ số căng thẳng và giảm sự dao động nhịp tim
1.2 Một số chỉ số chức năng tâm-thần kinh
Trí tuệ là một hoạt động tâm lý phức tạp bao gồm khả năng nhận thức,ngôn ngữ vận động và khả năng thích ứng với xã hội
1.2.1 Các test đánh giá trí tuệ
Người đầu tiên đề xuất tư tưởng trắc nghiệm và đưa ra thuật ngữ "trắcnghiệm tâm lý" là Francis Galton (1822-1911) Sau đó các loại test đánh giá trítuệ lần lượt ra đời như thang điểm Binet- Simon (1905), trắc nghiệm Stanford-Binet (1916), thang điểm Wechsler (1939), test Gille (1944), test Wisc (1949),test Raven (1960) Nhiều loại test trí tuệ đã được sử dụng rộng rãi ở các nướctrên thế giới như Nga, Mỹ, Ba Lan, Đức, Pháp Test Raven được UNESCOchính thức sử dụng để chuẩn đoán trí tuệ của con người vào năm 1960
Trang 6Ở Việt Nam từ trước những năm 80 thế kỷ XX, tại trường đại học Sư phạm
Hà Nội đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng test trong đánh giá kết quả họctập
của sinh viên như công trình của Trần Bá Hoành, Nguyễn Long Từ những năm 80đến nay, test trí tuệ đã được ứng dụng nhiều ở nước ta Hai cơ sở có đóng gópquan trọng trong lĩnh vực này là Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và trungtâm nghiên cứu trẻ em Hà Nội Các cơ sở này đã có nhiều công trình nghiêncứu về trí tuệ của học sinh cấp I II, III và của sinh viên đại học
1.2.2 Chú ý, trí nhớ và tư duy
Chú ý, trí nhớ, tư duy của con người là quá trình hoạt động tích cực, phứctạp và có vai trò quan trọng trong học tập cũng như trong xử lý thông tin trongnhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Tại Việt Nam, khi nghiên cứu các chỉ sốsinh học trên đối tượng là học sinh, Trần Thị Loan nhận thấy sự tăng nhanh khảnăng chú ý của nam, nữ học sinh cũng nằm trong khoảng thời gian tăng nhanhkhả năng nhớ và thời gian phát triển, hoàn thiện về mặt cấu trúc, chức năng củanão bộ Nghiên cứu của Lại Thế Luyện trên sinh viên cho thấy biểu hiện stress rõnhất và chiếm thứ bậc cao nhất trên sinh viên đó là khó tập trung chú ý, sau đó làkhó ghi nhớ Theo J Lazaus, stress làm tổn thương trí nhớ, gây ra sự bất ổn về tinhthần, không có khả năng tập trung, do dự, thiếu quyết đoán, thiếu chú ý, đầu óctrống rỗng…là những triệu chứng thường xuất hiện
1.2.3 Thời gian phản xạ thị giác - vận động, tốc độ xử lý thông tin
Thông tin đến với con người rất đa dạng, qua nhiều kênh khác nhau: thị giácchiếm tới 90%, thính giác, xúc giác Để đánh giá chức năng phản xạ đối với cơthể, ví dụ phản xạ thị giác - vận động, có chương trình nghiên cứu của nhóm Z1,Học viện Quân y dựa trên kỹ thuật xử lý trên máy vi tính Từ kết quả đo thời gianphản xạ thị giác - vận động tính được tốc độ xử lý thông tin Kết quả nghiên cứucủa Đỗ Công Huỳnh cho thấy thời gian phản xạ cảm giác- vận động giảm dầntheo tuổi, tuổi càng lớn (không quá 18), thời gian phản xạ càng ngắn Điều nàychứng tỏ quá trình xử lý thông tin ngày càng tốt hơn theo lớp tuổi Các nghiên cứucủa Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan, Mai Văn Hưng cũng cho kết quả tương tự vàthời gian phản xạ của nữ dài hơn so với ở nam
Trang 71.2.4 Nghiên cứu về mối liên quan giữa điện não đồ và hoạt động trí tuệ
Sự căng thẳng thần kinh - cảm xúc do môi trường học tập, sau các hoạtđộng trí tuệ là nguyên nhân gây những biến đổi về trạng thái chức năng của các
tế bào thần kinh Những biến đổi này xuất hiện sớm và có thể nhận thấy trênhình ảnh điện não đồ Vũ Đăng Nguyên cho thấy sự thay đổi các chỉ số EEGphụ thuộc vào nhiều yếu tố gây căng thẳng thần kinh Nghiên cứu của Trần ThịCúc cho thấy khi suy nghĩ, biên độ và chỉ số sóng alpha giảm, còn tần số và chỉ sốsóng beta tăng tỷ lệ thuận với năng lực trí tuệ Như vậy việc nghiên cứu sự thayđổi EEG lúc bình thường và sau lao động trí óc cho phép xác định khả năng hoạtđộng trí tuệ của từng cá thể
1.3 Trạng thái căng thẳng cảm xúc
Trạng thái căng thẳng cảm xúc là một quá trình phức tạp liên quan đến xãhội, yếu tố tâm lý và sinh lý Theo Hans Sélye, stress là trạng thái của cơ thểphát sinh khi bị tác động mạnh của các yếu tố từ bên ngoài hoặc bên trong cơ
thể Trong đó, cơ thể phải thay đổi đột ngột chương trình hoạt động sinh học,
nhằm đảm bảo cân bằng nội môi Những phản ứng không đặc hiệu của cơ thểtrong trạng thái stress được coi là hội chứng thích ứng chung (GAS) GAS gồm
ba giai đoạn: giai đoạn báo động, giai đoạn thích nghi và giai đoạn suy kiệt.Trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận (HPA) là cơ sở lý thuyết củaGAS Sự kích hoạt HPA cùng với hệ giao cảm tủy thượng thận (SAM) sẽ dẫnđến tăng cường các hoạt động bảo vệ cơ thể, huy động năng lượng để giúp cơthể đáp ứng lại những kích thích gây stress Đáp ứng sinh lý với stress khôngchỉ có tính không đặc hiệu mà các biến đổi sinh lý còn phụ thuộc vào vào cácyếu tố môi trường, điều kiện lao động, các yếu tố xã hội, trải nghiệm của cánhân về trạng thái căng thẳng Có nhiều hormon của các tuyến nội tiết tham giavào phản ứng, trong đó các hormon quan trọng nhất được coi là chỉ số của stress làcortisol và catecholamin Học tập căng thẳng có thể được xem là một mô hìnhnghiên cứu tốt của trạng thái căng thẳng tự nhiên của con người Khi bị stress, vềtâm lý cho thấy biểu hiện rõ nhất ở sinh viên là khó tập trung chú ý, căng thẳng,không hăng hái tích cực trong hoạt động Tuy nhiên, không phải lúc nào stresscũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với sinh viên Sự có mặt của stressđôi khi lại là điều cần thiết, tác động nhiều đến động cơ và hứng thú học tập của
các em
Trang 8CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 600 sinh viên các lớp đào tạo bác sỹ đa khoa hệchính qui thuộc các khối từ năm thứ 1 (Y1) đến năm thứ 5 (Y5) của trường Đại
trường, cần nhiều thời gian để chuẩn bị các môn thi tốt nghiệp
Tuổi trung bình của sinh viên các năm được trình bày trên bảng 2.1
Bảng 2.1.Tuổi trung bình của sinh viên các năm thuộc trường ĐH Y Thái Bình
Tiêu chuẩn chọn đối tượng: Đối tượng được chọn có chỉ số BMI, mạch, huyết
áp, thính lực và thị lực trong giới hạn bình thường, không mắc các bệnh cấp vàmạn tính, đặc biệt là các bệnh tim mạch, thần kinh và tâm thần; không dùngthuốc an thần hoặc chất kích thích 3 ngày trước và trong quá trình nghiên cứu;tình nguyện tham gia nghiên cứu và tuân thủ đúng qui trình nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Theo Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà và cộng sự nghiên cứu các chỉ số sinh họctiến hành chọn cỡ mẫu cho nghiên cứu đám đông theo công thức sau:
2 2 2
2 2
.
.
S t d N
N t S n
Chọn d= ±5% , độ tin cậy là 99%, t= 2,58 CV = 20%, N=300 Tính được n= 78.Chúng tôi lựa chọn 120 sinh viên cho mỗi khối (gồm 60 nam và 60 nữ), tổng số đốitượng nghiên cứu của 5 khoá (Y1÷ Y5 ) là 600 sinh viên để đo đạc các chỉ số sinh học
- Đối với nghiên cứu các chỉ số điện não đồ, thống kê toán học nhịp tim và địnhlượng nồng độ hormon trong máu, chúng tôi chọn d=10%, p=0,05, t=1,96 Tínhđược n= 15
Trang 9Chúng tôi chọn mỗi khối 30 sinh viên (gồm 15 nam và 15 nữ) Tổng số đượcchọn là 30 ×5 = 150 sinh viên có kết quả học tập tương đối đồng đều để đánh giá
sự biến đổi một số chỉ số ở trạng thái tĩnh và sau buổi thi Trong số 150 sinh viênnày, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 30 sinh viên (gồm 15 nam và 15 nữ), để đánh giá
sự biến đổi nồng độ một số hormon trong máu ở trạng thái tĩnh và sau buổi thi
2.2.2 Các chỉ số nghiên cứu, phương tiện và cách xác định
- Tần số mạch yên tĩnh (nhịp/phút) Sử dụng đồng hồ bấm giây
- Huyết áp yên tĩnh (mmHg) Sử dụng huyết áp kế đồng hồ của Trung Quốc đã
được chuẩn hóa với huyết áp kế thủy ngân trước khi đo, theo phương pháp
Korotkov Tính chỉ số Kerdo.
- Đánh giá chức năng hệ tim mạch và trạng thái thần kinh thực vật bằng phương
pháp thống kê toán học nhịp tim (Baevski R.M.và cs.) trên máy điện tim
- Khả năng chú ý được đánh giá bằng phương pháp “sắp xếp các chữ số lộn xộn”
- Khả năng tư duy logic được đánh giá bằng phương pháp "tìm số theo qui luật"
- Trí nhớ ngắn hạn được đánh giá bằng phương pháp “nhìn - nhớ chữ số”
- Tình trạng căng thẳng cảm xúc được đánh giá theo trắc nghiệm Spielberger
- Điện não được ghi bằng máy Neurofax 9001của hãng NIHON KOHDEN Nhật Bản
- Định lượng nồng độ cortisol huyết thanh trên máy Immulite 2000 của hãngSiemens theo phương pháp hóa phát quang miễn dịch, tại Khoa Hóa sinh, ViệnHuyết học truyền máu trung ương
- Định lượng nồng độ catecholamin máu toàn phần được xác định theo phươngpháp của Smaznov tại khoa Hóa sinh trường Đại học Y Thái Bình
2.2.3 Tổ chức nghiên cứu
Bước 1 Chọn địa điểm nghiên cứu, tiến hành tập huấn để thống nhất qui trình
và kỹ thuật thu thập số liệu
Bước 2 Đo các chỉ số ở trạng thái tĩnh
Trang 10Trên 600SV được đo các chỉ số mạch, huyết áp, điện tâm đồ, TGPX thị giác vận động, hướng dẫn các test trí nhớ, chú ý, test tư duy, trắc nghiệm Spielberger, test Raven Các chỉ số ở trạng thái tĩnh được đo tại thời điểm sinh viên học tập vàsinh hoạt bình thường, xa các cuộc thi ít nhất 1 tháng Mỗi buổi 30 em.
Chọn 150 đối tượng, mỗi khối 30 em (trong số 600 SV nói trên) tiến hành thuthập số liệu lần 1 các chỉ số: ghi điện não đồ và điện tim 100 khoảng RR Mỗibuổi nghiên cứu trên 10 em Có 30 em được lấy máu xét nghiệm định lượnghormon lần 1 theo danh sách
Bước 3 Đo các chỉ số sinh học sau buổi thi trên 150 sinh viên
Đo các chỉ số chức năng ngay sau các buổi thi Chọn buổi thi trắc nghiệm Tổhợp đề ngẫu nhiên, thời gian thi 60 phút Các môn thi có số đơn vị 3-4 học
trình Mỗi khối sinh viên có 8 lớp Chúng tôi lấy mỗi lớp 4 sinh viên sau buổi
thi Mỗi buổi sáng có 3 lớp thi nên chỉ nghiên cứu được tối đa là 12 em
Thời gian nghiên cứu các chỉ số được tiến hành theo sơ đồ ở hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ thời gian cứu trên sinh viên sau buổi thi
(Đo mạch, HA có 4 bàn làm việc; đo TGPX thị giác- vận động có 4 máy tính;ghi điện tim 100 nhịp có 2 máy điện tim; lấy máu làm xét nghiệm cortisol vàcatecholamin có 4 bàn làm việc) Thời gian hoàn thành tất cả các kỹ thuật là 12phút sau khi sinh viên bước ra khỏi phòng thi Sau đó các em tập trung làm testchú ý, trí nhớ, tư duy và test căng thẳng cảm xúc
* Việc ghi điện não đồ được tiến hành trên các đối tượng sau khi họ kết thúccuộc thi khác Mỗi buổi thi kéo dài 60 phút, trong đó một số sinh viên kết thúc thisau 45 phút, 50 phút, 55 phút, 60 phút Chúng tôi lấy 4 em ở mỗi buổi thi theo cácthời điểm nói trên Thời gian ghi điện não là 5 phút Như vậy thời gian ghi điệnnão được tiến hành ngay sau khi thí sinh bước ra khỏi phòng thi
* Để tránh các yếu tố nhiễu chúng tôi đo các chỉ số ở trạng thái tĩnh vào
ngày nghỉ tại phòng Skillslab Phòng đảm bảo thoáng mát, yên tĩnh Phòng thitest được thiết kế chuyên dụng, tránh tác động của các yếu tố ngoại cảnh, có điều
Trang 11hoà nhiệt độ Khi đo các chỉ số ở trạng thái căng thẳng, các trang thiết bị được bốtrí ngay cạnh phòng thi, phòng đo đạc yên tĩnh, trong phòng có điều hòa nhiệt độ.
Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê y sinh học
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số chỉ số chức năng tim-mạch của sinh viên Đại học Y Thái Bình
Một số chỉ số tim - mạch được trình bày ở bảng 3.1, 3.2 và hình 3.1
Bảng 3.2 Một số chỉ số về tim - mạch của sinh viên, ( X ± SD)
Giới
p
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy không có sự khác biệt về tần số mạch giữa haigiới HA tâm thu, HA tâm trương của nam cao hơn so với ở nữ có ý nghĩa vớip<0,05 Chỉ số Kerdo của nữ cao hơn so với ở nam có ý nghĩa với p<0,05
1.1 Một số chỉ số chức năng tâm-thần kinh của sinh viên
3.1.1 Thời gian phản xạ thị giác - vận động và tốc độ xử lý thông tin
Kết quả nghiên cứu về thời gian phản xạ thị giác - vận động và tốc độ xử lýthông tin được trình bày trên các bảng 3.3 ÷ 3.6 và hình 3.2
Bảng 3.4 Thời gian phản xạ thị giác - vận động và tốc độ xử lý thông tin trung bình chung của sinh viên các khối, theo giới,( X ± SD)
n=300
Nữ (B)n=300
Chung hai giới
Trang 12SV nữ không có sự khác biệt ( p>0,05).
3.1.2 Năng lực trí tuệ theo test Raven
Kết quả xác định chỉ số IQ và phân mức trí tuệ được trình bày trên các bảng3.7 ÷ 3.9 và các hình 3.3, 3.4
Bảng 3.7 Chỉ số IQ theo các khối và giới của sinh viên,( X ± SD)
GiớiKhối sinh viên
Nam (A)n= 300
3.1.3 Khả năng tư duy của sinh viên
Bảng 3.13 Số dãy số xác định đúng (qua test tìm số theo qui luật) của sinh viên từng khối, theo giới, ( X ± SD )
GiớiKhối SV
Nam (A) n= 300
Trang 133.1.4 Khả năng chú ý của sinh viên
Bảng 3.15 Số lượng các chữ số ghi được của sinh viên từng khối, theo giới,( X ± SD)
Giới
Khối SV
Namn=300
và nữ sinh viên ở các khối tương đương nhau (p>0,05)
3.1.5 Trí nhớ ngắn hạn của sinh viên
Bảng 3.18 Số lượng các chữ số nhớ được của sinh viên từng khối, theo giới,( X ±
SD)
GiớiKhối SV
Nam A(n=300)
Trang 14Chung 5 khối SV (n = 600) 7,461,94 7,751,91 >0,05
7,601,93
Số liệu ở bảng 3.18 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về số chữ sốnhớ đúng của nhóm sinh viên nam và nữ trong cùng khối và giữa các khối khácnhau (p>0,05) và đạt loại khá (theo điểm số)
và bệnh lý nhiều hơn rõ rệt so với ở SV nam (OR= 0,6; 95% CI = 0,4-0,8;p<0,05)
3.2 Một số chỉ số chức năng tim-mạch của sinh viên trong trạng thái tĩnh
và sau một buổi thi
Kết quả nghiên cứu một số chỉ số mạch, huyết áp và chỉ số thống kê toánhọc nhịp tim trên điện tâm đồ 100 nhịp của sinh viên trong trạng thái tĩnh vàsau buổi thi được trình bày trên các bảng 3.23 ÷ 3.30 và hình 3.13
Bảng 3.23 Mạch, huyết áp của sinh viên trong trạng thái tĩnh và sau buổi thi,